1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Áp dụng hoạt động viết nhật ký trong dạy kỹ năng viết tiếng Anh tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

8 194 6

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 416,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng việc áp dụng hoạt động viết nhật ký trong dạy kỹ năng viết cho sinh viên tiếng Anh tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Tham gia nghiên cứu là 119 sinh viên năm thứ nhất và bốn giảng viên dạy môn kỹ năng Viết tiếng Anh cho các sinh viên.

Trang 1

ÁP DỤNG HOẠT ĐỘNG VIẾT NHẬT KÝ

TRONG DẠY KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TÓM TẮT

Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng việc áp dụng hoạt động viết nhật ký trong dạy kỹ năng viết cho sinh viên tiếng Anh tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Tham gia nghiên cứu là 119 sinh viên năm thứ nhất và bốn giảng viên dạy môn kỹ năng Viết tiếng Anh cho các sinh viên Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ bảng khảo sát sinh viên, phỏng vấn cá nhân với đại diện sinh viên

và các giảng viên, cùng với việc phân tích các tập nhật ký của sinh viên Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động viết nhật ký có tiềm năng hỗ trợ tốt cho việc học tiếng Anh của sinh viên, đặc biệt

là phát triển kỹ năng viết và kỹ năng tự học Tuy nhiên, một số chi tiết hiện tại giảng viên đang

áp dụng có thể làm hạn chế hiệu quả của hoạt động Do vậy, nghiên cứu đã đưa ra một số đề xuất nhằm cải tiến việc áp dụng hoạt động viết nhật ký hiện nay tại trường và giúp cho các giảng viên khác muốn áp dụng hoạt động viết nhật ký trong giảng dạy

Từ khóa: kỹ năng chiêm nghiệm, kỹ năng tự học, kỹ năng viết, tư duy phê phán, viết nhật ký

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Viết nhật ký là một hoạt động được áp dụng

khá phổ biến trong giảng dạy ngoại ngữ ở nhiều

nơi trên thế giới Nghiên cứu chỉ ra rằng, viết nhật

ký bằng ngôn ngữ đích có thể giúp người học phát

triển các kỹ năng ngôn ngữ và kỹ năng học tập,

đặc biệt kỹ năng viết và kỹ năng tư duy phê phán,

chiêm nghiệm và kiểm soát việc học của bản thân

(Herrero, 2007; Lee, 2013; Walker, 2006) Hoạt

động viết nhật ký cũng có thể giúp cung cấp cho giảng viên thông tin về cuộc sống, tư duy, quan điểm thái độ của của người học để giảng viên có thể có những chỉ dẫn phù hợp, kịp thời nhằm hỗ trợ cho sinh viên học tập hiệu quả (Castellanos, 2008) Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hiệu quả của hoạt động viết nhật ký có thể thay đổi phụ thuộc vào cách triển khai và bối cảnh giáo dục tại nơi triển khai Tại trường Đại học Công

HOÀNG NGỌC TUỆ * ; TRẦN THỊ DUYÊN ** ; VŨ THỊ NHUNG *** ; NGUYỄN THỊ HUYỀN ****

* Đại học Công nghiệp Hà Nội,  tuehoang77@gmail.com

** Đại học Công nghiệp Hà Nội, tranduyen1178@gmail.com

*** Đại học Công nghiệp Hà Nội,  nhungvund330@gmail.com

**** Đại học Công nghiệp Hà Nội,  huyennt154@gmail.com

Ngày nhận bài: 29/3/2018; ngày sửa chữa: 21/5/2018; ngày duyệt đăng: 20/6/2018

Trang 2

nghiệp Hà Nội (ĐHCNHN), hoạt động viết Nhật

ký bằng tiếng Anh (Journal Writing) đã được triển

khai trong giảng dạy môn Viết 2 cho sinh viên năm

thứ nhất - chuyên ngành ngôn ngữ Anh tại trường

được hơn 3 năm, tuy nhiên chưa có nghiên cứu

nào được thực hiện để tìm hiểu về việc áp dụng

này Bởi vậy, nhóm nghiên cứu đã quyết định tiến

hành nghiên cứu để tìm hiểu về thực trạng việc áp

dụng hoạt động viết Nhật ký trong dạy kỹ năng

viết tiếng Anh cho sinh viên năm thứ nhất chuyên

ngành ngôn ngữ Anh, trường ĐHCNHN Nghiên

cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau:

(1) Giảng viên triển khai hoạt động viết Nhật

ký tới sinh viên như thế nào?

(2) Sinh viên thực hiện hoạt động viết Nhật ký

như thế nào?

(3) Giảng viên và sinh viên nhận định như thế

nào về hiệu quả của hoạt động viết Nhật ký?

2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1 Định nghĩa viết Nhật ký

Cho tới nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu và

học giả trên thế giới đã đưa ra định nghĩa viết Nhật

ký Graham (1991) định nghĩa viết Nhật ký là hình

thức tự truyện và là cách để rèn tư duy, qua đó

người viết có thể nhìn lại cuộc đời theo từng giai

đoạn, miêu tả các khía cạnh của cuộc sống cũng

như bày tỏ quan điểm cá nhân đối với từng trường

hợp cụ thể Còn theo Dyment & O ‘Connell (2003)

viết Nhật ký là hoạt động ghi chép lại các sự kiện

diễn ra hàng ngày, những trải nghiệm, phản ánh cá

nhân về các vấn đề về xã hội” Chia sẻ quan điểm

với các tác giả trên, nghiên cứu này xác định viết

Nhật ký là một hình thức viết tự truyện, trong đó

người viết ghi lại suy nghĩ, cảm xúc, trải nghiệm

và các phản ánh cá nhân

2.2 Các kiểu viết Nhật ký

Hoạt động viết Nhật ký thành nhiều dạng khác

nhau tùy vào môi trường dạy và học, nhưng nhìn

chung, có bốn loại chính: Nhật ký cá nhân (personal journals), Nhật ký chuyên môn (professional journals), Nhật ký hội thoại (dialogues journals)

và Nhật ký phản ánh (reflective journals) (Lee, 2013) Trong đó, Nhật ký cá nhân và Nhật ký phản ánh là phù hợp để áp dụng trong chương trình giảng dạy kỹ năng viết tiếng Anh Nhật ký cá nhân ghi lại những cảm xúc, suy nghĩ và trải nghiệm sống của người học Loại Nhật ký này tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội học và thực hành viết nhiều hơn, đối chiếu so sánh những kiến thức học được với những trải nghiệm thực trong cuộc sống (Moon, 2006) Nhật ký phản ánh không chỉ ghi lại những sự vật, sự việc, hiện tượng diễn ra như thế nào mà còn đan xen vào đó những phản ánh, cảm nhận mang tính chủ quan, qua đó nâng cao

kỹ năng phản ánh trong quá trình học (Lee, 2013)

2.3 Cách triển khai hoạt động viết Nhật ký trong dạy kỹ năng viết

Quá trình triển khai hoạt động viết Nhật ký trong dạy kỹ năng viết có thể chia thành ba giai đoạn: hướng dẫn, thực hiện và đánh giá Ở giai

đoạn hướng dẫn, giảng viên cần phổ biến cho sinh

viên về mục đích viết, yêu cầu (về hình thức và nội dung, chủ đề, số lượng, hạn nộp), hướng dẫn cách viết, cung cấp bài viết mẫu, làm rõ hình thức phản hồi của giảng viên, tiêu chí đánh giá và trọng

số điểm của tập viết Nhật ký (Reid, 1993; Walker, 2006) Ở giai đoạn thực hiện, giảng viên cần giám sát, khuyến khích và giúp đỡ sinh viên hoàn thành các bài viết Đặc biệt, giảng viên cần chú ý tạo dựng lòng tin đối với sinh viên, để sinh viên cảm thấy thoái mái chia sẻ những cảm xúc, suy nghĩ và trải nghiệm thật của mình Sau khi sinh viên hoàn thành xong bài viết đầu tiên, giảng viên nên đưa ra nhận xét phản hồi trước khi sinh viên viết bài tiếp theo Đây là công việc khó khăn nhất của hoạt động viết Nhật ký và giảng viên không nên đưa ra đánh giá theo hướng phê phán mà nên nhìn vào nỗ lực hoàn thành bài viết của người học (Walker, 2006) Giảng viên nên đưa ra nhận xét và gợi ý cả về kiến thức ngôn ngữ lẫn nội dung thông tin (Harmer,

2001) Ở giai đoạn đánh giá, tuy rằng việc đánh

Trang 3

giá tập bài viết Nhật ký của sinh viên đến nay vẫn

là vấn đề gây nhiều tranh cãi, nhiều học giả cho

rằng nên đánh giá hoạt động này là một phần trong

chương trình học (Crème, 2005), và điểm đánh giá

viết Nhật ký nên chiếm khoảng 10% điểm của toàn

khóa học, điều này giúp khuyến khích sinh viên

đầu tư chu đáo cho bài viết (Walker, 2006) Tập

Nhật ký của sinh viên nên được đánh giá trên các

tiêu chí rõ ràng (Burton, 1999)

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định

tính và định lượng, và được thực hiện tại trường

ĐHCNHN vào ba tuần cuối của kỳ học khi sinh

viên gần kết thúc học phần Viết 2 Trước tiên,

nhóm thực hiện khảo sát trên 119 sinh viên năm

thứ nhất, chuyên ngành Ngôn ngữ Anh của trường

Bảng câu hỏi khảo sát bao gồm 17 câu yêu cầu

sinh viên cung cấp thông tin cá nhân, thông tin

về hoạt động viết nhật ký của bản thân, cách tiến

hành và sự trợ giúp của giảng viên, thái độ và quan

điểm của sinh viên về lợi ích của hoạt động viết

nhật ký và những đề xuất để hoạt động viết Nhật

ký trở nên hiệu quả hơn Cuối bảng khảo sát nhóm

nghiên cứu mời những sinh viên muốn tham gia

phỏng vấn sâu để lại thông tin liên lạc Sau khi

phân tích dữ liệu thu được từ phiếu khảo sát, nhóm

nghiên cứu chọn mời 10 sinh viên (mã hóa từ S#1

đến S#10) để phỏng vấn sâu Các sinh viên được

chọn phỏng vấn là những sinh viên để lại thông

tin liên lạc và có câu trả lời khảo sát đại diện cho

nhiều sinh viên khác hoặc có câu trả lời khác biệt

với đa số sinh viên khác để tìm hiểu rõ hơn quan điểm của các em Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng phỏng vấn bốn giảng viên dạy môn Viết 2 (mã hóa từ T#1đến T#4) về cách triển khai hoạt động viết nhật ký, hiểu biết và quan điểm về hoạt động viết nhật ký và các đề xuất cải tiến hiệu quả của hoạt động Cuối cùng, nhóm nghiên cứu thu thập 119 tập Nhật ký của sinh viên để phân tích về hình thức, nội dung và phản hồi của giảng viên và sinh viên Dữ liệu từ các nguồn khác nhau sau khi được phân tích riêng lẻ được tổng hợp và thảo luận theo ba chủ đề: (i) việc triển khai hoạt động viết Nhật ký của giảng viên, (ii) việc thực hiện hoạt động viết Nhật ký của sinh viên, (iii) nhận định của giảng viên và sinh viên về hoạt động viết Nhật ký

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Giảng viên triển khai hoạt động viết Nhật ký đến sinh viên như thế nào?

Kết quả khảo sát sinh viên và phỏng vấn với giảng viên và sinh viên cho thấy, các giảng viên triển khai hoạt động viết Nhật ký theo ba giai đoạn

Giai đoạn 1: Hướng dẫn thực hiện hoạt động viết Nhật ký

Trước khi yêu cầu sinh viên viết Nhật ký, hầu hết các giảng viên đã hướng dẫn sinh viên về hình thức, mục đích, số lượng, chủ đề, cách viết, hạn nộp và trọng số điểm chấm tập viết Nhật ký như thể hiện trên biểu đồ kết quả khảo sát sinh viên 1

Biểu đồ 1: Nội dung hướng dẫn sinh viên trước khi viết nhật ký

Trang 4

Hướng dẫn của các giảng viên khá thống nhất

về hình thức và mục đích của hoạt động viết Nhật

ký Về hình thức, các giảng viên khuyến khích sinh

viên viết tay để tránh việc sao chép trên máy tính

Về mục đích, các giảng viên đều nhấn mạnh mục

đích tạo thói quen viết và phát triển kỹ năng viết

cho sinh viên Đáng lưu ý là, không ai trong số bốn

giảng viên đề cập đến mục đích phát triển kỹ năng

tư duy phê phán, hồi tưởng và tự đánh giá tiến bộ

bản thân Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể trong

hướng dẫn của các giảng viên liên quan đến chủ đề

và cách viết Hai giảng viên gợi ý chủ đề và đưa ra

yêu cầu về độ dài nhưng hai giảng viên còn lại cho

phép sinh viên được tự chọn chủ đề và không yêu

cầu cụ thể về độ dài Có giảng viên yêu cầu viết

đoạn và có giảng viên cho phép sinh viên viết tự

do như viết thơ, viết truyện: “Tôi không yêu cầu

sinh viên bắt buộc phải viết đoạn, sinh viên có thể

sáng tác thơ, viết truyện hay viết bất cứ chủ đề nào

sinh viên thích” (T#3) Có giảng viên trình chiếu

bài viết mẫu và phân tích nhưng cũng có giảng

viên không làm vậy “vì muốn các em tự do sáng

tạo” (T#1) Đa số giảng viên (75%) yêu cầu sinh

viên bắt buộc viết một bài Nhật ký mỗi tuần nhưng

có một giảng viên cho phép sinh viên không phải

viết Nhật ký vào những tuần mà sinh viên có

quá nhiều bài tập Điều này cũng được thể hiện

trong kết quả phân tích tập Nhật ký của sinh viên

Việc coi hoạt động viết Nhật ký là một dạng

thức viết tự do và không cần hướng dẫn về chủ

đề, cách viết hoặc bài mẫu khiến cho sinh viên

gặp khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động

viết Nhật ký Việc sinh viên viết đoạn thơ ngắn

hoặc viết về một chủ đề bất kỳ không liên quan gì

đến những nội dung sinh viên đã học hoặc những

kinh nghiệm hoặc sự kiện xảy ra về bản chất chỉ là

luyện viết mà không phải là viết Nhật ký Kết quả

khảo sát và kết quả phỏng vấn sinh viên đều cho

thấy, một trong những lĩnh vực mà sinh viên cần

trợ giúp nhiều hơn là về chủ đề viết và cách viết

Việc cho sinh viên được tự chọn chủ đề viết là rất

phù hợp, tuy nhiên, sinh viên cần được hướng dẫn

cách chọn chủ đề viết sao cho có sự gắn kết với

một hoạt động hoặc nội dung đã học trên lớp để tư duy sâu hơn và tìm hiểu thêm về các nội dung đã học Chủ đề viết Nhật ký cũng có thể gắn với các

sự kiện mới diễn ra hoặc kinh nghiệm sinh viên mới trải qua để các em có những chiêm nghiệm và phản ánh lại những hoạt động mình đã làm, từ đó rút ra những bài học hoặc những kinh nghiệm cần thiết để tiến bộ hơn trong học tập Giảng viên có thể hướng dẫn về chủ đề hoặc cách viết thông qua các bài viết mẫu hoặc bài viết của sinh viên trong lớp, vì có tới hơn 1/2 số sinh viên cho rằng chưa được hướng dẫn thông qua bài viết mẫu

Giai đoạn 2: Quá trình thực hiện hoạt động viết Nhật ký

Trong quá trình sinh viên thực hiện hoạt động viết Nhật ký các giảng viên yêu cầu sinh viên trao đổi và chữa chéo bản thảo số 1, sau đó dựa trên các góp ý của sinh viên về viết lại sang bản thảo số 2 Hàng tuần, các giảng viên ký xác nhận sinh viên

đã hoàn thành bài Nhật ký Đôi khi giảng viên đọc

kỹ hơn và phản hồi hoặc chấm điểm bài Nhật ký của sinh viên Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian, các giảng viên chỉ có thể đọc kỹ và phản hồi cho một số sinh viên trong lớp Chỉ khoảng 1/3 số sinh viên tham gia khảo sát trả lời được giảng viên xem và phản hồi Nhật ký thường xuyên như thể hiện trên biểu đồ 2

Như vậy ở giai đoạn thực hiện, các giảng viên cũng đã rất sáng tạo trong việc hỗ trợ và khuyến khích sinh viên hoàn thành các bài viết Các bài viết của sinh viên đã được ít nhất một bạn cùng lớp đọc và góp ý trước khi viết bài tiếp theo và việc

Biểu đồ 2: Tần suất giảng viên xem và phản hồi bài

viết Nhật ký của sinh viên

Trang 5

hoàn thành bài viết hàng tuần của sinh viên được

giảng viên kiểm soát chặt chẽ

Tuy nhiên kết quả phân tích các tập Nhật ký

của sinh viên cho thấy nội dung phản hồi bài viết

của cả sinh viên và giảng viên đều đặt trọng tâm

vào việc sửa lỗi ngữ pháp, từ vựng và cách diễn

đạt hơn là phản hồi về nội dung thông tin sinh viên

trao đổi qua bài viết như thể hiện trên biểu đồ 3

Biểu đồ 3: Nội dung phản hồi của giảng viên

Cả bốn giảng viên đều chia sẻ là việc tập trung

vào sửa lỗi chiếm rất nhiều thời gian của giảng

viên và với khối lượng hơn 60 tập Nhật ký của

hai lớp trong một học kỳ thì giảng viên khó có thể

xem và phản hồi hết Do sinh viên rất coi trọng

các nhận xét góp ý của giảng viên, nên việc không

nhận đựợc phản hồi của giảng viên thường xuyên

cũng là một trong những lý do khiến một số sinh

viên không nhiệt tình viết Nhật ký Việc giảng viên

chú trọng vào việc sửa lỗi khiến sinh viên cũng chú

ý nhiều hơn đến tính chính xác trong việc sử dụng

ngôn ngữ hơn là nội dung giao tiếp Đây cũng là

lý do khiến 80% sinh viên phản ánh gặp khó khăn

trong việc tìm từ vựng và cấu trúc ngữ pháp phù

hợp để diễn đạt ý Trong khi đó, nghiên cứu chỉ ra

rằng, các bài Nhật ký nên được góp ý cả về cấu

trúc lẫn nội dung (Harmer, 2001), không nên chú

trọng vào cấu trúc ngữ pháp hoặc chữa lỗi trên

từng ý (Herrero, 2007; Reid, 1993) mà giảng viên

nên nhận xét về sự cố gắng, nỗ lực của người học

(Walker, 2006) và đánh giá về những cảm nhận

của sinh viên (Paterson, 1995)

Kết quả phân tích tập Nhật ký của sinh viên

cũng cho thấy, giảng viên không có phản hồi gì

đặc biệt với những bài sinh viên viết theo hướng

chiêm nghiệm, phản ánh, ví dụ như trong trường hợp sinh viên viết về cuốn sách làm thay đổi tư duy của em về cuộc sống hay viết về những thay đổi của bản thân sau một năm học đại học Điều này cho thấy, bản thân giảng viên cũng chưa nhận định được đây là cách viết mà các sinh viên nên làm theo hoặc học tập Rõ ràng rằng, bản thân giảng viên cũng cần được trợ giúp để hiểu về các cách áp dụng hoặc triển khai hoat động viết Nhật

ký một cách hiệu quả

Việc yêu cầu sinh viên đọc và góp ý về bài Nhật ký của bạn tuy là cách làm khá sáng tạo của các giảng viên nhưng các sinh viên tham gia phỏng vấn và bản thân các giảng viên cũng đánh giá là hoạt động này chưa được hiệu quả do các sinh viên

có học lực thấp thường không có những góp ý phù hợp để sửa bài cho bạn có học lực tốt hơn Điều này chủ yếu là do nội dung góp ý của sinh viên tập trung vào việc tìm và sửa lỗi Nếu nội dung góp

ý không bị bó hẹp vào việc sửa lỗi mà mở rộng hơn để bao hàm cả việc hồi đáp, đưa quan điểm về những nội dung được chia sẻ hoặc bổ sung thêm thông tin liên quan thì các sinh viên có thể trợ giúp nhau tốt hơn Hơn nữa, do hoạt động viết Nhật ký

có thể đã tốn khá nhiều thời gian của sinh viên (Walker, 2006), nên việc đọc và góp ý bài viết cho bạn ở nhà sẽ khiến sinh viên phải dành nhiều thời gian hơn nữa, nên có thể khiến sinh viên không tập trung hoặc không nhiệt tình góp ý cho bạn mình Nếu giảng viên dành 10 - 15 phút trên lớp để sinh viên có thể đọc và góp ý cho nhau với sự trợ giúp của giảng viên thì hoạt động này có thể sẽ hiệu quả hơn Những nội dung sinh viên góp ý cho nhau và cách góp ý cũng cần được giảng viên hướng dẫn chi tiết cụ thể sao cho toàn bộ hoạt động viết Nhật

ký cũng như hoạt động sinh viên đọc và đóng góp

ý kiến cho nhau tạo ra một môi trường học tập tích cực, trong đó tri thức được chia sẻ, ý kiến cá nhân được tôn trọng và mục đích trợ giúp nhau học tập được nhấn mạnh

Giai đoạn 3: Đánh giá tập Nhật ký của sinh viên

Vào tuần cuối của kỳ học, các giảng viên đều

Trang 6

những vấn đề đã học trong kỳ hoặc những kinh nghiệm hoặc sự kiện đã diễn ra Nguyên nhân chính của tình trạng này là do khi triển khai hoạt động, các giảng viên không chú trọng vào việc giúp sinh viên phát triển kỹ năng phản ánh, hồi tưởng và tư duy về những vấn đề liên quan Có thể thấy rằng, việc thực hiện hoạt động viết Nhật ký của sinh viên phụ thuộc nhiều vào cách triển khai

và hướng dẫn của giảng viên Như đã phân tích

ở trên, do có những hạn chế nhất định trong cách triển khai và hướng dẫn của giảng viên nên hoạt động viết Nhật ký của sinh viên hiệu quả chưa cao

4.3 Giảng viên và sinh viên nhận định như thế nào về hiệu quả của hoạt động viết Nhật ký?

Kết quả khảo sát và phỏng vấn sinh viên thống nhất cao với kết quả phỏng vấn giảng viên Những kết quả này cho thấy, trên 80% sinh viên thích hoạt động viết Nhật ký và tất cả các sinh viên tham gia nghiên cứu đều cho rằng hoạt động này là hữu ích

Cả bốn giảng viên cũng cho rằng, hoạt động này là hữu ích và phù hợp với sinh viên ngành ngôn ngữ Anh trong trường Cả sinh viên và giảng viên đều cho rằng hoạt động viết Nhật ký giúp rèn luyện thói quen viết, phát triển kỹ năng viết tiếng Anh, giúp diễn đạt ý, nâng cao kỹ năng ngôn ngữ và nâng cao ý thức tự học của sinh viên Trước thực tế

kỹ năng viết là một kỹ năng khó và thường không

đủ hấp dẫn để khuyến khích người học kiên trì luyện viết thường xuyên (Hedge, 1991), kết quả tích cực của việc triển khai hoạt động viết Nhật ký lên thói quen và kỹ năng học tập của sinh viên là rất đáng trân trọng và ghi nhận Kết quả này khẳng định thêm nhận định của học giả Langan (2001) rằng, “hoạt động viết Nhật ký là một hoạt động tuyệt vời để rèn luyện kỹ năng viết” và thống nhất với kết quả nghiên cứu của tác giả Lưu (2010) tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, có khoảng 40% sinh viên không cho rằng hoạt động viết Nhật

ký có thể giúp “phát triển tư duy phê phán” hoặc

“hiểu rõ hơn về kiến thức đã học” hay “đánh giá

thu tập bài Nhật ký của sinh viên để đánh giá và

cho điểm Tuy trong số không nhiều (khoảng 4%

điểm học phần) nhưng việc các tập bài viết được

chấm điểm có ảnh hưởng tích cực, thúc đẩy sinh

viên hoàn thiện tập Nhật ký của mình Tuy nhiên,

3/4 giảng viên không thể hiện tiêu chí chấm tập

Nhật ký một cách rõ ràng, điều này có thể dẫn

đến những khác biệt trong cách cho điểm giữa các

giảng viên gây ra sự thiếu công bằng và gây khó

khăn cho sinh viên trong khi thực hiện hoạt động

Theo kết quả phân tích các tập Nhật ký, chỉ có một

giảng viên sử dụng bảng tiêu chí chấm, tuy nhiên,

kết quả khảo sát và phỏng vấn các sinh viên trong

lớp cho thấy, các em chưa nắm rõ được những tiêu

chí mà giảng viên sử dụng Điều này có thể là do

việc hướng dẫn của giảng viên về tiêu chí đánh giá

tập nhật ký là chưa đủ rõ hoặc chưa đủ kỹ lưỡng

Do đó, các tiêu chí chấm tập viết Nhật ký cần được

thống nhất giữa các giảng viên và thông báo chi

tiết đến sinh viên để các em hiểu và thực hiện

4.2 Sinh viên thực hiện hoạt động viết Nhật

ký như thế nào?

Kết quả thu được từ phiếu trả lời khảo sát của

sinh viên, phỏng vấn với sinh viên và giảng viên

cũng như kết quả phân tích các tập Nhật ký của

sinh viên cho thấy, sinh viên tiến hành viết Nhật

ký trung bình một lần mỗi tuần trong khoảng thời

gian 30 phút và thường là viết tại nhà Sinh viên

thường tự lựa chọn chủ đề viết và hình thức viết

Trên 90% các sinh viên đảm bảo yêu cầu của giảng

viên về số lượng các bài viết và có nhận xét góp

ý của bạn trước khi viết phiên bản hai Việc sinh

viên nghiêm túc chấp hành yêu cầu của giảng viên

là do giảng viên có kiểm soát và ký tên xác nhận

hoàn thành theo tuần và kết quả đánh giá tập Nhật

ký chiếm một trọng số nhất định trong điểm tổng

kết học phần

Tuy nhiên, kết quả phân tích các tập Nhật ký

của sinh viên cũng chỉ ra rằng, các bài viết thể hiện

việc sinh viên chú trọng vào việc luyện viết tiếng

Anh và luyện thi nhiều hơn là viết để phản ánh

tư duy, hồi tưởng hoặc quan điểm của cá nhân về

Trang 7

theo dõi tiến bộ của bản thân” Hơn 1/2 số sinh

viên không nhận thấy việc viết Nhật ký giúp “tạo

hứng thú viết tiếng Anh” hoặc “tăng cơ hội giao

tiếp” hoặc “giúp tự tin hơn khi giao tiếp với giảng

viên” Kết quả phân tích tập Nhật ký cũng cho

thấy, sinh viên chưa chia sẻ nhiều thông tin về suy

nghĩ của bản thân, về quá trình học tập cũng như

khó khăn gặp phải trong các bài Nhật ký Như đã

phân tích ở trên, nguyên nhân chính của tình trạng

này là do có những hạn chế trong cách triển khai

và hướng dẫn của giảng viên về chủ đề, cách viết,

cách phản hồi và cách đánh giá bài viết nhật ký Để

hoạt động viết Nhật ký được hiệu quả hơn thì cần

có sự điều chỉnh trong cách triển khai hướng dẫn

của giảng viên về những vấn đề này

5 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

ÁP DỤNG HOẠT ĐỘNG VIẾT NHẬT KÝ

TRONG DẠY KỸ NĂNG VIẾT CHO SINH

VIÊN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Từ kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đưa

ra một số đề xuất tới các cấp quản lý, giảng viên và

sinh viên Thứ nhất, việc trợ giúp của các cấp quản

lý để duy trì và phát huy tối đa hiệu quả của hoạt

động viết Nhật ký là vô cùng cần thiết Các lớp bồi

dưỡng về phương pháp giảng dạy mới nói chung,

đặc biệt là về việc áp dụng hoạt động viết Nhật

ký trong giảng dạy kỹ năng này nên được tổ chức

thường xuyên nhằm giúp giảng viên có cách nhìn

nhận đúng đắn và đầy đủ về bản chất, cũng như

quy trình triển khai hiệu quả để hoạt động đạt hiệu

quả cao nhất Thứ hai, giảng viên nên đặc biệt chú

trọng vào bước hướng dẫn sinh viên thực hiện viết

nhật ký Giảng viên nên nhấn mạnh cho sinh viên

về các lợi ích khác của viết Nhật ký ngoài mục

đích rèn luyện kỹ năng viết, như phát triển tư duy,

chiêm nghiệm về nội dung đã học hay tăng cường

cơ hội giao tiếp với giảng viên Giảng viên cũng

nên lưu tâm góp ý nhiều hơn về nội dung thông

tin và không nên tập trung quá nhiều vào phần sửa

lỗi Bằng cách này, giảng viên có thể tăng cường

cơ hội trao đổi thông tin và hỗ trợ sinh viên, đồng

thời khắc phục được khó khăn hiện tại là tốn nhiều

thời gian nhận xét bài cho sinh viên Việc yêu cầu

sinh viên góp ý cho bài viết của nhau cũng là một gợi ý giúp giảm bớt áp lực này cho giảng viên; tuy nhiên, sinh viên cần nhận được hướng dẫn cụ thể

về nội dung và cách góp ý

6 KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy, hoạt động viết nhật ký

có tiềm năng hỗ trợ tốt cho việc học tiếng Anh của sinh viên tại Đại học Công nghiệp Hà Nội, đặc biệt

là giúp phát triển kỹ năng viết và kỹ năng tự học Tuy nhiên, có một số chi tiết trong việc áp dụng hiện tại của giảng viên có thể làm hạn chế hiệu quả của hoạt động Do vậy, nghiên cứu đã đưa ra một

số đề xuất nhằm cải tiến việc áp dụng hoạt động viết nhật ký hiện nay tại Trường Với các đề xuất trên, nhóm nghiên cứu hy vọng có thể đóng góp một phần vào việc nâng cao hiệu quả áp dụng hoạt động viết Nhật ký trong giảng dạy kỹ năng viết và giúp cho các giảng viên khác muốn áp dụng hoạt động viết nhật ký trong giảng dạy tiếng Anh tại cơ

sở đào tạo của mình./

Tài liệu tham khảo:

Burton D (1999) A service Learning rubric VCU

Teaching

Castellanos J (2008) Journal writing and its benefits in an upper intermediate EFL

class Profile Issues in Teachers Professional

Development, 9, 111-128.

journals be assessed? Assessment & Evaluation in Higher Education

Dyment J.E & O’Connell T.S (2003) Journal

writing in experiential education: Posibilities, problems and recommendations Charleston.

Graham Robert J (1991) Reading and Writing the

Self New York: Teachers College, Columbia

University

Herrero A.H (2007) Journal: A tool to improve students’ writing skills Actualidates Investigativas en Education

Harmer J (2001) The Practice of English

Trang 8

Language Teaching Essex: Pearson Education

Limited

Hedge T (1991) Writing Hong Kong: Oxford

University Press

Herrero A.H (2007) Journal: A tool to improve

Investigativas en Education

Langan J 2001 College Writing Skills

McGraw-Hill College

Lee S (2013) Effects of Reflective Journal Writing

in Japanese Students’ Language Learning

Indiana University of Pennsylvania

Luu T.T (2010) Enhancing EFL learners’ writing

skills via journal writing English Language

Teahing Vol 3 (3)

Paterson BL (1995) Developing and maintaining

reflection in clinical journals Nurse Educ

Today 15(3), 211-220.

Reid J M (1993) Teaching ESL Writing New

Jersey: Prentice Hall Regents Walker E.S (2006) Journal Writing as a teaching

technique to promote reflection Journal of

Athletic training Vol 41 (2).

EMPLOYMENT OF JOURNAL WRITING IN TEACHING WRITING FOR ENGLISH- MAJOR STUDENTS AT HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY:

CURRENT SITUATIONS AND SOLUTIONS

HOANG NGOC TUE, TRAN THI DUYEN,

VU THI NHUNG, NGUYEN THI HUYEN Abstract: This study explores the current practices of employing journal writing activity in

teaching English writing at Hanoi University of Industry Participants are 119 first year English-major students and four English language teachers who taught writing skills to the students Data were collected from questionnaires and individual interviews with students, individual interviews with teachers and analysis of students’ journal writings Findings indicate that journal writing has the potential to facilitate students’ English language learning, especially English writing and self-study skills, and teachers and students demonstrated a positive attitude towards the activity However, certain aspects of the teachers’ current practices could limit the effectiveness of the activity Therefore, practical recommendations are made to improve the current practices, which could be useful for other EFL teachers who intend to employ the activity

Keywords: reflective skills, self-study skills, writing skills, critical thinking, journal writing

Received: 29/3/2018; Revised: 21/5/2018; Accepted for publication: 20/6/2018

Ngày đăng: 17/01/2020, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w