Luận văn tiến hành nghiên cứu nhằm hướng đến các mục tiêu: thu thập, miêu tả, phân loại các yếu tố khẩu ngữ, chủ yếu tập trung ở cấp độ từ vựng và cú pháp; xem xét vai trò của các yếu tố khẩu ngữ trong hành chức, đặc biệt là trong cách diễn đạt, trong việc tạo lập nên cá tính nhân vật, màu sắc địa phương, nghĩa là bước đầu xác lập vai trò tích cực của chúng trong việc tạo nên một phong cách ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHÔ HỒ CHÍ M1NH
Trang 3M ỤC LỤC
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU0T 110T
3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU0T 110T
3.1 Phạm vi nghiên cứu0T 110T
2 Đối tượng nghiên cứu0T 14
0T
4 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ0T 150T
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU0T 17
1.2 ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ KHẨU NGỮ NAM BỘ TRÊN BÌNH DIỆN TỪ VỰNG-NGỮ NGHĨA TRONG TIÊU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH0T 20
1.3.1 Lớp từ ngữ khẩu ngữ và tính quần chúng0T 341.3.1.1 Ngữ cảnh là cầu nổi giữa yếu tố khẩu ngữ từ ngữ với người tiếp nhận 34
Trang 41.3.3.2 Từ ngữ khẩu ngữ khắc họa con người Nam Bộ0T 470T
2.2.ĐIỂM VỀ HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA CÂU KHẨU NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH0T 560T
2.2.1.Câu có yếu tố nhấn mạnh,lặp, dư0T 560T
2.2.1.1 Dạng câu nhấn mạnh0T 560T
2.2.1.2 Dạng câu lặp bằng cách dùng từ thay thế0T 590T
2.2.1.3 Dạng câu có yếu tố dư0T 610T
2.2.2 Câu có ngữ khí tự tình thá? (xem thêm phụ lục 6)0T 620T
2.2.2.1 Nhóm ngữ khí tự tình thai đứng đầu câu0T 630T
2.2.2 Nhóm ngữ khí tự tình thủi đứng ở cuối cấu0T 660T
2.2.3 Câu có dùng ngữ khí tự nghi vấn0T 710T
2.2.3.1 Câu có dùng ngữ khí tự " hôn"0T 720T
2.2.3.2 Câu có dừng ngữ khí tự " há (hả, hử)"0T 750T
2.2.4 Câu có quán ngữ đặc trưng của khẩu ngữ Nam Bộ0T 770T
2.2.4.1 Câu có quán ngữ diễn đạt thời gian0T 800T
2.2.4.2 Câu có quán ngữ diễn đạt sự vật, sự việc không xác định "giống gì"0T 820T
2.2.4.3 Câu có quản ngữ diễn đạt nội dung tương phản với thá? độ ngạc nhiên lớn
"té ra"0T 842.2.4.4 Câu cổ quán ngữ diễn đạt tâm lí xót thương, ân hận 87
Trang 5PHỤ LỤC 20T 1220T
PHỤ LỤC 40T 1290T
PHỤ LỤC 50T 1400T
PHỤ LỤC 60T 1430T
PHỤ LỤC 70T 1490T
PHỤ LỤC 80T 1540T
PHỤ LỤC 90T 171
0T
TÀI LI ỆU THAM KHẢO0T 181
Trang 6QUI ƯỚC TRÌNH BÀY
oOo
1.[ ; ] : Tên tài liệu tham khảo và số trang trích dẫn được ghi bằng số tự nhiên đặt trong ngoặc vuông, số đầu tiên là số thứ tự của tài liệu tham khảo, số sau là số trang nơi trích dẫn trong tài liệu Hai số này được ngăn cách bởi dấu chấm phẩy
2.( ) : Số thứ tự của ví dụ trong luận văn ghi bằng số tự nhiên và được đặt trong dấu ngoặc đơn
3.( ,tr ) :Ghi xuất xứ của ví dụ, gồm 2 phần đặt trong dấu ngoặc đơn: phần đầu
là các chữ viết tắt của tên tác phẩm, phần sau của "tr" là số tự nhiên ghi trang sách
chứa ví dụ trích dẫn, hai phần này ngăn cách bởi dấu phẩy
- ĂTTƠTT : viết tắt của tác phẩm "Ăn theo thuở ở theo thời"
- NCGĐ : viết tắt của tác phẩm "Ngọn cỏ gió đùa"
- TTN : viết tắt của tác phẩm 'Thầy thông ngôn"
- NĐ : viết tắt của tác phẩm "Nợ đời"
- (Xem thêm trong phần ngữ liệu.)
Trang 7
NG Ữ LIỆU
Nhà văn Hổ Biểu Chánh : (1884-1958)
- Tên thật là Hồ Văn Trung, nguyên quán Gò Công, Mỹ Tho (Tiền Giang)
- Đã sáng tác và phỏng tác trên 64 cuốn tiểu thuyết, có công trong lĩnh vực sáng tác tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ ở giai đoạn đầu của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
1 Những cuốn tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh dùng làm ngữ liệu nghiên cứu trong luận văn nay là 27 cuốn ở 3 thời điểm sáng tác của tác giả (đầu- giữa- cuối): 1- Ai làm được (ALĐ) 1912-1922, Nxb Tiền Giang (TG), 1988
2-Chúa tàu Kim Qui (CTKQ) 8/1922, Nxb TG, 1988
14-Thiệt giả, giả thiệt ( TGGT) 12/1935, Nxb VN TP.HCM, 1997
15-Ăn theo thuở, ở theo thời (ĂTTƠTT) 5/1936, Nxb TG, 1988
16-Nợ đời (NĐ) 1936, Nxb VN Tp.HCM, 1997
17-Từ hôn (TH) 10/1937 , Nxb VN Tp.HCM, 1997
Trang 82.Sơn Nam , Hương rừng Cà Mau, Nxb Trẻ Tp.HCM 1986
3.Nguyễn Thi , Truyện và Kí, Nxb Văn học Giải phóng, 1975
5.Thạch Lam, Tập truyện ngắn "Gió đầu mùa" ,Nxb VN Tp.HCM 1998
Trang 9D ẪN NHẬP
1 LÍ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
1.Hồ Biểu Chánh là một nhà văn có nhiều ảnh hưởng đến việc hình thành thể
loại tiểu thuyết ở Nam Bộ nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung vào những năm đầu của thế kỉ ;xx Đọc các tác phẩm của ông, người đọc đễ nhận thấy ngôn ngữ dung dị, mang đậm dấu ấn của phương ngữ Nam Bộ và có cái gì đó thật gần gũi, quen thuộc, hình thành một đặc điểm nối tiếp, xuyên suốt từ Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn
Trị, đến cả một số nhà văn Nam Bộ hiện đại Trong những đặc điểm về hình thức diễn đạt đặc biệt ấy, không thể không có sự góp phần của khẩu ngữ
2.Xét về mặt phong cách học, hầu như các tài liệu viết về lĩnh vực nay đều có đề
cập đến vai trò của phong cách khẩu ngữ hoặc trong thế đối lập với phong cách gọt giũa, hoặc được gọi là phong cách sinh hoạt hằng ngày nằm trong sự phân biệt với tất
cả các phong cách còn lại Tuy nhiên, những mô tả nay chỉ có tính chất đặt vấn đề và.được quan sát trên phạm vi ngôn ngữ cả nước chứ không tập trung ở một phương
ngữ nào Nói rõ hơn, trong các tài liệu như nêu trên, khẩu ngữ Nam Bộ tuy có quan tâm nghiên cứu nhưng chưa được chú ý đúng mức
3.Tìm hiểu về khẩu ngữ Nam Bộ không thể không đề cập đến phương ngữ tương ứng, trong đó khẩu ngữ hành chức Công bằng mà nói, sau năm 1975, nhờ điều kiện nước nhà thống nhất, số lượng công trình nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ nói riêng, văn hóa Nam Bộ nói chung đã tăng lên nhiều Riêng về phương ngữ Nam Bộ thì có thể nói được rằng, những công trình nghiên cứu chỉ tập trung ở hệ thống từ ngữ,
một hệ thống có tính chất tĩnh tại, trong khi phần sử dụng, phần ngữ dụng hầu như chưa được chú ý đúng mức Do vậy, khi nghiên cứu phương ngữ Nam Bộ trong hoạt động hành chức, không thể không chú ý đến khẩu ngữ địa phương, vả lại, như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, khẩu ngữ chính là nền tảng của mọi phong cách, nơi thường
xuất hiện nhiều cái mới và cũng chính nơi đây sẽ loại trừ những hiện tượng chưa nhập
hệ
Trang 10Cho nên, nghiên cứu khẩu ngữ nói chung, khẩu ngữ Nam Bộ nói riêng sẽ mở ra
một triển vọng lớn trong việc tìm ra qui luật xúc tác và thu nhập các yếu tố ngôn ngữ tích cực từ phương ngữ vào tiếng Việt toàn dân
4.Trước nay, khi giải thích hiện tượng độc giả bình dân say mê đọc tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh, các nhà nghiên cứu đề cập đến nhiều nguyên nhân, nhiều yếu tố, trong đó có yếu tô" ngôn ngữ Nói rõ hơn, trên cái nền của phương ngữ Nam Bộ, thông qua lời ăn tiếng nói của nhân vật, thông qua lối kể chuyện của tác giả, tác giả
đã xây dựng được bối cảnh, con người, phong tục tập quán của một vùng đất mới khai phá Điều nay đã tạo nên một ngữ cảm chò người tiếp nhận tiểu thuyết của Hề Biểu Chánh Nếu tìm hiểu vấn đề nay một cách thâu đáo, chắc chắn sẽ gợi mở nhiều vấn đề
về phong cách cá nhân - mà quả thật-, Hồ Biểu Chánh đã tạo lập cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng rất khó lẫn lộn với các tác giả cùng thời Đạt được điều đó, không thể không có sự góp phần của khẩu ngữ Nam Bộ
5.Như mọi người đều biết, vào đầu thế kỉ XX, thể loại văn biền ngẫu ngự trị trong giao tiếp bác học ở Việt Nam Thế nhưng, để cải tiến và đổi mới cách diễn đạt
nẩy, có thể thấy có hai khuynh hướng:
a Mô phỏng câu văn của tiếng Pháp, học tập cách diễn đạt của Pháp và tìm cách điều chỉnh câu văn biền ngẫu cho thích hợp hơn với lối diễn đạt Việt Nam
b Xuất phát từ lời ăn tiếng nói Việt Nam, từ khẩu ngữ để xây dựng lối văn viết thuần túy Việt Nam
Hồ Biểu Chánh thuộc khuynh hướng thứ hai (b) Điều nay rất lạ ở Hồ Biểu Chánh, Tây học và Hán học, ông đều rất am tường, thế mà, tại sao ông không chộn con đường thuận lợi là con đường thứ nhất (a), mà lại xuất phát từ khẩu ngữ? Tất nhiên, nếu mới chỉ nghiên cứu khẩu ngữ trong tác phẩm của ông thì không thể trả lời được câu hỏi nẩy Tuy nhiên, từ các cách chọn lựa ngôn từ, có thể hiểu thêm về quan điểm sáng tác của Hồ Biểu Chánh và đặc biệt là sẽ góp phần xác định đạc điểm ngôn
ngữ mang tính cá nhân của nhà tiểu thuyết tiên phong này
6 Ngoài những lí do vừa nêu trên, là một người dân Nam Bộ, từ nhỏ chúng tôi
đã yêu thích văn chương Hồ Biểu Chánh Gần đây, chúng tôi rất vui mừng vì thấy tác
Trang 11phẩm Hồ Biểu Chánh đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông Tuy nhiên, khi chúng tôi nghiên cứu khẩu ngữ Nam Bộ nói chung, toàn bộ ngôn ngữ trong
tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh nói riêng, không phải chúng tôi nghiên cứu lời ăn tiếng nói của cư dân Nam Bộ trong thời đã qua mà thực chất là để hiểu thêm về tiếng Việt hôm nay và cả cho ngày mai Bởi vì, nếu như quan sát kĩ, trong khoảng gần ba mươi năm trở lại đây, những yếu tố tích cực của nhiều phương ngữ, trong đó có phương ngữ Nam Bộ đã góp phần làm phong phú cho cách định danh, cách diễn đạt của tiếng Việt toàn dân
Vì tất cả những điều nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn hướng đề tài về " Đặc điểm khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh"
2 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Những nỗ lực của luận văn cố gắng vươn tới là:
- Thu thập, Miêu tả, phân loại các yếu tố khẩu ngữ, chủ yếu tập trung ở cấp độ từ
vựng và cú pháp
- Xem xét vai trò của các yếu tố khẩu ngữ trong hành chức, đặc biệt là trong cách diễn đạt, trong việc tạo lập nên cá tính nhân vật, màu sắc địa phương, nghĩa là bước đầu xác lập vai trò tích cực của chúng trong việc tạo nên một phong cách ngôn
thức có được chủ yếu là rút ra từ cứ liệu phương ngữ Điều nay có lí do riêng, bởi vì
Trang 12nếu nghiến cứu một cách bài bản, chúng ta phải sưu tập tư liệu đủ lớn bằng hình thức thu âm lời nói tự nhiên trong giao tiếp hằng ngày, rõ ràng trong điều kiện hiện nay là
rất khó thực hiện
Như đã xác định, phạm vi khảo sát của luận văn nay là đặc điểm khẩu ngữ Nam
Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Nói cụ thể, đó là lời nói hằng ngày của nhân vật
và lời kể chuyện của người viết Và vì phải Miêu tả cuộc sống hàng ngày một cách chân thực, nên tuy khẩu ngữ trong tác phẩm văn chương đã có sự gạn lọc nhưng vẫn
là thứ khẩu ngữ tự nhiên tiếu biểu cho ngôn ngữ của nhân vật Do vậy, có thể có
những mô hình khẩu ngữ hiện nay không còn hoặc ít được sử dụng mà xuất hiện trọng tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, chúng tôi vẫn sưu tập; ngược lại, có thể trong thực tế
hằng ngày có nhiều cách nói độc đáo mang đậm màu sắc khẩu ngữ, nhưng không được Hồ Biểu Chánh sử dụng, nên chúng tôi không thu thập
Như vậy, khá? niệm khẩu ngữ Nam Bộ trong nhận thức của chúng tôi là lời ăn
tiếng nói trong sình hoạt hằng ngày của người dân địa-phương và được ghi lại trong
tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Do vậy, có thể có những đơn vị ngôn ngữ xuất hiện ở trong khẩu ngữ các vùng khác nhưng nó vẫn được thấy Miêu tả ở đây, bởi vì ,như ai
nấy đều biết, tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất khá cao, việc phân chia phương
ngữ trong đó có khẩu ngữ địa phương, là chỉ có giá trị tương đối Việc phần chia này,
có thể coi như một nguyên tắc bắt buộc để làm việc nhưng lại cũng hết sức uyển chuyển, bởi vì, trong các công trình của các nhà phương ngữ học đi trước vẫn chưa thoát khỏi sự "nhập nhằng" này Tóm lại, ngữ liệu sử dụng trong luận văn này đều có ghi rõ xuất xứ
Cũng cần thấy, trước nay các nhà phong cách học xác định nội hàm và ngoại diên của thuật ngữ khẩu ngữ, hay phong cách khẩu ngữ, chưa phải đã thật sự rõ ràng
Chẳng hạn " Phong cách khẩu ngữ tự nhiên còn được gọi là phong cách khẩu ngữ sình
hoạt, phong cách khẩu ngữ hàng ngày vì nó được dùng trong sinh hoạt hàng ngày của
mỗi cá nhân: một mẩu tâm sự, một câu thăm hỏi người thân hay bạn bè, một lời đàm
tiếu về cách thức ăn ở, một thá? độ trước những biến đổi đột ngột của thời tiết, một
phản ứng tức thì trước tin"sốt dẻo" trong cuộc sống hàng ngày '" [112; 62]
Trang 13
Như vậy, theo tác giả Cù Đình Tú, việc xác định phong cách khẩu ngữ, như đã
thấy, là hoàn toàn dựa vào nội dung đề tài Thế nhưng, vấn đề không đơn giản như
vậy Với tư cách là một phương tiện diễn đạt, hơn thế nữa, lại còn là một phong cách giao tiếp, cũng như eáẹ phong cách khác, phong cách khẩu ngữ lệ thuộc rất nhiều vào các nhân tố: nội dung giao tiếp, đôi tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp Điều cần nhấn mạnh ở đây ià về nguyên tắc với một hình thức phải đánh
dấu được, có nghĩa là phải có những đặc điểm hình thức thì việc lựa chọn, phân loại, xác định ngữ liệu mới tránh được sai lạc
Khi bàn đến khẩu ngữ, ở phạm vi khá? quát, người ta thường nhắc đến hai đặc điểm cơ bản:
- Tính dữ thừa do nhấn nhá, đệm lót, đẩy đưa, thiếu tính gọt giũa chuẩn mực
- Tính tỉnh lược tối đa, do lệ thuộc vào ngữ cảnh và tính kế thừa hội thoại
Từ hai đặc điểm trên, ở mỗi bình diện, mỗi cáp độ ngôn ngữ lại có những điểm riêng khác, chẳng hạn như : dùng từ có biến thể ngữ âm địa phương, dùng ngữ khí tự, dùng từ giàu màu sắc biểu cảm, dùng tiếng lóng , dùng câu dài lặp đi lặp lại với
những mô hình rất khác với mô hình câu trong phong cách ngôn ngữ gọt giũa, và bao trùm lên cả là cách diễn đạt khẩu ngữ
Luận văn này thu thập và xử lí tất cả các ngữ liệu trên Tuy nhiên, để tránh sự trùng lặp với một số chủ điểm trong các tài liệu nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ,
tại đây, ngoài việc phân loại Miêu tả, chúng tôi còn chú ỷ đến hiệu quả diễn đại của
những phong cách này Hơn thế nữa, đối với những thành tựu nghiên cứu đã ổn định,
luận văn này cố gắng không nhắc lại Ví dụ, lâu nay khi nhận xét về cú pháp phương
ngữ Nam Bộ, từ tác giả Nguyễn Kim Thản [96] cho đến Trần Thị Ngọc Lang [58] đều
chỉ thường đề cập đến mô hình như: Bao lớn? Bao dai? Bao sâu? hoặc " cổ hà",
"tài lận" Tuy tần suất của các kiểu nói này trọng tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh rất cao nhưng trong luận văn này chúng tôi sẽ không trình bày kĩ Bởi vì chúng tôi nhận
thức rằng, nếu quá sa vào lớp ngữ liệu mà người đi trước đã mô tả kĩ, chắc chắn sẽ khó mà tìm ra cái mới, chi bằng cố gắng Miêu tả trên cứ liệu, ngữ liệu mới, hi vọng góp một tiếng nói nhỏ của mình vào việc xác định rõ hơn một phong cách ngôn ngữ tác gia đa dạng, phong phú và đầy cá tính của Hồ Biểu Chánh
Trang 142 Đối tượng nghiên cứu
Trong tiếng Việt toàn dân, do đặc thù về điều kiện địa lí, từ lâu đã hình thành nhiều phương ngữ: phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Trung Bộ, phương ngữ Nam
Bộ Sự phân định ranh giới như thế là sự phân định dựa trên những đặc trứng tiêu
biểu của ngộn ngữ đo cư dân trong vùng sử dụng và sự phân định đó còn nhằm để nghiên cứu, Miêu tả, Trong các phương ngữ của tiếng Việt thì sự khác biệt đậm nét
nhất là sự khác biệt giữa phương ngữ Bắc Bộ với phường ngữ Nam Bộ Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, sự di dân, sự chọn lựa từ ngữ trong giao tiếp đã làm cho các phương ngữ xích lại gần nhau hơn, thẩm thấu, chen lẫn nhau tạo nên sự phong phu cho tiếng Việt toàn dân
Vấn đề xác định phương ngữ không phải là đơn giản, bởi sự giao lưu sinh hoạt
của người sử dụng nó không phải cố" định, rạch ròi nên đường ranh giới phương ngữ luôn mờ nhạt ở đây, khi nói về phương ngữ Nam Bộ, luận văn này thừa nhận sự phân định mà các nhà Việt ngữ học đã đề ra, đó là phương ngữ mà được cư dân Nam Bộ sử
dụng trải dài từ Đồng Nai, Sông Bé đến Cà Mau
Khẩu ngữ địa phương là sự thể hiên của phương ngữ trong giao tiếp, nhưng khẩu
ngữ là cái hiện hành còn phương ngữ có thể còn tồn đọng những đơn vị ngôn ngữ mà
hiện tại không sử dụng (từ ngữ cổ) Do đó nghiên cứu khẩu ngữ cũng ỉa nghiên cứu phương ngữ trong sự hành chức của nó
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là khẩu ngữ Nam Bộ được thể hiện trong
tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh và nó được xét cả trên hai bình diện từ vựng-ngữ nghĩa
và cú pháp-ngữ nghĩa Những đơn vị khẩu ngữ được luận văn xem xét là từ, ngữ và các mô hình câu khẩu ngữ , và luận văn cũng rất quan tâm đến cách diễn đạt, đặc biệt
là cách diễn đạt mang đặc điểm của khẩu ngữ Nam Bộ Khách quan mà nhận xét, do chưa có điều kiện so sánh đối chiếu với khẩu ngữ của các phương ngữ khác nên nghiêm ngặt có lẽ chỉ nên sử dụng thuật ngữ khẩu ngữ, còn việc dùng định ngữ Nam
Bộ trong khẩu ngữ Nam Bộ chỉ nhằm diễn đạt ý này: khẩu ngữ được dùng ở Nam Bộ
và được tác giả Hồ Biểu Chánh ghi lại trong tác phẩm của mình
Trang 154 L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Liên quan đến vấn đề khẩu ngữ và khẩu ngữ Nam Bộ trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh, ít nhất có mấy vấn đề sau:
- Ngôn ngữ sáng tác của Hồ Biểu Chánh
- Khẩu ngữ và khẩu ngữ Nam Bộ với tư cách là một phong cách chức năng và là
một phương tiện biểu đạt có tính cục bộ
1 Trước năm 1975, tại M1ền Nam, tác gia Hồ Biểu Chánh nói chung và phong cách ngôn ngữ của tác giả nay nói riêng, đã được giới nghiên cứu chú ý, tuy nhiên số lượng bài viết không nhiều, đặc biệt là không có bài nghiên cứu kĩ về mặt ngôn ngữ Trong tạp chí Văn, số 80 xuất bản tại SàiGòn năm 1967 [60], có một số bài viết như: Thanh Lãng với bài Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ với bài " Hồ Biểu Chánh nhà văn
bạch thoại M1ền Nam , Thiếu Sơn với bài " Nhớ Hồ Biểu Chánh ; đặc biệt, Nguyễn Khuê với tác phẩm " Chân dung Hồ Biểu Chánh" xuất bản trước 1975, sau này in lại năm 1998, một cuốn sách gần 300 trang ,khổ giấy 13x19 , đề cập rất nhiều lĩnh vực,
thế nhưng, về mặt hình thức ngôn ngữ, tác giả viết không quá lo dòng, xin dẫn lại toàn
bộ đoạn này: " văn Hồ Biểu Chánh tuy cũng có những sáo ngữ, những cấu những đoạn chải chuôi và nhịp nhàng đãng đối, nhưng nói chung thì bình dị tự nhiên trơn
tuột như lời nói thường của đại chúng, dùng nhiều tiếng địa phương và viết đủng theo
lối phát âm đặc biệt của người M1ền Nam, Do đó, về phương diện hình thức, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh còn cống hiến cho các nhà ngữ học nhiều điều rất hữu ích trong
việc nghiên cứu những đặc điểm ngôn ngữ M1ền Nam." [ 51; 267-268]
Tầm Vu, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Y trong "Địa chí văn hóa TP Hồ Chí M1nh", Nxb Tp.HCM, năm 1988 , trang 241, có viết về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh: " cái mà độc giả M1ền Nam lúc nào cung thích thú là vãn chương giản dị, tả
thực, phản ánh được nhiều đặc điểm xã hội và con người M1ền Nam trong một thời
kì, thời kì giữa hai cuộc chiến tranh thế giới" [114; 241]
Trần Hữu Tá trong sách "Văn học lớp li", tập 1, khi giới thiệu về tác phẩm " Cha con nghĩa nặng", cũng có một nhận định khá? quát: " Trong số 65 tập tiểu thuyết của ông, không ít cuốn còn hạn chế về tư tưởng, nghệ thuật, nhưng nhìn chung ông đã góp
Trang 16công sức tích cực vào việc hình thành thể loại tiểu thuyết của dân tộc ta trong chặng đường phôi thai đầu tiên
Cảnh trí, con người, phong tục tập quán, lời ân tiếng nói tất cả đều thắm đượm
sắc thá? Nam Bộ." [93; 106]
Như vậy, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã được xem xét trên nhiều phương diện, nhưng về mặt phong cách ngôn ngữ, trước nay chỉ tập hợp ở một vài nhận xét; một trong những nhận xét được các nhà nghiên cứu dẫn đi, dẫn lại nhiều lần, đó là về mặt
diễn đạt thì giản dị, sử dụng nhiều yếu tố phương ngữ Thế nhưng, vai trò của chất
liệu này đối với hiện tượng Hồ Biểu Chánh, đâu là mặt tích cực, đâu là mặt tiêu cực và sâu xa hơn về mặt hình thức thì cái gì đã tạo nên tính hấp dẫn của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh? Quả là vấn đề còn để ngỏ
2.Trước năm 1975, do điều kiện đất nước bị chia cắt, phương ngữ Nam Bộ, nhất
là khẩu ngữ Nam Bộ, ít được chú ý Sau khi đất nước được thống nhất, có một số công trình nghiên cứu, đáng kể nhất là các tác phẩm sau:
- Hoàng Thị Châu: ""Tiếng Việt trên các M1ền đất nước", Nxb KHXH, Hà Nội,
1989
- Bài giới thiệu" Vài nét về phương ngữ Nam Bộ" trong quyển "Từ điển phương
ngữ Nam Bộ" do Nguyễn Văn Ái chủ biên , Nxb Tp HCM, 1994
- Trần Thị Ngọc Lang: 'Thương ngữ Nam Bộ ", Nxb KHXH, 1995
3.Về mặt phòng cách khẩu ngữ, hầu như tất cả các tài liệu về phong cách học đều có đề cập Tụy cách diễn đạt có khác nhau nhưng những đặc điểm đều tập trung trên tất cả các bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và diễn đạt Tuy nhiên, từ tác giả
Cù Đình Tú [112], Nguyễn Nguyên Trứ [110] đến Đinh Trọng Lạc [52], [53], đều xác định phong cách khẩu ngữ ở những đặc điểm hết sức khá? quát và chủ yếu trích
dẫn từ các tác phẩm văn học, chứ thật sự chưa có cuộc điều tra bằng cứ liệu khẩu ngữ
tự nhiên như một số công trình nghiên cứu về khẩu ngữ và hội thoại ở nước ngoài Điều này đã đặt ra cho người nghiên cứu về khẩu ngữ nói chung, khẩu ngữ Nam Bộ
nổi riêng những khó khăn nhất định trong việc sưu tập tài liệu, cần nhắc lại, khẩu ngữ,
Trang 17đối tượng nghiên cứu của luận văn này là lời ăn tiếng nói của người dân Nam Bộ được
Hồ Biểu Chánh làm phương tiện diễn đạt trong tác phẩm của mình
4 Luận văn này trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu về văn học, về phương ngữ Nam Bộ và đặc biệt về các định hướng có tính chất lí thuyết của lĩnh vực
khẩu ngữ và hội thoại, sẽ khảo sát chúng trong các tác phẩm văn học của Hồ Biểu Chánh
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ngoài các thủ pháp nghiên cứu mà bất cứ công trình nào trong nghiên cứu khoa
học cũng đều sử dụng, nhất là ở lĩnh vực khoa học xã hội như: thu thập tư liệu, phân tích, Miêu tả, thống kê luận văn còn sử dụng một phương pháp có tính chất bao trùm , đó là phương pháp hệ thống
Phương pháp này được sử dụng một cách uyển chuyển, một mặt, xem xét đối tượng khảo sát trong hệ thống lớn bằng cách nội suy từ các quan hệ bằng con đường qui nạp, nhưng không tuyệt đối hóa cấu trúc của chúng; mặt khác, cũng hết sức chú ý đến phạm vi sử dụng có tính chất ngữ đụng và đặc biệt xem xét ngữ liệu đó có giá trị như thế nào trong việc xác định đặc trưng phong cách cá nhân
Ví dụ, đối với ngữ khí tự " hôn " , theo cảm nhận có tính trực giác, chúng tôi
thấy chúng xuất hiện rất phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, của cư dân Nam
Bộ Khi làm tư liệu, chúng tôi sẽ xem xét tất cả các ngữ cảnh có từ hôn , tiếp theo , sẽ xem xét nó trong mối quan hệ với các yếu tố gần gũi khác như hôn/ hổng/ ha/ há/ hả/
hử có tính chất tĩnh tại Bằng những hiểu biết thu thập được từ con đường này, chúng tôi sẽ khảo sát chúng trong văn bản để xem thử hoạt động của chúng như thế nào khi nằm ở vị trí đầu câu, giữa câu, cuối câu nghĩa là với các chức năng khác nhau Sau khi đã có cái nhìn tương đối đầy đủ về phương diện động cũng như tĩnh, chúng tôi mới tìm hiểu đặc điểm về mặt phong cách đo chúng mang lại
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Khẩu ngữ và khẩu ngữ trong tác phẩm văn học là một vấn đề rất lổn, rất phức
tạp, thành tựu nghiên cứu về chúng chưa nhiều Do vậy, ở đây chúng tôi không có tham vọng gì lớn, mà chỉ cố gắng nỗ lực lí giải một số trọng điểm sau đây:
Trang 181.Xác định rõ hơn một số đặc điểm về khẩu ngữ, nhất là khẩu ngữ Nam Bộ về phương diện cấu trúc cũng như chức năng
2.Phân tích vai trò của chúng với tư cách là một phương tiện diễn đạt về cá tính
của nhân vật cũng như bối cảnh xã hội mang đậm dấu ấn của vùng đất mới khai phá 3.Từ đó, khắc họa rõ hơn một truyền thống văn học mà đặc điểm dễ nhận biết
nhất là ở ngôn ngữ diễn đạt được xây dựng trên cái nền khẩu ngữ- cái nền mà có thể
kể là bắt nguồn từ Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, đến HỒ Biểu Chánh, Lê Hoang Mưu, Phi Vân, Sơn Nam, đến cả Nguyễn Thi, Ánh Đức, Nguyễn Quang Sáng
7 B Ố CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Dân nhập, phần Kết luận , 9 phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn tập trung ở hai chương:
Trang 19CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM KHẨU NGỮ NAM BỘ TRONG
TI ỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH XÉT TRÊN BÌNH DIỆN TỪ
VỰNG 1.1 T Ừ NGỮ KHẨU NGỮ
Từ ngữ khẩu ngữ địa phương là một trọng những yếu tố cơ sở xây dựng nên phương ngữ địa phương, đồng thời nó cũng là một hệ thống từ ngữ nhỏ nằm trong hệ
thống từ ngữ toàn dân Do yêu cầu giao tiếp trực tiếp và đặc tính địa phương nên lớp
từ ngữ nay có đặc trưng là:
- Giàu tính cụ thể
- Giàu tính cảm xúc
- Mang dấu ấn chủ quan (Dấu ấn chủ quan về tâm lí, xã hội của người tham gia
hội thoại, bộc lộ sự hồn nhiên trong khẩu ngữ.)
Từ đặc trưng chung nêu trên, xét về mặt lừ vựng, từ ngữ khẩu ngữ có những đặc điểm sau:
+ Lớp từ ngữ khẩu ngữ tồn tại và được nhận diện qua các lớp từ :
- Từ địa phương, bao gồm cả biến thể ngữ âm địa phương
- Diễn đạt giàu màu sắc biểu cảm
- Thường tạo nên từ ngữ lâm thời có ý nghĩa hàm ẩn trong ngữ cảnh cụ thể
Khảo sát các ví dụ:
Trang 20(1)" Mà chàng cũng xem vợ ở nhà như cái cối xay lúa, hay là cái cối giã gao nên
vợ muôn đi chỗ nào, muốn làm việc chi chàng cũng không thèm để ý tới" (HPLN,tr21)
(2)Tao với mầy kết làm anh em với nhau, hễ tao vui thì mầy phải vui với tao chớ sao mày lại làm 'mặt quỉ thần hoài vậy?" (CĐMĐ,tr300)
"Cối xay lứa, cối giã gạo", vừa so sánh vừa ẩn dụ để hàm ý nói về người VỢ;
"quỉ thần" vừa so sánh vừa ẩn dụ để nói gương mặt buồn, lạnh lùng Cũng cần thấy, cách xưng hô tao/mày, hoặc nhóm tiểu từ hoài vậy ở cuối câu cũng là những dấu hiệu
có thể coi là đặc trưng của khẩu ngữ
Như vậy từ ngữ khẩu ngữ có những đặc điểm riêng so với lớp từ ngữ trong các phong cách gọt giũa Còn từ ngữ khẩu ngữ Nam Bộ, bên cạnh các đặc điểm thể hiện
lời ăn tiếng nói trong giao tiếp hằng ngày, nó còn xuất hiện các yếu tố của phương
ngữ nữa
1.2 ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ KHẨU NGỮ NAM BỘ TRÊN BÌNH DIỆN TỪ
Khi tiến hành khảo sát từ địa phương mang màu sắc khẩu ngữ trong tiểu thuyết
của Hồ Biểu Chánh, mặc dù chỉ khảo sát 27 tác phẩm (gần bằng phân nửa số tác phẩm
của tác giả ) nhưng chúng tôi cho rằng vẫn có đủ cơ sở để đánh giá, nhận xét Bởi vì,
từ tác phẩm được sáng tác đầu tiên cho đến tác phẩm sau cùng, phong cách ngôn ngữ
của tác giả vẫn luôn ổn định:
- Từ ngữ địa phương luôn được lặp đi lặp lại trọng các tác phẩm Câu vẫn luôn
ổn định xét trên bình diện cấu trúc và trên bình diện mục đích phát ngôn
Riêng về đoạn văn , trong quá trình sáng tác ở Hồ Biểu Chánh có sự chuyển
biến Trong tác phẩm đầu tay "Ai làm được", (1912-1922), cấu trúc đoạn chỉ mới là đoạn mang tính hình thức và đại đa số "đoạn vãn" tương đương với "câu" ; nhưng từ ''Chúa tàu Kim Qui", (1922) trở đi thì đoạn văn đã đảm bảo được yêu cầu của đoạn
nội dung và trong đoạn có nhiều câu hơn Tất nhiên, có thể có lí do ngoài ngôn ngữ,
chẳng hạn như phải lộ thuộc vào yêu cầu Viết cho kịp để in trong nhật báo (cũng cần
thấy thêm rằng, phần lớn các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh trước khi in thành sách đều
Trang 21đã được đăng trên nhật báo) Đơn cử 7 đoạn mang tính hình thức nhưng thật ra khi ghép lại chỉ là hai đoạn nội dung :
(3)" Nếu mẹ cháu chết rồi, cháu học làm được ông gì cũng vô ích
Cháu thương mẹ cháu quá, nên nửa đêm cháu lén mở rương gói áo quần trốn về
Vũng Liêm
Khi cháu bước vô nhà thấy mẹ cháu nằm thiêm thiếp trên giường, trong nhà
vắng teo chẳng có ai hết, cháu quăng gói chạy lại ôm mẹ mà khóc, Mẹ cháu nhướng
mắt nhìn cháu rồi tắt hơi, không nói được một tiếng chỉ hết." (ALĐ , tr 12)
(4)" Anh ta vào làm việc gặp thầy tên Tú, vốn là bạn học anh ta hồi trước ờ Vĩnh long, vì thỉ rớt không vào trường Mỹ Tho được nên xin việc làm
Chí Đại ngó thấy mừng rỡ hết sức, nên lật đật chạy lại hỏi thăm
Chẳng dè thầy nọ làm ngơ, đã không chịu làm quen với Chí Đại, lại còn bắt lỗi Chí Đại vô phép, làm cho Chí Đại hổ thẹn mà nực cười, thẹn là thẹn thân hèn hạ, cười
là cười thói kiêu căng, thầm nghĩ chớ chỉ mình giàu sang, chắc người không quen cũng xúm lại niềm nở," (ALĐ, tr 67)
So với các tác phẩm "Ai làm được" thì trong các tác phẩm sáng tác sau, loại đoạn lớn hơn câu xuất hiện nhiều hơn Ví dụ:
(5)Đi được một khúc ước chừng chín mười cổng đất, xảy thấy núi dựng đứng, sát mé biển, Chỗ ấy lại cũng có một cái ụ thuyền đậu cơi êm hơn cái ụ hồi nãy nữa, Anh ta đứng nhắm cái ụ rồi nhắm hòn núi, lại thầy đá dựng đứng đó có một cái hang
lớn, M1ệng hang bề ngang có vài sải và bề cao hơn một tầm, song dây cóc kèn với dây bìm bìm giăng hết phân nửa." (CTKQ, tr 64)
(6)Ai đi đường Chợ Lớn xuống Gò Công, hễ qua đò Bao Ngược rồi lên xe chạy
khỏi chợ Mỹ Lợi, tới khúc quanh thì sẽ thấy bên phía tay trái, cách lộ chừng ít trăm thước, có một xóm đông, kêu là Xóm Tre, nhà ở chật, cái trở cửa lên, cái day cửa
xuống, tre xanh kịch bao trùm kín mít, ngoài vuông tre thì ruộng bằng trang sấp liền
từ giây Qua mùa mưa cây đượm màu, ruộng nổi nước, thì trông ra chẳng khác nào cù lao nằm giữa sông lớn," (CĐMĐ, tr 5)
Trang 22c Trong các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh , nhìn từ góc độ từ ngữ khẩu ngữ địa phương thì số lượng rất lớn Để có cái nhìn rõ hơn, số liệu thống kê ở chỉ một tác
phẩm "Chúa Tàu Kim Qui", (ỉ92 trang, hại khổ 13 X 79), sẽ cho chúng tá hình dung ra
số lượng từ địa phương trong tác phẩm: (Số liệu nay chỉ là tương đối chính xác và không thống kê tần suất của từ.)
Và nếu xem xét trong phạm vi một đoạn, chúng ta sẽ thấy vai trò của từ ngữ
khẩu ngữ địa phương trong việc tạo nên phong cách dung dị của HỒ Biểu Chánh: (7) " Chứa tàu nghe nói như vây liền trơ qua dựa cửa sổ phía tay trái mà coi, thì
thấy một chú đàn ông ở dưới ghe lươn huôc dựa gốc da đó, đương lum khum tát nước gheịl) Chúa tàu biết đó là Kỉnh Chi nên trong lòng hồi hộp, mắt ngó chằng chằng, đợi ngước mặt lên đãng xem coi có quả là Kỉnh Chi hay không (2) Người ấy tát nước xong rồi liền lại trước mũi ghe mà mở dây, rồi ra sau lái gay chèo mà chèo ngang qua sông (3) Khi ghe day mũi ra ngoài sông, Chúa tàu dòm thấy mặt người ây chán
chường rồi thì liền cúi đầu xuống, hai hàng nước mắt nhỏ giọt, ngó không được nữa (4) Trần Mừng thấy Kỉnh Chi ra thì lật đát bơi tam bản qua, có ý chỉ cho Chúa tàu coi (5."(GTKQ,trl33)
- Câu 1: 8 từ ngữ địa phương
- Câu 2: 4 từ ngữ địa phương
- Câu 3: 4 từ ngữ địa phương
- Câu 4: 5 từ ngữ địa phương
- Câu 5: 4 từ ngữ địa phương
Số lượng từ ngữ địa phương xuất hiện ở các câu trên khá nhiều , chính các từ địa phương này là một trong những phương tiện làm cho ý nghĩa diễn đạt trong đoạn mang màu sắc của khẩu ngữ địa phương Và như vậy, khi đề cập đến khẩu ngữ Nam
Bộ chúng ta không thể không xem xét đến hệ thống từ ngữ tương ứng
Trang 231 Đặc điểm của từ ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh về mặt
ngữ nghĩa so vời từ toàn dân
Bước đầu khảo sát từ ngữ địa phương Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, có thể khá? quát thành một số đặc điểm chung nhu sau:
1.2.Từ ngữ địa phương có cùng nội dung biểu đạt với từ ngữ toàn dân nhưng cách thức định danh khác nhau
vừa mang ý nghĩa "tự nhiên, vô cớ" mà lại còn mang ý nghĩa biểu cảm, bày tỏ thá? độ
bực dọc của Trần Văn Hữu khi nói về vợ là Ba Thời
Lớp từ ngữ' loại này có số lượng khá nhiều trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh Chúng là lớp từ đặc biệt thể hiện cách thức định danh riêng của phương ngữ Nam Bộ Tuy vậy, cũng có khi làm cho người tiếp nhận khó hiểu bởi cách định danh khá độc
Trang 24đáo, nếu không có thực tế tiếp xúc hoặc không có ngữ cảnh Chẳng hạn như '."thầy hù" để chỉ người thợ cắt tóc, hớt tóc, nhưng nếu mới tiếp xúc, chúng ta chưa thể liên tưởng để hiểu được ý nghĩa của từ , và chỉ hiểu được khi có ngữ cảnh Ví dụ:
(10) " Nói chuyện với bạn một hồi rồi gởi thuyền bước lên bờ, kiếm thầy hù cạo đầu giấc bính và mua hai bộ quần áo khách rồi trờ xuống thay đổi quần áo, bạn tàu xem thấy chưng hửng không biết anh là khách Quảng Đông hay là người An Nam." (CTKQ, tr 69)
1.2 Lớp từ ngữ do một yếu tố mang ý nghĩa địa phương kết hợp với một yếu tố toàn dân
Thực ra, lớp từ ngữ này có cách câu tạo cũng theo qui tắc chung của tiếng Việt toàn dân, nhưng có lẽ do tâm lí sử dụng của người dân Nam Bộ, Ưa lối diễn đạt rành
rọt, với các cách nói mang tính biểu cảm cao, cho nên lớp lừ này rất đa dạng và phong phú vồ cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng trong khẩu ngữ nói chung,và khẩu ngữ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nói riêng Ý nghĩa của yếu tố địa phương rất khó xác định , nó
có thể làm tăng thêm hoặc giảm đi ý nghĩa của yếu tố toàn dân và đại đa số các yếu tố địa phương này đều là yếu tố phụ trong loại từ ghép chính phụ
Trang 25Giá trị của lớp từ nay một mặt vừa làm tăng giá trị biểu cảm, mặt khác còn diễn đạt được ý nghĩa khá? quát
Ví dụ:
(11) " Tố Nga cúi xuống vỗ con mèo một cái nó chạy đì xa, rồi nàng kéo ống
quần lê mà phủi bụi, lòi bắp chuối trắng nõn mà tròn vo." (KLNC, tr 31)
(12) " Thầy nằm trên ghế xích đu lúc lắc một hồi, mặt mày buồn m" (TTN, tr 88) Trong (11), "trắng nõn" để Miêu tả khá? quát bắp chân có màu đa thật trắng, mịn
và đẹp, "tròn vo" cũng Miêu tả hình dáng tròn đẹp Và trong (12), "buồn xo" để Miêu
tả gương mặt rất buồn
1.3 Lớp từ ngữ hoàn toàn mang ý nghĩa của địa phương tiêu biểu đặc trưng của
khẩu ngữ Nam Bộ
Ngoài lớp từ ngữ được sử đụng khá phổ biến ở khắp mọi M1ền tổ quốc, bất cứ
một khu vực, địa phương nào cũng.có những lớp từ địa phương "thuần chủng" nhằm
Trang 26phản ảnh cái riêng, cái "đặc sản" của địa phương, ở đây, trong lớp từ ngữ thể hiện trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, lớp từ hoàn toàn mang ý nghĩa của địa phương Nam Bộ có thể được chia ra các nhóm như sau:
a Nhóm từ ngữ gọi tên sự vật, đặc sản
- về động vật: vọp, ba khía, cá kèo
-Về cây, trái: bần, hùm sum, sưa đũa, ô rô, dừa nước
- về đồ ăn, thức uống và các từ liên quan: bánh cam, bánh ú, mắm sặc, xé phay,
- về đồ dùng trong sinh hoạt: khăn rằn, áo bà ba, tam bản, xuồng, lọp, trùm,
h Nhóm từ ngữ chỉ hành động, tính chất, hiện tượng -Hành động: chà lết, te rẹt,
cầm chầu, -Tính chất: phì lũ, lộn thinh, cùi đày,
-Hiện tượng: chạng vạng, nước ương, nước rong, nước giựt,
c Nhóm từ ngữ biểu thị sắc thá? biểu cảm
- Cảm thán: úy, cha cha, cha chả, ý hi, dữ hôn, mèn ơi
- Nghi vấn: hông, hôn, há, hả,
- Dùng để nhấn nhá, đệm lót: na, mà, đa, đó, hoài,
d/ Nhóm từ ngữ dùng để thay thế (hồi chỉ)
- Cho người: ổng, chỉ, cổ, mở, cẩu, thấy, ảnh,thẳng, dưởng, cỏn
- Cho vị trí: bển, trỏng, ngoải, trển, đẳng
- Cho thời gian: hổm, nam
đ Nhóm từ ngữ dừng để liên kết, đẩy đưa
- bèn, ngặt, chớ, thà
- thiệt quả, té ra, chẳng thà, nào dè, chẳng dè,
- cực chẳng đã, không có chi gì, cơ khổ hôn
(xem thêm phụ lục số 3)
Trang 27Các nhóm từ ( c), (d ), (e) sẽ được nêu thêm ở Chương Hai Riêng ở hai nhóm (a) và (b) có một đặc điểm khá thú vị đó là một số từ được cấu tạo với một hình tượng
gợi ý khá cụ thể làm nổi bật lên cá tính "thấy sao nói vậy" của cư dân Nam Bộ Chẳng
hạn như: hùm sạm, chang ba, xuồng ba lá, bao đồng, tréo ngoáy, chà lết ; những từ
ngữ này được liên tưởng bởi hình tượng gợi ý, thể hiện sự tri nhận của cư dân đồng
bằng sông cửu Long trong cách định danh sự vật:
- băm sạm (danh từ): loại cây thấp, nhiều cành nhỏ, lá nhỏ, rậm rạp, thường dùng làm hàng rào và cây cảnh, từ đây có sự phát triển nghĩa theo hướng mở rộng, "hùm sum" còn được dùng như một tính từ để chỉ sự um tùm của một cụm cây, cụm hoa
- chảng ba: nơi tiếp giáp giữa thân cây và cành hoặc nơi cành lớn rẽ thêm cành
- tréo ngoáy : Ngồi ghế mà tréo chân với nhau.(thường dùng với ý xấu)
- Chà lết: hành động lặp đi lặp lại của tư thế ngồi, ngụ ý chỉ người hay la cà ở nhà người khác (thường dùng với ý xấu)
Cần thấy, khi Miêu tả bằng từ ngữ, rõ ràng đó có thể là dấu hiệu dễ nhận biết
nhất về khẩu ngữ địa phương:
(13) " Hai người đứng nói chuyện tới đó, kế con Ngó bưng ra một mâm bánh để trên cái bàn giữa, trong mân có bốn dĩa bánh, một dĩa bánh bao, một dĩa bánh xếp,
một dĩa bánh bót lọc và một dĩa bánh bông lan nhún đậu đen." ( KLNC, tr 39)
1.2.1 Đặc điểm của từ láy khẩu ngữ Nam Bộ về mặt ý nghĩa
Nhìn chung, cách cấu tạo từ láy khẩu ngữ Nam bộ cũng không có gì khác biệt
với cách cấu tạo chung của từ láy toàn dân toàn dân: láy phụ âm đầu, láy vần, láy thanh điệu, láy hoàn toàn ở đây không đi sâu vào cách câu tạo cũng như so sánh sự khác biệt, nét đặc thù của từ láy khẩu ngữ Nam Bộ với từ láy toàn dân mà chỉ nêu ra
Trang 28một số đặc điểm về mặt ý nghĩa của lớp từ láy này ị về mặt cấu tạo xin xem phụ lục 4)
1.2.2 Đặc điểm về mặt ý nghĩa của từ láy đôi
Lớp từ láy đôi trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, về mặt ý nghĩa có những đặc điểm chung sau:
- Thường dùng để diễn đạt cho "người" với hình tượng gợi ý độc đáo
- Thường dùng để diễn đạt cho "sự vật, động vật" với sự tượng thanh, cách điệu hóa
a Nhóm từ láy với hình tượng gợi ý
Dùng để diễn đạt hành động, hình dáng, cử chỉ, và tâm lí cho "người", ví dụ: (I) Diễn đạt hành động:
- (chạy) lúc thúc/ lục thục/lểnh nghinh
- (ngó) trân trấn/láo liên/dáo dác/chằn chằn/
- (coi) ngó ngộ/xui xi/chăm bẩm/
Trang 29chúng chỉ thật sự phát huy chất đậm đặc khẩu ngữ khi được tác giả dùng để mô tả ngoại hình hoặc tâm lí nhân vật
Ví dụ:
(14)" Thằng Tý với con Quyên day lại, thấy cậu ha Giai đứng chần
ngần giữa chòi thì kinh tâm loạn trí, mặt mày tái xanh, mở mắt nhìn cậu trân trân mà không nói được một tiếng." (CCNN, tr 135)
(15)" Trần Văn Sửu ở nhà dưới, cóm róm bước lên xá bà." (CCNN, tr 142)
(16)" Một đôi tháng chồng về một lần, mà về thăm một ngày một buổi rồi đi, chớ không cho vợ một cắc nào, mà coi bộ còn quạu quạ nữa" (CĐMĐ, tr 12)
(17)" Cổ vào đơn xin phá hôn thú, tòa chưa xử thì cổ có nghén, bụng thè lè." (VNVT, tr 24)
Như đã nói, nhóm từ láy này thường dùng chủ yếu để mô tả hoạt động, trạng thá?, tính chất của các nhân vật, nhưng cũng có một số từ lại được sử dụng cho sự vật,
b Nhóm từ láy tượng thanh-cách điệu hóa
Theo quan sát bước đầu của chúng tôi, nhóm từ này không nhiều, thường được phân bố trong phạm vi Miêu tả cảnh, động vật và cũng không thể hiện sự đều đặn
Trang 30trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh , chủ yếu dùng cho hiện tượng tự nhiên và động
vật
(i) Dùng cho hiện tượng tự nhiên:
- (gió) ồ ào/ sạt sạơ xào xào/vần vũ
- (mưa) đùng đùng/giéo giắưrần rần/rỉ rả
- (nước chảy) ro re/ ồ ào/nhóc nhách
(ii) Dùng cho động vật, sự vật:
- (kêu) cạp cạp/ Liệt oạc/ chét chét/
- (sủa) ẳng ẳng/ inh ỏi/
Ví dụ:
(19)" Tàu rút chạy, chân vịt quay đùng đùng, súp lê thổi inh ỏi." (BV, tr 15) (20)" Đêm nay trời mưa rỉ rả, như tiếng đơn thảm., như giọng hát sầu Sau vườn, ảnh ương kêu uênh oang, trên vách thằn lằn chắc lưỡi." (KT,tr213)
2.2 Đặc điểm của từ láy tư
Trong sáng tác của Hồ Biểu chánh, số lượng từ láy tư không nhiều và nhóm từ láy này cũng thường sử dụng cho người, sự vật, động vật và giá trị của nó là làm tăng thêm giá trị Miêu tả hình ảnh, hoạt động, âm thanh
Ví dụ như:
- bơ hơ bãi hãi
- hôn thơ hôn thú
Trang 31- râm ra râm rít
(21) Sắp chăn trâu thây trời gần tối nên đuổi trâu về chuồng, trâu đì dưới
ruộng ni na rú nần, mấy đứa chăn cỡi trên lưng hát râm ra rẩm rít." (CĐMĐ, tr 29) Bên cạnh kiểu từ láy này, trong cách diễn đạt phổ biến ở Nam Bộ còn có dạng dùng cặp từ " vừa vừa ", đi đi " nói nói " ( "vừa đi vừa nói", "đi đây đi đó",
"nói đông nói tây"),rõ ràng hiện tượng này về mặt hình thức cấu tạo liên quan đến cấp
độ ngữ pháp Tuy nhiên, xét về mặt hiệu quả diễn đạt thì lại gần với hiệu quả của láy
tư mang lại, đặc biệt cách lặp rất đa dạng, tự nhiên, mang đậm dấu ấn khẩu ngữ Xin được lưu ý, về hệ tôn ti, ở đây, các cặp từ này có liên quan đến các cấu trúc cú pháp, nhưng trọng tâm của luận văn là muốn vươn tới xác lập một số đặc điểm khẩu ngữ trên cấp độ từ vựng, chứ thực ra cũng không hiếm lí do khác để xếp chúng vào tổ hợp
cú pháp, nghĩa là nên xem xét chúng dưới góc độ cú pháp Có thể nêu lên một số cách dùng như sau:
Trang 32(23)" Lúc thằng nhỏ đương đóng cửa chuồng vịt thì con chó thủng thẳng bước ra ngoắt đuôi mừng, rồi liếm cẳng liếm tay, coi như hình tiếp rước." (CĐMĐ, ừ 7)
(24)" Mầy phải nói tên nó chơ tao biết, đặng tao đến nhà nó tao đào nát ông nát cha nó cho nó biết mặt tao." (CCNN, tr32)
2.3 Từ láy ba
Từ láy ba rất hiếm, theo quan sát của chúng tôi trong 27 tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, mới chỉ tìm thấy được 3 từ láy ba: " lắc cắc cụp" (tượng thanh), "đánh đùng đưa" (tượng hình), "dửng dừng dưng" (bày tỏ thá? độ)
(25)" Ngoài đường chẳng có ai đi, duy có một tên lính mã tà thơ thẩn đi tuần,
gặp thầy lật đật xú, và xa xa thấy có mấy đứa nhỏ đương vây gánh mì mà ân, còn chú
chậc bán mì thì đứng chống tay trên đòn gánh mà gõ lắc cắc cụp, lắc cắc cụp " ( TTN, tr 89)
(26)" Hai bên chá? nhà có hai hàng sưa đũa, trái tòn ten gió đánh đùng đưa." (NCGĐ, trố9)
(27)" Vợ chồng tôi thấy cái óc của mẹ con chị cả thiệt dửng dừng dưng!"( CG tr 191)
Nhìn chung, cách sử dụng từ láy của Hồ Biểu Chánh là thường nghiêng vồ diễn đại cái cụ thể Nhưng cái cụ thể ấy không làm nghèo nàn cho ý nghĩa diễn đạt, trái lại, qua đó tạo cho đối tượng Miêu tả những hình tượng có nét đặc sắc sinh động, bất ngờ
mà rất gần gũi với lời ăn tiếng nói bình thường của người lao động
Chẳng hạn như khi diễn đạt hành động "đứng", chúng ta thường gặp cách nói
"đứng trang nghiêm", "đứng co ro" , nhưng ở Hồ Biểu Chánh thì dùng khá nhiều từ láy để hình tượng hóa cách "đứng" : " đứng châm bẩm", "đứng chàng ràng", "đứng ké né", "đứng dụ dự", "đứng xớ rớ", "đứng chần ngẩn", "đứng chưng hửng", "đứng bợ
ngợ", " đứng xụi lơ", "đứng xui xi", "đứng tồng ngồng"
(28)" Thằng Được với con liên bước vô nhà thấy nhà cửa kinh dinh, ghế tủ hực
hơ thì ké né không dám ngồi " (CĐMĐ, tr 90)
Trang 33(29)" Như Thạch thấy chú Hưng đứng xớ rớ trước sân thì kêu mà biểu ra xe vác cái rương và va li đem vô nhà." (TT, tr 26)
(30)"Cô Phùng Xuân bối rối quá, không biết dùng chước nào mà từ, nên đứng du
dư hoài." (TGGT, tr 41)
(31)" Đứng chần ngần dựa mé ao một hổi rồi Thủ Nghĩa quày quả trở ra, đi ngang qua mấy cái nền nhà là chỗ khi mới vô trông thấy rất đau lòng mà anh ta cũng không thèm dừng bước, cứ lầm lũi đì riết ra ngoài đường rồi băng xuống ruộng nhắm hướng nam mà đi tới." (CTKQ, tr 47)
(32)" Hương thị Tào đứng chưng hửng, thằng Tý bỏ chạy ra lộ, ông ngoại nó
muốn níu lại mà níu không kịp." (CĐMĐ, tr 125)
Như trên đã nêu, nhóm từ láy tượng thanh tuy số lượng sử dụng không nhiều nhưng khi quan sát kĩ chúng ta sẽ nhận được sự biến âm và biến ý rất thú vị Ở đây các từ tượng thanh nhờ ngữ cảnh xuất hiên, câu chữ bỗng nhiên cựa quậy, nhiều khi người đọc cảm được mà rất khó lí giải
Trở lại với ví dụ (21):
" 1 Sấp chăn trâu thấy trời gần tối nên đuổi trâu về chuồng, trâu đi dưới ruộng
ni na ni nần, mấy đứa chăn cỡi trên lưng hát rẩm ra râm rít " (CĐMĐ, tr 29)
Từ láy "ram ra râm rít" không những tạo âm thanh hát nho nhỏ vu vơ không nghe được lời cửa "sắp chăn trâu" mà còn gợi lên hình ảnh thảnh thơi thong dong của người mục đồng cưỡi trâu về nhà
Và, người đọc cũng sẽ như vừa nghe "tiếng sóng", "tiếng gió", vừa như thấy hiện lên trước mắt cảnh ở bờ sông :
(32) " Gió thổi lao rao, đưa sóng đánh vào mé đất lách xách, nhánh bần lức lắc,
lá xuôi một phía khua tiếng lào xào " (CCNN, tr42)
Một vấn đề khác cỏ thổ nhận thấy qua lớp từ láy trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh nói riêng và của từ địa phương Nam bộ nói chung là : lớp từ láy khá phong phú
và đa dạng về mặt hệ thông, tinh tế và hiệu quả về mặt ngữ dụng Chúng tôi sẽ trở lại
vấn đề này trong các tiểu mục tiếp theo
Trang 341.3.VAI TRÒ C ỦA LỚP TỪ NGỮ KHẨU NGỮ NAM BỘ TRONG TIỂU THUY ẾT CỦA HỒ BIỂU CHÁNH
Như đã xác định, lớp từ ngữ khẩu ngữ Nam Bộ có vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh Tính chất quan trọng không chỉ bó hẹp trong phạm vi ngôn ngữ mà còn liên quan đến các nhân tố bên ngoài ngôn ngữ, chẳng hạn như tính
quần chúng, sự chuẩn bị của ngữ cảnh
Trong phạm vi xác định, tiểu mục này sẽ khảo sát vai trò của chúng trong việc
diễn đạt cũng như tác dụng trong tiếp nhận văn học do chúng mang lại
Nếu xét về mặt giá trị nội dung, tiểu thuyết của Hồ biểu Chánh luôn được sự ủng
hộ của độc giả Nam Bộ, đặc biệt là người bình dân, bởi các nguyên nhân sau:
- Đề tài, chủ đề phù hợp, gần gũi với tâm lí của cư dân địa phương: Cư dân vùng đất mới, gặp nhau, kết bạn với nhau, hình thành quan niệm sống có thủy có chung, sẩn sàng "cứu khổ phò nguy", lên án cái xấu, bênh vực lẽ phải, chân thật, thong dong tự
tại, và " Tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa tợ thiên kim"
- Kết cấu của tác phẩm luôn luôn có hậu : "ở hiền gặp lành"
- Ngoài ra, ngôn ngữ kể truyện như lời ăn tiếng nói hằng ngày phù hợp với tâm lí
tiếp nhận của người đọc Tại đây, luận văn sẽ phân tích kĩ đặc điểm này
1.3.1 L ớp từ ngữ khẩu ngữ và tính quần chúng
Tính quần chúng ở đây được hiểu theo nghĩa rộng: tính đại chúng, tính toàn dân
Mặc dù lớp từ địa phương trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có nhiều từ xa lạ với từ toàn dân nhưng lớp từ này vẫn được quần chúng hiểu được nhờ vào các điều kiện sau:
Sự tri nhận của người đọc đối với lớp từ địa phương có lúc sẽ không hiểu được
nội dung ý nghĩa, nhất là đối với lớp từ mang tính "đặc sản" nhưng khi đặt nó vào trong ngữ cảnh cụ thể hoặc so sánh với từ toàn dân thì vẫn hiểu được ý nghĩa của từ
Do đó, nếu chỉ đơn thuần tiếp nhận "từ " một cách "từ điển" thì dễ dẫn đến ngộ nhận
rằng từ ngữ địa phương Nam Bộ chỉ sử dụng được cho cư dân vùng này Hay nói khác
Trang 35đi, tính quần chúng của lớp từ ngữ địa phương trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh được ngữ cảnh làm nền để người tiếp nhận hiểu được ý nghĩa của từ
Chẳng hạn, nếu chỉ đơn thuần tiếp xúc từ "chíp" , "khắc bạc", "bẻ đẩu, luốt lát" , thì khó mà hiểu được nghĩa của các từ này; nhưng khi tiếp xúc văn bản thì nội dung đoạn, câu sẽ giúp chúng ta tìm ra được ý nghĩa của nó "Chíp " mang ý nghĩa "giữ, ghi, khắc ghi" ; "khắc bạc " mang ý nghĩa "hà tiện, keo kiệt" ; "bẻ đầu" mang ý nghĩa
"lấy lãi, lấy công, lấy phần" và "luốt lát" mang ý nghĩa "ít, qua loa" :
(33)" Bà than rằng rừng xứ nấy dễ phá, đất xứ nẩy phân nhiều vì người trong xứ không có tiền bạc mà qui dân cho đông, nên chưa mở rừng làm ruộng được bao nhiêu
Lê Văn Đỏ nghe như vậy thì chíp trong bụng thầm tính về Tân Hòa hễ kiếm chị dâu
với sắp nhỏ được rồi thì dắt hết trở qua đây ở mở rừng làm ruộng " ( NCGĐ, tr 61) (34)" Tôi là Lê Văn Tố gốc ở Trường Bình, vợ chồng nghèo nên phải mướn
ruộng của tên Trương Công Sanh mà làm Trương Công Sanh giàu lớn mà nó khắc bác lắm." (NCGĐ, tr.30)
(35)"Khi nào không có đồ may, trong nhà phải thiếu hụt thì gói bánh ú đem gởi cho mấy quán họ bán, giao 12 bánh cho họ bẻ dầu 2 bánh, tự nhiên họ chịu liền." (VGCT, tr 40)
(36)" Vĩ trong mình đã cố bịnh sẵn lại thêm sinh sản, mà cũng vì tiền bạc khiếm khuyết nên thuốc men luốt lát, bởi vậy thân thể cô Nhung ngày một thêm ôm mặt mày
của cô ngày một coi thêm mệt." (TT, tr 118)
Như đã phân tích, có thể bạn đọc không biết nghĩa của các từ "chíp", "khắc bạc",
"bẻ đầu", "luốt lát" nhưng do tác giả chuẩn bị ngữ cảnh khá cụ thể nên người đọc có
thể dễ dàng lĩnh hội được nội dung mà tác giả muôn diễn đạt
Cũng xin được lưu ý, một số từ vừa phân tích ở trên có thể coi là những từ đậm
chất phương ngữ Nam Bộ nhưng xét về mặt hành chức thì chưa ổn định, bởi hiện nay
Trang 36Việt lại tồn tại dưới các giọng địa phương cụ thể về mặt ngữ âm, giọng Nam Bộ có
một số biến thể ngữ âm do xuất phát từ hệ thống âm vị địa phương Hơn nữa, do nhiều
lí do ngoài ngôn ngữ, như hiện tượng kiêng húy, cũng làm cho bộ mặt ngữ âm ở đây
có phần khác biệt so với hệ thống ngữ âm tiếng địa phương khác Điều này thể hiện trước hết trong giọng nội, và cũng được phần nào phản ánh trong khẩu ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, bao gồm cả trên hai bình diện: ngôn ngữ nhân vật và ngôn
ngữ của người dẫn truyện
Mặc dù khẩu ngữ địa phương trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh rất đậm đặc , phát
âm nghe lạ tai , nhưng nhờ sự biến thể ngữ âm và sự đồng dạng về cách cấu tạo với từ toàn dân nên vẫn giúp cho người tiếp nhận tự liên hệ, liên tưởng để hiểu được nghĩa
của từ
Ví dụ như khi tiếp xúc với lừ địa phương nghe lạ tai, người tiếp nhận sẽ tự liên
hộ, so sánh và hiểu được ý nghĩa:
+ "bợ ngợ " có sự tương đồng về loại lừ láy, có sự gần gũi về ngữ âm nên sẽ hiểu
là " bỡ ngỡ"; tương tự như thế sẽ hiểu được nhiều từ láy: chộn nhộn/nhộn nhịp , quanh quất /quanh quẩn, dục dặc/chần chờ, thè lè/lồ lộ Tất nhiên ở đây, về mặt tương quan ngữ nghĩa thì cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì đó chỉ là nội dung liên tưởng ngữ nghĩa chứ về thực chất là hoàn toàn không đồng nhất về mặt vỏ ngữ âm
Hoặc, hiểu được sự biến trại ngữ âm sẽ tiếp nhận được ngay ý nghĩa của các từ " đương/đang, chơn/chân, ngãi/nghĩa, nhứt/nhắt."
Các đại từ dùng thay thế mang tính chất hồi chỉ " Ổng, bả, cẩu, mở, dường, ngoải, nam, " trong liên hệ sẽ hiểu được " ông đố, bà đó, cậu đó, mợ đó, dượng đó, ngoài đó, năm xưa 1'
Ví dụ:
(37)" Té ra dượng Hai ở dưới Thốt Nốt đi xe hơi lên, dường ngừng xe ngay chỗ
bụi gừa lớn đó, rồi dường lại nhà kêu cửa." (KT, tr 215)
(38)" Mợ Hai mở nói mượn trà sao mượn hoài, mở biểu lại quán mà mua mà
uống chớ mở không cổ trà mà cho mượn nữa May có cậu Hai ở nhà cẩu nghe cấu rầy
rỗi cẩu lấy cho mượn đỏ đa " (CCNN, tr 65)
Trang 37+ Các nhóm từ loại "đỏ chạch, cay xé, ngó riết, tái lết, xanh chành, " khi so sánh với dạng từ toàn dân có cấu tạo tương đương : " yếu tố chính có ý nghĩa rõ ràng
kết hợp với yếu tố phụ để tạo nên ý nghĩa mới (tăng hoặc giảm ý nghĩa của yếu tố chính.) " thì sẽ hiểu được mức độ ý nghĩa của từ
1.3.2 Lớp từ ngữ khẩu ngữ với việc Miêu tả tính cách nhân vật
Như trên đã nêu, nội dung tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là rất gần gũi với đặc điểm tâm lí của cư dân Nam Bộ, bởi đề tài, chủ đề, kết cấu đều là những sự việc,
những vấn đề gần gũi với cược sống
Tư tưởng chủ đề của các truyện luôn tuân thủ theo quan niệm đạo lí của những người tha hương mong muốn nối kết tình bạn, xây dựng một cuộc sống lí tưởng đẹp
đẽ Do đó, trong tác phẩm luôn có sự phân định rạch ròi trong suy nghĩ, hành động
của nhân vật: căm ghét cái ác, ca ngợi thủy chung, hiếu nghĩa, phê phán cái xấu, xây
dựng cái tốt, sẩn sàng cứu khổ phò nguy và " làm ơn há dễ trong người trả ơn" V
Vì bị chi phối bởi quan niệm ấy nên trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh luôn có hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện Nhân vật chính diện là đại diện cho chính nghĩa, cho cái tốt, còn nhân vật phản diện thì ngược lại
Hồ Biểu Chánh chẳng những xuất thân là nhà nho thấm nhuần đạo lí Khổng
Mạnh mà còn là một cư dân Nam Bộ mang đậm tính cách đặc thù của con người vùng đất này, cho nên khi xây dựng nhân vật trong tác phẩm ông luôn chú trọng khắc họa tính cách nhân vật bằng hệ thống từ ngữ có lựa chọn
Như trên đã nêu, lớp từ ngữ địa phương Nam Bộ, nhất là từ láy, được Hồ Biêu Chánh sử dụng khá nhiều, song chủ yếu dùng để Miêu tả ngoại hình , hoai đông của nhãn vát hơn là Miêu tả về tâm li nhân vát ,và thường thiên về cảm lính hơn là lí tính, thường thiên về cái bên ngoài hơn là cái sâu kín bên trong Từ đó, khi khảo sát lớp từ
ngữ địa phương này, một điều đặc biệt có thê nhìn thấy là gần như hình thành hai tuyến từ ngữ cho hai tuyến nhân vật bong tác phẩm:
2.1 Lớp từ ngữ khâu ngữ với việc Miêu tả ngoại hình nhân vật Thử so sánh hai đoạn Miêu tả ngoại hình của hai nhân vật mà tác giả giới thiệu khi nhân vật xuất hiện
lần đầu tiên trong tác phẩm:
Trang 38(39) " Thị Lựu, là vợ của Sửu, mình mặc cái quần lãnh đen, một cái áo vải đen còn mới, đầu gỡ láng nhuổt răng đánh trắng nõn, tai đeo một đôi bông có nhận hót
thủy tinh, cổ đeo một sợi dây chuyền có trái tim treo nhồng nhảnh, tay mặt có đeo một chiếc đồng í rơn, tay trái có đeo một chiếc niết chỉ
Đang bồng đứa con nhỏ hết, đứng tựa cửa, thấy chồng về đã không thèm hỏi mà
lọi còn nguýt một cái (CCNC, tr12)
(40) " Nàng để đầu trần, tóc vuốt mà bới chớ khổng cần lược nhưng mà tóc nàng
xấp xải hai bàn tang, đầu tóc nàng xu xop đứng sau ót, làm cho chiều lả lơi pha lộn
với vẻ hữu tình Mặt nàng không đồi phấn mà trắng hồng hồng, môi nàng không thoa son mà ưng đỏ đỏ; hàm răng nàng khít rít mà lai trắng trong; Chơn mày nàng cong vòng mà lại nhỏ mức; ngón tay nàng dài mà lại nhọn như mũi viết, lại thêm phao hồng
hồng; móng tay nàng suôn đuôi nên đánh đơn xa coi diu nhíu, bàn chân nàng không đi giày, mà gót ừng đỏ, bàn nơ vun, nên hễ gió phất ống quần thì ai cũng phải ngó Tướng mạo nàng đẹp đẽ dường ấy mà lại thêm tánh tình nàng Chơn chánh, cử chỉ nàng thanh tao nữa, bởi vậy tuy nàng ở trong nhà dân giả bần hàn, song phẩm giá nàng chẳng kém gì gái trâm anh phiệt duyệt." (NCGĐ, tr 71)
Ở hai đoạn trên, chúng ta thấy số lượng từ ngữ địa phương M1ên tả ngoại hình
của nhân vật khá nhiều Cảm nhận đầu tiên của chúng ta về cách giới thiệu sẽ hình dung được nhân vật (Thị Lựu) trong (39) có một điều gì đó khác thường, còn nhân vật (Ánh Nguyệt) ở (40) có dáng dấp của người chân chính Nếu so sánh cách dùng từ
ngữ trong Miêu tả thì sẽ có nhận ra sự chủ ý về cách dùng từ của tác giả:
Trang 39Trong hệ thống tĩnh tại, ý nghĩa của từ luôn là cố định, song trong ngữ cảnh và
với dụng ý của tác giả thì giá trị ý nghĩa của nó có khác đôi chút, các trường hợp nêu trên là ví dụ cho ý định của tác giả khi sử dụng từ ngữ để Miêu tả Hay nói khác đi, để
khắc họa ngoại hình nhân vật, Hồ Biểu Chánh luôn tận dụng từ ngữ vừa đặc biệt của địa phương vừa mang tính toàn dân để Miêu tả
Đối với "Thị Lựu", tác giả Miêu tả hình dáng, ngắn gọn, một chiều : những từ
ngữ " láng nhuốt, trắng nõn", ý nghĩa của từ ngữ này là bình thường nhưng nằm trong
một trường liên tưởng thì hoàn toàn khác; từ " nhông nhảnh " ý nghĩa của từ càng được tăng cao khi nằm trong ngữ cảnh có yếu tố chủ quan của tác giả; ở từ "nguýt" cũng bị chi phối bởi ngữ cảnh và ý định tác giả nên làm tăng thêm ý nghĩa xấu cho nhân vật; tất cả cho thấy ý định chủ quan của tác giả khi giới thiệu một nhân vật mà tương lai sẽ không phải là người chân chính, đứng đắn
Đối với "Anh Nguyệt", tác giả Miêu tả tỉ mỉ hơn và với chủ định làm lộ ra người con gái nết na đằm thắm - đây cũng là cách diễn đạt tương phản theo phạm trù thẩm
mĩ dân giã bắt nguồn từ các hình tượng nhân vật trong hát bộ - và dùng các từ "mà,
Trang 40nhưng mà, mà lại" để khẳng định thêm ý nghĩa của những từ Miêu tả trước đó "Ảnh Nguyệt" không se sưa, chưng diện nên tóc chỉ " vuốt mà bới" chứ không "gỡ láng nhuốt" và cổ không "đeo dây chuyền " như "Thị Lựu" và việc chăm sóc nhan sắc
của nàng cũng rất bình thường "hàm răng khít khao mà lại trắng trong' chứ không
"đánh răng trắng nõn" như "Thị Lựu" v.v
Rõ ràng, cách Miêu tả như thế là để thấy chứ không phải để cảm
Đôi với nhân vật nam, khi Miêu tả, Hổ Biêu Chánh cũng với ý định chủ quan như vậy nên thường dùng những từ ngữ địa phương gợi hình khi tả một mẫu người
tốt, cương trực thẳng thắn hoặc tả một người xấu
Chẳng hạn, khi tả người tốt thì "mắt rạng ngời", còn khi giới thiệu kẻ gian manh thì " mắt láo liên, mắt nháy lìa nháy lịa"
(41) " Khiếu Nhàn bước vào kéo ghế mà ngồi, ngó quanh quất không thấy khách
ăn uống, duy có một người trai trạc chừng mười bảy, mười tám tuổi, đương ngôi tại bàn gân cửa mà viêt Ong thay người M1ệng rông, moi dày, vai ngưng, trán trợt, tóc
hớt cút, mắt rang ngời, tư cách nghiêm trang, mặt mày sáng rỡ, tuy y phục tầm thường
mà hình dung không phải như người thường, bởi vậy ông cứ ngơi ngó hoài." (ALĐ, tr 3)
(42)" Chúa tàu ngồi ngắm Trần Tấn Thân, thấy vóc thì cao hơn, cằm có mọc râu lém đém, coi khác hơn xưa, nhưng mà cặp mắt nháy lia nháy lịa, mát thỏn mà dài thiệt
là tướng người gian giảo tham lam, chẳng đổi chút nào hết." (CTKQ, tr 175)
Khi Miêu tả ngoại hình nhân vật, nói chung, Hồ Biểu Chánh thường Miêu tả các
bộ phận trên đầu (tóc mặt, mắt, M1ệng , mũi, má, môi, tai ), hình dạng (tay, chân, dáng đi) và cách tả thường đơn giản với những từ ngữ địa phương, đồng thời hay dùng cách tả ước lệ nhưng nhân vật của Hồ Biểu Chánh vẫn toát lên nét tính cách riêng của
một lớp người và mang đậm màu sắc Nam Bộ
Do đó, chúng ta có thể nhìn thấy những người phụ nữ đoan trang hoặc người đàn ông đứng đắn ở những tác phẩm khác nhau đều có những nét tương đồng với nhau về tướng mạo, trang phục: