Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm mô tả thực trạng sử dụng ma túy và tình trạng sức khỏe, xã hội của người nghiện ma tuý trước khi được điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tỉnh Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái, 2014-2015.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
-* -
NGUYỄN THỊ MINH TÂM
HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN
BẰNG THUỐC METHADONE TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN, LAI CHÂU VÀ YÊN BÁI, 2014-2015
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
-* -
NGUYỄN THỊ MINH TÂM
HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN
BẰNG THUỐC METHADONE TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN,
LAI CHÂU VÀ YÊN BÁI, 2014-2015
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 62.72.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Nguyễn Thanh Long
2 PGS.TS Nguyễn Thị Lan Anh
HÀ NỘI- 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Hiệu quả điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tỉnh Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái, 2014-2015” là của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được công
bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tốt nghiệp này, em xin được chân thành cảm ơn Lãnh đạo Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ môn Y tế công cộng, Phòng Sau đại học Viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương, các thầy giáo, cô giáo trong suốt thời gian qua đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi giúp em học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Với tấm lòng biết ơn và kính trọng, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến GS.TS.Nguyễn Thanh Long, PGS.TS Nguyễn Thị Lan Anh, người thầy mẫu mực, tận tâm đã dành thời gian dạy dỗ, hướng dẫn, động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận án
Em xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các Thầy, cô trong các hội đồng đã quan tâm, dành thời gian nghiên cứu luận án và có nhiều góp ý sâu sắc, khoa học và thiết thực giúp em hoàn thiện luận án
Em xin chân thành cảm ơn Sở Y tế, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
03 tỉnh Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái và các cơ sở điều trị Methadone của
03 tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi để em tiến hành nghiên cứu Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các đồng chí lãnh đạo và cán bộ nhân viên Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế và các đồng nghiệp ở các trường đại học, các viện nghiên cứu đã luôn quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn luôn quan tâm, chia sẻ, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Nguyễn Thị Minh Tâm
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Tổng quan các khái niệm 4
1.2 Tình hình sử dụng ma túy và nhiễm HIV/AIDS 6
1.3 Các phương pháp điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện 15
1.4 Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone trên thế giới và ở Việt Nam 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.3 Các hoạt động can thiệp 46
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 51
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 53
2.6 Các biện pháp khống chế sai số 54
2.7 Đạo đức nghiên cứu 54
2.8 Sơ đồ nghiên cứu 55
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
3.1 Thực trạng sử dụng ma túy và tình trạng sức khỏe, xã hội của đối tượng nghiên cứu trước khi điều trị Methadone 56
3.2 Hiệu quả của điều trị Methadone 67
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị 73
Chương 4: BÀN LUẬN 84
4.1 Thực trạng sử dụng ma túy và tình trạng sức khỏe, xã hội của đối tượng nghiên cứu trước khi điều trị Methadone 84
4.2 Hiệu quả của điều trị Methadone 99
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị 106
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 112
KẾT LUẬN 114
KHUYẾN NGHỊ 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS : Acquired Immune Deficiency Syndrome - Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ARV : Antiretroviral - Thuốc kháng retrovirus
CTGTH : Can thiệp giảm tác hại
HBV : Hepatitis B virus - Viêm gan B
HCV : Hepatitis C virus - Viêm gan C
HIV : Human Immunodeficiency Virus - Virus gây suy giảm
miễn dịch ở người/Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải NCMT : Nghiện chích ma túy
IBBS : Integrated Biological and Behavioural Surveillance - Giám
sát hành vi kết hợp với giám sát huyết thanh học QHTD : Quan hệ tình dục
PNBD : Phụ nữ bán dâm
SDMT : Sử dụng ma túy
UNODC : United Nations Office on Drugs and Crime - Cơ quan
phòng, chống ma túy và tội phạm Liên Hợp Quốc UNAIDS : The Joint United Nations Programme on HIV/AIDS -
Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/ AIDS WHO : World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
Biểu đồ 1 1 Tỷ lệ nhiễm HIV phân theo tuổi 7
Biểu đồ 1 2 Số các trường hợp nhiễm HIV phân theo giới 1993-2015 8
Biểu đồ 1 3 Số các trường hợp nhiễm HIV phân theo đường lây 1993-2015 8
Biểu đồ 1 4 Tỷ lệ nhiễm HIV trong các nhóm nguy cơ cao 1994-2015 9
Biểu đồ 3.1 Tiền sử bệnh tật của đối tượng nghiên cứu 65
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ dương tính heroin trong nước tiểu theo dõi 12 tháng 68
Biểu đồ 3.3 Thay đổi chất lượng cuộc sống trước-sau điều trị 69
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ đối tượng bỏ điều trị (n = 300) 72
Biểu đồ 3.5 Một số nguyên nhân bỏ điều trị của đối tượng nghiên cứu 72
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 56
Bảng 3.2 Trình độ học vấn, việc làm của đối tượng nghiên cứu 57
Bảng 3.3 Tình trạng hôn nhân, gia đình của đối tượng nghiên cứu 58
Bảng 3 4 Mâu thuẫn trong gia đình và hành vi vi phạm pháp luật 59
Bảng 3 5 Đặc điểm tiếp cận điều trị của đối tượng nghiên cứu 60
Bảng 3 6 Tiền sử sử dụng chất gây nghiện của đối tượng nghiên cứu 60
Bảng 3 7 Hình thức sử dụng theo loại chất gây nghiện của đối tượng 61
Bảng 3 8 Tiền sử cai nghiện ma túy của đối tượng nghiên cứu 63
Bảng 3 9 Hành vi quan hệ tình dục của đối tượng nghiên cứu 64
Bảng 3 10 Chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 65
Bảng 3 11 Khả năng lao động của đối tượng nghiên cứu 66
Bảng 3.12 Thay đổi sử dụng chất gây nghiện trước-sau điều trị 67
Bảng 3.13 Thay đổi hành vi quan hệ tình dục trước-sau điều trị 68
Bảng 3.14 Thay đổi khả năng lao động trước-sau điều trị 69
Bảng 3 15 Tỷ lệ sử dụng ma tuý trong quá trình điều trị và tỷ lệ bỏ điều trị…73 Bảng 3.16 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng ma túy trong quá trình điều trị (đơn biến) 73
Bảng 3 17 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng ma túy trong quá trình điều trị (đa biến) 76
Bảng 3.18 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bỏ điều trị (đơn biến) 78
Bảng 3 19 Một số yếu tố liên quan đến bỏ điều trị (đa biến) 80
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch ma túy đã và đang là vấn nạn của nhiều quốc gia trên thế giới
và là nguyên nhân chính gây ra đại dịch HIV/AIDS Đại dịch kép ―ma túy và HIV/AIDS‖ ở Việt Nam gây ảnh hưởng nặng nề đến từng cá nhân, gia đình, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa và trật tự, an toàn xã hội của đất nước [31, 33]
Trên Thế giới, công tác phòng, chống ma túy và phòng chống HIV/AIDS đã được triển khai tích cực trong nhiều năm qua và thu được những kết quả đáng ghi nhận nhưng vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Nhiều biện pháp cai nghiện, điều trị nghiện ma túy đã được triển khai nhưng không có biện pháp nào có thể điều trị khỏi hẳn cho người nghiện
ma túy Trước đây, nghiện ma túy vẫn được coi là ―tệ nạn xã hội‖, người nghiện ma túy được gọi là ―con nghiện‖, là những người có nhân cách yếu, đua đòi, hư hỏng…nên không từ bỏ được ma túy Nhưng cuộc cách mạng khoa học thần kinh trên thế giới hơn 20 năm qua đã chứng minh: nghiện ma túy là một bệnh não, tái phát, mãn tính và cần phải được điều trị lâu dài Do vậy, các biện pháp điều trị duy trì bằng thuốc đã được triển khai với mục đích
là làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp, dự phòng lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu cho những người nghiện
Hiện nay, các thuốc phổ biến được sử dụng để điều trị cho người nghiện chất dạng thuốc phiện là Methadone, Buprenorphine và Naltrexone, trong đó thuốc Methadone được sử dụng rộng rãi nhất Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone đã được triển khai tại Mỹ từ năm 1965, đến nay đã được mở rộng ra trên 80 quốc gia trong đó có nhiều nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Canada Các nghiên cứu trên thế
Trang 10giới đều cho thấy rõ hiệu quả của điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone trong giảm sử dụng ma tuý bất hợp pháp, giảm nguy
cơ lây nhiễm HIV, giảm tội phạm liên quan đến ma túy đồng thời còn lại các lợi ích về kinh tế và trật tự an toàn cho xã hội
Tại Việt Nam, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone (sau đây gọi là điều trị Methadone) bắt đầu được nghiên cứu tại Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai từ năm 1996 đến năm 2002 Năm 2008, điều trị Methadone được triển khai thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hải Phòng Cho đến nay đã được triển khai rộng rãi tại 54 tỉnh, thành phố Một số nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy điều trị Methadone
có hiệu quả trong việc làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp [24], các hành
vi nguy cơ lây nhiễm HIV [23, 24], cải thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe cho những người nghiện CDTP được tham gia điều trị [9]
Các tỉnh miền núi phía Bắc thường có điều kiện kinh tế, địa lý khó khăn, là nơi có nhiều người nghiện ma túy và khả năng tiếp cận với dịch vụ y
tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn nhiều bất cập Hơn nữa, các tỉnh miền núi phía Bắc thường có đường biên giới dài; tình hình vận chuyển, buôn bán và
sử dụng ma túy trên địa bàn diễn ra hết sức phức tạp và khó kiểm soát làm cho công tác điều trị bằng thuốc Methadone gặp nhiều thách thức Trình độ văn hoá thấp cùng với nhiều thách thức xã hội và kinh tế như nghèo đói, lạm dụng chất ma túy, bất bình đẳng trong chăm sóc y tế cũng là nguy cơ gián tiếp làm lây truyền HIV trong đồng bào dân tộc thiểu số [25] Việc triển khai các hoạt động can thiệp như chương trình bơm kim tiêm, chương trình Methadone
là rất cần thiết nhằm giảm tác hại do ma túy gây ra trong đó có nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và nhân dân miền núi phía Bắc nói chung [25]
Trang 11Với các đặc điểm trên thì triển khai chương trình Methadone tại các tỉnh miền núi sẽ mang lại hiệu quả như thế nào? có khác biệt so với các tỉnh, thành phố như Hồ Chí Minh, Hải Phòng không? Hiện nay, chưa có nghiên cứu về hiệu quả của điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone ở khu vực miền núi của cả nước nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: ―Hiệu quả điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tỉnh Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái, 2014-2015‖ với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng sử dụng ma túy và tình trạng sức khỏe, xã hội của người nghiện ma tuý trước khi được điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tỉnh Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái, 2014-2015
2 Đánh giá hiệu quả của điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tỉnh Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái, 2014-2015
3 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tỉnh Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái 2014-2015
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan các khái niệm
1.1.3 Chất dạng thuốc phiện (CDTP)
Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, Morphine, Heroin, Methadone, Buprenorphine, LAAM… có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não [10, 120]
1.1.4 Khái niệm về nghiện chất
Nghiện chất là tình trạng bắt buộc phải sử dụng chất gây nghiện bất chấp những tác hại của chúng [10]
1.1.5 Khái niệm về người nghiện CDTP
Người nghiện CDTP là người sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần CDTP với liều lượng ngày càng tăng, dẫn đến trạng thái nhiễm độc chu kỳ, mạn tính, bị
lệ thuộc về thể chất và tâm thần vào chất đó [10]
Trang 131.1.6 Khái niệm về điều trị thay thế
Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế là việc sử dụng thuốc thay thế để điều trị cho người nghiện chất dạng thuốc phiện [6]
1.1.7 Cai nghiện
Cai nghiện là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma túy mà người nghiện thường sử dụng (nghiện) dẫn đến việc xuất hiện hội chứng cai, vì vậy bệnh nhân cần phải được điều trị [10]
1.1.8 Hội chứng cai
Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất
ma tuý đang sử dụng ở những người nghiện ma tuý Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng [10]
1.1.9 Khái niệm về HIV
HIV (Human Immunodeficiency Virus) là loại virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người [27]
Trang 14gồm các lĩnh vực: sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, các mối quan hệ xã hội và môi trường [130]
1.2 Tình hình sử dụng ma túy và nhiễm HIV/AIDS
1.2.1 Tình hình sử dụng ma túy
Theo báo cáo đến năm 2015, toàn quốc thống kê được 201.180 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý Trong đó, 72,4% đang sống ngoài xã hội, 9,2% trong các cơ sở cai nghiện, 18,4% trong các trại tạm giam, nhà tạm giữ,
cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng Một số địa phương có tỷ lệ người sử dụng
ma túy tổng hợp cao, bao gồm: Đà Nẵng 85%, Tây Ninh 61%, Trà Vinh 49%,
2001, 66,3% năm 2006 và lên trên 71% năm 2010 [36] Theo giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi trong các nhóm nguy cơ cao tại Việt Nam năm 2014, 13,1% trong số họ cho biết có sử dụng chung bơm kim tiêm trong vòng 1
Trang 15tháng qua [5], đây là nguyên nhân trực tiếp làm lây lan nhanh HIV trong nhóm tiêm chích ma tuý
2015 xuống còn khoảng 5.876 ca năm 2016 [36]
Người nhiễm HIV trong độ tuổi 20-40 chiếm tới khoảng 60%-85% số
ca được báo cáo trong giai đoạn 1993-2015 Tỉ lệ này cao nhất vào năm 2004 (85,95%) Đến năm 2015, số người nhiễm HIV trong độ tuổi 20-40 vẫn chiếm tới 74% (được nêu trong biểu đồ 1.1) [18]
Biểu đồ 1 1 Tỷ lệ nhiễm HIV phân theo tuổi
Trang 16Tỷ lệ số ca báo cáo nhiễm HIV là nữ có xu hướng gia tăng Năm 2015
tỷ lệ này chiếm 34,1% các trường hợp nhiễm HIV báo cáo, tỷ lệ này tăng gấp
3 lần so với năm 1993 (được nêu trong biểu đồ 1.2) [18]
Biểu đồ 1 2 Số các trường hợp nhiễm HIV phân theo giới 1993-2015
Tỷ lệ số ca báo cáo nhiễm HIV lây truyền qua đường tình dục năm
2015 là 50,8%, tăng gấp hơn 5 lần năm 1993 (được nêu trong biểu đồ 1.3) [18]
Biểu đồ 1 3 Số các trường hợp nhiễm HIV phân theo đường lây 1993-2015
Trang 17Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ lây truyền HIV cao: người tiêm chích ma túy, nam tình dục đồng giới và phụ nữ mại dâm Theo kết quả giám sát trọng điểm 2015, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nam NCMT, PNMD, MSM tương ứng là 9,3%, 2,7% và 5,1% So với giai đoạn đỉnh điểm của dịch năm 2002 thì tỉ lệ HIV trong nhóm NCMT giảm hơn 3 lần, nhóm PNBD giảm hơn 2 lần Tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM trong giai đoạn 2011-2015 dao động từ khoảng 2,3%-6,7% (được nêu trong biểu đồ1.4) [18]
Biểu đồ 1 4 Tỷ lệ nhiễm HIV trong các nhóm nguy cơ cao 1994-2015
Dịch HIV/AIDS đã xảy ra ở tất cả tỉnh, thành phố với 99,8% số quận/huyện và trên 80,3% số xã/phường Số người nhiễm HIV chủ yếu tập trung các tỉnh miền Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam
Bộ, khu vực có số người nhiễm HIV cao là các tỉnh miền núi Tây Bắc và các huyện miền núi Nghệ An và Thanh Hóa Thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh có số lượng lớn người nhiễm HIV với diễn biến dịch phức tạp, khó kiểm soát
17,3
14,9 10,9 13,4 16,6 20,5 23,9
29,3 29,3
22,7
28,6 25,6 23,1 20,2 20,3 18,4 17,2 13,4 11,6 10,7
10,5 9,3 0,6 1,0 0,7 1,5 2,4 3,8 3,5 4,7
5,9 3,8
4,4 3,5
4,2 3,9 3,1
3,5 4,6 2,9 2,6 2,5 2,7
4,0 2,3
3,6
6,7
5,1 0,0
Trang 181.2.3 Đặc điểm của người sử dụng và tiêm chích ma túy tại Việt Nam 1.2.3.1 Đặc điểm về sử dụng ma túy
Người nghiện ma tuý chủ yếu đang sử dụng heroin [36] Việc sử dụng
nhiều heroin dẫn tới việc tiêm chích tăng cao do nhu cầu về liều lượng ngày càng tăng của các đối tượng sử dụng heroin [13, 29, 36, 86] và làm tăng khả năng lây nhiễm HIV [37]
Tuổi bắt đầu sử dụng ma tuý là khoảng 20 tuổi [42] Đây là độ tuổi dễ lôi kéo, rủ rê, gặp phải nhiều vấn đề về tâm lý, vì vậy họ sử dụng heroin để giảm áp lực cũng như thư giãn [42] Với xu hướng độ tuổi người nghiện có xu hướng ngày càng trẻ như hiện nay, việc giáo dục từ sớm về công tác phòng chống ma tuý, tăng cường kiến thức, nhận thức của thanh thiếu niên ngay từ khi còn ngồi trong ghế nhà trường là rất quan trọng trong công tác kiểm soát
ma tuý, tệ nạn xã hội
Có tỷ lệ khá cao người sử dụng ma túy có thời gian sử dụng ma tuý từ 5-10 năm (33,3%) [25] Rất nhiều trường hợp bị shock thuốc và là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong, ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của họ
Hầu hết người nghiện ma túy đã tham gia cai nghiện ma tuý với các hình thức khác nhau: cai nghiện tại trung tâm, tự mua thuốc để cai, cai nghiện
ở cơ sở tư nhân, cắt cơn tại cộng đồng và cai khan nhưng đa số đều tái nghiện
do thèm muốn ma tuý, bị bạn bè rủ rê, buồn chán, thất vọng [15, 25, 129]
Dùng chung BKT và các dụng cụ tiêm chích là nguyên nhân chính làm lây truyền HIV trong nhóm người NCMT Các nghiên cứu gần đây nhất cho thấy tỷ lệ này vẫn đang ở mức cao [5] Theo giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi trong các nhóm nguy cơ cao tại Việt Nam năm 2014, 13,1% trong số
họ cho biết có sử dụng chung bơm kim tiêm trong vòng 1 tháng qua Tỷ lệ này vẫn cao ở một số tỉnh như Sơn La (38%), Kiên Giang (34%), Đắc Lắc (32%), Gia Lai (22,7%) [5]
Trang 19Người NCMT tin rằng nguy cơ lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục thấp hơn qua việc dùng chung các dụng cụ tiêm chích [124], do vậy thường ít thực hành hành vi tình dục an toàn so với hành vi tiêm chích an toàn [15] Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chỉ 50% người NCMT có quan hệ tình dục với GMD trong 4 tuần qua sử dụng bao cao su [58]
Kết quả này khuyến khích việc tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, đặc biệt với các đối tượng nguy cơ cao Quan
hệ tình dục không an toàn đã được chứng minh là nguyên nhân lây nhiễm HIV cũng như các bệnh truyền nhiễm khác trong cộng đồng [85] Vì vậy, việc giảm thiểu quan hệ tình dục không an toàn sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng chống HIV, đặc biệt ở các tỉnh miền núi
1.2.3.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội của người nghiện ma túy
Hiện nay, độ tuổi sử dụng ma tuý tại Việt Nam đang có xu hướng trẻ hoá, độ tuổi dưới 30 chiếm tỷ lệ lớn [34, 35] Tuy nhiên, ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Thái Nguyên, Hòa Bình, Tuyên Quang thì tuổi trên 30 lại chiếm
tỷ lệ lớn [1, 42] Điều này có thể do người nghiện tại các tỉnh miền núi phía Bắc có thời gian sử dụng thuốc phiện lâu hơn ở các tỉnh đồng bằng và thành phố lớn Hầu hết người sử dụng ma túy là nam giới (95%) [25], có gia đình (59%) [1, 79]
Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam cho thấy phần lớn người nghiện ma túy có trình độ văn hoá thấp, 69% có trình độ văn hoá dưới trung học phổ thông, đặc biệt là ở trong các đồng bào dân tộc miền núi [2, 99]
Hầu hết những người sử dụng ma túy không có việc làm ổn định hoặc làm nghề tự do [99] Họ có thu nhập thấp hơn so với thống kê về bình quân thu nhập đầu người của Ngân hàng Thế giới Worldbank (khoảng 4 triệu
Trang 20đồng/tháng) [121] Địa bàn miền núi khó khăn trong việc phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng tới thu nhập cùa người sử dụng ma túy
Nhiều người trong số họ là trụ cột gia đình, trong khi đó, họ còn mất tiền để mua các loại ma tuý Số tiền chi tiêu cho ma tuý gấp 3 lần thu nhập của các đối tượng nghiện [2] Khoản tiền phải trả cho ma tuý này góp phần lớn gây nên gánh nặng về kinh tế cho các gia đình và là lý do dẫn tới các hành
vi phạm pháp như trộm cắp, cướp giật gây ảnh hưởng đến an ninh, an toàn và gây bất ổn trong xã hội Chính vì vậy, cần có các biện pháp giúp giảm liều lượng ma tuý, hỗ trợ cai nghiện, ngoài ra cần xử lý nghiêm các hành vi buôn bán, sử dụng ma tuý
Những người nghiện ma túy cũng là đối tượng có tiền án, tiền sự Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho thấy, có 38% đối tượng có tiền án tiền sự, 11% có tên trong hồ sơ do nhà nước quản lý [2] Tuy nhiên, ở các thành phố lớn tỷ lệ này khá cao, như ở Hải phòng tỷ lệ có hành vi phạm pháp là 40,8%, tỷ lệ có tiền sự là 13,0% [25] Do người nghiện ma tuý thiếu tiền mua thuốc để dùng thoả mãn cơn nghiện Các đối tượng phạm pháp dưới nhiều hình thức đa dạng khác nhau như bài bạc, cá độ, trộm cướp, buôn lậu, buôn bán vận chuyển chất gây nghiện và nhiều loại hình phạm pháp khác Tuy nhiên, các hành vi vi phạm pháp luật nhằm mục đích tạo thu nhập nhanh chóng để có thể mua và sử dụng chất gây nghiện, thoả mãn cơn nghiện Nghiện ma tuý và vi phạm pháp luật luôn song hành cùng nhau, nối tiếp nhau
và tạo ra vòng nghiệt ngã khiến cho người nghiện ma tuý ngày càng nghiện trầm trọng hơn Điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone là một trong những phương pháp hữu hiệu trong việc giảm tình trạng phạm pháp ở trong nhóm người sử dụng ma tuý [33, 73]
Trang 211.2.4 Tình hình ma túy và nhiễm HIV/AIDS tại Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái
Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái nằm trong khu vực Tây Bắc của Việt Nam Khu vực Tây Bắc là một trong những khu vực trọng điểm về ma túy và HIV/AIDS, nghiện chích ma túy là một trong những nguy cơ lây nhiễm HIV chủ yếu ở khu vực này Trong năm 2015, số người nhiễm HIV/100.000 người tại khu vực này là 256 người (cao hơn so với toàn quốc là 223 người) Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người nghiện chích ma túy và phụ nữ bán dâm trong năm 2015 tại khu vực này cũng cao hơn trung bình toàn quốc, lần lượt là 9,9% (toàn quốc 9,3%), 3,1% (toàn quốc 2,7%) [19]
Tại khu vực Tây Bắc, lây nhiễm HIV trong nhóm NCMT chủ yếu do sử dụng chung bơm kim tiêm Ngoài hành vi tiêm chích không an toàn người NCMT còn có hành vi quan hệ tình dục không an toàn nên HIV còn lây truyền từ nhóm người NCMT sang vợ và bạn tình của họ và từ những người này HIV lại có thể truyền sang những nam giời bình thường [19]
a) Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Điện Biên Tính đến ngày 30/12/2016 trên địa bàn tỉnh Điện Biên có 9.669 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý Loại ma túy sử dụng chủ yếu là heroin chiếm 78,4%; hình thức sử dụng chủ yếu qua con đường tiêm chích, tỷ lệ nhiễm HIV
ở nhóm tiêm chích ma túy là 30% Đến tháng 12/2016 lũy tích các trường hợp nhiễm HIV là 6.867 trường hợp, trong đó còn sống quản lý được 3.195 người Lũy tích bệnh nhân AIDS 5.210 người; còn sống 1.741 người; Lũy tích tử vong 3.469 người Dịch HIV/AIDS xẩy ra chủ yếu trong nhóm người nghiện chích ma túy Lây nhiễm HIV chủ yếu qua đường máu (59%) Tình hình dịch HIV/AIDS đang có xu hướng giảm ở các huyện thị trọng điểm, tuy nhiên dịch còn diễn biến phức tạp, lan ra vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, khu vực biên giới và có xu hướng trẻ hóa về độ tuổi Điện Biên bắt đầu triển khai
Trang 22chương trình Methadone từ năm 2011, đến 9/2014 có 5 cơ sở điều trị cho 1.445 bệnh nhân [28]
b) Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Yên Bái
Đến 31/12/2016 toàn tỉnh Yên Bái có 2.586 người nghiện ma túy hiện còn sống, được quản lý, ngoài xã hội có 2.250 người Tuy nhiên số lượng người nghiện chích ma túy thực tế trong cộng đồng rất biến động, khó kiểm soát Đến 31/12/2016 số người nhiễm HIV đang còn sống là 4.081 trường hợp, đối tượng nhiễm chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm nghiện chích ma túy 40,28% (tăng 4,18% so năm 2015) Dịch tập trung ở nhóm có hành vi nguy cơ cao: nhóm NCMT, nhóm mại dâm, người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục Yên Bái bắt đầu triển khai chương trình Methadone năm 2014, có 2 cơ
sở và điều trị cho 227 bệnh nhân [30]
c) Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Lai Châu
Số nghiện chích ma tuý của tỉnh tính đến thời điểm hết tháng 11/2016
là 3.393 người (số liệu báo cáo của Công an tỉnh Lai Châu) Ca nhiễm đầu tiên được phát hiện tại Lai Châu vào năm 2001, đến 31/12/2016 đã có 94/108 xã, phường thuộc 8 huyện, thành phố trong toàn tỉnh có người nhiễm HIV Số nhiễm HIV đang còn sống và quản lý được là 1.971 người Nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở nam giới (chiếm 67%), nguyên nhân chủ yếu là lây truyền qua đường máu do tiêm chích ma túy; chủ yếu ở độ tuổi lao động (15-24 tuổi) là 19,82% và (25-49 tuổi) là 74,01% Phân bố HIV/AIDS còn sống theo nhóm dân tộc: dân tộc Thái chiếm tỷ lệ 0,64%, dân tộc Kinh là 0,59%, dân tộc Mông 0,2%, dân tộc Dao là 0,09%; ngoài ra còn một số nhóm dân tộc thiểu số khác Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS vẫn còn diễn biến phức tạp và tập chung ở địa bàn có tỷ lệ tiêm chích ma túy cao Lai Châu bắt đầu triển khai chương trình Methadone từ tháng 9/2013, đến 9/2014 có 3 cơ sở điều trị cho 1.097 bệnh nhân [29]
Trang 231.3 Các phương pháp điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện
1.3.1 Các phương pháp điều trị trạng thái cai CDTP
1.3.1.1 Mục tiêu
- Giảm nhẹ các triệu chứng của hội chứng cai
- Giúp hồi phục lại sự dung nạp của hệ thần kinh do thời gian sử dụng CDTP kéo dài
- Giảm mức độ lệ thuộc về thể chất
- Hỗ trợ cho điều trị dài hạn để thay đổi lối sống
1.3.1.2 Điều trị trạng thái cai
Người nghiện sử dụng CDTP nhiều lần, CDTP sẽ tác động vào các thụ thể ở não (chủ yếu là thụ thể muy ()) và làm giảm liên tục lượng Adenosin Mono Phosphate (AMP) vòng trong cơ thể Vì vậy, cơ thể phải đối phó lại với
sự thiếu hụt AMP vòng bằng cách tăng cường sản xuất men Adenylcyclase (men tổng hợp AMP vòng) Khi trong cơ thể có CDTP, nhờ cơ chế bù trừ mà
cơ thể vẫn giữ được sự cân bằng sản xuất AMP vòng Từ đó xuất hiện trạng thái quen thuốc (nghiện) Nếu ngừng CDTP đột ngột, thụ thể vẫn quen đáp ứng với nồng độ cao CDTP, lúc này Endorphin sẵn có trong cơ thể sẽ thay thế CDTP, nhưng Endorphin bị giáng hoá rất nhanh, không thoả mãn được nhu cầu của cơ thể, hậu quả là không còn kìm hãm nổi sự bài tiết quá dư thừa men Adenylcyclase làm cho lượng AMP vòng cao vọt lên khác thường, xuất hiện trạng thái bệnh lý đặc biệt gọi là hội chứng cai
Các triệu chứng của hội chứng cai nặng dần lên đặc biệt trong 3 ngày đầu, sau đó giảm dần và đến ngày thứ 7 (chậm nhất là ngày thứ 10) tự nó sẽ mất đi dù có dùng thuốc hay không dùng thuốc
Điều trị trạng thái cai nhằm hỗ trợ bệnh nhân vượt qua hội chứng cai một cách nhẹ nhàng hơn, nhưng tình trạng đói CDTP trường diễn ở các thụ thể vẫn còn Sau một thời gian ngắn do sự thôi thúc của trạng thái đói CDTP
Trang 24trường diễn và hoàn cảnh tâm lý xã hội, bệnh nhân lại tìm đến CDTP (tái nghiện)
1.3.1.3 Hạn chế của điều trị trạng thái cai
Điều trị trạng thái cai có thể đem lại những lợi ích, nhưng không chấm dứt được việc sử dụng CDTP
Trên thực tế, tỷ lệ tái sử dụng các CDTP sau điều trị trạng thái cai rất cao, thời gian sau điều trị trạng thái cai càng dài thì tỷ lệ tái sử dụng CDTP càng cao
1.3.1.4 Các phương pháp điều trị trạng thái cai đã được áp dụng tại Việt Nam
- Điều trị trạng thái cai bằng các thuốc hướng thần;
- Điều trị trạng thái cai bằng thuốc y học cổ truyền;
- Điều trị trạng thái cai bằng châm cứu;
- Điều trị trạng thái cai bằng Clonidine
Ngoài ra còn có các phương pháp điều trị trạng thái cai khác:
- Không dùng thuốc, cai khô;
- Liệu pháp vật lý (xoa bóp, bấm huyệt…);
- Liệu pháp tâm lý (thư giãn, liệu pháp nhóm, liệu pháp gia đình, liệu pháp nhận thức hành vi….) [4]
1.3.2 Các phương pháp điều trị duy trì lâu dài
Mục tiêu:
- Vừa điều trị sự phụ thuộc về cơ thể vừa điều trị sự phụ thuộc về tâm thần;
- Giảm tác hại của CDTP gây ra và chống tái nghiện;
- Phục hồi nhân cách và phục hồi chức năng tâm lý xã hội, tiến tới thay đổi lối sống không cần chất gây nghiện
Trang 251.3.2.1 Điều trị phục hồi tại Trung tâm
Ở nước ta điều trị phục hồi tại các Trung tâm Giáo dục, Chữa bệnh, Lao động - Xã hội (gọi tắt là Trung tâm) do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quản lý Hoạt động của Trung tâm bao gồm: điều trị trạng thái cai, giáo dục, lao động, dạy nghề, phục hồi chức năng tâm lý xã hội Thời gian điều trị phục hồi tại Trung tâm thường kéo dài 2 năm hoặc lâu hơn Phương pháp này đem lại một số lợi ích, nhưng khi bệnh nhân trở về cộng đồng tỷ lệ tái nghiện vẫn rất cao
1.3.2.2 Điều trị phục hồi tại cộng đồng
Bệnh nhân có thể được điều trị trạng thái cai tại nhà, tại trung tâm Sau điều trị trạng thái cai, việc điều trị phục hồi được thực hiện chủ yếu tại gia đình và cộng đồng Các phương pháp điều trị đa dạng: thuốc, tư vấn, liệu pháp tâm lý, giáo dục, lao động, giải trí, học nghề…
Ưu điểm của phương pháp này là bệnh nhân sau khi được điều trị tái hoà nhập cộng đồng tốt hơn, nhưng nếu thời gian điều trị chưa đủ dài (thông thường điều trị kéo dài ít nhất một năm) thì tỷ lệ tái nghiện vẫn rất cao [4]
1.3.3 Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế 1.3.3.1 Mục tiêu
- Mục tiêu trước mắt: giảm các triệu chứng của hội chứng cai Giảm thèm nhớ và giảm sử dụng CDTP bất hợp pháp Nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân
- Mục tiêu trung hạn: Tăng khả năng có việc làm, chịu trách nhiệm bản thân
- Mục tiêu dài hạn: Đảm nhiệm các trách nhiệm với xã hội, đóng góp cho cộng đồng
1.3.3.2 Tác dụng của điều trị thay thế
Trang 26- Giảm hoặc làm mất các triệu chứng của hội chứng cai; giảm hoặc làm mất các cơn thèm nhớ CDTP; ngăn chặn cảm giác "phê" nếu vẫn tiếp tục sử dụng CDTP, thời gian điều trị càng dài thì hiệu quả điều trị càng cao
- Giảm đáng kể việc sử dụng CDTP; ngăn ngừa lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu khác
- Giảm nguy cơ tử vong do sốc quá liều và giảm các hành vi phạm pháp
1.3.3.3 Các thuốc điều trị thay thế phổ biến
a) Thuốc Methadone
Methadone là CDTP tổng hợp, đồng vận toàn phần với các thụ thể của CDTP (μ, κ và δ), hấp thu qua đường uống nên không cần sử dụng đường tiêm; thời gian tác dụng kéo dài trung bình 24 giờ nên bệnh nhân chỉ cần uống
1 lần/24 giờ; ít gây dung nạp nên không phải tăng liều; dễ dàng kiểm soát việc
sử dụng, giá thành rẻ…Vì vậy, Methadone đã được lựa chọn là một trong những phương pháp điều trị thay thế nghiện các CDTP tự nhiên, bất hợp pháp
có hiệu quả trên thế giới kể từ năm 1964 tới nay
Khi điều trị bằng thuốc Methadone, liều Methadone phải phù hợp với từng bệnh nhân, bắt đầu với liều thấp, tăng từ từ và duy trì ở liều đạt hiệu quả tối ưu Kết hợp với tư vấn, chăm sóc và điều trị y tế khác Thời gian điều trị phải đủ dài, thời gian càng dài hiệu quả điều trị càng cao [4]
b) Thuốc Buprenorphine
Buprenorphine là CDTP bán tổng hợp, đồng vận một phần với các thụ thể của CDTP (vừa có tác dụng đồng vận với các thụ thể (μ và nociceptin), vừa có tác dụng đối vận với các thụ thể (κ và δ) của CDTP) nên nó được sử dụng để điều trị nghiện các CDTP giống như Methadone nhưng an toàn hơn (ít nguy cơ tử vong khi sử dụng quá liều), tuy nhiên giá thành điều trị cao hơn nhiều so với Methadone
Trang 27Điểm mạnh của điều trị bằng thuốc Buprenorphine:
- Có thể điều trị cách nhật, thậm chí 3 ngày trong một tuần Tác dụng không mong muốn rất nhẹ, chỉ gây ra trong thời gian đầu và giảm dần theo thời gian
- Hội chứng cai nhẹ, xuất hiện trong vòng 3-5 ngày từ lần sử dụng Burprenorphine cuối cùng
Hạn chế của thuốc Burprenorphine: giá thành đắt, sự kiểm soát Burprenorphine (viên) ở thị trường tự do khó khăn hơn Methadone [4]
c) Thuốc Naltrexone
Naltrexone là một chất đối vận với CDTP thông qua việc chiếm chỗ của các phân tử CDTP tại các thụ thể, cũng như ngăn chặn sự tiếp cận của CDTP với các thụ thể của nó
Naltrexone được sử dụng điều trị duy trì chống tái nghiện CDTP có kết quả tốt nếu kết hợp với liệu pháp tâm lý và rất hiệu quả ở những bệnh nhân có động lực tốt Thời gian điều trị tối đa phụ thuộc từng cá thể, nhưng không dưới một năm để có thể thay đổi hành vi
Liệu pháp này đã được áp dụng trên thế giới và tại Việt Nam nhưng hạn chế chủ yếu của liệu pháp này là tỷ lệ bệnh nhân bỏ điều trị rất cao [4]
1.4 Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Trên Thế giới
Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc đã có một lịch sử lâu dài hơn 50 năm Điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone đã được Vincent Dole và Marie Nyswander triển khai lần đầu tiên tại Mỹ, năm 1964
Trang 28[125] Tính đến cuối năm 2014, đã có hơn 80 quốc gia trên thế giới triển khai điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone và Buprenorphine là 02 thuốc chính thường được lựa chọn trong điều trị Ngoài ra, tại một số quốc gia còn cung cấp một số dịch vụ khác như morphine và codein phóng thích chậm, và điều trị heroin hỗ trợ (HAT) [111]
Số cơ sở điều trị thường tỷ lệ thuận với số người tham gia điều trị, tỷ lệ này thường rất cao ở các nước phát triển như Mỹ, Australia, các nước ở châu
Âu Theo ước tính, có khoảng 61% người nghiện CDTP đã được tham gia điều trị tại Tây Âu, tỉ lệ này tương đối cao ở Iran (42,6%) và tại cộng hòa Czech (40%) Điều trị nghiện CDTP cũng được triển khai tại nhiều nước Châu Á Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi [54, 112]
Tuy nhiên, độ bao phủ của điều trị nghiện CDTP vẫn còn thấp Theo ước tính toàn cầu về độ bao phủ của chương trình điều trị nghiện CDTP đến cuối năm 2014 cho thấy chỉ có khoảng 6% đến 12% người nghiện CDTP được tham gia điều trị Độ bao phủ vẫn rất thấp tại một số vùng như là vùng cận –Sahara của Châu Phi, Châu Mỹ Latinh và Châu Á Tại Châu Á, một số nước có tỷ lệ nghiện chích ma túy đã được ghi nhận là nguyên nhân chính gây lây nhiễm HIV, độ bao phủ của chương trình điều trị nghiện CDTP bằng thuốc là rất thấp, dưới 3% số người nghiện CDTP như tại Indonesia, Myanmar [54, 112]
1.4.2 Hiệu quả của điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone
Trải qua hơn 50 năm, với một lịch sử lâu dài, điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone đã được chứng minh là phương pháp điều trị nghiện CDTP có hiệu quả nhất Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả trong việc làm giảm sử dụng heroin [43, 51, 75], dự phòng lây nhiễm HIV [64, 88], tăng tuân thủ điều trị ARV [98], giảm tỷ lệ tử vong trong số những bệnh nhân tham gia điều trị Methadone [65], giảm hành vi phạm pháp [72, 88]
Trang 291.4.2.1 Làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp
Hiệu quả của điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone trong việc giảm sử dụng ma tuý bất hợp pháp được thể hiện trong nhiều nghiên cứu khác nhau:
Nghiên cứu vào giữa thập kỷ 80 của Ball JC và Ross A về hiệu quả của việc điều trị Methadone cho thấy 77% bệnh nhân ngừng sử dụng heroin bằng đường tiêm chích trong 6 tháng đầu tiên tham gia điều trị, sau 4 đến 5 năm điều trị tỷ lệ bệnh nhân ngừng sử dụng heroin tăng lên tới 92%, 96% bệnh nhân báo cáo không dùng ma túy tổng hợp và 83% bệnh nhân không dùng cocaine [88]
Nghiên cứu của Simpson DD, Sells SB tại Mỹ trên 1.856 bệnh nhân điều trị Methadone về tình hình sử dụng ma tuý hàng ngày trong 3 năm cho thấy: tỷ lệ sử dụng ma túy hàng ngày trước điều trị 02 tháng là 100%, sau 01 năm điều trị bằng thuốc Methadone tỷ lệ này giảm xuống còn 36% và sau 03 năm điều trị tỉ lệ này giảm 22% [117]
Nghiên cứu của Jeganathan và cộng sự tại Malaysia trên 216 bệnh nhân trong giai đoạn 2005-2008 cũng cho thấy điểm số sử dụng heroin sau 12 tháng giảm rõ rệt, điểm số khác biệt là 2.01 (p<0.001) [86]
Tại Việt Nam, tác giả Vũ Văn Công trong nghiên cứu tại Hải Phòng năm 2009 cho thấy điều trị Methadone đã đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc làm giảm sử dụng ma túy: số ngày trung bình bệnh nhân dùng heroin trước khi vào điều trị Methadone so với sau điều trị Methadone 30 ngày, 30-60 ngày và trên 60 ngày là 29,1; 12,4; 2,3 và 0,5 [17]
Nghiên cứu thuần tập trên 965 bệnh nhân tham gia điều trị Methadone trong 2 năm tại Thành phố Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: tỷ lệ
sử dụng heroin giảm đáng kể nhất là sau 3 tháng từ 100% xuống còn 34,6% tại
Trang 30Hải Phòng và 36,2% tại thành phố Hồ Chí Minh Con số này giảm còn 22,9% tại Hải Phòng và 14,6% tại thành phố Hồ Chí Minh sau 2 năm điều trị [117]
1.4.2.2 Làm giảm hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý
Điều trị Methadone cũng làm giảm các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV như tiêm chích ma túy, sử dụng chung bơm kim tiêm, có nhiều bạn tình hay bán dâm Sử dụng thuốc Methadone bằng đường uống làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm người nghiện các CDTP do giảm việc tiêm chích, giảm tỷ lệ sử dụng chung BKT
1.4.2.3 Giảm hành vi tiêm chích ma túy và dùng chung bơm kim tiêm
David S Metzger và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu so sánh hiệu quả của điều trị Methadone ở nhóm người TCMT tham gia điều trị Methadone và không điều trị Methadone, 152 người tham gia điều trị Methadone và 103 người không tham gia điều trị được theo dõi trong 18 tháng Các chỉ số về hành vi và HIV được thu thập sau mỗi 6 tháng Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng tiêm chích ma túy ở nhóm tham gia điều trị Methadone giảm rõ rệt so với nhóm người không tham gia điều trị Methadone Ở bệnh nhân điều trị Methadone tiếp tục còn tiêm chích ma túy,
tỷ lệ tiêm chích heroin hàng tuần là 33%, giảm rõ rệt so với nhóm người không điều trị Methadone là 69% (p<0,01) Hành vi dùng chung BKT ở đối tượng không tham gia điều trị Methadone cũng cao hơn trong nhóm bệnh nhân Methadone (tỷ lệ tiêm chích nhưng không dùng chung BKT là 48% trong nhóm điều trị Methadone so với 24% nhóm không điều trị; 70% đối tượng không điều trị Methadone báo cáo có hành vi dùng chung BKT so với 34% bệnh nhân thuộc nhóm Methadone có hành vi này (p<0,01) [76]
Nghiên cứu của Ball JC, Lange WR, Meyers CP, Friedman SR, điều trị bằng thuốc Methadone làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV (1998), nghiên cứu
Trang 31được thực hiện trong 3 năm tại thành phố New York, Philadelphia và Baltimore cho thấy hiệu quả của điều trị Methadone giúp làm giảm tiêm chích
ma tuý, giảm dùng chung bơm kim tiêm trong nhóm nghiện chích heroin Kết quả nghiên cứu cho thấy người nghiện chích ma tuý khi bỏ điều trị Methadone càng lâu thì nguy cơ tái sử dụng ma tuý càng cao, tỷ lệ quay lại tiêm chích sau 1-3 tháng bỏ điều trị là 45,5%, sau 4-6 tháng bỏ điều trị 57,6%, sau 7-9 tháng bỏ điều trị là 72,7%, sau 12 tháng bỏ điều trị là 82,1% [107]
Tại Trung Quốc, Trung tâm đào tạo Methadone Quốc gia tại Viện nghiên cứu lạm dụng ma túy Vân Nam đã được thành lập năm 2003 nhằm cung cấp hỗ trợ về kỹ thuật – lâm sàng và chịu trách nhiệm đào tạo cho nhân viên y tế làm việc tại các phòng khám điều trị Methadone Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2004, 8 phòng khám Methadone đầu tiên được thành lập: 2 phòng khám ở Tứ Xuyên, 1 phòng khám ở Vân Nam, 2 phòng khám ở Quế Châu, 1 phòng khám ở Quảng Tây, và 2 phòng khám ở Triết Giang Kết quả thu được trên 1.153 bệnh nhân tại 8 phòng khám Methadone ở Trung Quốc rất khả quan: tỷ lệ tiêm chích ma túy đã giảm từ 69,1% xuống còn 8,9%; số lượt tiêm chích từ 90 lần/tháng giảm xuống 2 lần/tháng Số liệu này cho thấy hành
vi tiêm chích ma túy giảm rõ rệt [81]
Nghiên cứu của Jeganathan và cộng sự tại Malaysia trên 216 bệnh nhân trong giai đoạn 2005-2008 cũng cho thấy điểm thay đổi hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV sau 12 tháng thay đổi rõ rệt, điểm số khác biệt là 7,64 (p<0,001) [86]
Tác giả Vũ Văn Công trong nghiên cứu tại Hải Phòng năm 2009, cho thấy: điều trị Methadone đã đem lại hiệu quả với việc giảm tỷ lệ sử dụng ma túy và dùng chung bơm kim tiêm trong cộng đồng người nghiện ma túy Tỷ lệ bệnh nhân trước khi vào điều trị Methadone sử dụng chung bơm kim tiêm khi chích ma túy là 24% đã giảm xuống còn 12,7% chỉ sau 3 tháng điều trị [17]
Trang 32Trong nghiên cứu đánh giá đề án thí điểm điều trị Methadone tại Việt Nam: trước điều trị khoảng từ 11%- 30% bệnh nhân có sử dụng chung bơm kim tiêm, sau 12 tháng điều trị, tỷ lệ sử dụng chung bơm kim tiêm trong số những người tiếp tục có hành vi tiêm chích ma túy rất thấp, không đáng kể và sau 24 tháng chỉ còn 2% bệnh nhân có hành vi dùng chung bơm kim tiêm trong nhóm bệnh nhân tiếp tục sử dụng ma túy [7]
1.4.2.4 Cải thiện hành vi tình dục không an toàn
Nghiên cứu của Metzger DS và cộng sự về hành vi lây nhiễm HIV và tình trạng lây nhiễm HIV qua đường máu ở 02 nhóm người tiêm chích ma tuý được điều trị và không được điều trị thay thế bằng thuốc Methadone Sau 18 tháng cho thấy: việc sử dụng BCS khi QHTD trong nhóm điều trị Methadone cao hơn trong nhóm không được điều trị (15% so với 12%, p<0,01) [76]
Cùng với việc dừng hoặc giảm mức độ sử dụng ma túy và tiêm chích không an toàn, các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị đã có sự cải thiện đáng kể Tỷ lệ bệnh nhân
sử dụng bao cao su thường xuyên trong quan hệ tình dục kể cả với bạn tình thường xuyên (vợ, người yêu), cũng như trong quan hệ tình dục mại dâm Trước điều trị, tỷ lệ sử dụng bao cao su thường xuyên với bạn tình thường xuyên và phụ nữ mại dâm lần lượt là 36,3% và 92,9% thì sau 12 tháng điều trị
tỷ lệ này đã tăng lên lần lượt là 37,5% va 95,8%, sau 24 tháng điều trị tỷ lệ này đã là 43,9% và 96,8% [76]
Những thay đổi tích cực về giảm tỷ lệ sử dụng bơm kim tiêm chung trong tiêm chích ma túy và tăng tỷ lệ thường xuyên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị Methadone sẽ góp phần dự phòng lây nhiễm HIV từ quần thể những người NCMT sang bạn tình của họ và cộng đồng Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trước thực trạng lây
Trang 33nhiễm HIV từ nam giới có hành vi nguy cơ cao sang bạn tình nữ đang có xu hướng gia tăng tại Việt Nam
1.4.2.5 Làm giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý
Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy người NCMT không được điều trị bằng Methadone có tỷ lệ huyết thanh dương tính với HIV tăng từ 21% tới trên 51% sau 5 năm theo dõi; với nhóm người NCMT được điều trị bằng Methadone, tỷ
lệ này chỉ tăng từ 13% đến 21% [43]
Metzger DS và cộng sự tiến hành nghiên cứu về tình trạng lây nhiễm HIV qua đường máu ở 02 nhóm người tiêm chích ma tuý được điều trị và không được điều trị bằng thuốc Methadone Kết quả nghiên cứu cho thấy tại thời điểm bắt đầu điều trị Methadone tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm được điều trị là 11%, tỉ lệ nhiễm HIV ở nhóm không được điều trị là 18% Sau 18 tháng nghiên cứu, tỉ lệ xét nghiệm dương tính với HIV ở nhóm được điều trị 15%, tỉ
lệ này ở nhóm không được điều trị là 33%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01 [76]
Trong nghiên cứu tại Việt Nam, sau 12 tháng điều trị, chỉ phát hiện một trường hợp nhiễm HIV mới trong tổng số 760 bệnh nhân âm tính khi mới bắt đầu điều trị Tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ nhiễm HIV mới trong quần thể người nghiện chích ma túy tại Việt Nam, ước tính từ khoảng 2%-4% trong 1 năm [8]
1.4.2.6 Cải thiện sức khỏe cho bệnh nhân tham gia điều trị
Nghiên cứu tại Malaysia sau 2 năm cho thấy cả 4 yếu tố trong chất lượng cuộc sống (thể chất, tâm thần, mối quan hệ xã hội và môi trường) đều được cải thiện rõ rệt (p<0.001) đặc biệt là chỉ số về sức khỏe tâm thần tăng 20% sau 2 năm điều trị [77]
Trang 34Kết quả nghiên cứu tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn thí điểm trên 6 cơ sở điều trị Methadone hoạt động từ tháng 4/2008 cho thấy:
tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ trầm cảm giảm từ 80% xuống còn 15% sau 12 tháng điều trị Methadone Đánh giá thang điểm Chất lượng sống của Tổ chức
Y tế Thế giới tăng lên: về thể chất (81 so với 69), tâm lý (69 so với 56) và xã hội (56 so với 50) [8]
Tỷ lệ tử vong ở người nghiện heroin tham gia điều trị Methadone thấp hơn ở nhóm người không được điều trị từ 3 đến 4 lần tùy theo nghiên cứu Theo nghiên cứu của Trường Y tế công cộng, đại học Nam Trung, Trung Quốc, chất lượng cuộc sống của những người tham gia điều trị cũng được cải thiện rõ rệt, sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tâm thần là những lĩnh vực được cải thiện đáng kể nhất trong những người nghiện CDTP được điều trị Methadone [102] Bên cạnh đó, Methadone cũng giúp bệnh nhân hồi phục khả năng lao động và cải thiện các mối quan hệ trong xã hội [102, 120]
1.4.2.7 Làm giảm hoạt động tội phạm
Nhiều báo cáo và nghiên cứu đã cho thấy người nghiện ma túy thường
có một tỷ lệ phạm tội rất cao, như là buôn bán ma túy, cướp giật, đột nhập và
ăn trộm, ăn cắp, lừa đảo… các hoạt động tội phạm này thường liên quan đến việc cần tiền để mua ma túy Tại Mỹ năm 1999 có 6,3 triệu người trong diện
bị cải tạo, giam giữ trong nhà tù, hoặc quản chế tại cộng đồng, trong đó có 21% người phạm tội liên quan đến ma túy Theo báo cáo của Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI), năm 1980 có 580.900 vụ bắt giữ liên quan đến tội phạm
ma túy, chiếm 5,6% của tất cả các vụ bắt giữ, năm 1999 có 1.532.200 vụ bắt giữ về ma túy, chiếm 10,9% tất cả các vụ bắt giữ [114]
Khi tham gia điều trị Methadone, với liều thích hợp thuốc Methadone phong tỏa các thụ thể tiếp nhận, ngăn chặn các hiệu ứng phấn khích của ma túy, ngoài ra còn được điều trị bằng các liệu pháp tâm lý, tạo việc làm, có cơ
Trang 35hội để cải thiện cuộc sống của mình, tái hòa nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động bình thường của xã hội [109]
Nghiên cứu của Ball JC, Ross A, hiệu quả điều trị Methadone đã giảm đáng kể số ngày liên quan đến phạm tội trung bình mỗi năm: số ngày liên quan đến phạm tội trung bình trước điều trị là 237,5 Sau 4 tháng điều trị Methadone số ngày liên quan đến phạm tội trung bình giảm xuống còn 69,3, sau 3 năm tỷ lệ này là 12,4, sau 6 năm là 14,5 [106]
Nghiên cứu của McGlothlin WH, Anglin MD cho thấy tỉ lệ ngày liên quan đến tội phạm sau khi điều trị 01 năm đã giảm từ 31,3% xuống còn 12% [81]
Kết quả thu được trên 1.153 bệnh nhân tại 8 phòng khám Methadone ở Trung Quốc rất khả quan: hành vi tội phạm giảm từ 20,7% xuống còn 3,8% và chỉ có 8 trường hợp huyết thanh chuyển sang HIV (+) trong vòng 12 tháng [81]
Tại Việt Nam, mâu thuẫn trong gia đình, xã hội cũng giảm mạnh khi bệnh nhân tham gia điều trị Methadone Nếu như trước điều trị trên 40% bệnh nhân (khi còn nghiện ma túy) có tiền án, tiền sự thì sau 12 tháng tham gia điều trị Methadone, tỷ lệ bệnh nhân tiếp tục có các hành vi vi phạm pháp luật được ghi nhận còn rất thấp (2,11%) và tỷ lệ này tiếp tục giảm chỉ còn 1,34% sau 24 tháng điều trị [8]
1.4.2.8 Làm tăng cơ hội có việc làm
Nhiều kết quả nghiên cứu cũng đã khẳng định điều trị Methadone giúp bệnh nhân giữ được việc làm và có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm cũng như
Trang 36Kết quả nghiên cứu tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn thí điểm trên 6 cơ sở điều trị Methadone hoạt động từ tháng 4/2008 cho thấy:
tỷ lệ người tham gia điều trị có việc làm tăng từ 55% lên 66% (p=0,028) [8]
1.4.2.9 Hiệu quả kinh tế và xã hội của điều trị Methadone
Theo kết quả nghiên cứu của NIDA (1991) qua các dữ liệu, báo cáo của
cơ quan điều trị lạm dụng ma túy thành phố New York, đã ước tính chi phí hàng năm của người nghiện CDTP tại thành phố New York, như sau: chi phí của người nghiện không được điều trị và trên đường phố là 43.000USD/1năm, chi phí cho người nghiện bị đi tù là 34.000 USD/1năm, chương trình điều trị cai nghiện tại nhà là 11.000 USD/1năm, cho điều trị bằng thuốc Methadone là 2.400 USD/1 năm [95, 125]
Một nghiên cứu khác của trung tâm điều trị nghiện rượu và ma tuý California trên 150.000 bệnh nhân (CALDATA) đã cho thấy: cứ 01 USD chi cho điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone sẽ tích kiệm được 07 USD cho tương lai Điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone là phương pháp điều trị hiệu quả, chi phí thấp [56]
Theo nghiên cứu về hiệu quả điều trị quốc gia của Anh (NTORS-Study UK), ước tính cứ 1 đôla đầu tư vào chương trình điều trị nghiện CDTP bằng Methadone thì sẽ tiết kiệm được 3 đôla cho các chi phí pháp lý Nghiên cứu tại Hoa Kỳ đăng trên Tạp chí Hàn lâm quốc gia năm 1990 số 1 cho thấy điều trị bằng thuốc Methadone cần khoảng 4.000 đô la/năm, trong khi chi phí phải trả cho việc giam giữ khoảng 20.200 đến 23.500 đô la/năm; chi phí điều trị bệnh tật cho người nghiện ma túy nhiễm HIV/AIDS cần khoảng 109.000 đô la/năm Tại Úc, chi phí điều trị nghiện CDTP bằng thuốc chỉ cần 6.096 đô la
Úc trong khi biện pháp cai nghiện trong trung tâm cần 11.125 đô la Úc, và giam giữ trong tù mất 73.840 đô la Úc; chi phí trên chưa tính đến các chi phí tiết kiệm được do không dùng thuốc phiện trong thời gian cai và sau cai Theo
Trang 37kinh nghiệm quốc tế, điều trị Methadone sẽ giúp cộng đồng tiết kiệm được từ
7 đến 10 lần các chi phí liên quan đến luật pháp, hành pháp, y tế, xã hội, bảo hiểm, hải quan v.v [42]
Tóm lại, cho đến thời điểm hiện nay điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone vẫn là một biện pháp điều trị nghiện CDTP hiệu quả, Methadone được coi là ―tiêu chuẩn vàng‖ trong điều trị nghiện CDTP
1.4.2.10 Tuân thủ điều trị, bỏ điều trị
Để các quốc gia đặt mục tiêu tiếp cận phổ cập dự phòng, chăm sóc người nghiện chích ma túy nhiễm HIV, Tổ chức Y tế thế giới đã sử dụng chỉ
số mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân để đánh giá hiệu quả và chất lượng điều trị [131] Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân sau 1 năm đạt từ 60%-80% là mức trung bình và trên 80% được coi là điều trị thành công Dựa trên khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới, hướng dẫn điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone của Bộ Y tế cũng quy định thời gian tối thiểu điều trị là 1 năm để đảm bảo hiệu quả điều trị [11] Đối lập với tuân thủ điều trị là tỷ lệ bỏ điều trị, đây cũng là chỉ số được các nghiên cứu đo lường để đánh giá hiệu quả điều trị, tỷ lệ này càng thấp thì hiệu quả điều trị càng cao [131]
Tỷ lệ này khác nhau tùy thuộc từng quốc gia và từng vùng trong mỗi quốc gia Nghiên cứu tại Hải Phòng cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị sau 1 năm
là 86,4%, năm thứ 2 là 83,5% và năm thứ ba giảm xuống còn 77,7% [63] Nghiên cứu ở các quốc gia khác cho thấy tỷ lệ bỏ trị sau 12 tháng trong một nghiên cứu tại Đài Loan là 41,6% [69]; tại Trung Quốc tỷ lệ này chỉ đạt 55,2% sau 12 tháng và 43% sau 24 tháng [103]; 74,4% sau 12 tháng tại Israel [83] và 72% sau 12 tháng, 49,8% sau 24 tháng tại Canada [48, 95]
Trang 381.4.2.11 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị
a) Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp tục sử dụng heroin trong qua trình điều trị
Một trong những mục tiêu chính của điều trị bằng thuốc Methadone là giúp bệnh nhân giảm, tiến tới ngừng sử dụng ma túy [10, 117] Để đánh giá hiệu quả này của điều trị Methadone, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào đánh giá chỉ số tiếp tục sử dụng heroin trong quá trình điều trị và xác định các yếu
tố ảnh hưởng đến việc tiếp tục sử dụng heroin
Kết quả từ nhiều nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone giúp bệnh nhân giảm và tiến tới ngừng sử dụng ma túy Xu hướng giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp ở bệnh nhân khi tham gia điều trị cả về tần suất và số lượng đều rất nhanh Nghiên cứu đầu tiên về Methadone tại Việt Nam cho thấy: từ 100% bệnh nhân sử dụng ma túy trước khi tham gia điều trị với tần suất sử dụng khá cao (trung bình 4-5 lần/ngày), sau 2 năm tham gia điều trị đã giảm xuống còn 14,6% tại Hải Phòng và 22,9% tại thành phố Hồ Chí Minh [59] Nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy có tới 75% bệnh nhân còn tiếp tục sử dụng heroin nhiều hơn 1 lần trong tháng tại thời điểm sau 1 năm tham gia điều trị [123] Trong một nghiên cứu thực hiện tại Tứ Xuyên có 44,9% bệnh nhân báo cáo tiếp tục sử dụng Heroin hoặc có xét nghiệm nước tiểu dương tính trong vòng 30 ngày trước thời điểm nghiên cứu [66]
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp tục sử dụng heroin trong khi tham gia điều trị Methadone của bệnh nhân (1) các yếu tố về nhân khẩu học xã hội như: tuổi, giới, trình độ học vấn, việc làm, thu nhập ổn định; (2) các bệnh lý đồng nhiễm trên bệnh nhân: điều trị ARV, bệnh lao, HBV, HCV
Trang 39hay (3) các yếu tố khác liên quan: mối quan hệ với gia đình, mối quan hệ bạn
bè và xã hội
Một số nghiên cứu được tiến hành cho thấy mối quan hệ giữa các đặc điểm nhân khẩu học với tình trạng sử dụng chất gây nghiện của bệnh nhân trong quá trình điều trị Nghiên cứu tại Việt Nam về hiệu quả của điều trị Methadone cũng cho thấy tuổi có ảnh hưởng đến việc tiếp tục sử dụng heroin trong quá trình tham gia điều trị [123] Bệnh nhân có việc làm ổn định có xu hướng ít sử dụng chất gây nghiện trong khi điều trị Methadone [59], những người sống chung với bạn tình lại có nguy cơ sử dụng heroin trong quá trình điều trị cao hơn nhóm sống độc thân [127] Nghiên cứu tiến hành tại Quảng Đông, Trung Quốc đưa ra kết luận nữ giới có xu hướng tiếp tục sử dụng heroin trong quá trình điều trị cao hơn so với nam giới và bệnh nhân lệ thuộc vào kinh
tế có xu hướng tiếp tục sử dụng cao heroin cao hơn nhóm không lệ thuộc [71]
Theo một nghiên cứu tiến hành tại Quảng Đông, Trung Quốc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp tục sử dụng heroin sau khi tham gia điều trị cho thấy tiền sử sử dụng chất gây nghiện của bệnh nhân được xác định là một yếu tố có ảnh hưởng đến việc tiếp tục sử dụng heroin của họ sau 1 năm điều trị methadone, bệnh nhân có tiền sử tiêm chích ma túy có xu hướng ít sử dụng heroin trong quá trình điều trị hơn nhóm bệnh nhân không có tiền sử tiêm chích là gần 20% (OR=0,81) [71]
Nghiên cứu tại Trung quốc cho thấy bệnh nhân thường xuyên gặp gỡ bạn là người đang sử dụng ma túy có xu hướng tái sử dụng heroin cao hơn nhóm không gặp lại bạn nghiện [66, 71] Bệnh nhân có nhiều bạn tình cũng có nguy cơ tăng sử dụng heroin trong quá trình điều trị [71]
Bệnh nhân có mối quan hệ trong gia đình không tốt có xu hướng tiếp tục sử dụng heroin trong quá trình điều trị cao hơn nhóm có mối quan hệ tốt
Trang 40trong gia đình [71, 96] Theo một nghiên cứu cắt ngang tiến hành tại tỉnh Chiết Giang và Giang Tây, Trung Quốc trên 560 bệnh nhân, nhóm không nhận được sự hỗ trợ của gia đình thì có nguy cơ sử dụng ma túy bất hợp pháp trong quá trình điều trị cao hơn nhóm có hỗ trợ [68]
Nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng nhiễm HIV của bệnh nhân có ảnh hưởng đến việc tiếp tục sử dụng heroin trong quá trình điều trị của bệnh nhân [59, 69, 71, 123, 127]
Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy bệnh nhân điều trị Methadone đồng thời với điều trị ARV, điều trị lao có xu hướng sử dụng chất gây nghiện cao hơn nhóm bệnh nhân Methadone không tham gia điều trị ARV, điều trị lao [59, 123] Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu được tiến hành tại Trung Quốc: bệnh nhân HIV dương tính có xu hướng tiếp tục sử dụng chất gây nghiện trong quá trình điều trị cao hơn nhóm HIV âm tính [69, 71]
Bệnh nhân thường xuyên bỏ uống thuốc có xu hướng sử dụng heroin cao hơn nhóm tuân thủ điều trị tốt 3,7 lần tại thành phố Hồ Chí Minh [59] Kết quả tương tự cũng được chứng minh trong một nghiên cứu tại Trung Quốc:bệnh nhân thường xuyên bỏ uống thuốc có xu hướng tiếp tục sử dụng heroin cao hơn gần 6 lần so với nhóm uống thuốc đều đặn [96] hoặc cao hơn gần 2 lần so với nhóm tốt trong một nghiên cứu khác cũng tiến hành tại Trung Quốc [71]
Liều điều trị cũng có ảnh hưởng đến việc tiếp tục sử dụng ma túy trong quá trình điều trị [40, 51, 71, 127] Một số nghiên cứu cho thấy liều thuốc Methadone thấp thì tỷ lệ tiếp tục sử dụng ma túy trong quá trình điều trị càng cao [51, 127] hoặc kết quả của một nghiên cứu tại Thụy Điển cho thấy liều điều trị càng cao thì số ngày sử dụng heroin càng ít [40] Tuy nhiên, vẫn có