1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những khó khăn thường gặp của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội khi học dạng bị động tiếng Pháp và giải pháp trong giảng dạy

9 175 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 325,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung chủ yếu của bài viết là phân tích những khó khăn thường gặp của sinh viên khi học dạng bị động, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các biện pháp giải quyết trong giảng dạy.

Trang 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, đa số các sinh viên chuyên ngành

tiếng Pháp ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội có

đầu vào là không và bắt đầu học tiếng Pháp từ đầu

Trong khi đó sinh viên chuyên ngành tiếng Anh khi

bước vào đại học đa số đã đạt được trình độ B1

Sau 4 năm học, sinh viên tiếng Pháp và tiếng Anh

đều có đầu ra như nhau, đó là C1 Đây quả là bài

toán vô cùng khó đối với không chỉ sinh viên tiếng

Pháp mà ngay cả đối với giảng viên tiếng Pháp

Với thời lượng quá ít ỏi như vậy mà ngữ pháp

tiếng Pháp tương đối khó nên rất nhiều sinh viên

không nắm được các hiện tượng ngữ pháp cơ bản

TRẦN HƯƠNG LAN *

* Đại học Sư phạm Hà Nội,  lancuong70@yahoo com

Ngày nhận bài: 19/11/2017; ngày sửa chữa: 13/12 /2017; ngày duyệt đăng: 30/12/2017

NHỮNG KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HÀ NỘI KHI HỌC DẠNG BỊ ĐỘNG TIẾNG PHÁP

VÀ GIẢI PHÁP TRONG GIẢNG DẠY

TÓM TẮT

Ngữ pháp đóng vai trò quan trọng trong việc học một ngôn ngữ nói chung và trong việc học tiếng Pháp nói riêng Để học tốt tiếng Pháp, ngoài rất nhiều yếu tố khác, người học cần phải nắm vững những hiện tượng ngữ pháp cơ bản Một trong những hiện tượng ngữ pháp cơ bản và tương đối phổ biến của tiếng Pháp là dạng câu bị động. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy tại trường Đại học

Sư phạm Hà Nội, chúng tôi nhận thấy, sinh viên thường gặp rất nhiều khó khăn khi học hiện tượng ngữ pháp này Nội dung chủ yếu của bài viết là phân tích những khó khăn thường gặp của sinh viên khi học dạng bị động, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các biện pháp giải quyết trong giảng dạy.

Từ khóa: dạng bị động, dịch thuật, giảng dạy ngữ pháp

Trong quá trình giảng dạy môn ngữ pháp cho sinh viên khoa Pháp, thông qua việc thống kê, phân tích các lỗi sai của sinh viên khi họ thực hành trên lớp và làm các bài tập tự học, chúng tôi nhận thấy các sinh viên gặp khá nhiều khó khăn khi học về dạng bị động đặc biệt là khi chuyển từ câu chủ động sang bị động và ngược lại hoặc khi dịch những câu bị động từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và tiếng Việt sang tiếng Pháp

Nghiên cứu và tìm ra những khó khăn của sinh viên khi học hiện tượng ngữ pháp này, từ đó đưa ra biện pháp giải quyết và khắc phục là một việc làm cần thiết để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong học tập và giảng dạy nội dung này

Trang 2

2 CÁC CÁCH DIỄN ĐẠT VÀ GIÁ TRỊ SỬ

DỤNG CỦA DẠNG BỊ ĐỘNG

2.1 Các cách diễn đạt bị động

2.1.1 Bị động với cấu trúc “être + participe

passé”

Bị động trong tiếng Pháp được biểu hiện bằng

dạng cấu trúc đặc biệt, gồm: trợ động từ “être” và

quá khứ phân từ (PP) của động từ độc lập Hãy

quan sát sơ đồ chuyển sang dạng bị động như sau:

Pa: SN1 + V + SN2

Pp: SN2 + être + PP + par/de + SN1

(Pa: câu chủ động, Pp: câu bị động, SN1: ngữ

đoạn danh từ 1, V: động từ, SN2: ngữ đoạn danh từ

2, PP: phân từ quá khứ)

Ví dụ: Pa: Nam fait ce travail.

Pp: Ce travail est fait par Nam.

Đây là cấu trúc bị động được sử dụng nhiều

nhất trong tiếng Pháp

2.1.2 Bị động với động từ đối xứng

Động từ đối xứng còn được gọi là động từ có

khả năng xuất hiện với cùng hệ thống đặc trưng về

mặt hình thái học trong câu bị động và trong câu

biến đổi sang dạng bị động Người ta coi việc sử

dụng động từ đối xứng như dạng thức đặc biệt của

bị động vì không phải thêm trợ động từ “être” vào

trong câu bị động Dạng bị động với những động

từ này đơn giản là một sự thay đổi vị trí danh ngữ

Hãy xem xét dạng bị động của động từ đối xứng

bằng sơ đồ sau:

Pa: SN1 + V + SN2

Pp: SN2 + V + SN1 (Pp hoàn thành).

Hoặc: SN2 + V (Pp chưa hoàn thành)

Ví dụ: Pa: Le vent casse les branches.

Pp: Les branches cassent sous le vent./

Les branches cassent.

2.1.3 Bị động với động từ phản thân

Theo Grévisse (1988, tr.541), “Những động từ

phản thân có ý nghĩa bị động khi chủ ngữ chịu hành động mà không hoàn thành hành động”

Người ta thường sử dụng động từ phản thân với ý nghĩa bị động nhưng chỉ dùng đối với chủ ngữ chỉ vật và luôn không chỉ rõ tác nhân Chúng ta có sơ

đồ sau:

Pa: SN1 + V + SN2 Pp: SN2 + Pronom (de réfléchi) +V

Ví dụ:

Pa: On vend ce livre à la librairie Tràng Tiền.

Pp: Ce livre se vend à la librairie Tràng Tiền.

2.1.4 Bị động với cấu trúc “se faire/se laisser + infinitif”

Trong tiếng Pháp, có một cấu trúc đặc biệt của

dạng bị động: se faire/se laisser như trợ động từ +

động từ nguyên thể, thay vì động từ “être” + PP

Động từ “se faire” nhấn mạnh vào sự tham gia

một cách có chủ ý của chủ ngữ vào hành động

Động từ “se laisser” chỉ sự tham gia một cách

miễn cưỡng hoặc không có chủ đích của chủ ngữ đối với hành động

Ví dụ: (1) Elle se fait aimer de tout le monde (2) Elle se laisse aimer de tout le monde Trong câu (1), “se faire aimer” có ý nghĩa

rằng, cô ấy làm tất cả mọi chuyện để được yêu

quý; nhưng “se laisser aimer” có ý chỉ rằng, tất

cả mọi người yêu quý cô ấy vì sự tử tế của cô ấy

hoặc là vì đặc điểm nào đó của cô ấy “se laisser

aimer” là một hành động không chủ đích và nó

tương đương với “être aimé”.

2.2 Giá trị sử dụng của dạng bị động

2.2.1 Nhấn mạnh

Khi chúng ta muốn nhấn mạnh một yếu tố của câu, chúng ta sẽ thường đặt yếu tố này đứng đầu

Trang 3

câu Dạng bị động cho phép chúng ta nhấn mạnh

vào bổ ngữ của hành động, bổ ngữ tác nhân và

chính vào hành động

Ví dụ: Ce film a été projecté plusieurs fois.

Trong câu này, người ta muốn nhấn mạnh vào

“ce film” chứ không phải là những bộ phim khác

hoặc người chiếu bộ phim đó

2.2.2 Một yếu tố làm rõ nghĩa

Ví dụ: Pierre est un bon ouvrier Le patron a

bien apprécié ses mérites.

Theo nguyên tắc, tính từ sở hữu thay cho một

đại từ nhân xưng gần với nó hơn Trong trường

hợp này, người ta sẽ nghĩ rằng ses mérites thay cho

les mérites du patron Nhưng thực tế, ses mérites

thay cho les mérites de Pierre Dạng bị động cho

phép chúng ta loại bỏ đi sự mơ hồ của tính từ sở

hữu ses.

Pierre est un bon ouvrier Ses mérites sont bien

appréciées par le patron

2.2.3 Tổ chức lời nói

Theo nguyên tắc trật tự của ngữ đoạn danh từ

(chủ ngữ là danh từ chỉ sự sống  đối tượng là

danh từ không chỉ sự sống, chủ ngữ số ít  đối

tượng số nhiều), dạng bị động cho phép thiết lập

mối quan hệ này

Ví dụ: Je suis trompé par cette nouvelle.

Thay vì: Cette nouvelle me trompe.

Phát ngôn dạng chủ động “Cette nouvelle me

trompe” thì không thông dụng bằng phát ngôn

dạng bị động “Je suis trompé par cette nouvelle”.

Hoặc: “L’embouteillage augmente par les

vacances” thì được chấp nhận hơn là “Les

vacances augmentent l’embouteillage”.

2.2.4 Giảm nhẹ cấu trúc

Có những đoạn văn, một cụm danh từ là bổ ngữ của rất nhiều động từ Trong trường hợp này, dạng bị động được dùng để làm cho câu văn ngắn lại hoặc giảm nhẹ đi và thu hút người đọc vào thành phần quan trọng của câu

Ví dụ: Les patrons ont pris une décision Les

syndicats ont désapprouvé cette décision Les travailleurs l’ont mal accueillie Le gouvernement

va la modifier.

(Morsel, 1993, tr.124) Câu văn sẽ được giảm nhẹ nếu người ta dùng dạng bị động

La décision prise par les patrons, désapprouvée par les syndicats et mal accueillie par les travailleurs va être modifiée par le gouvernement.

2.2.5 Sự trung hòa của ngôn ngữ khoa học

Trong ngôn ngữ, nhất là trong ngôn ngữ khoa học, khi muốn đưa ra một thông tin có tính khách quan hơn, người ta hay dùng dạng bị động

Ví dụ: Le vaccin contre la rage a été découvert

en 1885 par Louis Pasteur.

Trong ví dụ này, chủ ngữ “Louis Pasteur” làm

ra hành động “découvrir” và đứng cuối câu; điều này làm giảm đi ít nhiều vai trò của ông ấy trong câu và người đọc sẽ không chú ý đến sự hiện diện

của ông ấy Chính vì vậy, “Le vaccin contre la rage

a été découvert en 1885 par Louis Pasteur.” diễn

ra một cách khách quan

3 NHỮNG KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP CỦA SINH VIÊN KHI HỌC DẠNG BỊ ĐỘNG TIẾNG PHÁP

Trong các cách diễn đạt bị động của tiếng Pháp,

“être +PP” là cấu trúc bị động thường gặp nhất và sinh viên cũng gặp khó khăn nhiều nhất khi học cấu trúc bị động này Vì vậy trong phần này, chúng

Trang 4

tôi sẽ tập trung phân tích những khó khăn của sinh

viên khi học dạng bị động “être + PP”

Để tìm ra những khó khăn của sinh viên, chúng

tôi đã tiến hành điều tra về việc sử dụng câu bị

động của 30 sinh viên năm thứ 2 khoa Pháp trường

Đại học Sư phạm Hà Nội Chúng tôi chọn sinh

viên năm thứ 2 là đối tượng nghiên cứu vì họ vừa

được học hiện tượng ngữ pháp này Cuộc điều tra

của chúng tôi gồm 2 phần:

Phần 1: Phiếu điều tra

Phần 2: Bài test về cách sử dụng dạng bị động

trong tiếng Pháp

Phiếu điều tra gồm 10 câu giúp chúng tôi biết

được sinh viên đã nắm được khái niệm của câu

bị động trong tiếng Pháp chưa, khi học dạng bị

động họ gặp những khó khăn gì và nguyên nhân

của những khó khăn đó Bài test gồm 3 bài tập:

nhận biết câu bị động và câu chủ động, chuyển

từ câu chủ động sang bị động và ngược lại, dịch

từ tiếng Việt sang tiếng Pháp và tiếng Pháp sang

tiếng Việt Sau khi nhận được bài test từ các sinh

viên, chúng tôi đã thống kê tất cả các lỗi mà sinh

viên gặp phải Kết quả của phiếu điều tra và bài

test là cơ sở để chúng tôi xác định được những khó

khăn và nguyên nhân của những khó khăn, cũng

như đưa ra một số đề xuất sư phạm

3.1 Chưa nhận biết được câu chủ động và

câu bị động

Rất nhiều sinh viên không thể phân biệt được

câu chủ động và câu bị động Các em thường nhầm

lẫn giữa hai loại câu này Sở dĩ có sự nhầm lẫn này

vì câu bị động tiếng Pháp có sự tham gia của trợ

động từ “être”, trong khi đó, động từ tiếng Pháp

khi chia ở quá khứ cũng có một số động từ được

chia với trợ động từ être Chính sự giống nhau

này đã gây cho các em khá nhiều khó khăn trong

việc nhận biết Đặc biệt là nếu trong câu bị động

xuất hiện những động từ khi chia ở quá khứ có

thể chia với trợ động từ “être” hoặc “avoir” như

monter, descendre, sortir, passer, rentrer, retourner,

remonter, redescendre…, nhiều sinh viên cho rằng,

đó là câu chủ động động từ chia ở quá khứ

Ví dụ :

Le mobilier du jardin était rentré chaque automne dans une petite cabane en sapin.

Dès que la malle aura été redescendue à la cave, la chambre sera vite en ordre

La pendule est remontée chaque dimanche à midi

(Cardiot-Cueilleron, 1992, tr.77)

Ba câu trên, các chủ ngữ “le mobilier du jardin, la malle, la pendule” không thực hiện các hành động “rentrer, redescendre, remonter” mà

chịu tác động của hành động Vì vậy, ba câu này không thể là câu chủ động được, chúng phải là câu

bị động Nhưng hầu hết các sinh viên cho rằng, đó

là câu chủ động, động từ chia ở quá khứ với trợ động từ “être”

3.2 Xác định sai các thành phần của câu

Muốn chuyển đúng một câu chủ động sang bị động hoặc ngược lại, trước hết người học cần phải xác định đúng các thành phần của câu Nhưng điều này cũng là một trở ngại đối với nhiều sinh viên

Ví dụ: L’entreprise réembauchera les ouvrières

licenciées il y a un mois

(Morsel, 1993, tr.120)

Trong câu này “il y a un mois” không phải là bổ

ngữ của cả câu mà nó chỉ là bổ ngữ của nhóm danh

từ “les ouvrières licenciées” Nhưng hầu hết các

sinh viên mà chúng tôi tiến hành điều tra đều cho

rằng “il y a un mois” là bổ ngữ của cả câu, họ đã không để ý đến thời của động từ “réembauchera” Động từ “réembauchera” chia ở thì tương lai vì vậy “il y a un mois” (cách đây một tháng) không thể là bổ ngữ của cả câu Nếu “il y a un mois” là

bổ ngữ của cả câu, động từ “réembaucher” phải

chia ở quá khứ không phải ở tương lai

Trang 5

Chính vì xác định sai các thành phần của câu

mà nhiều sinh viên đã chuyển sai câu trên

Câu sai: Les ouvrières licenciées seront

réembauchées par l’entreprise il y a un mois.

Câu đúng: Les ouvrières licenciées il y a un

mois seront réembauchées par l’entreprise

Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy,

việc các sinh viên xác định sai thành phần của câu

còn do vốn từ vựng của các em quá nghèo nàn, các

em không hiểu được hết nghĩa của câu cần chuyển

Do không hiểu hết được nghĩa nên các em đã xác

định sai thành phần của câu Vì xác định sai thành

phần của câu, các em đã chuyển sai từ câu chủ

động sang bị động hoặc ngược lại

3.3 Không nắm vững các hiện tượng ngữ

pháp cơ bản khác.

Ngữ pháp tiếng Pháp rất khó và có nhiều điểm

không giống với tiếng Việt Vì vậy, đa số các sinh

viên chưa nắm vững các hiện tượng ngữ pháp cơ

bản như đại từ làm bổ ngữ trực tiếp, gián tiếp, thời

thể của động từ, vấn đề hợp giống, số của phân từ

quá khứ… Chính vì không nắm vững những kiến

thức ngữ pháp cơ bản nên các sinh viên đã mắc rất

nhiều kiểu lỗi khác nhau

Ví dụ: “On ne l’a pas promue.”

Một số sinh viên không tìm được bổ ngữ trực

tiếp của câu này vì bổ ngữ trực tiếp thường đứng

sau động từ nhưng trong trường hợp này, bổ ngữ

trực tiếp được thay bằng đại từ làm bổ ngữ và đặt

trước động từ Do không xác định được bổ ngữ

trực tiếp nên họ cho rằng, câu này không chuyển

được sang dạng bị động

Có những sinh viên xác định được đại từ “l’” là

bổ ngữ trực tiếp của câu, nhưng lại không biết “l’”

là “le” hay “la” Họ đã không để ý đến phân từ

quá khứ “promue” Do không biết “l’” là “le” hay

“la” nên họ không biết chủ ngữ của câu bị động sẽ

là “Il” hay “Elle” Vì vậy có những em đã chuyển

câu trên thành: *Il n’a pas été promu.

Mặt khác thời, thức của động từ tiếng Pháp quá phức tạp, quá khác biệt so với tiếng Việt Đây là một trở ngại lớn nhất đối với sinh viên học tiếng Pháp Lỗi sai liên quan đến động từ là lỗi mà các sinh viên mắc nhiều nhất trong khi sử dụng câu bị động tiếng Pháp

3.4 Quá lệ thuộc vào cách diễn đạt của tiếng Pháp hoặc tiếng Việt

Do chưa nắm vững những nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ Pháp-Việt đã làm cho người học quá lệ thuộc vào cách diễn đạt của tiếng Pháp hoặc tiếng Việt

Khi dịch sang tiếng Việt không nhất thiết phải

sử dụng hư từ bị, được Hai hư từ này làm cho câu

văn trở nên nặng nề

Ví dụ: Il est épuisé par ses voyages incessants.

Une promesse qui a été faite doit être tenue

(Cardiot-Cueilleron, 1992, tr.81)

có thể dịch như sau:

Anh ta kiệt sức vì những chuyến đi không ngừng Một lời đã hứa phải ráng giữ

(Nguyễn Dũng, 2005, tr.158) Nhưng đa số sinh viên sử dụng hai hư từ này

để dịch hai câu trên

Anh ta bị kiệt sức vì những chuyến đi không ngừng Một lời được hứa thì phải được làm.

Một lý do khác làm cho câu văn tiếng Việt trở nên nặng nề, đó là các sinh viên đã quá lạm dụng

từ bởi khi dịch bổ ngữ tác nhân.

Anh ta bị kiệt sức bởi những chuyến đi không

ngừng.

Ngược lại khi dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp, một số sinh viên lại quá lệ thuộc vào câu tiếng Việt nên đã dịch sai Trong các câu tiếng Việt sau:

Chúng tôi đã rất bối rối vì sự phát hiện này

(Nguyễn Dũng, 2005, tr.158)

Trang 6

Gương mặt cô ta ướt đẫm nước mắt

(Nguyễn Dũng, 2005, tr.157)

Trong hai câu này không có hư từ bị, được

nên khi dịch sang tiếng Pháp các sinh viên lại để

các động từ troubler, mouiller ở dạng chủ động vì

vậy có một số câu sai kiểu như sau:

* Nous avons troublé à cause de cette

révélation.

* Son visage mouille les larmes.

Thực ra hai câu này khi dịch sang tiếng Pháp các

động từ troubler, mouiller phải để ở dạng bị động

Nous avons été troublés par cette révélation

(Cardiot-Cueilleron, 1992, tr.81)

Son visage était mouillé de larmes

(Cardiot-Cueilleron, 1992, tr.80)

4 GIẢI PHÁP TRONG GIẢNG DẠY

Xuất phát từ những khó khăn của sinh viên đã

được phân tích ở trên, chúng tôi xin đưa ra một số

đề xuất về việc giảng dạy và dịch thuật nhằm giúp

cho người học có thể sử dụng tốt hơn dạng bị động

trong tiếng Pháp

4.1 Đổi mới phương pháp giảng dạy

Từ trước đến nay, khi dạy một hiện tượng ngữ

pháp, giảng viên thường sử dụng phương pháp

truyền thống: truyền đạt những kiến thức cho sinh

viên Người học rất thụ động trong quá trình nắm

bắt kiến thức “Những năm gần đây các tài liệu

giáo dục và dạy học ở nước ngoài và trong nước

thường nói tới việc cần thiết phải chuyển từ dạy

học giảng viên trung tâm sang dạy học học sinh

trung tâm” (Trần Bá Hoành, 2003, tr.1) Chúng ta

nên áp dụng phương pháp giảng dạy mới này khi

dạy một hiện tượng ngữ pháp nói chung và dạy câu

bị động nói riêng Trước tiên, giảng viên yêu cầu

người học quan sát các ví dụ về câu chủ động và bị

động Giảng viên sẽ không phải là người giới thiệu

cấu trúc của câu bị động, quy tắc chuyển đổi mà

chính sinh viên phải tự tìm ra trên cơ sở phân tích các ví dụ Có như vậy, những kiến thức sinh viên thu được sẽ được nhớ lâu hơn

4.2 Đưa nội dung giảng dạy các hiện tượng ngữ pháp nói chung và câu bị động nói riêng vào các giờ thực hành tiếng.

Dạy một ngoại ngữ, đó là làm cho người học phát triển toàn diện cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Ngữ pháp đóng một vai trò quan trọng trong việc học ngoại ngữ Người học phải nắm chắc ngữ pháp để có thể học tốt bốn kỹ năng trên Ngược lại, thông qua bốn kỹ năng trên, người ta có thể dạy và học ngữ pháp Vì vậy, giảng viên không chỉ dạy ngữ pháp nói chung và câu bị động nói riêng trong các giờ ngữ pháp mà có thể đưa nội dung này vào trong quá trình dạy các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết

4.3 Một số tiêu chí phân biệt “être + PP” dạng bị động với “être + PP” hình thái động từ.

Một trong những nguyên nhân sử dụng sai dạng bị động trong tiếng Pháp của sinh viên Việt nam học tiếng Pháp đó là người học chưa phân biệt được câu chủ động và câu bị động đặc biệt là phân biệt câu chủ động có động từ chia ở quá khứ

với trợ động từ être với câu bị động Để phân biệt

hai dạng này, chúng ta có thể dựa vào những dấu hiệu như sau:

- Thứ nhất, trong câu chủ động, chủ ngữ làm

ra hành động trong khi trong câu bị động, chủ ngữ chịu tác động của hành động do bổ ngữ tác nhân gây ra

Ví dụ:

Nous sommes rentrés tard à la maison (Pa) Nous sommes trompés par ce garçon-là (Pp).

- Thứ hai, trong cấu trúc bị động, thời của động

từ phụ thuộc vào thời động từ “être” chứ không phụ thuộc vào sự kết hợp giữa “être + PP” như trong câu chủ động

Trang 7

Ví dụ: Il est admis à l’école (Pp chia thời hiện tại)

Il a été admis à l’école (Pp chia thời quá khứ)

Elle est allée travailler en France (Pa chia thời

quá khứ kép)

Elle était allée travailler en France (Pa chia

thời tiền quá khứ)

- Thứ ba, về mặt hình thức và ngữ nghĩa,

những yếu tố tạo nên cấu trúc bị động thì khá độc

lập với nhau: trong cấu trúc bị động, quá khứ phân

từ được dùng với tư cách là tính ngữ (tức là không

có động từ “être”) và có giá trị bị động như cấu

trúc này

Ví dụ: Une lettre est écrite = Une lettre écrite

La moto a été réparée = La moto réparée.

Trong cấu trúc bị động, quá khứ phân từ này

có thể được thay thế bằng đại từ nhân xưng trung

lập “le”

Ví dụ: Tu es aimé de tout le monde, tu l’es

vraiment.

Ngoài ra, khác với hình thái về thời gian, quá

khứ phân từ có thể đứng trước động từ “être”

Ví dụ: “Aimé, tu l’étais.”

Khi quan sát những ví dụ trên, những yếu tố

cấu trúc bị động không thể tạo ra đơn vị phân tích

giống như dạng thức kép của động từ chủ động

Dạng thức này đặc trưng bởi sự kết hợp chặt chẽ

của những thành tố

Ví dụ: Mon père est arrivé

Người ta không nói: Mon père arrivé.

Đối với câu “Il est arrivé” quá khứ phân từ

không thể thay bằng đại từ le hoặc đứng trước trợ

động từ être

Người ta không nói: Il l’est hoặc Arrivé, il l’est.

- Cuối cùng, về mối quan hệ biến đổi, dạng bị động “être + PP” là kết quả của một sự chuyển đổi

từ mệnh đề chủ động Trong khi dạng thức kép “être + PP” thể hiện mệnh đề chủ động Cấu trúc này không phải là kết quả của bất cứ sự biến đổi nào

Ví dụ: Ce pont a été construit en 1990.

Câu này được chuyển từ câu “On a construit

ce pont en 1990.”

Trong khi câu “Je suis sortie avec mes amis.”

không phải là sự chuyển đổi từ bất cứ một câu nào Trên đây là bốn tiêu chí giúp cho người học phân biệt câu chủ động chia ở quá khứ với trợ động từ être và câu bị động với trợ động từ être

4.4 Xác định rõ thành phần của câu trước khi chuyển từ câu chủ động sang bị động hoặc ngược lại.

Một nguyên nhân khác khiến sinh viên chuyển sai câu chủ động sang bị động, đó là xác định sai thành phần của câu Vì vậy, giảng viên cần yêu cầu sinh viên xác định rõ thành phần của câu trước khi chuyển đặc biệt thành phần chủ ngữ, bổ ngữ trực tiếp trong câu chủ động và tác nhân trong câu bị động Việc này giảng viên cũng thường không yêu cầu sinh viên vì họ nghĩ rằng, đây là vấn đề đơn giản Nhưng thực tế, không ít sinh viên chuyển sai

vì không xác định được thành phần của câu

4.5 Các hiện tượng ngữ pháp cơ bản phải thường xuyên được củng cố trong suốt quá trình học.

Để học tốt dạng bị động, người học phải nắm vững rất nhiều các hiện tượng ngữ pháp khác Nhưng thực tế các sinh viên thường không nhớ hết các hiện tượng ngữ pháp đã học Chính vì vậy, khi học một hiện tượng ngữ pháp mới giảng viên cần giúp các em ôn lại những hiện tượng ngữ pháp có liên quan Ví dụ khi học về câu bị động, sinh viên bắt buộc phải nắm vững một số các hiện tượng ngữ pháp cơ bản sau: thời thức của động từ, đại từ làm bổ ngữ trực tiếp, hợp giống số của phân từ quá

Trang 8

khứ… Nói tóm lại các vấn đề ngữ pháp phải thường xuyên được củng cố, nhắc lại và nâng cao trong suốt quá trình học ngoại ngữ

4.6 So sánh câu bị động trong tiếng Anh và tiếng Pháp

Hiện nay, hầu như sinh viên chuyên ngành tiếng Pháp đều là sinh viên được xét tuyển từ tổ hợp Anh, Toán, Ngoại ngữ, có nghĩa là họ đã học tiếng Anh ít nhất 3 năm ở phổ thông và tiếng Anh là một trong

ba môn xét tuyển vào đại học Như vậy, họ đã đạt được một trình độ tiếng Anh tương đối tốt Tiếng Anh

và tiếng Pháp có chung nguồn gốc là cùng thuộc hệ ngôn ngữ Latinh nên hai thứ tiếng này có rất nhiều điểm tương đồng về mặt từ vựng và cấu trúc ngữ pháp Đây là một lợi thế cho những người đã biết tiếng Anh học tiếng Pháp (Nguyễn Thị Dương Nga, 2017, tr.16) Dạng bị động của tiếng Anh có khá nhiều điểm giống tiếng Pháp, nhất là vấn đề liên quan đến thời trong câu bị động trong khi đó, vấn đề này trong tiếng Việt lại hoàn toàn khác biệt Nhờ đặc điểm này chúng tôi xin đưa ra một đề xuất như sau: đối với những sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Anh, họ đã hiểu rõ cách dùng dạng bị động trong tiếng Anh, vì vậy, giảng viên có thể chỉ cho họ những điểm giống nhau của dạng bị động trong tiếng Anh và tiếng Pháp

Ví dụ :

Câu chủ động

Cấu

Thời,

thức

của

động

từ

V(présent)

V(passé composé)

V(imparfait)

V(plus-que-parfait)

V(futur simple)

V(conditionnel

présent)

V(conditionnel

passé)

être (présent) + PP être (passé composé) + PP être (imparfait) + PP être (plus-que-parfait) + PP être ( futur simple) + PP être (conditionnel présent)+ PP être (conditionnel passé) + PP

to be (simple present) + PP

to be (simple past) + PP

to be (past continuous) + PP

to be (past pefect) + PP

to be (simple future) + PP

to be (present conditionnel + PP

to be (past conditionnel) + PP

Bằng cách so sánh này sinh viên đã học tiếng Anh sẽ hiểu về dạng bị động tiếng Pháp một cách dễ dàng hơn

4.7 Chú ý những nét khác biệt giữa tiếng Pháp và tiếng Việt trong khi dịch.

Vấn đề dịch thuật, sinh viên thường quá lệ thuộc vào cách diễn đạt tiếng Pháp hoặc tiếng Việt Sở dĩ như vậy vì người học chưa thấy rõ được những nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ Vì vậy trong quá trình giảng dạy giảng viên cần phải so sánh đối chiếu hiện tượng ngữ pháp này giữa hai ngôn ngữ Nếu được phân tích kỹ những nét tương đồng và khác biệt giữa dạng bị động tiếng Pháp và lối nói tiếp thụ trong tiếng Việt thì người học sẽ thấy rằng, không nhất thiết cứ phải chuyển một câu bị động của tiếng Pháp thành lối nói tiếp thụ trong tiếng Việt Trong những trường hợp phải chỉ rõ bổ ngữ tác nhân thì

khi dịch sang tiếng Việt cũng không nhất thiết phải dùng cấu trúc có sự tham gia của từ bởi mà người học

có thể dùng cấu trúc có từ do, vì.

Trang 9

Il est épuisé par ses voyages incessants

(Cardiot-Cueilleron, 1992, tr.77)

Anh ta kiệt sức vì những chuyến đi không

ngừng (Nguyễn Dũng, 2005, tr.158)

Còn trong những trường hợp cần thể hiện sự

đánh giá của người nói đối với tác động của hành

động lên đối tượng thì người học phải có sự cân

nhắc giữa cấu trúc có các từ bị và được

5 KẾT LUẬN

Dạng bị động trong tiếng Pháp là một hiện

tượng ngữ pháp tương đối khó Để học tốt dạng

bị động đòi hỏi người học phải nắm vững khá

nhiều các hiện tượng ngữ pháp cơ bản khác Trong

khi đó, sinh viên khoa tiếng Pháp hầu như chưa

được học tiếng Pháp ở bậc phổ thông nên việc

nắm chắc tất cả các hiện tượng ngữ pháp không

phải là dễ đối với các em Vì vậy, chúng tôi đã

thực hiện nghiên cứu này với hy vọng nó sẽ là một

tài liệu hữu ích cho giảng viên và sinh viên khoa

tiếng Pháp nhằm giúp cho giảng viên có những

phương pháp giảng dạy thích hợp, còn sinh viên

nhận ra lỗi của mình và có thể tránh được các lỗi

đó trong quá trình học dạng bị động tiếng Pháp./

Tài liệu tham khảo:

Nguyễn Dũng (2005), 350 exercices (Niveau

supérieur1), Bản dịch từ tiếng Pháp, NXB Thanh

niên, TP Hồ Chí Minh.

Trần Bá Hoành (2003), “Dạy học lấy người học làm

trung tâm: nguồn gốc, bản chất, đặc điểm”, Tạp chí

Thông tin khoa học giáo dục, số 96, tr.1-5.

Trần Hương Lan, Trần Thị Hoàng Minh (2011), So sánh

dạng bị động trong tiếng Pháp và trong tiếng Việt,

Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Nguyễn Thị Dương Nga (2017), “Mạo từ trong tiếng Pháp và tiếng Anh - Một số lưu ý trong giảng dạy môn ngoại ngữ 2 tiếng Pháp cho học viên, sinh viên chuyên ngành tiếng Anh tại Học viện Khoa học

Quân sự”, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ Quân sự,

số 07, tr.16-25.

Cardiot-Cueilleron J et autres (1992), 350 exercices

(Niveau supérieur1), Hachette, Paris.

Grévisse M (1988), Le Bon Usage – 3 è édition, Duculot,

Paris.

Morsel M.H et autres (1993), L’exercisier, Grenoble.

A STUDY ON THE DIFFICULTIES IN LEARNING THE FRENCH PASSIVE VOICE

ENCOUNTERED BY THE STUDENTS AT HANOI NATIONAL UNIVERSITY

OF EDUCATION AND SEVERAL SUGGESTIONS TO TEACHING METHODS

TRAN HUONG LAN Abstract: Grammar plays an important role in learning a language in general and in learning French

in particular To learn French well, besides many other factors, the learner must first master basic grammatical phenomena One of the most basic and popular grammatical phenomena in French is the passive voice During the process of teaching, we realize that students often have to face a lot

of difficulties in learning this grammatical phenomenon This report aims to analyse the common difficulties of students in learning passive voice, as well as identify the reasons and then propose some suggestion to improve teaching methods

Keywords: passive voice, grammatical teaching methods, translation

Received: 19/11/2017; Revised: 13/12/2017; Accepted for publication: 30/12/2017

Ngày đăng: 17/01/2020, 12:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w