1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Sinh học: Nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ ở khu vực Vườn Quốc gia Pù Mát nhằm đề xuất các giải pháp khai thác và phát triển bền vững

27 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 413,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án: Nghiên cứu thành phần loài và giá trị của LSNG; hiện trạng khai thác, quản lý LSNG ở VQG Pù Mát nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp cho bảo tồn, khai thác và phát triển bền vững tài nguyên LSNG.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

ĐÀO THỊ MINH CHÂU

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ SINH HỌC

NGHIÊN CỨU LÂM SẢN NGOÀI GỖ Ở KHU VỰC VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT NHẰM ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

Trang 2

Luận án được hoàn thành tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật –

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Trần Minh Hợi

2 PGS TS Trần Huy Thái

Người phản biện 1: PGS TS Trần Thế Bách

Người phản biện 2: PGS.TS Trần Đình Thắng

Người phản biện 3: PGS TS Nguyễn Trung Thành

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Viện; họp tại Hội trường tầng 6 - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Vào hồi 8 giờ 30 phút, ngày 2 tháng 3 năm 2016

Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Hiện nay, việc thống kê các loài Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) chưa được thực hiện đầy đủ, việc khai thác và buôn bán LSNG chưa được quản lý chặt chẽ, các loại LSNG bị khai thác tự do trong thiên nhiên, thị trường buôn bán tự phát, lượng lớn LSNG xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc ở dạng nguyên liệu thô, các địa phương ít quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển những loài LSNG giá trị Tất cả những vấn đề trên đã làm nguồn tài nguyên LSNG ở nhiều vùng miền núi ngày càng cạn kiệt, làm mức độ phụ thuộc vào rừng của người dân địa phương sống trong các Vườn Quốc gia (VQG) và các Khu bảo tồn (KBT) ngày càng lớn, tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt, cơ hội cải thiện đời sống, phát triển kinh tế ở các vùng miền núi càng hiếm hoi và khó khăn hơn

Ngoài giá trị kinh tế, LSNG còn một giá trị khác cũng rất quan trọng, đó là giá trị về mặt sinh thái Khai thác gỗ sẽ gây tổn hại lớn đến cấu trúc của rừng, trong khi

đó, sự thu hái LSNG sẽ không hoặc ít làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng, mà còn mang lại thu nhập thường xuyên hơn cho người dân sống gần rừng

Từ khi VQG Pù Mát được thành lập, gỗ và động vật hoang dã được quản lý chặt chẽ hơn nên người dân địa phương tập trung vào khai thác LSNG, các loại cây thuốc, song mây, mật ong, hương liệu, bị khai thác ngày càng nhiều để bán cho thương lái đưa sang Trung Quốc Khai thác liên tục nhiều năm khiến LSNG trong rừng ngày càng cạn kiệt Đề tài “Nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ ở khu vực VQG Pù Mát nhằm đề xuất các giải pháp khai thác và phát triển bền vững” được thực hiện nhằm đánh giá tài nguyên LSNG và đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát triển LSNG ở vùng miền Tây Nghệ An

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án

Nghiên cứu thành phần loài và giá trị của LSNG; hiện trạng khai thác, quản

lý LSNG ở VQG Pù Mát nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp cho bảo tồn, khai thác và phát triển bền vững tài nguyên LSNG

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án

Ở vùng miền núi Tây Nghệ An nói chung và VQG Pù Mát nói riêng chưa có nghiên cứu thống kê các loài LSNG theo 6 nhóm như tài liệu Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam; chưa có đánh giá các tác động của hoạt động khai thác, buôn bán và quản lý lên tài nguyên LSNG; chưa thống kê các loài có giá trị, các loài nguy cấp, các loài có khả năng phát triển, để có kế hoạch bảo tồn và phát triển trong vùng nghiên cứu Nghiên cứu này sẽ thực hiện các nhiệm vụ trên để góp phần thực hiện

“Đề án phát triển kinh tế xã hội miền Tây Nghệ An” đã được Chính phủ phê duyệt tháng 12/2013 và "Đề án quốc gia về Bảo tồn và phát triển LSNG, giai đoạn 2006 - 2020"

Trang 4

Từ danh lục các loài LSNG, 3 loài trong họ Gừng (Zingiberacae) của VQG Pù Mát được lựa chọn và lần đầu được nghiên cứu về thành phần hóa học của tinh dầu

4 Những điểm mới của đề tài luận án

 Lần đầu tiên các loài thực vật bậc cao có mạch ở khu vực VQG Pù Mát được thống kê, lập danh lục theo các nhóm Lâm sản ngoài gỗ, gồm 1508 loài, thuộc

741 chi, 182 họ trong 6 ngành thực vật bậc cao có mạch; bổ sung 245 loài vào danh lục thực vật làm thuốc và 216 loài cây có ích khác vào danh lục các nhóm LSNG của VQG Pù Mát

 Thành phần hóa học của tinh dầu ba loài trong họ Gừng ở VQG Pù Mát:

Etlingera yunnanensis (T.L Wu & S.J Chen) R.M Sm.; Hornstedtia sanhan

M Newman và Siliquamomum tonkinense Baill lần đầu được nghiên cứu

 Đánh giá về các yếu tố tác động lên tài nguyên LSNG như hiện trạng khai thác, quản lý, buôn bán LSNG, từ đó xác định các vấn đề cần khắc phục để đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững LSNG ở Miền tây Nghệ An

Danh lục các công trình nghiên cứu liên quan 2 trang Phụ lục 1: Danh lục các loài LSNG ở VQG Pù Mát 64 trang

Phụ lục 2: Ảnh các loài LSNG quí, hiếm ở VQG Pù Mát 10 trang Phụ lục 3: Sắc ký đồ của tinh dầu các loài nghiên cứu 8 trang Phụ lục 4: Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình 3 trang Phụ lục 5: Bảng gợi ý phỏng vấn bán cấu trúc 5 trang

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 1 Khái niệm và phân loại Lâm sản ngoài gỗ

1.1.1 Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ

Hiện nay, trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về Lâm sản ngoài gỗ, khái niệm này không chỉ thay đổi theo tác giả, tổ chức mà còn thay đổi theo thời gian Theo nhiều nhà khoa học và quản lý lâm nghiệp ở Việt Nam thì dù có nhiều định nghĩa về LSNG, nhưng để phù hợp với các nước trong khu vực, Việt Nam nên

sử dụng định nghĩa LSNG đã được thống nhất trong hội nghị các chuyên gia về LSNG của các nước vùng Châu Á-Thái Bình Dương Trong hội nghị này, khái

niệm LSNG như sau: LSNG bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo,

ngoài gỗ củi và than, được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái không phải là các LSNG

Từ hội nghị này, nhiều tác giả cũng thống nhất: những lợi ích gián tiếp mà rừng mang lại như củi, than gỗ, và những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giải trí,

du lịch sinh thái, hấp thụ khí nhà kính, bảo tồn đa dạng sinh học, cải tạo đất, gọi

là dịch vụ môi trường rừng Cho đến nay vẫn chưa có hệ thống phân loại LSNG

thật sự hợp lý và thống nhất, trên thế giới hiện đang tồn tại nhiều cách phân loại LSNG khác nhau Ở Việt Nam, trong một thời gian dài, lâm sản được chia thành

hai loại: lâm sản chính (gỗ), và “lâm sản phụ” (sản phẩm ngoài gỗ) Từ năm 1961, lâm sản phụ được thay bằng thuật ngữ “đặc sản rừng” và từ cuối thế kỷ XX, cả hai thuật ngữ trên được thay thế bằng một thuật ngữ mới “Lâm sản ngoài gỗ”

1.1.2 Phân loại Lâm sản ngoài gỗ

Có rất nhiều loại LSNG khác nhau đã được điều tra, phát hiện và khai thác

sử dụng, chính vì vậy việc phân loại chúng là rất cần thiết Có nhiều quan điểm khác nhau để phân loại LSNG, như: Phân loại theo hệ thống tài nguyên thực vật, phân loại theo hình dạng thân cây, phân loại theo giá trị sử dụng,

Phân loại LSNG theo nhóm giá trị sử dụng là phân chia các loại LSNG khác nhau không kể về nguồn gốc trong hệ thống sinh, dạng thân, nơi phân bố, mà những loài có cùng giá trị sử dụng được xếp vào cùng một nhóm Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ áp dụng và dễ nhớ, có thể xác định nhanh trữ lượng từng loại sản phẩm trong một lâm phần; tìm loài thay thế sản phẩm hoặc lựa chọn loài kinh doanh phù hợp cho từng địa phương Nhưng nhược điểm là chưa chú trọng tới đặc điểm sinh học của các loài nên kỹ năng nhận biết các loài gặp nhiều khó khăn Một số loài có nhiều công dụng khi phân loại sẽ bị trùng vào nhiều nhóm

Trang 6

Trong cuốn LSNG Việt Nam xuất bản năm 2007, các tác giả đã chia các LSNG thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi; Nhóm cây làm thực phẩm: Gồm rau, củ và quả; Nhóm cây thuốc; Nhóm cây cho dầu và nhựa: bao gồm tinh dầu, dầu béo, nhựa dầu và nhựa; Nhóm cây cho tanin, thuốc nhuộm; Nhóm cây cảnh, cây hoa và cây bóng mát Cách phân loại này chỉ mang tính tương đối vì công dụng của lâm sản luôn có sự thay đổi, một số sản phẩm có thể phân vào nhiều nhóm khác nhau tuỳ nơi, tuỳ lúc, không cố định, và biến đổi theo địa phương

1.2 Tình hình nghiên cứu về LSNG

1.2.1 Tình hình nghiên cứu LSNG trên thế giới

LSNG trên thế giới rất đa dạng và phong phú, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới, nơi tập trung sự giàu có của hệ sinh thái, trong đó các nước Đông Nam Á đã nắm giữ một phần năm diện tích rừng nhiệt đới của thế giới

Việc nghiên cứu về LSNG đã và đang là vấn đề được quan tâm chú ý ở nhiều nước trên thế giới, nhất là ở những nước có rừng nhiệt đới Có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về LSNG từ rất sớm, như các công trình nghiên cứu của Chopra, R N và cộng sự (1956) về thực vật làm thuốc ở Ấn Độ Nghiên cứu của

W L Ackerman về Crataegus sp hay của Akhtar Husain và các cộng sự về các

cây có chứa tinh dầu ở Ấn Độ Giai đoạn1990s cũng đã có nhiều nghiên cứu về tinh dầu như của D J Charles, J E.Simon, M P.Widrlechner, N K Singl

Ở khu vực Đông Nam Á cũng đã có rất nhiều công trình của các tác giả về LSNG từ thập kỷ 1990 đăng trong “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á”, như các tác giả: R C K Chung & Purwaningsh, C C De Guzman & R A Reglos, Diah Sulistiarini, M Flach & F Rumawas, M Flash & J S Siemonsma, Những nghiên cứu này đã quan tâm nhiều đến các loài cây cho tinh dầu, dầu béo, cây làm thuốc, các loài phong lan và các loài cây cho sợi như song, mây, tre, nứa

Ngoài ra còn có nhiều công trình lớn nghiên cứu về LSNG của các nhóm tác giả như: H de Beer Jenne và cộng sự (1989), Virgilio de La Cruz và cộng sự (1989), Nepstad và cộng sự (1992), French và cộng sự (1996), Brockhoven (1996), Leakey

và cộng sự (1996), Taylor (1996), Vorhies (1997), Wollenberg và cộng sự (1998), Agarwal (1999) và FAO đã tổ chức rất nhiều hoạt động thúc đẩy nghiên cứu và chia sẻ thông tin về LSNG liên tục từ năm 1991 đến nay

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam

Nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ ở nước ta rất phong phú và đa dạng, có nhiều loài có giá trị cao, số loài cây làm thuốc chiếm tới 22% tổng số loài thực vật Việt Nam, có khoảng trên 600 loài cây cho tinh dầu, gần 600 loài cho tanin, nhiều loài khác cho dầu béo, nhựa, cây cảnh, hoa cảnh, Bên cạnh đó, còn có khoảng 0,789 triệu ha rừng tre nứa tự nhiên, 0,702 triệu ha rừng tre xen gỗ và 73.516ha rừng

Trang 7

tre nứa trồng với trên 4 tỷ cây, Thông nhựa có 194.721ha, Quế có 61.820ha, Hồi có 14.133ha

Ở nước ta, nghiên cứu về LSNG được bắt đầu từ khi người Pháp thiết lập được chính quyền thực dân ở Đông Dương Sau khi Kháng chiến chống Pháp năm

1954, Bộ Nông - Lâm và trường Đại học Nông Lâm đã có nhiều nghiên cứu về

LSNG, trong đó có “Lâm sản phụ” của Lê văn Giai (1956), “Trích nhựa thông”

của Đào Xuân Mai (1958), các nghiên cứu gây trồng Cánh kiến đỏ, Cánh kiến trắng, cây thuốc, công nghệ chế biến, gia công Cánh kiến đỏ, chế biến nhựa Thông

Từ cuối những năm 1990, LSNG được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn ở nước ta nhờ giá trị và tiềm năng to lớn của nó Trong các loại LSNG, dược liệu là đối tượng được nghiên cứu nhiều nhất, có nhiều công trình lớn về cây thuốc, đóng góp lớn cho y học quốc gia và quốc tế Các nghiên cứu về LSNG khác còn rời rạc, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, chưa tương xứng với tiềm năng của LSNG ở nước ta Dù vậy, vẫn có một số công trình có ý nghĩa như: “Tài nguyên thực vật chứa tinh dầu ở Việt Nam” của Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001, 2002),

"1900 loài cây có ích ở Việt Nam” của Trần Đình Lý và nnk (1993), về “Tài nguyên tre Việt Nam” của Nguyễn Tử Ưởng và nnk (1995), về “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” của Võ Văn Chi và Trần Hợp,

1.2.3 Các nghiên cứu về LSNG tại vùng Miền Tây Nghệ An

Ở vùng miền tây Nghệ An, có khá nhiều nghiên cứu về cây thuốc và cách sử dụng cây thuốc chữa bệnh, một số nghiên cứu về đa dạng thực vật và các cây có tích, có một vài nghiên cứu khác về LSNG ở qui mô nhỏ Thống kê từ các nghiên cứu đã công bố cho thấy, có 1509 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 182 họ là cây có ích Trong đó, cây thuốc có 1105 loài, cây lấy gỗ có 426 loài, cây ăn được

có 367 loài

1.3 Giá trị của Lâm sản ngoài gỗ

Theo FAO (1997), 80% dân số của các nước đang phát triển sử dụng LSNG

để đáp ứng cho các như cầu sức khỏe và dinh dưỡng, ít nhất 30 triệu người ở các nước Đông Nam Á sống chủ yếu dựa vào các LSNG từ rừng tự nhiên Hiện nay, LSNG được quan tâm và nghiên cứu rất nhiều ở những nước này, nơi mà chúng được đánh giá là có giá trị cao hơn gỗ, đặc biệt là ở các nước như Inđônêxia, Thái Lan, Philipine, Malaixia Bên cạnh đó, các nước như Hồng Kông, Singapo, Đài Loan không có nhiều tài nguyên LSNG nhưng họ đã thu lợi rất nhiều nhờ việc chế biến LSNG

LSNG còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng và mang lại công ăn việc làm cho hàng triệu người dân nông thôn, miền núi Nhưng cho tới nay, LSNG vẫn chưa phát huy được tiềm năng to lớn của nó, chưa đóng góp

ý nghĩa và xứng đáng cho sự phát triển kinh tế xã hội của các địa phương cũng như

Trang 8

của cả quốc gia Theo đề án phát triển lâm nghiệp Việt Nam 2006-2020, định hướng phát triển LSNG của Việt Nam đến năm 2020, LSNG trở thành một trong những ngành hàng sản xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị LSNG xuất khẩu tăng bình quân 15-20%, thu hút khoảng 1,5 triệu lao động, thu nhập từ LSNG chiếm 15-20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn

Bên cạnh đó, LSNG còn mang lại cho người dân nguồn thu nhập thường xuyên hơn, ít đầu tư, ngắn ngày dễ dàng để người dân các vùng miền núi nghèo

có thể có cơ hội để phát triển và khai thác tốt các loại sản phẩm này Đây cũng có thể là một hình thức làm kinh tế để người dân địa phương "lấy ngắn nuôi dài" khi

họ đầu tư vào trồng rừng hoặc trồng cây lâu năm

1.4 Một số đặc điểm của các chi lựa chọn nghiên cứu tinh dầu trong họ Gừng

1.4.1 Đặc điểm nhận biết các chi lựa chọn nghiên cứu tinh dầu

Chi: Etlingera Giseke – Ét ling: Cây to cao khoảng 4-5m Cụm hoa mọc từ

thân rễ, dạng bông hay đầu, xếp theo vòng cầu đồng tâm trên một đế phẳng, thường

có vài hoa nở đồng thời xòe ra Cánh môi dạng lưỡi dài Thường sống ở ven rừng, ven suối, sườn đồi nơi ẩm Trên thế giới có khoảng 70 loài, Việt Nam có 5 loài

Chi: Hornstedtia Retz – Giả sa nhân: Cây thảo cao 1-2(4)m Cụm hoa mọc từ

thân rễ, gần gốc thân giả, hình trứng hay thoi, cuống cụm hoa ngắn Các lá bắc xếp lợp, những lá bắc ở dưới và ngoài cùng dày, bất thụ, mầu đỏ, lá bắc hữu thụ ở phía trên, chứa 1 hoa Quả nang gần hình cầu, gần như 3 góc, nhẵn, mở đến gần gốc Mọc nơi đất ẩm, ven đường mòn, ven suối, bờ đá ẩm Việt Nam có 1 loài

Chi: Siliquamomum Baill – Sa nhân giác: Cây thảo cao 1-2m Cụm hoa

chùm, trên ngọn thân có lá, hoa thưa Hoa đẹp có cuống dài, gần đầu có khớp Quả nang dài dạng quả cải, dài gấp nhiều lần rộng Thường mọc ở các sườn núi ẩm ở độ cao 800-1500m Trên thế giới có 2 loài, Việt Nam mới phát hiện 1 loài

1.4.2 Các nghiên cứu về tinh dầu trong một số đại diện của họ Gừng

Các thành phần chính của tinh dầu thân, lá, rễ, thân rễ, hoa, vỏ quả và hạt) của

5 loài riềng trong nghiên cứu của Trịnh Đình Chính (1995) gồm: zerumbon, các monoterpen như α–pinen, β-pinen, một số monoterpen alcohol, sesquiterpen hoặc dẫn xuất của chúng Trên Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều nghiên cứu về tinh dầu của các loài trong họ Gừng được công bố, như của Đặng Văn Hoài, Olivier Duval, Pascal Richomme, Marie Lavault, Nguyễn Thị Hữu, Trần CôngLuận, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trần Thu Hoa, cho thấy, thành phần tinh dầu trong dịch chiết củ các loài họ Gừng có cấu trúc 3,5-dihydroxy-1,7-bis(4-hydroxyphenyl) heptane và những dẫn chất của chúng có hoạt tính kháng ung thư

Ở cả Việt Nam và trên thế giới, các nghiên cứu về tinh dầu của các loài trong

chi Etling (Etlingera Giseke), chi Giả sa nhân (Hornstedtia Retz.) và chi Sa nhân giác (Siliquamomum Baill.) đều còn ít Với chi Siliquamomum Baill mới chỉ có

Trang 9

nghiên cứu về tinh dầu của B.V.Thanh và N.Q Bình về thành phần hóa học tinh

dầu thân của Siliquamomum tonkinense thu tại VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

Thân của loài này chứa 0,37% tinh dầu (hàm lượng khô), với 42 hợp chất từ tinh dầu thân (chiếm 96,18%) Các thành phần chính là: 1,8 cineol (31,78%), E,E-farnesol (10,62%), Myrtenal (8,10%), Borneol (6,64%), β-pinen (5,21%), γ-terpinen (4,82%), o-cymen (3,89%), 7-epi-α-selinen (2,20%), α-terpineol (2,14%)

Với chi Etlingera, đã có một vài nghiên cứu từ Malaysia và Trung Quốc về thành phần tinh dầu và khả năng kháng khuẩn của chúng ở của năm loài trong chi Etlingera thu từ Borneo

1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng nghiên cứu

Vườn Quốc Gia Pù Mát nằm gọn trong dải Truờng Sơn Bắc, ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, trên độ cao khoảng từ 100 đến 1.841m, trong đó khu vực có độ cao lớn nhất tạo nên dải núi chính, nằm ở phía Nam VQG, hình thành đường biên giới dài 61,5 km giữa Việt Nam và Lào Địa hình nhìn chung là dốc, thổ nhưỡng khô cằn và có rất ít vùng bằng phẳng, đáy thung lũng là 4 con sông lớn Khe Thơi, khe

Bu, Khe Choang và Khe Khặng, thường có lũ bất thường và có thể cạn khô vào mùa kiệt Có một số vùng đất thấp bên bờ Khe Thơi và Khe Khặng nên thường có dân cư tập trung, thậm chí cả trong vùng lõi VQG Pù Mát nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Các yếu tố khí hậu mang tính chất phân cực mạnh, hình thành hai mùa rõ rệt

VQG Pù Mát hiện đang lưu giữ một diện tích rừng rất lớn, lớn nhất miền Bắc nước ta so với các khu rừng đặc dụng khác, với diện tích vùng lõi là 94.804.4ha (trong đó rừng giàu chiếm 20.716ha và rừng trung bình chiếm 24.650ha); vùng đệm có diện tích khoảng 86.000 ha, trải rộng trên lâm phần 3 huyện miền núi (Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương), trong đó 94% diện tích đang còn rừng che phủ

và khoảng 22% là rừng nguyên sinh Diện tích rừng vùng lõi - còn gọi là phần rừng đặc dụng - do Vườn quốc gia quản lý; phần diện tích vùng đệm do công ty lâm nghiệp, chính quyền một số xã và người dân quản lý Diện tích này nằm giáp ranh với rừng đặc dụng, gần các vùng dân cư nên đây cũng là nơi chịu sự tác động mạnh

mẽ của người dân địa phương

Tổng số loài thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được là 2494, thuộc 931 chi của 202 họ (có số loài thực vật lớn nhất trong các VQG hiện nay ở Việt Nam)

Hiện nay, trong vùng đệm VQG Pù Mát đang có rất nhiều dân cư sinh sống, gồm 16 xã, 111 thôn bản, trên 17.000 hộ dân với khoảng 93.500 người [10], tốc độ gia tăng dân số 2,6% mỗi năm, đa số dân cư hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trong khi đó diện tích đất canh tác ngày càng hạn chế do sự nghèo kiệt nhanh chóng của các vùng đất dốc, do biến đổi khí hậu, hạn hán và thiếu nước canh tác

Trang 10

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài LSNG có nguồn gốc từ thực vật bậc cao có mạch phân chia thành 6 nhóm theo của tài liệu “Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam”, 2004

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Vùng nghiên cứu được chọn là vùng lõi và vùng đệm của VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An

2 2 Nội dung nghiên cứu

1 Lập danh lục, đánh giá sự đa dạng của LSNG ở khu vực VQG Pù Mát;

2 Lựa chọn 3 loài trong họ Gừng (Zingiberaceae) ở VQG Pù Mát để nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

Điều tra thực địa và thu thập các mẫu thực vật LSNG theo 5 tuyến chính: tuyến Tuyến Cao Vều; Tuyến Lục Dạ - Môn Sơn; Tuyến Khe Kèm; Tuyến Khe Bu; Tuyến Khe Thơi; theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn, 2000 Tổng số 585 mẫu của 496 loài đã được thu và làm tiêu bản

Các phương pháp phỏng vấn và đánh giá xã hội dùng để thu thập số liệu về kinh tê, xã hội, thu nhập và tác động của sự khai thác, quản lý, buôn bán lên LSNG

240 hộ gia đình, 20 cán bộ và 15 người thu mua LSNG đã được phỏng vấn

Trang 11

2.3.3 Phương pháp phân loại và xác định loài

Định loại theo tài liệu của Nguyễn Tiến Bân, Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Quốc Bình Chỉnh lý tên khoa học và sắp xếp theo Brumitt, 1992 và Danh lục các loài thực vật Việt Nam Xác định các loài quí, hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng theo Sách

Đỏ Việt Nam và theo Danh lục Đỏ của IUCN Xây dựng hệ thống phân loại LSNG theo tài liệu “Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam”, 2007

2.3.4 Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu

a Phương pháp thu mẫu và chưng cất tinh dầu

Mẫu nguyên (lá, thân, hoa, thân rễ) được chưng cất bằng phương pháp lôi

cuốn theo hơi nước có hồi lưu, theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam

b Phương pháp định lượng tinh dầu

Hàm lượng tinh dầu trong mẫu tươi là tỷ lệ tính bằng % của khối lượng tinh dầu chứa trong mẫu so với khối lượng của mẫu tươi (Theo Dược điển Việt Nam) Công thức tính:

* Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS - Gas Chromatography/Mass Spectometry):

Việc phân tích được thực hiện trên hệ thống sắc ký – khối phổ liên hợp của hãng Agilent Technologies HP 6890, hệ thống này được lắp với cột tách mao quản

và vận hành sắc ký với khí mang là He

Việc xác định các thành phần tinh dầu được thực hiện trên việc xác định các chỉ số RI (Retention Indices), với các tài liệu đồng đẳng của n-alkan (C4–C30), trong điều kiện như nhau của các thử nghiệm, theo các chất chuẩn (Sigma-Aldrich,

St Louis, MO, USA) hoặc các thành phần của tinh dầu đã biết được tìm kiếm trong các thư viện (NIST 08 và Wiley 9th Version) và bằng các so sánh với các dữ liệu của (Adam, 1995; Joulain & Koenig, 1998)

2.3.5 Phương pháp phân tích và thống kê số liệu

Số liệu được thống kê và phân tích trên phần mềm Excel

Hl(t) (%) = Lượng tinh dầu thu được (gam) x %

Khối lượng mẫu chưng cất (g)

= N (khối lượng tinh dầu) x 0,9 (tỷ trọng quy ước với tinh dầu nhẹ hơn nước) x 100

M (khối lượng mẫu chưng cất)

Trang 12

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Sự đa dạng của LSNG ở VQG Pù Mát

3.1.1 Đa dạng về các taxon phân loại

Qua quá trình điều tra, nghiên cứu đã xác định và thống kê được 1508 loài thực vật bậc cao có mạch là LSNG thuộc 741 chi, 182 họ của 6 ngành, chiếm 60,46% tổng số loài thực vật của khu vực VQG Pù Mát (Bảng 3.1) Trong đó, kế thừa 1142 loài từ các nghiên cứu trước và bổ sung 366 loài với 245 lượt loài cây làm thuốc và 216 lượt loài LSNG khác

Bảng 3.1 Sự phân bố về số lượng và tỷ lệ họ, chi, loài LSNG ở VQG Pù Mát

Ngành

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng % Psilotophyta 1 0.55 1 0.13 1 0.07 Lycopodiophyta 2 1.65 3 0.40 12 0.80 Equisetophyta 1 0.55 1 0.13 1 0.07 Polypodiophyta 22 12.09 35 4.72 58 3.85 Pinophyta 7 3.85 10 1.35 15 0.99 Magnol- Magnoliopsida 120 65.38 567 76.52 1182 78.38 iophyta Liliopsida 29 15.93 124 16.73 239 15.85

Theo kết quả điều tra về khai thác và sử dụng LSNG, đã thống kê được 848 loài mà người dân khai thác để sử dụng và để bán, chiếm 56,23% tổng số loài cây LSNG ở khu vực VQG Pù Mát Số loài chủ yếu thuộc về ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), chiếm 87,14% tổng số loài, trong đó lớp Ngọc lan chiếm phần

Trang 13

lớn (77%) Các họ có số loài được khai thác nhiều nhất cũng gồm họ Đậu (Fabaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cà phê (Rubiaceae) và họ Cúc (Asteraceae)

5.1.2 Đa dạng về phân bố, dạng thân và bộ phận sử dụng

Các sinh cảnh sống của các loài LSNG ở khu vực VQG Pù Mát được chia thành 5 nhóm Sinh cảnh sống phổ biến nhất của các loài LSNG ở VQG Pù Mát là rừng (53%), tiếp đến là đồi núi đá (22%), các sinh cảnh khác như nương rẫy, ven đường và vườn, ven khe suối đều chiếm tỷ lệ từ 7 đến 9% Về dạng thân, các cây thân gỗ và thân thảo chiếm tỷ lệ lớn nhất (32 và 30%), tiếp đến là các cây thân leo (19%) và thân bụi (17%), 2% là dạng thân bì sinh và ký sinh

Trong thực tế, từ 848 loài cây LSNG đã được khai thác ở VQG Pù Mát, nhiều

bộ phận khác nhau được người dân được sử dụng, trong đó bộ phận được thu hái phổ biến nhất là lá và ngọn (465 loài), tiếp đến là toàn cây (320 loài), rễ (258 loài), thân (205 loài), vỏ (166 loài) và quả (157 loài)

3.2 Các nhóm LSNG ở VQG Pù Mát

3.2.1 Các nhóm LSNG phân theo mục đích sử dụng

Mục đích sử dụng LSNG của người dân địa phương rất đa dạng, bao gồm: làm lương thực, thực phẩm, gia vị, dệt vải, nhuộm sợi, nhuộm răng, chăn nuôi, thuộc da, bện sừng, làm dây buộc, làm lưới, làm công cụ lao động, dựng nhà, làm

đồ dùng trong gia đình, chữa bệnh cho con người và vật nuôi, bồi bổ sức khỏe, làm

đồ chơi, diệt côn trùng, ký sinh trùng, làm mồi đánh bắt cá, săn thú vật,

Sự phân bố của 1508 loài LSNG có trong khu vực VQG Pù Mát theo 6 nhóm công dụng như trong bảng 3.6 Trong thực tế thì có nhiều loài có nhiều công dụng

Vì thế tổng số lượt loài xuất hiện trong các nhóm công dụng ở bảng 3.6 lên tới

3 Nhóm cây cho thuốc 1192 79,05

4 Nhóm cây cho dầu và nhựa 136 9,02

5 Nhóm cây tanin, thuốc nhuộm 68 4,51

6 Nhóm cây cảnh và công dụng khác 300 19,89

Tổng

2161 lượt/

1508 loài 143,30

Ngày đăng: 17/01/2020, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm