Trên cơ sở đánh giá thực trạng dạy-học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) tại Học viện Khoa học Quân sự, chỉ ra một số những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu, bài viết tập trung đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy-học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp phù hợp với đối tượng học ngoại ngữ 2, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Pháp, đáp ứng nhiệm vụ giáo dục, đào tạo ngày càng phát triển của Học viện.
Trang 1NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY-HỌC
KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU TIẾNG PHÁP (NGOẠI NGỮ 2) TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
TÓM TẮT
Nâng cao chất lượng dạy-học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) nhằm đảm bảo mục tiêu đạt chuẩn năng lực ngôn ngữ là một yêu cầu cần thiết trong dạy-học bộ môn tiếng Pháp Trên cơ
sở đánh giá thực trạng dạy-học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) tại Học viện Khoa học Quân sự, chỉ ra một số những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu, bài báo tập trung đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy-học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp phù hợp với đối tượng học ngoại ngữ 2, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Pháp, đáp ứng nhiệm vụ giáo dục, đào tạo ngày càng phát triển của Học viện
Từ khóa: dạy học, kỹ năng đọc hiểu, ngoại ngữ 2, tiếng Pháp
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đọc hiểu là một trong bốn kỹ năng quan trọng
trong lĩnh hội và rèn luyện một ngôn ngữ Rèn
luyện kỹ năng đọc hiểu ngoại ngữ tốt một mặt giúp
cho người học ngoại ngữ có vốn từ vựng, cấu trúc
ngữ pháp phong phú, vốn hiểu biết về văn hóa, văn
minh của nước bản địa được mở rộng, qua đó giúp
họ nâng cao kỹ năng nói, viết và nghe Mặt khác,
chiến thuật đọc được rèn luyện tốt giúp họ phát
triển tư duy logic và phương pháp học, đọc khoa
học và hiệu quả Theo Williams (1996), vai trò của
việc đọc khi học một ngoại ngữ là người học có
thể thực hành ngôn ngữ họ gặp thông qua nghe và
nói Ngôn ngữ mà học viên có được thông qua đọc
có thể được sử dụng lại cho kỹ năng viết, hoặc học viên có thể diễn giải nghĩa của bài đọc để có được những thông tin cần thiết cho họ
Tuy nhiên, học tốt kỹ năng đọc hiểu phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó, yếu tố người dạy, người học, chương trình môn học, điều kiện dạy học (giáo trình, tài liệu, cơ sở vật chất, trang thiết bị, thư viện) có mối quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng đến chất lượng dạy-học kỹ năng đọc hiểu Trong khuôn khổ bài báo khoa học, chúng tôi tập trung đề cập đến thực trạng dạy-học và các biện pháp nâng cao chất lượng dạy-học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) tại Học viện Khoa học Quân sự
CHU THỊ HỒNG NHUNG *; NGUYỄN TRÍ DŨNG **
* Học viện Khoa học Quân sự, ✉ chuchuhongnhung@gmail.com
** Học viện Khoa học Quân sự, ✉ braveman20083@gmail.com
Ngày nhận bài: 18/4/2018; ngày sửa chữa: 09/5/2018; ngày duyệt đăng: 20/5/2018
Trang 22 THỰC TRẠNG DẠY-HỌC KỸ NĂNG
ĐỌC HIỂU TIẾNG PHÁP (NGOẠI NGỮ 2)
TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
2.1 Chương trình môn học, giáo trình, tài
liệu dạy học
Hiện nay, tiếng Pháp được giảng dạy tại Học
viện Khoa học Quân sự như là ngoại ngữ thứ 2 cho
đối tượng học viên, sinh viên năm thứ ba, năm thứ
tư chuyên ngành tiếng Anh và tiếng Trung Quốc
Thời lượng giảng dạy là 100 tiết/học kỳ, tương ứng
với 4 đơn vị học trình/học phần (đối với học viên
quân sự) và 125 tiết/học kỳ, tương ứng với 5 đơn
vị học trình/học phần (đối với sinh viên dân sự)
Nội dung và chương trình môn học được thiết kế
cho ba học phần nhằm trang bị cho người học kiến
thức tiếng Pháp cơ bản, phát triển cho bốn kỹ năng
(nghe, nói, đọc, viết) giúp người học hình thành
cơ sở ngôn ngữ và kỹ năng, bước đầu xây dựng
kỹ năng giao tiếp cơ bản Theo quy định về chuẩn
đầu ra của Học viện, học viên, sinh viên phải đạt
tối thiểu bậc 2, hướng tới bậc 3 theo Khung năng
lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam, tương
đương với trình độ A2 hướng tới B1 theo Khung
tham chiếu Châu Âu (CECR) Cụ thể đối với kỹ
năng đọc hiểu, học viên, sinh viên có thể đọc được
thư giao dịch, các văn bản ngắn, đơn giản, tìm ra
được thông tin đặc biệt, có thể đoán được nội dung
trong các tài liệu thông thường như quảng cáo, tờ
rơi, thực đơn, bảng giờ tàu,
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy, chương trình
chi tiết môn học tiếng Pháp được xây dựng từ
năm 2014 chưa xác định cụ thể chuẩn kiến thức
cần đạt được sau mỗi học phần tiếng Pháp 1,
tiếng Pháp 2, tiếng Pháp 3 Bên cạnh đó, việc
phân bổ nội dung cho từng bài, từng hoạt động
bổ trợ trong chương trình chi tiết môn học còn
chung chung, mặc dù lịch huấn luyện của Tổ bộ
môn từng tháng, từng tuần thể hiện rất rõ ràng, cụ
thể Đối với kỹ năng đọc hiểu, Tổ bộ môn phân
bổ 04 tiết/chương của giáo trình chính , cụ thể là
sau 02 bài học (leçon) mới bổ sung thêm kỹ năng
đọc hiểu học trong 02 tiết
Giáo trình chính được sử dụng trong giảng dạy tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) tại Học viện Khoa học Quân sự là giáo trình Initial (quyển 1, quyển 2) do các tác giả Sylvie Poisson-Quinton và Marina Sala biên soạn, được xuất bản năm 2002 tại Nhà xuất bản Clé International Mỗi cuốn giáo trình gồm sáu chương, mỗi chương có bốn bài, cuối mỗi chương
là phần tổng kết những kiến thức đã học Mỗi bài học bao gồm hai tình huống giao tiếp thông dụng trong đời sống hàng ngày; phần kiến thức từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm kết hợp với các hoạt động/ bài tập thực hành Kèm theo mỗi cuốn giáo trình
là một cuốn sách bài tập chủ yếu luyện ngữ pháp
và từ vựng theo chủ điểm của bài học Đối với kỹ năng đọc hiểu, qua quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy, giáo trình chưa chú trọng phát triển và rèn luyện kỹ năng này Trên thực tế, các bài đọc hiểu dưới dạng bài khóa thuần túy không xuất hiện trong giáo trình Initial (quyển 1) Các bài đọc chỉ tồn tại dưới dạng bài tập tình huống phục vụ cho rèn luyện kỹ năng nói, cụ thể đó là bảng thực đơn (trang 45), sơ đồ căn nhà/căn hộ và tờ rao vặt cho thuê nhà/căn hộ (trang 59), bản đồ khu phố để chỉ đường (trang 65), lịch trình du lịch 3 ngày (trang 113), Trong giáo trình Initial (quyển 2) các bài đọc hiểu đi kèm với hoạt động nghe hiểu bài khóa, nhiều bài không có phần khai thác bài đọc hiểu (trang 10, trang 50) hoặc các dạng bài khai thác chỉ dừng lại ở bài tập nối tranh (trang 11); hoặc nghe, đọc và trả lời các câu hỏi đọc hiểu dưới dạng tự luận (trang 22, trang 46), Để bổ sung những bài đọc còn thiếu trong giáo trình và để rèn luyện kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp cho học viên, sinh viên học tiếng Pháp (ngoại ngữ 2), Tổ bộ môn tiếng Pháp đã tiến hành biên soạn Tài liệu Đọc tiếng Pháp năm 2015
Tài liệu Đọc tiếng Pháp được thiết kế 24 bài tương ứng với 24 bài trong giáo trình Initial (quyển 1), mỗi bài bao gồm 02 bài khóa được lựa chọn trên cơ sở đảm bảo tính hệ thống và logic với chủ đề, các kiến thức ngôn ngữ bám sát nội dung của giáo trình chính, kết hợp với việc mở rộng kiến thức ngôn ngữ và kiến thức văn hoá-xã hội nói chung cho người học Tùy theo mỗi bài khóa, các cách khai thác khác nhau như trả lời câu hỏi, lựa
Trang 3chọn đúng sai, bài tập từ vựng, bài tập viết cũng được sử dụng trong tài liệu Tuy nhiên, tài liệu này mới chỉ biên soạn các bài đọc bổ trợ cho giáo trình Initial (quyển 1) nên còn thiếu hụt phần bổ trợ kỹ năng đọc hiểu cho giáo trình Initial (quyển 2) phục vụ cho học phần tiếng Pháp 3 Bên cạnh đó, cách khai thác bài đọc trong nhiều bài còn chưa phù hợp với trình độ người học bởi cách đặt câu hỏi trong các yêu cầu của bài
có từ vựng và cấu trúc ngữ pháp khó so với trình độ của người học, ví dụ một số các bài đọc của học phần tiếng Pháp 1 (bài 3, bài 6, bài 7) Tài liệu chưa đề cập nhiều đến các dạng bài tập khác như đọc hiểu từ, đọc hiểu câu, đọc hiểu đoạn văn giống như cấu trúc đề thi kỹ năng đọc hiểu giữa học phần và kết thúc học phần Điều này phần nào ảnh hưởng đến kết quả học tập và rèn luyện kỹ năng đọc của học viên, sinh viên Qua khảo sát bảng điểm kết quả thi học phần kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp của học kỳ I (năm học 2016
- 2017) và học kỳ I (năm học 2017 - 2018), chúng tôi nhận thấy kết quả có chiều hướng đi xuống, thể hiện trong bảng tổng kết sau: (xem bảng 1)
Bảng 1: Tổng hợp kết quả thi kết thúc học phần kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp học kỳ 1
(năm học 2016 - 2017) và học kỳ 1 (năm học 2017 - 2018)
Học kỳ I Năm học 2016 - 2017 Năm học 2017 - 2018 Học kỳ I Không đạt 3/161 (1,9%) 34/233 (14,6%)
Giỏi, Xuất sắc 45/161 (27,9%) 72/233 (30,9%)
Như vậy, tỷ lệ “Không đạt” và “Đạt” của kỹ năng đọc hiểu giữa hai học kỳ đã tăng lên lần lượt từ 1,9% lên 14,6% và 26,8% lên 34,3% Mặc dù tỷ lệ học viên, sinh viên đạt điểm “Giỏi, Xuất sắc” nhích lên 0,3% qua hai học kỳ nhưng tỷ lệ học viên, sinh viên đạt điểm “Khá” kỹ năng đọc hiểu giảm xuống xấp xỉ một nửa (từ 43,4% xuống 20,2%) Trên thực tế, học kỳ I (năm học 2017 - 2018) số lượng học viên, sinh viên chủ yếu tập trung học phần 3 tiếng Pháp (tiếng Pháp 3), đây là học phần đòi hỏi trình độ ngôn ngữ bậc cao hơn so với hai học phần đầu, tương đương với chuẩn A2 hướng tới B1 của Khung tham chiếu Châu Âu; nhiều học viên, sinh viên gặp khó khăn trong việc hiểu các bài đọc có lượng từ vựng và kiến thức ngữ pháp nhiều hơn; không linh hoạt trong các bài điền từ trong đoạn văn, bài tập nối hình ảnh với câu, bài tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa,
2.2 Một số hạn chế và nguyên nhân
2.2.1 Hạn chế
Qua quá trình giảng dạy chúng tôi nhận thấy học viên, sinh viên chưa thực sự coi trọng bộ môn tiếng Pháp, họ xem như đó là một môn học phụ, không quan trọng nên họ chưa có động cơ học tập đúng đắn đối với bộ môn tiếng Pháp nói chung và kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp nói riêng Từ đó, thái độ học tập và
ý thức học tập đối với bộ môn tiếng Pháp của học viên, sinh viên chưa tốt, còn tình trạng sinh viên bỏ giờ học, không hoàn thành các nhiệm vụ học tập của bộ môn
Những tồn tại trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Qua quan sát, kinh nghiệm giảng dạy và trao đổi với đồng nghiệp và học viên, sinh viên, chúng tôi rút ra một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Trang 42.2.2 Nguyên nhân
Nguyên nhân khách quan
Tiếng Pháp là môn ngoại ngữ 2, thời lượng
giảng dạy hạn chế nên việc phân bổ thời lượng
học cần đồng đều cho cả bốn kỹ năng và bài học
trong giáo trình nên thời lượng dành cho học kỹ
năng đọc hiểu còn ít Vì vậy, học viên, sinh viên ít
có thời gian luyện tập nhiều dạng bài tập đọc hiểu
ở trên lớp Bên cạnh đó, họ ít có cơ hội làm quen
với những dạng bài test hoặc những bài ôn tập có
cấu trúc giống như bài kiểm thi (kiểm tra) giữa học
phần và kết thúc học phần
Giáo trình, tài liệu dành cho kỹ năng đọc hiểu
còn một số điểm chưa phù hợp, cần có đổi mới và
nâng cấp
Nguyên nhân chủ quan
Một bộ phận học viên, sinh viên chưa có
phương pháp học và rèn luyện kỹ năng đọc hiểu
tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) phù hợp Bên cạnh đó,
họ còn chưa đầu tư thời gian cho tự rèn kỹ năng
đọc hiểu ở nhà
Một số giảng viên khi giảng dạy kỹ năng đọc
hiểu đối với đối tượng ngoại ngữ không chuyên
đôi khi còn đi sâu vào giảng giải từ mới, ngữ pháp
bằng tiếng Pháp gây nên sự khó hiểu; tập trung vào
khai thác nội dung bài khóa mà xem nhẹ việc rèn
luyện chiến lược đọc cho học viên, sinh viên; chưa
đa dạng hóa các hoạt động giảng dạy trên lớp; ứng
dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy kỹ năng
đọc hiểu còn hạn chế; kiểm tra, đánh giá kỹ năng
đọc hiểu có lúc chưa thường xuyên, chưa kịp thời,
hình thức chưa phong phú
Giáo trình Initial (quyển 1, quyển 2) và tài liệu
Đọc hiểu tiếng Pháp còn hạn chế và khiếm khuyết
về nội dung dạy-học kỹ năng đọc hiểu, đặc biệt là
nội dung dạy-học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp học
phần 3
3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY-HỌC KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU TIẾNG PHÁP (NGOẠI NGỮ 2) TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
Để nâng cao chất lượng dạy-học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2), nhiều giải pháp từ phía người dạy, từ phía người học có thể được đưa
ra Trong phạm vi bài báo khoa học, chúng tôi xin
đề xuất những giải pháp đối với người dạy
3.1 Đề xuất phương pháp dạy kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2)
Như chúng ta đã biết, đọc hiểu là một kỹ năng thực hành tiếng bao hàm nhiều kiến thức ngôn ngữ, văn hóa và liên quan mật thiết đến các chiến lược đọc hiểu, đòi hỏi người dạy phải có sự đầu tư
kỹ lưỡng, đặc biệt là về phương pháp giảng dạy Chúng tôi đề xuất phương pháp dạy học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp theo ba bước cơ bản: trước khi đọc (avant la lecture), trong khi đọc (pendant la lecture) và sau khi đọc (après la lecture), trong đó nêu rõ mục đích, yêu cầu, các hoạt động và cách thức tiến hành từng bước của giảng viên
3.1.1 Trước khi đọc (Avant la lecture)
Đây thực chất là khâu khởi động nhằm giới thiệu bài đọc, cung cấp một số kiến thức về từ vựng, ngữ pháp cần thiết cho phần đọc hiểu sau này của học viên, sinh viên và tạo hứng thú, động
cơ học tập cho học viên, sinh viên Giai đoạn khởi đầu có thể dao động trong khoảng từ 10-15 phút tùy điều kiện cụ thể
Giới thiệu bài đọc
Đây là một hoạt động rất quan trọng nhằm cung cấp cho học viên, sinh viên chủ đề bài đọc cũng như một số thông tin liên quan Giảng viên
có thể dẫn nhập vào bài bằng nhiều cách, tùy thuộc vào nội dung, chủ đề bài đọc và đối tượng học viên, sinh viên…
Một là, giảng viên có thể sử dụng phương pháp nêu vấn đề, liên kết nội dung bài đọc hiện tại với
Trang 5những sự kiện trong đời sống kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội liên quan đến chủ đề bài đọc Ví dụ, khi
dạy bài khóa Ces Parisiens qui ont choisi de vivre
à une heure de la capitale (Bài 22, Tài liệu Đọc
tiếng Pháp), giảng viên có thể nêu vấn đề về tình
trạng hiện nay nhiều người dân thành phố có nhu
cầu mua nhà ở vùng ngoại ô, đặt câu hỏi gợi mở
cho học viên, sinh viên giải đáp nguyên nhân và
dẫn nhập vào chủ đề bài đọc: Hôm nay, chúng ta
sẽ tìm hiểu về sự lựa chọn của người dân Paris về
cuộc sống, công việc ở nông thôn hay thành thị…
Hai là, giảng viên có thể liên kết bài học hiện
tại với bài học trước thông qua những câu hỏi
nhằm củng cố kiến thức đã học và dẫn dắt vào bài
học mới một cách tự nhiên Chẳng hạn, khi dạy
bài đọc L’emploi du temps: Métro, boulot, restau,
dodo (Bài 14, Tài liệu Đọc tiếng Pháp), giảng viên
có thể đặt một số câu hỏi để kiểm tra bài cũ: Thời
tiết hôm nay thế nào? Các em thường làm gì khi
trời đẹp (hoặc trời mưa)? Một ngày làm việc của
các em diễn ra như thế nào? Sôi động hay nhàm
chán? Tiếp đến giảng viên dẫn dắt vào chủ đề bài
đọc: Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau khám phá
cuộc sống thường ngày của người Pháp qua bài
đọc có tựa đề “L’emploi du temps: Métro, boulot,
restau, dodo” Giảng viên cũng có thể khởi động
bằng một số trò chơi có sự kết nối giữa nội dung
bài học cũ và bài học mới nhằm củng cố kiến thức
đã học, dẫn nhập vào chủ đề bài đọc một cách tự
nhiên, tạo hứng thú cho học viên, sinh viên trước
khi đọc bài khóa Ví dụ, khi dạy bài đọc Est-ce
qu’il y a une poste près d’ici? (Bài 12, Tài liệu
Đọc tiếng Pháp), giảng viên có thể chuẩn bị một
trò chơi ô chữ yêu cầu học viên, sinh viên dựa vào
những gợi ý để tìm ra những địa danh trong thành
phố; kết thúc trò chơi, giảng viên sẽ dẫn nhập vào
chủ đề bài đọc giới thiệu về thành phố
Trong phần giới thiệu bài đọc, giảng viên có
thể giới thiệu tổng quát, ngắn gọn về chủ đề bài
đọc, sử dụng các dữ kiện có liên quan đến kinh
nghiệm sống để giúp học viên, sinh viên đoán
trước nội dung bài đọc Ngoài phương pháp diễn
giảng thông thường, giảng viên nên đưa ra những
câu hỏi gợi ý để các em tự do tìm hướng trả lời
Để phần giới thiệu bài đọc thu hút được sự chú
ý và tạo hứng khởi cho học viên, sinh viên, giảng viên nên tăng cường sử dụng giáo cụ trực quan Với những bài đọc có tranh minh họa, giảng viên
có thể khởi động vào bài học bằng việc khai thác tranh: yêu cầu học viên, sinh viên quan sát và trả
lời những câu hỏi đơn giản như: Ai? Cái gì? Ở
đâu? Như thế nào? Tại sao? và gợi mở cho học
viên, sinh viên đưa ra những phán đoán về chủ đề, nội dung bài đọc Những phán đoán này có thể là của một cá nhân hoặc của từng nhóm, có thể đúng,
có thể chưa chính xác, có thể sai nhưng không ngoài mục đích dắt dẫn học viên, sinh viên dẫn nhập vào bài học Giảng viên cũng có thể dẫn dắt học viên, sinh viên dựa vào tiêu đề bài đọc để đưa
ra những phán đoán Sau đó, giảng viên đưa ra lời giới thiệu ngắn về bài khóa nhằm định hướng cho học viên, sinh viên về chủ đề và những thông tin liên quan Với những bài đọc không có tranh minh họa, giảng viên có thể căn cứ vào chủ đề, nội dung bài khóa để tìm tranh ảnh hoặc clip phù hợp, thực hiện các bước tương tự nhằm dẫn dắt vào chủ đề bài đọc một cách sinh động, hiệu quả
Trong phần giới thiệu bài đọc, giảng viên có thể đặt một số câu hỏi gợi mở liên quan đến nội dung bài đọc sắp tới nhằm gây sự tò mò, lôi cuốn sinh viên tham gia tìm hiểu; đồng thời hình thành nhu cầu, động cơ đọc hiểu cho học viên, sinh viên Một khi hiểu rõ mục đích và lợi ích mà bài đọc đem lại, học viên, sinh viên chú tâm hơn đến bài học và tích cực tham gia xây dựng bài
Cung cấp từ vựng, ngữ pháp cần thiết
Bên cạnh mục đích giới thiệu chủ đề bài đọc, trong khâu khởi động, giảng viên cần khéo léo lồng ghép trong các câu hỏi, định hướng trả lời để củng
cố và mở rộng kiến thức từ vựng, ngữ pháp liên quan đến bài đọc, giúp học viên, sinh viên tiếp cận bài đọc dễ dàng hơn Tuy nhiên, giảng viên không nên giải thích tất cả các từ mới, các hiện tượng ngữ pháp mới mà cần lựa chọn, tập trung vào những từ vựng khó, ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung bài đọc mà học viên, sinh viên khó đoán được nghĩa trong quá trình đọc; những nội hàm ngữ pháp và từ
Trang 6Các bước thực hiện và phương pháp giảng dạy phổ biến ở giai đoạn này thường có những dạng sau:
Đọc thầm và làm các bài tập đọc hiểu
Giảng viên quy định thời gian làm việc và yêu cầu học viên, sinh viên đọc thầm bài khóa và làm các bài tập đọc hiểu cho trước Trong lúc học viên, sinh viên đọc thầm, giảng viên có thể di chuyển để bao quát và nắm tình hình lớp học, kịp thời động viên, nhắc nhở học viên, sinh viên để đảm bảo rằng tất cả các thành viên thực hiện nhiệm vụ đọc một cách nghiêm túc
Trao đổi, kiểm tra chéo
Sau khi học viên, sinh viên đã thực hiện nhiệm
vụ đọc thầm và độc lập trả lời các câu hỏi cho trước của bài đọc, giảng viên có thể yêu cầu học viên, sinh viên trao đổi bài làm để nhận xét, sửa lỗi cho nhau hoặc tự sửa bài cho mình bằng cách đọc lại, đối chiếu phương án trả lời của mình và của bạn học Học viên, sinh viên có thể làm việc theo cặp, một người đọc câu hỏi, một người trả lời, sau đó trao đổi, bàn luận với nhau; hết một câu hỏi thì đổi vai để quá trình hỏi-đáp được diễn ra liên tục Như vậy, tất cả học viên, sinh viên trong lớp đều phải tham gia hoạt động và có cơ hội làm việc chung, giúp đỡ lẫn nhau Lúc này, giảng viên có thể quan sát, khích lệ và gợi ý cho các em hướng giải quyết trong trường hợp có sự khác biệt trong phương án trả lời của hai bạn học
Quá trình quan sát học viên, sinh viên thực hiện nhiệm vụ đọc thầm, làm bài tập và trao đổi, giảng viên bước đầu có thể đánh giá mức độ hiểu bài và ý thức học tập của từng học viên, sinh viên
Khai thác bài đọc
Mục đích là truyền đạt cho học viên, sinh viên những chiến lược đọc để các em có thể hiểu rộng, hiểu sâu hơn nội dung bài khóa; từ đó có thể kiểm chứng các câu trả lời và đánh giá được khả năng đọc hiểu của bản thân Giảng viên sẽ đưa ra những câu hỏi hoặc gợi ý giúp học viên, sinh viên lĩnh hội được các thủ thuật đọc tổng hợp (đọc mở rộng) và
vựng khác sẽ do học viên, sinh viên phát hiện và
tìm ra quy tắc sử dụng trong quá trình thực hành
đọc hiểu và dưới sự gợi ý của giảng viên
Để giải thích từ mới, giảng viên có thể kết hợp
sử dụng giáo cụ trực quan (tranh ảnh, hiện vật, sơ
đồ, hình vẽ trên bảng, ngôn ngữ cử chỉ…), giải
thích từ mới bằng ngôn ngữ tiếng Pháp hoặc kết
hợp với tiếng Việt Quá trình giải thích từ mới,
giảng viên có thể lồng ghép sử dụng lại những cấu
trúc ngữ pháp đã dạy hoặc giới thiệu một vài cấu
trúc ngữ pháp mới mà học viên, sinh viên có thể
nắm bắt và sử dụng ngay
Gợi ý, định hướng cho học viên, sinh viên tập
trung vào những điểm chính của bài đọc
Như chúng ta đã biết, mỗi bài đọc, nhất là
những bài đọc dài, thường có rất nhiều nội dung
Do vậy, trước khi đọc hiểu, giảng viên cần định
hướng giúp học viên, sinh viên tập trung vào những
nội dung quan trọng trong bài đọc Giảng viên có
thể nêu ra hai hoặc ba câu hỏi và viết lên bảng
trước khi yêu cầu học viên, sinh viên đọc hiểu
Tóm lại, các hoạt động trước khi đọc rất đa dạng,
có thể được tiến hành bằng nhiều phương pháp
dạy học và thông qua nhiều phương tiện dạy học
Giảng viên có thể thay đổi tùy theo tình hình thực
tế của lớp học và trình độ của học viên, sinh viên để
vận dụng thực hiện một, hai hay nhiều hoạt động
3.1.2 Trong khi đọc (Pendant la lecture)
Các hoạt động luyện tập trong khi đọc là những
bài tập được thực hiện ngay trong khi học viên,
sinh viên đang đọc bài đọc Hình thức luyện tập ở
bước này nhằm mục đích tìm hiểu, khai thác nội
dung bài khóa trên nhiều bình diện Tùy nội dung
của từng bài, giảng viên sẽ xây dựng những dạng
câu hỏi và yêu cầu khai thác khác nhau Thông
thường, giảng viên cung cấp bài đọc với nhiều
dạng câu hỏi thác nhau Do vậy, trước khi học
viên, sinh viên đọc thầm, giảng viên có thể hướng
dẫn các em đọc qua các yêu cầu đề bài nhằm giúp
các em nắm bắt nhanh nhiệm vụ phải làm sau khi
đọc bài khóa
Trang 7đọc phân tích (đọc sâu hoặc đọc tập trung) Đọc
mở rộng nghĩa là học viên, sinh viên phải hiểu
một cách tổng quát về bài đọc mà không cần thiết
phải hiểu từng từ, từng ý; ngược lại đọc tập trung
nghĩa là nghĩa là học viên, sinh viên phải hiểu tất
cả những gì đã đọc và có thể trả lời các câu hỏi
chi tiết về từ vựng, ngữ pháp và thông điệp được
truyền tải qua bài khóa Với một bài đọc dài, giảng
viên có thể áp dụng phương pháp đọc mở rộng ở
một vài đoạn và cho học viên, sinh viên đọc tập
trung ở một số đoạn khác, bởi vì nếu để học viên,
sinh viên đọc tập trung bài khóa quá dài sẽ làm các
em mất hứng thú, mệt mỏi và không đủ thời gian
rèn luyện kỹ năng đọc nhanh, đọc lướt
Phần khai thác bài đọc thường được bắt đầu
với những câu hỏi tổng hợp giúp học viên, sinh
viên nắm được kỹ năng đọc để lấy thông tin cần
thiết và đọc để lấy ý chính Giảng viên có thể đặt
câu hỏi về chủ đề bài đọc, tác giả, nguồn bài đọc,
số đoạn văn và ý chính của từng đoạn; hướng dẫn
học viên, sinh viên thủ thuật đọc lướt để tìm thông
tin một cách nhanh chóng dựa vào tiêu đề bài đọc,
tiêu đề các đoạn văn, chữ in hoa, in đậm hoặc in
nghiêng Tiếp đến là những câu hỏi mà học viên,
sinh viên phải vận dụng kỹ năng đọc phân tích để
hiểu nội dung chi tiết Giảng viên cần khéo léo
lồng ghép các câu hỏi mới với các câu hỏi cho
trước để khai thác bài đọc theo hướng từ khái quát
đến cụ thể, từ dễ đến khó nhằm giúp học viên, sinh
viên hiểu tổng quát và hiểu sâu về bài đọc; từ đó
tự kiểm chứng các câu trả lời trước đó của mình
Giảng viên nên hướng dẫn cho học viên, sinh viên
thủ thuật dựa vào những từ khóa trong câu hỏi và
trong bài đọc để đưa ra câu trả lời chính xác và
giải thích được lý do (đọc to câu trong bài khóa có
chứa thông tin minh chứng)
Với những câu hỏi khó, giảng viên có thể yêu
cầu một học viên, sinh viên đọc to đoạn văn trong
bài đọc có chứa thông tin trả lời để tập trung sự
chú ý của học viên, sinh viên vào đoạn văn Tuy
nhiên, đây không phải là hoạt động chính để luyện
tập kỹ năng đọc hiểu và nếu lạm dụng dễ gây ra
tình trạng mất tập trung cho các học viên, sinh viên
khác trong khi một sinh viên được yêu cầu đọc to
Để thúc đẩy hoạt động của học viên, sinh viên trên lớp, giáo viên có thể thiết kế nhiều dạng bài tập như: câu hỏi đúng-sai, đa lựa chọn, điền khuyết, lựa chọn tương đương, câu hỏi mở…
Ở giai đoạn trong khi đọc, giảng viên có thể đưa ra một số yêu cầu nhằm giúp học viên, sinh viên chủ động tham gia tích cực vào bài đọc và khiến cho giờ dạy đọc hiểu trở thành một quá trình mang tính tương tác: Tìm hiểu nội dung chính của bài đọc, nhìn lướt qua tựa đề, đề mục, câu mở đầu
và câu kết thúc của bài đọc; đọc lần lượt theo trình
tự của bài đọc; đánh giá các quan điểm nêu ra trong bài đọc; tự đặt ra những câu hỏi liên quan đến bài đọc; ghi chú những thông tin quan trọng trong bài đọc; dựa vào các gợi ý khác nhau để đoán nội dung của phần tiếp theo; rút ra thông điệp…
Cùng với việc giúp học viên, sinh viên hiểu được nội dung bài khóa, kiểm chứng các phương
án trả lời của bản thân, khai thác bài đọc còn là bước rất quan trọng để giảng viên cung cấp từ vựng, kiến thức ngữ pháp và kiến thức văn hóa trong bài đọc cho học viên, sinh viên Quá trình yêu cầu học viên, sinh viên đọc sâu, giảng viên kết hợp gợi ý cho các em đoán nghĩa của từ mới thông qua phương tiện ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ; đưa ra các ví dụ cụ thể giúp học viên, sinh viên phát hiện ra quy tắc ngữ pháp mới trong bài đọc Trường hợp cần thiết, giảng viên có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ để truyền đạt thông tin được rõ ràng, nhanh chóng Với kiến thức văn hóa trong bài đọc, giảng viên có thể yêu cầu học viên, sinh viên huy động vốn kiến thức đã có để trao đổi; giảng viên tổng hợp những nội dung chính xác và
mở rộng kiến thức cho học viên, sinh viên bằng phương pháp thuyết trình, kết hợp sử dụng tranh ảnh, clip và các giáo cụ trực quan khác
3.1.3 Sau khi đọc (Après la lecture)
Sau khi học sinh đọc và làm bài tập đọc hiểu, giảng viên cần tổng kết và mở rộng những kiến thức tiếp thu từ bài đọc của học viên, sinh viên ở giai đoạn trước và trong khi đọc, tạo cơ hội cho
Trang 8học viên, sinh viên vận dụng kiến thức toàn diện
để thực hành tiếng Pháp Dưới đây, chúng tôi đề
xuất một số hoạt động sau khi đọc có thể áp dụng
cho đối tượng học tiếng Pháp (ngoại ngữ 2)
Tóm tắt bài đọc
Đây là một phương pháp hiệu quả để lĩnh hội
kiến thức từ bài đọc mà quan trọng nhất là giúp
học viên, sinh viên ghi nhớ và vận dụng những
kiến thức học được từ bài khóa Tùy bài đọc cụ
thể, giảng viên có thể yêu cầu học viên, sinh viên
tóm tắt lại nội dung thông tin chính của bài trên cơ
sở tổng hợp những ý chính của bài
Thực hành bài tập từ vựng, ngữ pháp
Đây là một hoạt động mang tính truyền thống
song hiệu quả mang lại cũng rất đáng kể Giảng
viên sẽ thiết kế những bài tập từ vựng, ngữ pháp
để kiểm tra mức độ hiểu bài, nhớ bài và khả năng
vận dụng kiến thức đã học của học viên, sinh viên
Bên cạnh những bài tập từ vựng, ngữ pháp truyền
thống như đa lựa chọn, đúng sai, điền khuyết, lựa
chọn tương đương , giảng viên có thể thiết kế
dưới hình thức trò chơi hoặc sử dụng tranh ảnh
minh họa cho bài tập sinh động nhằm thu hút sự
chú ý của học viên, sinh viên Ví dụ, sau khi học
bài đọc “Est-ce qu’il y a une poste près d’ici”
(Bài 12, Tài liệu Đọc tiếng Pháp), giảng viên có
thể thiết kế những dạng trò chơi ô chữ về các địa
danh trong thành phố như bảng 2:
Bảng 2: Trò chơi ô chữ về các địa danh thành phố
Giảng viên cũng có thể chuẩn bị slide gồm mười bức tranh minh họa các địa danh, sau đó chia lớp học thành 3-4 nhóm, yêu cầu các nhóm xem nội dung trình chiếu và ghi lại những từ vựng chỉ các địa danh được nói đến Sau đó, mỗi nhóm
cử một đại diện lên bảng viết các phương án tìm được; giảng viên sẽ cho học viên, sinh viên kiểm chứng bằng cách cho xem lại slide để đưa ra đáp
án đúng và quyết định đội thắng cuộc
Thuyết trình
Hoạt động thuyết trình sau khi đọc nhằm tạo
cơ hội cho học viên, sinh viên vận dụng kiến thức
đã học từ bài khóa và kiến thức thực tế để thực hành thuyết trình về chủ đề hoặc chủ thể của bài đọc; qua đó giúp các em phát triển kỹ năng giao tiếp, tư duy biện luận, phản xạ ngôn ngữ và các
kỹ năng làm việc độc lập và theo nhóm Tùy theo chủ đề, nội dung bài khóa, giảng viên sẽ lựa chọn chủ đề và hình thức thuyết trình sao cho phù hợp với học viên, sinh viên và mục tiêu giao tiếp cần đạt được Với những chủ đề đơn giản, giảng viên
có thể yêu cầu học viên, sinh viên thuyết trình
ngay cuối buổi học: chẳng hạn, với bài đọc “Une
journée avec Laure Manaudou” về một ngày làm
việc của một nhân vật nổi tiếng (Bài 17, Tài liệu Đọc tiếng Pháp), giảng viên có thể yêu cầu học viên, sinh viên sử dụng cấu trúc ngữ pháp, từ vựng
đã học trong bài để nói về một ngày bình thường
của mình; với bài đọc về môn thể thao giải trí “La
roller” (Bổ trợ đọc hiểu, tiếng Pháp 3), giảng viên
có thể yêu cầu học viên, sinh viên thuyết trình
về môn thể thao yêu thích Tuy nhiên, với những chủ đề khó hơn, cần thời gian nghiên cứu tài liệu, giảng viên có thể giao chủ đề thuyết trình cho lớp
để các em tự tìm đọc, nghiên cứu, lựa chọn thông tin, hình ảnh và chuẩn bị bài thuyết trình để trình bày trước lớp vào buổi học tiếp theo: ví dụ với
bài đọc “Île de Ré” (Bài 15, Tài liệu Đọc tiếng
Pháp), giảng viên có thể yêu cầu học viên, sinh viên thuyết trình về địa danh này hoặc giới thiệu
về một địa danh nổi tiếng khác của Việt Nam hoặc của Pháp
Trang 9Thảo luận
Với những bài đọc liên quan đến thực tế hàng
ngày hoặc những chủ đề mà học viên, sinh viên
quan tâm và có hiểu biết nhất định, sau phần đọc
hiểu bài khóa, giảng viên có thể tổ chức cho học
viên, sinh viên thảo luận về chủ đề bài đọc hoặc
một khía cạnh nổi bật mà bài đọc đề cập đến Hoạt
động này có thể thực hiện độc lập hoặc theo nhóm,
giúp học viên, sinh viên vận dụng được những
kiến thức đã học được từ bài đọc cũng như vốn
kiến thức văn hóa, xã hội của bản thân, phát triển
kỹ năng diễn đạt nói và tư duy ngôn ngữ, đồng thời
tạo được không khí học tập sôi nổi Hoạt động này
giúp học viên, sinh viên mở rộng vốn kiến thức và
có những liên hệ thực tế nhất định Ví dụ, khi dạy
bài đọc “Les Français vous ressemblent-ils?” (Bài
8, Tài liệu Đọc tiếng Pháp)
Phỏng vấn
Phỏng vấn là một hoạt động nhóm cho phép
học viên, sinh viên chuyển hóa vốn kiến thức,
nhận thức hoặc thông tin, dữ liệu vừa nhận qua
bài đọc, phát triển kỹ năng diễn đạt nói thông qua
việc thực hành đóng vai trong một tình huống giả
định liên quan đến chủ đề bài đọc Chẳng hạn, với
bài khóa “Quel type de voyageur êtes-vous?” (Bài
20, Tài liệu Đọc tiếng Pháp), giảng viên có thể tổ
chức cho học viên, sinh viên chia nhóm thực hiện
một cuộc phỏng vấn về chủ đề du lịch Mỗi nhóm
5 người, một người đóng vai nhà báo đặt câu hỏi
cho các bạn trẻ về sở thích du lịch của họ Trước
khi thảo luận, giảng viên hướng dẫn học viên, sinh
viên những nội dung cần phỏng vấn như: Bạn thích
đi du lịch trong nước hay ở nước ngoài? Bạn có
thích đi theo tua du lịch không? Bạn thích ở khách
sạn hay ở nhà dân? Với ai (gia đình, bạn bè hay
một mình)? Bằng phương tiện gì (máy bay, xe máy,
xe đạp, tàu hỏa, ô-tô)? Bạn thích làm gì khi đi du
lịch? Bạn có kế hoạch/hoặc mong muốn đi du lịch
ở đâu vào kỳ nghỉ sắp tới? Trên cơ sở đó, học
viên, sinh viên vận dụng những kiến thức từ vựng,
ngữ pháp, văn hóa đã học để thực hành giao tiếp
Kết thúc bài học, giảng viên nên dành khoảng
5-7 phút để tổng hợp những kiến thức, kỹ năng học
viên, sinh viên cần nắm được sau buổi học (có thể theo mô hình, sơ đồ) để định hướng cho học viên, sinh viên ôn tập và rèn luyện thêm ngoài giờ học chính khóa; yêu cầu học viên, sinh viên về đọc lại bài khóa, học thuộc từ vựng và các cấu trúc ngữ pháp mới, giao thêm bài tập hoặc hướng dẫn học viên, sinh viên viết bài hoặc chuẩn bị thuyết trình
về chủ đề bài đọc
Tóm lại, để nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng đọc hiểu, giảng viên phải biết kết hợp hài hòa, sáng tạo giữa các bước lên lớp với với lượng kiến thức trong giáo trình, tài liệu Ngoài những phương pháp giảng dạy cụ thể, giảng viên nên sử dụng các giáo cụ trực quan, các bài tập thực tế giúp bài học thêm sinh động, thu hút được sự chú
ý và tạo hứng thú học tập cho học viên, sinh viên Căn cứ vào nội dung bài đọc, các mục tiêu cần đạt được, đối tượng người học, thời gian và thực
tế diễn ra trên lớp học, giảng viên có thể linh hoạt vận dụng các bước, các hoạt động và phương tiện giảng dạy phù hợp
3.2 Đề xuất nội dung giảng dạy kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) theo chuẩn đầu ra
Bộ môn tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) là một môn thực hành tổng hợp bao gồm bốn kỹ năng thực hành tiếng: nghe, đọc, nói, viết Việc chọn lựa và
sử dụng giáo trình thực hành tiếng tổng hợp là cần thiết để phát triển đồng đều các kỹ năng giao tiếp Tuy nhiên, với những hạn chế, tồn tại của giáo trình và tài liệu Đọc tiếng Pháp như phân tích ở trên, trước hết, việc xác định lại nội dung giảng dạy kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) chi tiết, cụ thể trên 3 học phần là điều cần thiết để xây dựng nội dung giảng dạy đọc hiểu và bổ sung những nội dung, bài đọc còn thiếu trong giáo trình
và tài liệu đảm bảo chất lượng năng lực ngoại ngữ theo chuẩn đầu ra
Yêu cầu chung
Một là, xây dựng nội dung học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp phải bám sát mục tiêu đào tạo và hệ thống chuẩn kiến thức, kỹ năng theo chuẩn đầu ra Cụ thể :
Trang 10Kết thúc học phần 1 (tiếng Pháp 1), học viên,
sinh viên phải đạt trình độ A1 Kỹ năng đọc hiểu
cần đạt: Học viên, sinh viên có khả năng đọc hiểu
được các từ ngữ, cấu trúc đơn giản và nội dung
thông tin trong các văn bản có văn phong thân mật
(ví dụ: lời nhắn trên giấy ghi chú, thư điện tử, thiếp
mời, thư mời dự tiệc, bưu thiếp ); văn bản có văn
phong không thân mật (ví dụ: tờ quảng cáo, tờ rao
vặt, thiệp mời dự tiệc khai trương ); các văn bản
khác (ví dụ: đoạn văn, thư giới thiệu bản thân,
giới thiệu gia đình ) Số lượng từ trong một bài
khoảng dưới 100 từ
Kết thúc học phần 2 (tiếng Pháp 2), học viên,
sinh viên phải đạt trình độ trên A1 và hướng tới
A2 Kỹ năng đọc hiểu cần đạt: Học viên, sinh viên
có khả năng đọc hiểu được những văn bản ngắn
với lượng từ là 60 - 100 từ, có sử dụng các từ ngữ,
cấu trúc phức tạp hơn so với trình độ trên như các
thư điện tử hành chính, thư hoặc bưu thiếp kể về
hoạt động của bản thân, thông báo (về các khóa
học, khóa thực tập), áp phích, quảng cáo, tiểu sử
cá nhân, các đoạn trích của báo chí như: bảng nội
dung chương trình, bảng phiếu điều tra, đoạn trích
ngắn của bài báo )
Kết thúc học phần 3 (tiếng Pháp 3), học viên,
sinh viên phải đạt trình độ A2 hướng tới B1 Kỹ
năng đọc hiểu cần đạt: Học viên, sinh viên có thể
đọc được thư giao dịch, các văn bản ngắn, đơn giản,
tìm ra được thông tin đặc biệt, có thể hiểu được nội
dung cơ bản trong các tài liệu thông thường như áp
phích, chỉ dẫn, hướng dẫn sử dụng, quảng cáo, tờ
rơi, thực đơn, giờ tàu, các đoạn trích ngắn của bài
báo với lượng từ 200 - 300 từ, các tiêu đề và các mục
của tờ báo
Hai là, nội dung, chương trình học kỹ năng đọc
hiểu cần được xây dựng chi tiết đến từng bài học,
nội dung giảng dạy, đảm bảo tính khoa học, hệ
thống, có thời lượng cụ thể, phù hợp với phát triển
các kỹ năng khác Trên thực tế, giáo trình Initial
không có nội dung dạy-học kỹ năng đọc hiểu và
kỹ năng viết, do đó Tổ bộ môn cần phải cân nhắc,
lựa chọn, sắp xếp, nội dung giảng dạy và bổ sung
vào đó những kỹ năng và bài còn thiếu Việc lựa chọn bài bổ sung cần phải xem xét sao cho phù hợp trình độ ngôn ngữ của học viên, sinh viên và đảm bảo đúng mục tiêu, yêu cầu của chuẩn đầu ra
Ba là, thường xuyên đánh giá, rút kinh nghiệm
và điều chỉnh, phân bố nội dung, thời lượng giảng dạy kỹ năng đọc sao cho phù hợp trình độ đối tượng người học
Một số đề xuất cụ thể
Một là, tiến hành thẩm định giáo trình mới, chọn lựa giáo trình phù hợp với đối tượng người học tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) thay thế cho giáo trình Initial hiện đang sử dụng tại Học viện, trong
đó phát triển đồng đều 4 kỹ năng ngôn ngữ : nghe, nói, đọc, viết
Hai là, cần tổ chức đánh giá việc sử dụng Tài liệu đọc hiểu tiếng Pháp trong thời gian qua, xây dựng kế hoạch nâng cấp, làm mới tài liệu trong thời gian tới sao cho phù hợp, tương ứng với giáo trình mới
Ba là, xây dựng kế hoạch đề bài khoa học, hợp lý trong đó xem xét loại bỏ những bài đọc chưa phù hợp, đưa vào các bài đọc hiểu cập nhật, phù hợp với mối quan tâm của người học với thời lượng giảng dạy chi tiết, phù hợp với đối tượng người học và mục tiêu giảng dạy
Bốn là, xây dựng khung chương trình chi tiết
bộ môn tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) trong đó cần miêu tả chi tiết từng kỹ năng cần đạt theo đúng chuẩn năng lực ngôn ngữ đầu ra (A2 hướng tới B1) theo Khung năng lực ngôn ngữ 6 bậc của Việt Nam hoặc Khung tham chiếu Châu Âu (CECR)
3.3 Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá
Trong quá trình giảng dạy kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) giảng viên cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập kỹ năng đọc của học viên, sinh