1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ: Truyện cười tiếng Việt nhìn từ lý thuyết hội thoại

104 219 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ: Truyện cười tiếng Việt nhìn từ lý thuyết hội thoại tập trung tìm hiểu về cấu trúc hội thoại trong truyện cười, vi phạm phương châm hội thoại – yếu tố tạo nên tiếng cười trong truyện cười tiếng Việt. Mời các bạn tham khảo luận văn để nắm bắt nội dung chi tiết.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM

TP HỒ CHÍ MINH - 2011

Trang 5

Ngữ dụng học (linguistic pragmatics) là một bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, tức là sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể để đạt được những mục đích giao tiếp cụ thể Đây là một bộ môn mới, có cách tiếp cận ngôn ngữ một cách toàn diện nên việc tìm hiểu bộ môn này trở thành nhu cầu cần thiết đối với những

ai quan tâm đến tiếng Việt

Hội thoại là một bộ phận của ngữ dụng học được dùng trong hoạt động giao tiếp Trong giao tiếp có những cấu trúc phức tạp, có những qui định tuy không được nói ra thành lời nhưng những người tham gia giao tiếp cần phải tuân thủ, nếu không thì dù câu nói không mắc lỗi (về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) giao tiếp cũng sẽ không thành công

Là một thể loại của văn học, truyện cười sử dụng một cách triệt để hình thức hội thoại

Và thông thường, khi tiếp xúc với truyện cười, chúng ta cảm thấy tức cười và bật lên tiếng cười Nhưng nhiều lúc để trả lời vì sao chúng ta lại cười, các yếu tố gây cười, điều gì làm nên tiếng cười…thì không nhiều người có thể lý giải được Do đó, thiết nghĩ nên có những công trình nghiên cứu về truyện cười, cung cấp những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ học để

có thể lý giải được một câu chuyện cười

Xuất phát từ những điều vừa nêu, chúng tôi chọn đề tài Truyện cười tiếng Việt nhìn

từ lý thuyết hội thoại làm đề tài nghiên cứu Vì phạm vi của đề tài khá rộng, và giới hạn chỉ

dừng lại ở cấp độ luận văn nên chúng tôi chỉ xin đi vào một số vấn đề trọng tâm mà chúng tôi cho rằng đó là những yếu tố cơ bản và cần thiết để nghiên cứu truyện cười

9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Truyện cười ra đời từ rất sớm và khó có thể khẳng định mốc thời gian đánh dấu sự ra đời của nó Nhưng có thể khẳng định một điều rằng, truyện cười ra đời từ khi con người có nhu cầu trao đổi tư tưởng tình cảm với nhau, nảy sinh trong quá trình giao tiếp và phục vụ cho nhu cầu giao tiếp

Trang 6

Điểm qua các tài liệu có liên quan đến truyện cười, chúng tôi nhận thấy có khá ít công trình nghiên cứu về chúng Phần lớn là những công trình có tính chất sưu tập, tuyển chọn và biên soạn lại theo một khuynh hướng nào đó (dưới dạng các tuyển tập)

Một số tài liệu có bàn về truyện cười dưới góc nhìn văn học, nhưng cũng chỉ mang

tính chất điểm qua, nêu lên Như: Văn học dân gian Việt Nam Đinh Gia Khánh chủ biên, Văn

học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu, Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian của Đỗ Bình Trị, Tổng tập văn học dân gian của người Việt do Viện Khoa học

Xã hội Việt Nam biên soạn, Tiếng cười dân gian Việt Nam của Trương Chính – Phong

2) Trong lời nói đầu của cuốn Tiếng cười dân gian Việt Nam [70] Trương Chính –

Phong Châu cũng đã nêu lên những đặc diểm khái quát về truyện cười: ý nghĩa xã hội của

tiếng cười (tiếng cười là vũ khí đả kích tố cáo đối với cái xấu), đối tượng của tiếng cười (vua

chúa, quan lại, địa chủ, thần linh…), biện pháp gây cười (phóng đại, kịch tính), gạn đục khơi

trong (giáo dục tư tưởng)…Trong đó tác giả giới thiệu hai biện pháp chính để gây cười là phóng đại (phóng đại về sự việc, thói hư tật xấu của nhân vật, khai thác những hiện tượng

trái lẽ tự nhiên, tạo mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức để gây cười); tạo kịch tính (kịch

tính được tạo nên do sự thay đổi bất ngờ của hoàn cảnh, chính yếu tố bất ngờ đã tạo nên tiếng cười)

3) Với Các phương thức lạ hóa trong nghệ thuật biểu đạt truyện cười [36], tác giả

Triều Nguyên cho rằng phương thức, thủ pháp góp phần tạo nên tiếng cười gọi chung là lạ

hóa Có ba phương thức lạ hóa thường gặp trong truyện cười, đó là lạ hóa theo lối phóng đại,

lạ hóa theo lối tạo sự việc bất ngờ, lạ hóa theo lối dựng hoàn cảnh thực tế

4) Trong Tiếng cười Việt Nam [48], Văn Tân nêu ra và phân tích một số yếu tố gây

cười: phương pháp phóng đại, cái tục, tính kịch, tiếu lâm không có kết luận, tính hiện thực,

hình thức ngắn ngủi

5) Còn trong Truyện tiếu lâm [42], tác giả Nguyễn Hồng Phong nhận thấy có bốn đặc

điểm tạo nên tiếng cười: sự khai thác triệt để các mâu thuẫn trái tự nhiên, sự sắp đặt các

Trang 7

mâu thuẫn trong thế tương phản để gây cười, phương pháp nói ngoa – phóng đại, lối nói thắt nút

Dưới góc nhìn ngôn ngữ học, chúng tôi nhận thấy một số bài nghiên cứu về truyện cười của các tác giả Trịnh Sâm, Trần Hoàng, Vũ Ngọc Khánh, Bùi Khắc Viện…là trong số hiếm hoi các tác giả đề cập đến vấn đề này Có thể điểm qua:

1) Trong Nghệ thuật tổ chức văn bản trong truyện cười bác Ba Phi [44], tác giả Trịnh

Sâm đã đã xem xét văn bản như một chỉnh thể trong hoạt động giao tiếp và tiến hành mô hình hóa chúng Tác giả chỉ ra một số thủ pháp nghệ thuật về tổ chức văn bản Qua khảo sát

56 truyện cười bác Ba Phi tác giả tìm ra được những cấu trúc trong tổ chức văn bản: cấu trúc

tuyến tính, cấu trúc đảo trình tự, cấu trúc song hành, cấu trúc hỗn hợp; và các thủ pháp tổ

chức văn bản: thủ pháp tăng tiến, thủ pháp khuếch đại, thủ pháp chuẩn bị ngữ cảnh Tác giả tập trung vào phân tích, thể hiện hai loại cấu trúc đó là cấu trúc tuyến tính và cấu trúc đảo

trật tự

2) Tác giả Trần Hoàng với Những sắc thái độc đáo của tiếng cười dân gian Nam Bộ

qua truyện kể Ba Phi [24] đã rút ra một số biện pháp gây cười là ngoa dụ (cường điệu, phúng

dụ, khoa trương) và một số biện pháp tu từ văn bản (phương thức mở rộng), giọng điệu

mang tính khẩu ngữ của người Nam Bộ (qua việc sử dụng các từ địa phương, từ xưng hô, quán ngữ, thành ngữ…) Mặc dù tác giả chỉ giới hạn một số biện pháp gây cười trong truyện

cười Bác Ba Phi, nhưng có thể nói đây là những biện pháp gây cười, tạo nên tiếng cười trong cuộc sống nói chung

3) Vũ Ngọc Khánh với Hành trình đi vào xứ sở cười [30] đã nêu ra ba phương thức chính gây cười trong tiếng Việt là: Biến hóa ngôn ngữ để gây cười (chơi chữ, nói lái, nói tục), cưỡng chế logic để gây cười (lối nói phóng đại, gài bẫy, tạo bất ngờ, đưa ra một câu chuyện phi lí để gây cười) và tạo trò đùa – mẫu nhân vật để gây cười (đây là cách gây cười

phổ biến nhất) Tác giả thể hiện nhận định của mình qua một số truyện cười tiêu biểu

4) Trong Hiện tượng mơ hồ trong nghệ thuật gây cười [7], tác giả Nguyễn Đức Dân

cho rằng “Hiện tượng mơ hồ chẳng những được dùng trong những mẩu chuyện cười, những

nụ cười ngắn gọn, nó còn được dùng để xây dựng những truyện cười Những truyện cười của các tác giả Việt Nam thường dựa trên những hiện tượng mơ hồ về từ ngữ”

5) Bùi Khắc Viện với Tiếng cười trong phong cách ngôn ngữ của Bác qua tác phẩm

bằng tiếng Việt [61] cho rằng có hai loại biện pháp gây cười: ngôn ngữ học và phi ngôn ngữ học Biện pháp ngôn ngữ học là biện pháp đặc thù nhằm khai thác những đặc điểm riêng của

Trang 8

ngôn ngữ để gây cười Tác giả nêu ra một số biện pháp gây cười như: chơi chữ, tương

phản Biện pháp phi ngôn ngữ học gồm các thao tác: lựa chọn, sắp xếp các chi tiết

6) Trong Hàm ý hội thoại trong các truyện cười dân gian: Khoe của và Hai kiểu áo

[65], tác giả Nguyễn Hoàng Yến cho rằng từ góc nhìn dụng học, sự khai thác hàm ý trong các truyện này nhằm mục đích làm rõ thêm đặc tính của truyện cười Hàm ý hội thoại là yếu

tố quan trọng tạo nên tiếng cười Tác giả thống kê có 98% truyện cười có hội thoại (thống kê qua Tiếng cười dân gian Việt Nam của Trương Chính - Phong Châu)

Đặc biệt, theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì có rất ít những công trình nghiên cứu về truyện cười dưới góc nhìn ngôn ngữ học ở cấp độ luận văn, luận án Cụ thể, đã có công trình nghiên cứu về: Đặc điểm ngữ dụng của truyện cười dân gian Việt Nam [34]; Một số phương

thức tạo hàm ngôn trong truyện cười tiếng Việt [47], tác giả đã tiến hành khảo sát truyện

cười và trên cơ sở đó nêu ra 26 phương thức tạo hàm ngôn trong truyện cười tiếng Việt:

phương thức chơi chữ, phương thức so sánh, phương thức tỉnh lược

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều nặng về sưu tầm, diễn giải cảm tính dưới góc nhìn văn hóa dân gian, có những sự diễn giải nhìn từ ngôn ngữ học nhưng rất ít và chủ yếu nghiên cứu đặc điểm của văn bản hay một số phương thức tạo nên tiếng cười

1

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những văn bản có tổ chức ngôn từ theo một hình thức nào đó có thể gây nên tiếng cười Do đó, truyện cười được hiểu theo nghĩa rất rộng – từ truyện cười dân gian cho đến hiện đại đều là đối tượng nghiên cứu của đề tài này Tuy nhiên,

do danh mục truyện cười được biên tập, xuất bản khá lớn nên chúng tôi chỉ xin khảo sát ở một số tác phẩm tiêu biểu (chúng tôi sẽ trình bày cụ thể trong mục phương pháp nghiên cứu

và nguồn cứ liệu) mà chúng tôi cho rằng chúng thể hiện rõ nét những vấn đề cần trình bày

Với hướng nghiên cứu như trên, luận văn nhằm hướng đến mục đích là nghiên cứu hội thoại truyện cười nhằm chỉ ra các đặc điểm hội thoại dưới góc nhìn ngữ dụng học Đồng thời luận văn cung cấp cho người tiếp nhận cách thức vận dụng những kiến thức ngôn ngữ học để

có thể giải mã, giải thích về truyện cười và các yếu tố tạo nên tiếng cười

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

Trang 9

- Xác định cơ sở lí luận về ngữ dụng học đối với việc nghiên cứu hội thoại nói chung, hướng tới việc nghiên cứu hội thoại trong thể loại văn học, cụ thể là truyện cười Đi vào tìm hiểu các khái niệm có liên quan: cấu trúc hội thoại, phương châm và việc vi phạm phương châm hội thoại

- Trên cơ sở lý thuyết đã xác định, tiến hành tập hợp, xử lí tư liệu về hội thoại trong truyện cười và phân loại theo các tiêu chí đề ra

- Miêu tả, phân tích các đặc điểm của hội thoại trong truyện cười Chỉ ra các đặc điểm của hội thoại nói chung, hiệu quả trong giao tiếp nói riêng

3.4 Phạm vi nghiên cứu

Từ góc nhìn lý thuyết hội thoại, chúng tôi nhận thấy có thể nghiên cứu truyện cười từ nhiều khía cạnh (những yếu tố chi phối vận động hội thoại, sự thể hiện các qui tắc hội thoại, cấu trúc hội thoại, sự thể hiện các quan hệ liên cá nhân, phép lịch sự ) Nhưng trong phạm

vi luận văn này, chúng tôi chỉ giới hạn tìm hiểu ở một số khía cạnh sau:

- Cấu trúc hội thoại trong truyện cười

- Các phương châm hội thoại trong truyện cười

- Việc vi phạm phương châm hội thoại trong truyện cười

1

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn cứ liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này chúng tôi sử dụng tích hợp một số phương pháp sau:

- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này dùng để miêu tả các ngữ liệu được thể hiện

dưới dạng hội thoại, qua đó tìm ra những đặc điểm cụ thể của vấn đề cần trình bày

- Phương pháp thống kê – phân loại: Phương pháp này nhằm tiến hành thống kê các

ngữ liệu và từ đó phân loại theo các tiêu chí đã đề ra

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Trên cơ sở nguồn ngữ liệu đã thống kê, phương

pháp này được sử dụng để phân tích ngữ liệu theo từng nội dung cụ thể và sau đó tổng hợp

lại các kết quả đã phân tích

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa – ngữ dụng: Trong quá trình miêu tả, phân tích

ngữ liệu, chúng tôi tiến hành xem xét chúng một cách toàn diện, đặt trong ngữ cảnh cụ thể

4.2 Nguồn cứ liệu

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các nguồn cứ liệu trích dẫn sau: 1) Minh Anh (2005), Truyện cười đó đây, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội

Trang 10

2) Vương Mộng Bưu (2001), Truyện cười dí dỏm thông minh, Nxb Văn hóa – Thông

tin Hà Nội

3) Trương Chính, Phong Châu (2004), Tiếng cười dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội

4) Trần Thúy Hằng (2001), Truyện cười đó đây, Nxb Thanh Niên

5) Thanh Thanh (2004), Tiếu lâm khôi hài, Nxb Thanh Niên

6) Trần Mạnh Thường (2000), Truyện cười Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà

Nội

1

5 Đóng góp của luận văn

Nếu đạt được mục đích – nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra luận văn có thể sẽ có những đóng góp sau:

- Về lí luận, luận văn sẽ góp phần làm rõ những đặc điểm của truyện cười nhìn từ lý thuyết hội thoại, đồng thời trên cứ liệu truyện cười, làm rõ những đặc điểm của lý thuyết hội thoại trong giao tiếp tiếng Việt

- Về thực tiễn, luận văn sẽ là nguồn tư liệu góp phần vào việc giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường: vận dụng lý thuyết hội thoại – đặc biệt là các phương châm hội thoại nhằm

đạt hiệu quả trong hoạt động giao tiếp

1

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn chia làm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lí thuyết

Trong chương 1, luận văn trình bày những vấn đề chung về lý thuyết hội thoại làm cơ

sở định hướng nghiên cứu hội thoại trong thể loại truyện cười tiếng Việt Cụ thể, những nội dung được thể hiện là: một số vấn đề chung về hội thoại (khái niệm, đặc điểm, vận động, qui tắc), cấu trúc hội thoại (cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, hành vi ngôn ngữ), phương châm hội thoại (phương châm lượng, phương châm chất, phương châm cách thức, phương châm quan hệ) và việc vi phạm phương châm hội thoại

- Chương 2: Cấu trúc hội thoại trong truyện cười

Trong chương 2, luận văn miêu tả đặc điểm của các thành phần trong cấu trúc hội

thoại Dựa vào những thống kê trên cơ sở khảo sát ngữ liệu trong Tiếng cười dân gian Việt

Trang 11

Nam [70], luận văn rút ra những đặc điểm trong cấu trúc của cuộc thoại, cặp thoại, tham thoại, hành vi ngôn ngữ được thể hiện

- Chương 3: Vi phạm phương châm hội thoại – yếu tố tạo nên tiếng cười trong truyện cười

Trong chương 3, từ những vấn đề lí luận chung của phương châm hội thoại (cụ thể là bốn phương châm: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm về cách thức, phương châm về quan hệ) luận văn miêu tả, phân tích những trường hợp vi phạm phương châm hội thoại – phương thức tạo nên tiếng cười trong truyện cười

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1

Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác nhau của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này Do đó, có khá nhiều tác giả đề cập đến khái niệm này

Bàn về hội thoại, Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở cho mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [3, tr 201]

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” [39, tr 461]

Sách Tiếng Việt 12 thì cho rằng: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời (bằng miệng) giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” [1, tr 3]

Hồ Lê lại cho rằng hội thoại được gắn với hành vi phát ngôn: “Phát ngôn hội thoại là kết quả của một hành vi phát ngôn được kích thích bởi một sự kiện hiện thực kể cả hội thoại hoặc xung đột tâm lí của người phát ngôn, có liên quan đến những người có khả năng trực tiếp tham gia hội thoại, nó tác động và khiến anh ta phải dùng lời để phản ứng lại và hướng lời nói của mình vào những người có khả năng trực tiếp tham gia vào hội thoại ấy, trên cơ sở của một kiến thức về cấu trúc câu và về cách xử lí mối quan hệ giữa phát ngôn và ngữ huống

và của một dự cảm về hiệu quả của lời nói ấy đối với người thụ ngôn hội thoại trực tiếp” [31,

tr 180]

Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Trong giao tiếp nhiều chiều, bên này nói, bên kia nghe

và phản hồi trở lại Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe Đó là hội thoại” [9, tr 76]

Còn Đỗ Thị Kim Liên thì quan niệm: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa

họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [33, tr 18]

1

Khi mới ra đời, hội thoại được xã hội học, xã hội ngôn ngữ học, dân tộc ngôn ngữ học

Mỹ nghiên cứu Từ năm 1970, hội thoại trở thành đối tượng nghiên cứu chính thức của một

Trang 13

phân ngành ngôn ngữ học Mỹ – phân ngành phân tích hội thoại (conversation analysis) Sau

đó phân tích hội thoại được tiếp nhận ở Anh với tên gọi phân tích diễn ngôn (discourse analysis)…Cho đến nay, hội thoại được đề cập đến trong ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, một số tác giả như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Hoàng Phê, Lê Đông, Cao Xuân Hạo, Trần Thị Thìn, Nguyễn Văn Hiệp, Hoàng Tuệ,

Hồ Lê…đã công bố những công trình có liên quan đến vấn đề hội thoại Có thể nói, những tác giả này là những người đi tiên phong trong việc giới thiệu một hướng nghiên cứu mới vào Việt Nam đó là dụng học – lý thuyết hội thoại

2

Trong ngữ dụng học các cuộc hội thoại được phân biệt ở một số mặt như sau:

- Đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) nơi diễn ra cuộc thoại Thoại trường có thể mang tính công cộng như: trong cuộc mít tinh, lớp học, câu lạc bộ, hội thảo,

cửa hiệu, ngoài chợ, trong tiệm ăn, quán giải khát hay riêng tư: trong phòng khách giữa

chủ và khách, trong phòng riêng của gia đình… Thoại trường không phải chỉ là không gian, thời gian mà có thể gắn với khả năng có mặt của những người thứ ba vào cuộc hội thoại đang diễn ra Một cuộc hội thoại vốn được coi là riêng tư giữa hai người, nhưng nếu bỗng xuất hiện thêm những người thứ ba, dù là khách quan, dù không xen vào cuộc hội thoại thì điều

đó ít hay nhiều vẫn ảnh hưởng đến nội dung và hình thức của cuộc thoại

- Các cuộc thoại còn khác nhau ở số lượng người tham gia Căn cứ vào số lượng người tham gia có thể có song thoại (hai người tham gia hội thoại); tam thoại (ba người tham gia hội thoại); đa thoại (nhiều người – trên ba người tham gia hội thoại) Nhưng dạng cơ bản của hội thoại là dạng song thoại, tức là dạng diễn ra giữa hai nhân vật đối đáp (đối thoại)

- Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại cũng rất khác nhau tùy theo các cuộc thoại Đó là tính chủ động hay bị động của các đối tác (còn gọi là “đối ngôn”); sự

có mặt hay vắng mặt của vai nghe trong hội thoại

- Cuộc thoại còn khác nhau ở tính có đích hay không có đích Những cuộc hội thoại trong thương thuyết, ngoại giao, hội thảo khoa học thường có chủ đích, chủ đề được xác định rõ ràng Trong khi đó những cuộc chuyện trò tán gẫu thường là không có đích

- Hội thoại còn mang tính có hình thức hay không có hình thức cố định Những cuộc hội nghị thương thảo thường có hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành

Trang 14

nghi lễ Những chuyện trò đời thường không cần một hình thức tổ chức cố định và chặt chẽ nào cả

- Cuối cùng là vấn đề ngữ vực Do tính có hình thức hay không có hình thức mà các cuộc hội thoại có thể diễn ra ở một trong ba ngữ vực (trường (field), thức (mood), không khí (tenor))

- Sau khi tiếp nhận phát ngôn của Sp1, Sp2 đưa ra phát ngôn để thể hiện quan điểm, ý

kiến, tình cảm của mình để đáp lại lời trao từ Sp1, và cuộc thoại chính thức được bắt đầu Đây được gọi là vận động trao đáp

- Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau, tác động đến cách ứng xử của nhau Đây được xem là vận động tương tác xảy ra trong hội thoại Trước khi hội thoại giữa các đối ngôn tồn tại một khoảng cách nhất định về sự hiểu biết lẫn nhau,

về tâm lí, tình cảm…Sau khi hội thoại, nếu những khoảng cách ấy được thu hẹp lại, rút ngắn lại, khi ấy có thể nói đã có một cuộc hội thoại tích cực Ngược lại, khoảng cách ấy vẫn giữ nguyên hoặc mở rộng ra, khi ấy cuộc thoại có thể bị xem là tiêu cực Tương tác là một kiểu quan hệ xã hội giữa người với người Có một hoạt động xã hội thì có sự tương tác Tương tác bằng lời là một kiểu tương tác, là hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ

2

Để một cuộc thoại có thể diễn tiến bình thường, các đối ngôn trong cuộc thoại phải tuân thủ những quy tắc nhất định khi tham gia hội thoại Qua nghiên cứu thực tế, chuyên gia ngữ dụng học C K Orecchioni người Pháp đã đề ra một số quy tắc cụ thể như sau: quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy tắc quan hệ liên cá nhân trong hội thoại (Orecchioni dẫn theo [3, tr 225])

Khi tham gia hội thoại, các đối ngôn phải ý thức rõ ràng về các vai trò nói và nghe của nhau A đóng vai trò nói thì B sẽ đóng vai trò nghe, và sau khi nhận ra dấu hiệu thể

Trang 15

hiện hết vai của A, thì B sẽ tiếp nhận vai trò của A để tiến trình hội thoại không bị gián đoạn Các lượt lời nói có thể được một người điều chỉnh hoặc do các đối ngôn tự thương lượng ngầm với nhau Đó chính là quy tắc được gọi là quy tắc điều hành luân phiên lượt lời

Trong hội thoại, còn có quy tắc điều hành nội dung của hội thoại, chủ yếu quy định

về quan hệ nội dung giữa các phát ngôn được đưa ra trong quá trình hội thoại Theo quy tắc này, một cuộc hội thoại không phải là sự lắp ghép ngẫu nhiên tùy tiện các phát ngôn, các hành vi ngôn ngữ Nguyên tắc liên kết không chỉ chi phối các diễn ngôn đơn thoại mà chi phối cả những lời tạo thành một cuộc thoại Tính liên kết hội thoại thể hiện bên trong một phát ngôn, giữa các phát ngôn, giữa các hành động ở lời, giữa các đơn vị hội thoại…

Trước đó, Grice cũng đã từng xuất phát từ quy luật trong hội thoại mà đề ra nguyên tắc cộng tác hội t hoạ i và các phương châm hội thoại Nội dung chủ yếu của nguyên tắc cộng tác hội thoại được P Grice đề xuất là: Hãy làm cho phần đóng góp của anh đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp nhận tham gia vào (Grice (1967) dẫn theo [3, tr 229])

Trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin (miêu tả, trần thuật – những thông tin được đánh giá theo tiêu chí đúng sai logic) còn có quan hệ được gọi là liên cá nhân (quan hệ giữa các vai trong giao tiếp) Liên quan trực tiếp tới quan hệ liên cá nhân là vấn

đề lịch sự trong giao tiếp

1

Chịu ảnh hưởng của lí thuyết phân tích diễn ngôn, lí thuyết hội thoại Thụy Sĩ – Pháp cho rằng hội thoại là một tổ chức có tôn ti như tổ chức của một đơn vị cú pháp Các đơn vị cấu trúc hội thoại từ lớn đến nhỏ là: cuộc thoại (conversation), đoạn thoại (sequence), cặp trao đáp (exchange), tham thoại (intervention), hành vi ngôn ngữ (speech act)

Có thể hình dung cấu trúc hội thoại bằng sơ đồ:

Trang 16

có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, trong một khung thời gian – không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng (Orecchioni dẫn theo [3, tr 313]) Cuộc thoại ngắn là những cuộc thoại chỉ chứa một cặp câu, như: chào – chào, hỏi – đáp, đề nghị – đồng ý, ra lệnh – nhận lệnh…

Trong một cuộc nói chuyện, người ta có thể trao đổi hết vấn đề này sang vấn đề khác Nhưng bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc Chúng làm nên ranh giới của một cuộc

thoại Lúc bắt đầu được gọi là mở thoại, luôn do một bên chủ động Lúc kết thúc cũng do một bên chủ động đề ra, gọi là kết thoại

Trang 17

Giữa phần mở thoại và phần kết thoại là phần trung tâm của cuộc thoại: phần thân

thoại Như vậy, cấu trúc khái quát của một cuộc thoại sẽ là: MỞ THOẠI – THÂN THOẠI –

KẾT THOẠI

Cấu trúc một cuộc thoại về cơ bản là vậy, nhưng cũng có thể miêu tả cấu trúc cuộc thoại theo một sơ đồ khác Chẳng hạn, Ventola cho rằng cấu trúc khái quát của một cuộc

thoại trong tiếng Anh là: “Chào – giới thiệu – nêu vấn đề nội dung chính – chuẩn bị kết thúc

– (chào) từ biệt” Như vậy phần mở thoại bao gồm ba nội dung: chào – giới thiệu – nêu vấn

3

Đoạn thoại được quan niệm là một đơn vị hội thoại do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Về ngữ nghĩa, đó là đơn vị có sự liên kết nhờ chủ đề: có một chủ đề duy nhất Còn về ngữ dụng, đó là đơn vị có tính duy nhất

về đích hội thoại Có những loại đoạn thoại sau: mở thoại; thân thoại; kết thoại

Đoạn mở thoại và kết thoại có cấu trúc tương đối đơn giản và ổn định, dễ nhận ra hơn đoạn thân thoại, do đoạn thân thoại có thể có dung lượng lớn và có cấu trúc phức tạp

Tổ chức của đoạn thoại mở đầu và kết thúc phần lớn được nghi thức hoá và lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố như: các kiểu cuộc thoại, hoàn cảnh giao tiếp, sự hiểu biết về nhau của các đối ngôn…

- Cặp thoại một tham thoại: hình thành khi người nghe im lặng, không có hành động gì

cả, lúc đó ta có cặp thoại được gọi là “hẫng” Đó là tham thoại Sp1 không được Sp2 hưởng ứng hồi đáp bằng một hành vi tương ứng

Trang 18

- Cặp thoại hai tham thoại: là dạng thường gặp nhất trong hội thoại Trong cặp thoại hai tham thoại, mỗi tham thoại thường ứng với một chức năng cụ thể: tham thoại thứ nhất được gọi là “tham thoại dẫn nhập”, tham thoại thứ hai được gọi là “tham thoại hồi đáp” Đây là dạng cấu trúc đơn giản nhất của cặp thoại trong trong hiện thực giao tiếp

- Cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có nhiều tham thoại tham gia, hoặc có thể có ít

tham thoại nhưng lại có nhiều hành vi ngôn ngữ, trong quan hệ ràng buộc lẫn nhau Cặp thoại phức tạp bao gồm các dạng:

Dạng thứ nhất: Loại cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập, nhưng chỉ có một tham thoại hồi đáp

Dạng thứ hai: Loại cặp thoại có một tham thoại dẫn nhập, với nhiều tham thoại hồi đáp

Dạng thứ ba: Loại cặp thoại phức tạp do có nhiều tham thoại tham gia ở cả hai phía

4

1.3.3.2.Tính chất

Cặp thoại chủ hướng là cặp chủ đạo giữ vai trò trung tâm, chứa nội dung chính của đoạn thoại Trong đoạn thoại, ngoài cặp thoại chủ hướng ra, còn có thể có nhiều cặp thoại không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào một cặp thoại khác, cụ thể là phụ thuộc vào một trong các tham thoại của cặp thoại phụ thuộc, gọi là cặp thoại phụ thuộc Tính chất phụ thuộc của cặp thoại này thể hiện ở không mang đích hay chủ đề chung, mà chỉ có chức năng bổ trợ, giải thích thêm về những khía cạnh hay chi tiết nào đó của tham thoại trong cặp thoại chủ hướng Cặp thoại phụ thuộc thường gặp là hai loại cặp thoại: cặp thoại củng cố và cặp thoại sửa chữa

Khi xác định tính chất của cặp thoại thường phải dựa vào tính chất của tham thoại

mà chủ yếu là tham thoại hồi đáp Khi tham thoại hồi đáp tích cực (thỏa mãn đích dẫn nhập), thì ta có cặp thoại tích cực; khi tham thoại hồi đáp tiêu cực (nghịch hướng đích dẫn nhập), thì ta có cặp thoại tiêu cực

Theo lẽ thường, khi có được cặp thoại tích cực thì các đối ngôn thoả mãn và có thể kết thúc cuộc thoại ở đó Nhưng với cặp thoại tiêu cực lại xảy ra khả năng sau: cuộc thoại vẫn kết thúc nhưng kết thúc trong tình trạng không thoả mãn, kết thúc trong bất đồng, bất hòa hay thất bại của người dẫn nhập, vì vậy sẽ xảy ra sự tái dẫn nhập, với hi vọng của

Trang 19

người nói muốn xoay chuyển từ tình thế tiêu cực sang tích cực, mong đạt được sự đồng thuận

Cặp thoại tích cực: ra lệnh – tuân lệnh; yêu cầu – chấp nhận; khen tặng – tiếp nhận; mời – nhận lời; hỏi – trả lời; nhận định – tán thành; phê bình – tiếp thu…

Cặp thoại tiêu cực: mời – từ chối; khen tặng – khước từ; yêu cầu – từ chối; hỏi – hỏi lại, trả lời không thuận theo sự chờ đợi; mắng – cãi; phê bình – phủ nhận; chất vấn – thanh minh…

3

1.3.4.Tham thoại

Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định [3, tr 316] Cần có sự phân biệt giữa tham thoại với lượt lời Một lượt lời có thể chứa nhiều tham thoại mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại

Ví dụ:

(1) – Chào!

(2) – Chào!

(3) – Anh khỏe không?

(4) – Cảm ơn Bình thường Anh đi đâu về?

(5) – Tôi vừa đi Cửu Long về

(6) – Vĩnh Long chứ

(1) và (2) là một cặp thoại chào gồm hai tham thoại đối xứng (3) và (4) là một cặp thoại, trong đó (3) là một lượt lời gồm một tham thoại hỏi (lượt lời bằng với tham thoại) (4) là một lượt lời gồm ba tham thoại: một tham thoại cảm ơn, một tham thoại hồi đáp và một tham thoại hỏi lại (lượt lời lớn hơn tham thoại) Còn ở (5) và (6), (6) có tính chất điều chỉnh, bổ sung lại phát ngôn (5) chứ chưa phải là một lượt lời độc lập (lượt lời nhỏ hơn tham thoại)

Tham thoại là đơn vị dùng để cấu tạo nên cặp thoại Mỗi tham thoại có thể nằm trong quan hệ trao đáp theo những hướng khác nhau: Nó vừa là tham thoại hồi đáp cho cặp thoại này, lại vừa đóng vai trò dẫn nhập cho một cặp thoại khác, từ đó sẽ tạo ra các kiểu dạng cấu trúc khác nhau Nói khác đi, mỗi tham thoại thực hiện chức năng dẫn nhập hoặc hồi đáp nhưng cũng có khi kiêm nhiệm đồng thời hai chức năng, khi đó gọi là tham thoại có chức năng kép

Về tổ chức nội tại, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên

Trang 20

Trong đó có ít nhất một hành vi chủ hướng làm nòng cốt và có thể có thêm một hoặc một

số hành vi phụ thuộc Hành vi chủ hướng đảm nhiệm vai trò quyết định mục đích giao tiếp của tham thoại chứa nó, đồng thời tham gia kết hợp với hành vi chủ hướng nằm ở tham thoại khác để tạo nên cặp kế cận Hành vi phụ thuộc có vai trò làm rõ lí do hoặc bổ sung nghĩa cho hành động chủ hướng trong quá trình hội thoại Khi tham thoại chỉ có một hành vi thì ranh giới tham thoại sẽ trùng với ranh giới hành vi

Trong tham thoại, hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại Còn hành vi phụ thuộc thì có nhiều chức năng khác nhau như: củng cố, giải thích, biện minh, đánh giá…nhằm hỗ trợ cho hành vi chủ hướng Ngoài ra, trong tham thoại còn có những thành

phần mở rộng Những thành phần này không đóng góp lớn cho nội dung ngữ nghĩa của tham thoại mà chỉ thuần tuý là những hành vi có chức năng ngữ dụng, chỉ có chức năng duy trì quan hệ liên cá nhân trong hội thoại

Dựa vào vai trò, vị trí của tham thoại có thể phân loại tham thoại thành một số loại sau:

- Tham thoại dẫn nhập là tham thoại có chức năng mở đầu cho một cặp thoại

- Tham thoại hồi đáp là tham thoại có chức năng phản hồi tham thoại dẫn nhập Tham thoại hồi đáp có thể đóng vai trò kết thúc cặp thoại, vì thế còn gọi là tham thoại hồi đáp – dẫn nhập Mỗi tham thoại đều có thể nằm trong quan hệ cặp thoại với tham thoại trước và sau nó, nghĩa là tham gia trực tiếp tạo nên hai cặp thoại, trừ tham thoại đầu tiên

và cuối cùng thường chỉ tham gia vào một cặp thoại

Trang 21

cách pháp nhân nhất định

Cùng một phát ngôn nhưng có thể ẩn chứa nhiều hành vi có hiệu lực ở lời khác nhau Chúng tôi xin đề cập đến hai hành vi có hiệu ở lời là: hành vi ngôn ngữ ở lời trực tiếp và hành vi ngôn ngữ ở lời gián tiếp

ngữ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng

Ví dụ: Căn cứ vào mục đích phát ngôn, câu tiếng Việt được chia thành bốn loại: câu trần thuật, câu cầu khiến, câu hỏi, câu cảm thán Mỗi kiểu câu ứng với cấu trúc, chức năng

riêng Chẳng hạn, dùng hình thức hỏi để biểu hiện hành vi hỏi: Anh đi đâu về? Em tên gì?

Mấy giờ rồi? ; dùng hình thức cầu khiến để biểu thị hành vi yêu cầu, ra lệnh: Hãy đứng lên, Mọi người trật tự, Nhanh chân lên

ngữ được thực hiện thông qua sự suy luận, dựa vào hoàn cảnh, ngữ cảnh, vào thông tin cơ bản đã có được, vào lẽ thường và vào khả năng suy luận của người nghe

Ví dụ: Một phát ngôn trần thuật không dùng để nhận định mà dùng để cầu khiến:

Hô m nay thời tiết oi bức quá (trong trường hợp người phát ngôn muốn đề nghị “Mình đi bơi đi”) Hay một câu hỏi được dùng để yêu cầu: Bạn có bút xóa không? (trong trường hợp

người phát ngôn muốn yêu cầu “Bạn cho mình mượn bút xóa”)

1

H P Grice là tác giả của khái niệm này Những phác thảo đầu tiên của nguyên lý cộng tác được tác giả nêu trong các bài giảng tại đại học Havard (1967) Đến năm 1975 tập hợp

những bài giảng được xuất bản trong cuốn Logic và hội thoại (Logic and Conversation) Từ

năm 1978 đến 1981, Grice đã có những thuyết minh và bổ sung cho nguyên tắc của mình trong một số bài báo

Nguyên lý cộng tác gồm một nguyên lý khái quát bao trùm và bốn phạm trù theo tinh thần các phạm trù của Kant (Kant dẫn theo [3, tr 230]) Mỗi phạm trù tương ứng với một phương châm, mỗi phương châm lại gồm một số phương châm nhỏ (tiểu phương châm) Có thể khái quát nội dung của bốn phương châm như sau:

 Phương châm về lượng:

Trang 22

- Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng thông tin đúng như nó được đòi hỏi (của đích đang diễn ra của từng phần của hội thoại)

- Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng thông tin lớn hơn đòi hỏi

 Phương châm về chất:

- Đừng nói điều mà anh tin rằng không đúng

- Đừng nói điều mà anh không có bằng chứng xác thực

 Phương châm quan hệ:

- Hãy nói cho đúng chỗ

3

Muốn biết một câu nói ra phản ánh một sự tình cụ thể nào, có đúng hay không, phải biết sở chỉ của các thành tố của nó Muốn xác định sở chỉ của các thành tố cũng như sở chỉ của câu phải đặt vào tình huống phát ra nó Do đó ngữ cảnh ảnh hưởng lớn và có vai trò quyết định đến việc giải thích các phát ngôn

Trong hoạt động giao tiếp cần lưu ý đến ngữ cảnh, tình huống giao tiếp Một câu nói

có thể thích hợp trong tình huống này nhưng không thích hợp trong một tình huống khác Do

đó, muốn xác định một câu nói có tuân thủ phương châm hội thoại hay không và để giao tiếp được thành công, người nói không chỉ phải nắm vững các phương châm hội thoại mà còn phải xét nó trong mối quan hệ với ngữ cảnh, tình huống giao tiếp Chẳng hạn, xét các ví dụ sau:

(1) Việt Nam chiến thắng

(2) Chúng tôi đã cố gắng hết sức

Ở (1), nếu đặt trong ngữ cảnh Việt Nam đang tham gia giải thể thao quốc tế và giành được chiến thắng thì lại khác với việc Việt Nam giành chiến thắng trong vụ kiện với Hiệp hội cá da trơn của Mỹ Còn ở (2), nếu đặt câu nói trong ngữ cảnh ở một bệnh viện thì hoàn toàn khác với ngữ cảnh của lời giải thích cho thất bại của Việt Nam tại Suzuki AFF Cup

2010

Trang 23

Để hoạt động giao tiếp đạt được hiệu quả cao thì những người tham gia cần phải tuân thủ các phương châm hội thoại mà Grice đề ra

4

1.4.2.1.Phương châm về lượng

Nguyên tắc cộng tác hội thoại có dạng tổng quát như sau: Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị (vào cuộc hội thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc thoại) mà

nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào (Grice dẫn theo [3, tr 229]) Và yêu cầu phương châm về lượng là hãy làm cho phần đóng góp của mình có lượng tin đúng như đòi hỏi của đích đang diễn ra của từng phần của cuộc hội thoại

Ví dụ:

A: Anh đi đâu vậy?

B: Tôi đi ra chợ

Trong lượt lời B – người đáp đã cung cấp lượng tin đúng như đòi hỏi của A đang diễn

ra cuộc thoại giữa hai người Và như vậy cuộc thoại trên đã tuân thủ phương châm về lượng

Grice đã minh họa một cách rất cụ thể phương châm về lượng của ông như sau: Nếu ai

đó giúp tôi sửa xe, tôi mong đợi sự đóng góp của người đó phù hợp không hơn không kém với điều tôi đang chờ Nếu tôi cần bốn cái vít thì người đó đưa cho tôi không phải sáu, cũng không phải hai cái vít (Grice dẫn theo [3, 231]) Qua lời minh họa trên ta thấy nội dung của phương châm lượng khi thực hiện trong giao tiếp là cần nói có nội dung đủ, không thừa, không thiếu Mọi sự thừa thải về thông tin có thể làm cho những người tham gia hội thoại nghĩ rằng nó được tạo ra vì một lí do nào đó không liên quan tới cuộc thoại đang diễn ra

Tìm hiểu hai mẩu đối thoại sau để thấy rõ sự tuân thủ phương châm này:

(1) A: Này, cậu có biết bơi không?

B: Biết chứ, thậm chí còn bơi giỏi nữa

A: Thế cậu học bơi ở đâu?

B: Chẳng lẽ cậu không biết à? Dĩ nhiên là ở dưới nước chứ còn ở đâu

[49, tr 8]

(2) Cảnh sát hỏi một phạm nhân:

- Vì sao anh phải vào đây?

- Thế mà cũng hỏi, vì họ không cho tôi ở ngoài kia nữa

Trang 24

bơi ở trường” hay “Học bơi với bố”…

Trong ví dụ (2), câu trả lời của phạm nhân có nội dung lượng tin nhiều hơn điều mà nó được đòi hỏi dù ý trả lời đúng đích của người hỏi Đối thoại này là mẩu chuyện gây cười, nhân vật không trả lời ngay điều được hỏi, nói nhiều hơn những gì cần nói Để tuân thủ

phương châm về lượng, phạm nhân chỉ cần đáp “Thế mà cũng hỏi” là đủ

Một đòi hỏi nữa không kém phần quan trọng của phương châm về lượng là trong giao tiếp người nói cần nói cho đúng nội dung, lượng tin đúng với mục đích hội thoại

Ví dụ:

A: Thế em đã có mấy cháu rồi?

B: Em được hai cháu Một trai một gái Đứa lớn 8 tuổi đang học lớp 3 Đứa nhỏ 5 tuổi đang chuẩn bị vào lớp 1 Hai cháu xinh và ngoan lắm

Câu trả lời của B đã nêu lên lượng thông tin nhiều hơn điều mà A cần biết B chỉ cần

trả lời “Em được hai cháu” là tuân thủ phương châm về lượng vì lượng thông tin được cung

cấp như thế đúng là với yêu cầu, mục đích của người hỏi

5

1.4.2.2 Phương châm về chất

Nội dung phương châm về chất yêu cầu là: Hãy nói sao cho có nội dung đáng nói Đừng nói nhiều hơn cái nội dung đáng nói (Grice dẫn theo [3, tr 230]) Nhưng muốn giao tiếp hiệu quả thì nội dung của lời nói còn phải đúng, phải có tính xác thực

Phương châm về chất chi phối trực tiếp đến nội dung hội thoại Yêu cầu của phương châm này là khi giao tiếp đừng nói những điều mà mình tin là không đúng Grice phát biểu: Tôi trông đợi sự giúp đỡ thật sự chứ không phải một sự giúp đỡ vờ vẫn Nếu tôi cần đường

để làm một chiếc bánh ga tô thì người đó đưa tôi đường chứ không phải đưa tôi muối Nếu tôi cần một chiếc thìa thì tôi mong anh ta đưa cho tôi một chiếc thìa chứ không phải một cái cặp chả (Grice dẫn theo [3, 231])

Ví dụ:

(1) Anh: Mẹ đâu rồi em?

Trang 25

Em: Mẹ qua nhà dì Tư hoặc đi chợ thì phải Em cũng chỉ đoán như vậy

Câu trả lời của em là rõ ràng, nói đúng điều có liên quan, cung cấp lượng thông tin đúng như đòi hỏi là tuân thủ phương châm hội thoại Việc em trả lời có thể mẹ qua nhà dì Tư hay đi chợ là vì em chưa tin chắc điều nói ra là đúng

(2) Hai cán bộ xã cùng trò chuyện với nhau về tiến độ thi công nạo vét kênh nội đồng của xã:

A: Anh tin rằng xã mình sẽ thực hiện đúng với tiến độ đề ra hay không?

B: Việc này còn tùy thuộc vào ý thức và tinh thần trách nhiệm của người dân nữa Tôi chưa thể nói trước được

Câu trả lời của B đúng với đòi hỏi của A Nhưng câu trả lời của B có nội dung chưa thỏa mãn câu hỏi của A bởi vì B không thể nói ra điều mà mình chưa có cơ sở chắc chắn để khẳng định là có kịp hoàn thành tiến độ hay không Câu trả lời đã cho thấy B tuân thủ phương châm về chất trong giao tiếp

Phạm trù chất đòi hỏi lời nói trong giao tiếp phải chính xác, đúng sự thật ở những người cùng tham gia hội thoại Đừng nói điều mà mình không có cơ sở, không có bằng chứng xác thực Quan sát mẩu chuyện cười sau:

Hai anh chàng qua một khu vườn trồng bí Một anh thấy quả bí to kêu lên:

- Chà, quả bí kia to thật

Anh bạn có tính nói khoác, cười bảo:

- Lấy gì làm to Tôi đã từng thấy một quả bí to bằng cái nhà đằng kia kìa

Anh kia nói ngay:

- Lấy gì làm to Tôi trông thấy một cái nồi đồng to bằng cái đình làng ta

[49, tr 9]

Mẩu đối thoại cho thấy cả hai người cùng nói về những điều không có thật, không ai tin vì thiếu bằng chứng xác thực, vi phạm phương châm về chất

Quan sát một số ví dụ sau:

(1) Nếu không biết chắc là tuần sau lớp có kiểm tra định kì hay không thì chúng ta

không thể nói: Tuần sau lớp sẽ kiểm tra định kì

(2) Nếu không biết chắc vì sao thầy không đến lớp thì chúng ta không thể nói: Thầy

không đến lớp vì ốm

Trang 26

Hai câu nói trên tuy chứa đựng lượng tin thông báo rõ ràng nhưng không có cơ sở xác thực Câu nói chỉ thông qua ý nghĩ phán đoán, không căn cứ vào thực tế là sự việc có thật hay không có thật Điều này dẫn đến việc không tuân thủ phương châm

Trong nhiều trường hợp, vì một lý do nào đó, người nói đưa ra một nhận định hay truyền đạt một thông tin, nhưng bản thân người nói chưa chắc chắn về thông tin đó Để đảm

bảo tuân thủ phương châm về chất, người nói phải dùng những cách diễn đạt như kiểu: tôi

được biết, tôi tin rằng, theo tôi nghĩ, tôi tin là, tôi nghe nói, theo tôi nghĩ…nhằm báo cho

người nghe biết tính xác thực của nhận định hay thông tin mình đưa ra chưa chắc chắn, chưa

có bằng chứng xác thực Chẳng hạn:

(1) Nếu không biết chắc là tuần sau lớp có kiểm tra định kì hay không thì chúng ta có

thể nói: Tôi tin rằng tuần sau lớp sẽ kiểm tra định kì

(2) Nếu không biết chắc vì sao thầy không đến lớp thì chúng ta không thể nói: Tôi

nghĩ là thầy không đến lớp vì thầy ốm

Việc tuân thủ phương châm về chất sẽ giúp chúng ta đạt kết quả trong giao tiếp, cách tiếp nhận và truyền đạt thông tin chính xác, có sức thuyết phục cao

5

1.4.2.3 Phương châm về cách thức

Yêu cầu của phương châm cách thức là tránh lối nói tối nghĩa, lối nói mập mờ Trong quá trình giao tiếp, nội dung thông tin của người nói mơ hồ hay tối nghĩa sẽ làm cho giao tiếp không đạt kết quả như mong muốn Quan sát ví dụ sau:

(1) Anh: Em thi đến ngày nào mới xong?

Em: Em thi đến thứ 6 là xong rồi

(2) Chủ nhà ra đón khách:

- Thật quí hóa quá, thế lần này các cậu đến chơi có lâu không?

- Đến khi nào cậu gác chân lên thì về

- Nhanh thế thôi ư! Hẳn là công việc kinh doanh gấp lắm!!!

[6, tr 19]

Ở ví dụ (1), người em không chỉ trả lời xác thực, đúng như đòi hỏi về điều có liên quan mà còn trả lời rõ ràng câu hỏi của người anh Cuộc thoại tuân thủ phương châm cách thức

Ở ví dụ (2), câu nói mơ hồ, tối nghĩa không tuân thủ phương châm Cách nói này thường mang theo một hàm ý nào đó mà chỉ người trong cuộc mới hiểu

Trang 27

Yêu cầu của phương châm cách thức là hãy nói ngắn gọn, nói có trật tự, tránh dài dòng Trong số các phương châm hội thoại thì phương châm cách thức có nội dung quen thuộc hơn vì nó có liên quan đến những yêu cầu về diễn đạt trong giao tiếp hàng ngày Phương châm cách thức giúp chúng ta hiểu rõ cuộc thoại chỉ đạt hiệu quả khi những người cùng tham gia chú ý đến cách nói ngắn gọn, mạch lạc, không nói câu có nội dung tối nghĩa, nhiều nghĩa So sánh hai ví dụ sau:

(1) Hai người bạn trò chuyện với nhau:

- Khi nào cậu tốt nghiệp

- Năm sau

(2) Cuộc trò chuyện giữa hai người bạn:

- Dạo này làm ăn thế nào?

- Kinh tế khủng hoảng, mua bán khó khăn, vật giá leo thang, ra đường ngập nước, đụng phải hố tử thần Làm với chả ăn

Hình thức câu trả lời ở ví dụ (1) ngắn gọn mà đủ ý, đáp ứng đúng yêu cầu của người hỏi, giúp hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả Ngược lại, ví dụ (2) dài dòng, không mạch lạc, không đi vào chủ đích của người hỏi

Có những cách nói giúp cho hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả tối ưu (ví dụ (1)), nhưng cũng có những cách nói làm người nghe khó tiếp nhận hoặc tiếp nhận một cách miễn cưỡng (ví dụ (2)) Do đó, khi giao tiếp, bên cạnh cách nói ngắn gọn, mạch lạc, cần chú ý cách nói

có trật tự, trình tự

Để tuân thủ phương châm cách thức, người nói cần nắm vững các qui tắc ngữ âm, ngữ pháp và có vốn từ vựng phong phú Đây là phương châm có ảnh hưởng lớn đối với quá trình học tập cũng như hoạt động giao tiếp hàng ngày

5

1.4.2.4 Phương châm về quan hệ

Là một phương châm quan trọng của hội thoại, phương châm về quan hệ đòi hỏi người tham gia hội thoại phải nói vào đề, nhất là khi trả lời các câu hỏi Grice đã minh họa về phương châm quan hệ: Tôi trông đợi một sự giúp đỡ của người giúp tôi đúng vào điều tôi đang cần ở thời điểm cụ thể của việc tôi đang làm Nếu tôi đang nhào bột làm bánh mì thì tôi không mong người giúp tôi đưa cho tôi cuốn sách hướng dẫn làm bánh hoặc cây xiên thịt (Grice dẫn theo [3, tr 231])

Trang 28

Câu nói trên cho thấy việc tuân thủ phương châm quan hệ trong hội thoại là cần nói cho đúng chỗ, nói những gì liên quan đến điều đang nói

Ví dụ:

Thấy A đang loay hoay tìm gì đó, B đi ngang qua và dừng lại trước mặt A

A: Tôi tìm mua bản đồ thành phố

B: Tới ngã ba cách đây 100 mét có cửa hàng sách

Nghe câu nói của B, A hiểu rằng gần đây có hiệu sách và mình có thể tìm mua được bản đồ ở đó Câu nói của B đã tuân thủ phương châm quan hệ

Trong giao tiếp, khi người tham gia hội thoại không đi thẳng vào vấn đề hoặc tự dưng nói ra ngoài đề là do họ cố tình không nói thẳng vào đề hoặc không chú ý lời của người nói

Ví dụ:

Một nữ bệnh nhân lo lắng hỏi bác sĩ về tình hình sức khỏe của mình:

- Bác sĩ, ca mổ của tôi thế nào ?

- Hừm…Hiện giờ tôi chỉ có thể nói cho bà biết rằng bà sống sót sau tai nạn là một kì tích

Câu trả lời của bác sĩ dường như không có liên quan gì đến câu hỏi của nữ bệnh nhân Nhưng thật ra, câu trả lời đã đáp ứng được mục đích của người hỏi Đây là cách trả lời bình thường, tự nhiên trong giao tiếp hàng ngày do người nghe có thể hiểu câu trả lời theo nghĩa hàm ẩn của câu nói Qua câu trả lời của bác sĩ nữ bệnh nhân hiểu được là ca mổ của mình đã thành công trên cả sự mong đợi Cách diễn đạt trên cho thấy phương châm quan hệ được tuân thủ vì chúng nói đúng vào vấn đề liên quan

Muốn biết một câu nói có tuân thủ phương châm quan hệ hay không, chúng ta cần hiểu được nghĩa hàm ẩn bên trong câu nói Quan sát một số ví dụ sau:

(1) A: Mấy giờ rồi ?

B: Có hẹn à ?

(2) Cô gái: Anh ơi, xe em lại hỏng nữa rồi

Chàng trai: Sáng mai anh đợi em ở đầu hẻm

Câu trả lời trong hai ví dụ trên dường như không liên quan đến nội dung cần hỏi nhưng người hỏi vẫn có thể hiểu được vì người trả lời đã tuân thủ phương châm quan hệ Trong giao tiếp hàng ngày thì cách nói như trên rất phổ biến, nó yêu cầu người nghe tiếp nhận thông tin không chỉ thông qua nghĩa tường minh của câu nói mà còn phải qua suy luận

mới có thể hiểu được Chẳng hạn, A nói “Mấy giờ rồi ?” thì B hiểu là A có việc bận và cần

Trang 29

phải đi Hay qua lời của chàng trai, cô gái có thể hiểu là chàng trai đã hiểu ý mình và sẵn sàng giúp đỡ

3

1.4.3.Những trường hợp vi phạm phương châm hội thoại

Phương châm hội thoại là vấn đề của ngữ dụng học Do đó, muốn xác định một phát ngôn có tuân thủ phương châm hội thoại hay không cần xét nó trong mối quan hệ với tình huống giao tiếp cụ thể Có thể một câu nói được coi là tuân thủ phương châm hội thoại trong tình huống này nhưng lại không tuân thủ phương châm hội thoại trong tình huống khác Phương châm hội thoại không có tính bắt buộc như những qui tắc ngữ pháp, đó không phải

là những qui định mà mọi người nhất thiết phải tuân theo trong bất kì tình huống giao tiếp nào Nhiều trường hợp để đạt được hiệu quả giao tiếp, người nói phải nói tránh sự thật, nói đánh trống lảng, nói vòng vo…

5

1.4.3.1 Sự vi phạm không cố ý

Trong những tình huống giao tiếp sử dụng tổng hợp nhiều phương châm hội thoại sẽ dẫn đến tình trạng các phương châm hội thoại không hòa hợp được với nhau Điều này dẫn đến tình trạng vì phải tôn trọng phương châm này mà vi phạm phương châm khác

Ví dụ:

Vợ: Anh có thấy điện thoại của em đâu không ?

Chồng: Hình như nó trên salon thì phải

Quan sát cuộc thoại trên ta thấy câu trả lời của người chồng đã vi phạm phương châm lượng vì không cung cấp đủ thông tin như người vợ mong muốn Ở đây, người chồng đã tôn trọng phương châm chất, không nói điều mà mình không có bằng chứng xác thực

Có trường hợp, tuy không cố ý tôn trọng phương châm nào nhưng vẫn vi phạm phương châm lượng do cách lặp lại hoàn toàn trong câu nói

Trang 30

cách lặp đó Đây là sự vi phạm cố ý phương châm lượng Những kết cấu theo lối này thường

ẩn chứa hàm ý bên trong

Ví dụ:

A: Tay Cán dạo này thế nào?

B: Thì Cán vẫn là Cán thôi!

[9, tr 132]

Câu trả lời của B đã vi phạm phương châm về lượng, không cung cấp thêm thông tin

gì mới Tuy nhiên qua câu trả lời này A có thể hiểu hàm ý của B là: cái tay Cán của ngày hôm nay không có gì khác với tay Cán trước đây, tính cách chẳng có gì thay đổi hết

Sự vi phạm phương châm còn do người nói vụng về, vô tình vi phạm phương châm

Ví dụ:

Chàng và nàng ngồi tâm sự dưới bóng cây cổ thụ Nàng thỏ thẻ:

- Anh nhìn kìa, trên cành cây có đôi chim đang âu yếm nhau tình tứ quá Sao anh cứ ngồi thẩn thờ mãi vậy ?

- Biết làm sao bây giờ, anh không mang theo súng

[6, tr 56]

Xét về nghĩa hiển ngôn thì câu đáp của chàng trai không tuân thủ phương châm quan

hệ, thể hiện sự thiếu quan tâm của người nói Khi cô gái nói “Sao anh cứ ngồi thẩn thờ mãi

vậy ?” thì chàng trai hiểu đó không đơn giản là một thông báo mà là lời yêu cầu Đã vậy,

chàng trai còn thờ ơ đáp “Biết làm sao bây giờ” Trường hợp này, sự vi phạm không cố ý

phương châm quan hệ là do người nói vô tình, vụng về trong câu nói

Trong hội thoại, sự vi phạm không cố ý phương châm hội thoại còn xuất phát từ những câu nói không thuộc chủ ý của người nói

Ví dụ:

Đến giờ cơm, con dâu hỏi mẹ chồng:

- Mẹ đói chưa ? Con vào dọn cơm

Mẹ chồng vốn bị lảng tai, nghe không rõ, đáp:

- Đang xem ti vi

Do bị lảng tai nên mẹ chồng không nghe rõ câu hỏi của con dâu nên trả lời không liên quan đến điều người con dâu hỏi Rõ ràng mẹ chồng đã vi phạm phương châm quan hệ, nhưng đây là sự vi phạm không cố ý, không thuộc chủ ý của người nói – do bị lảng tai

Trang 31

1.4.3.2 Sự vi phạm cố ý

Sự cố tình vi phạm phương châm hội thoại được xem như là một chiến lược giao tiếp Tức là những người tham gia hội thoại sử dụng công cụ ngôn ngữ để thể hiện điều mình muốn nói, tạo nên hàm ý hoặc để tác động và cũng có thể gây mơ hồ Ở đây, người nói muốn gây sự chú ý, hướng người nghe hiểu câu nói theo một ý nghĩa hàm ẩn nào đó

rõ hơn và an toàn hơn…Ở đây, sự cố ý vi phạm phương châm làm nảy sinh nghĩa hàm ẩn trong cuộc thoại

Trong quá trình hội thoại, người nói có ý định ngầm là tạo ra một hiệu quả như mong muốn từ sự vi phạm cố ý một phương châm nào đó Đây là sự vi phạm có chủ ý để đạt được hiệu quả ngữ dụng

Ví dụ:

Khi gặp một khách hàng nghi ngờ về chất lượng của sản phẩm, người bán hàng nói:

- Hãy dùng sản phẩm này đi! Dùng rồi mới biết hay, dở cô ạ!

Câu nói của người bán hàng mập mờ, cố ý vi phạm phương châm cách thức vói mục đích là làm an tâm khách hàng để bán được hàng

Sự vi phạm phương châm nào đó một cách cố ý có thể xảy ra ngay từ lượt lời mở thoại Điều này làm cho cuộc thoại lệch mục tiêu mà người thứ nhất đặt ra Đây là một trong những biện pháp tác động để gây cười từ nghĩa hàm ẩn trong những câu chuyện cười

Ví dụ:

- Thế ở cơ quan cháu có bao nhiêu người làm việc ?

Đứa cháu suy nghĩ một lúc rồi trả lời:

- Khoảng phân nửa trong số họ ạ

[6, tr 62]

Trang 32

Bản thân câu hỏi đã vi phạm phương châm về lượng Câu hỏi “…bao nhiêu người làm

việc…” trở thành thừa nếu người hỏi chỉ muốn hỏi cơ quan có bao nhiêu người Câu hỏi này

cũng trở thành câu mơ hồ, vi phạm phương châm cách thức Người dựng chuyện đã cho người nghe trả lời theo hướng khác và tác động gây cười được tạo ra từ sự vi phạm cố ý các phương châm trên

6

Tiểu kết

Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, hội thoại là phương tiện phổ biến nhất Hội thoại được sử dụng một cách phong phú, đa dạng trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm đạt được những hiệu quả giao tiếp nhất định

Nghiên cứu hội thoại nói chung, nghiên cứu hội thoại trong một thể loại văn học cụ thể nói riêng không thể không đề cập đến những khái niệm cơ bản trong cấu trúc hội thoại: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, hành vi ngôn ngữ với những đặc điểm và chức năng của chúng Gắn liền với cấu trúc hội thoại là những nguyên lí hội thoại, mà ở đây chúng tôi đề cập đến nguyên lí cộng tác với bốn phương châm cơ bản: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm về quan hệ, phương châm về cách thức

Những vấn đề lí thuyết hội thoại chúng tôi trình bày nhằm xác lập cơ sở để nghiên cứu hội thoại trong thể loại truyện cười tiếng Việt Tiếp cận vấn đề ở góc nhìn hội thoại từ đó qui chiếu vào truyện cười tiếng Việt, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu cấu trúc hội thoại cũng như các phương châm hội thoại được thể hiện thông qua thể loại văn học này

Trang 33

CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN CƯỜI

Theo Đỗ Hữu Châu, có ba trường phái có quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại: trường phái phân tích hội thoại ở Mỹ (conversation analysis); trường phái phân tích diễn ngôn ở Anh (discourse analysis); và trường phái lí thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ – Pháp (Genève) [3, tr 290]

Như đã trình bày ở phần chương 1, chúng tôi chọn trường phái lí thuyết hội thoại Thụy Sĩ – Pháp làm cơ sở lí thuyết để tiến hành xác lập những nội dung trong cấu trúc hội thoại cần thể hiện trong chương 2 này Cụ thể, các đơn vị trong cấu trúc hội lần lượt là:

- Cuộc thoại (conversation)

- Đoạn thoại (sequence)

- Cặp trao đáp (exchange)

- Tham thoại (intervention)

- Hành vi ngôn ngữ (speech act)

Trong đó ba đơn vị đầu là ba đơn vị có tính chất lưỡng thoại – hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại; hai đơn vị sau là hai đơn vị có tính chất đơn thoại – do một người nói ra

Khảo sát, phân tích cấu trúc hội thoại trong truyện cười tiếng Việt là một vấn đề khó, đòi hỏi nhiều thời gian và tâm sức của người thực hiện Do giới hạn về thời gian và phạm vi

tư liệu khảo sát rộng lớn, để tránh sự lan man, dàn trải trong cách thể hiện vấn đề, chúng tôi

xin được phép sử dụng tư liệu trong phạm vi quyển Tiếng cười dân gian Việt Nam [70] làm

tư liệu chính trong quá trình phân tích

1

Tiếng cười dân gian Việt Nam gồm năm chương: Truyện cười; Truyện ngụ ngôn; Ca

dao trào phúng; Vè trào phúng; Hề chèo, tuồng đồ Riêng chương Truyện cười bao gồm gồm sáu nội dung: I Truyện cười; II Truyện Trạng Lợn; III Truyện Trạng Quỳnh; IV Truyện Xiển Bột; V Truyện Ông Ó; VI Truyện Ba Phi

Ở đây, trong nội dung chương này, chúng tôi xin giới hạn phạm vi khảo sát ở mục I

(Truyện cười) của chương I (Truyện cười) trong Tiếng cười dân gian Việt Nam Mặc dù

phạm vi khảo sát chỉ dừng lại ở đó nhưng để tiện cho quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi

xin được phép sử dụng cách gọi chung là Tiếng cười dân gian Việt Nam

Trang 34

Dưới đây là kết quả khảo sát căn cứ vào giới hạn phạm vi tư liệu nêu trên:

Bảng 2.1 Bảng liệt kê các cuộc thoại khảo sát trong Tiếng cười dân gian Việt Nam

Trang 35

43 Cuộc thoại 43 Nói có đầu có đuôi 88 – 89

73 Cuộc thoại 73 Về bảo thằng thầy mày đừng có nói dối 119 – 120

Trang 36

89 Cuộc thoại 89 Ghen 136 – 137

111 Cuộc thoại 111 Chiêm bao thấy chết một ngàn năm 158 – 159

Trang 37

135 Cuộc thoại 135 Thế thì không mất 184

154 Cuộc thoại 154 Thầy quên mặt nhà con rồi hay sao? 200 – 201

168 Cuộc thoại 168 Người ta đã sợ thì để người ta sợ chứ! 211 – 212

175 Cuộc thoại 175 Uống rượu bằng cái chén con mà chết hóc 217 – 218

Trang 38

181 Cuộc thoại 181 Tôi mừng quá 225

Trong quá trình thống kê – phân loại ngữ liệu, chúng tôi sử dụng 185/215 truyện cười trong Tiếng cười dân gian Việt Nam làm đối tượng khảo sát Mỗi truyện cười tương ứng với một cuộc thoại (185 cuộc thoại) và trên cơ sở những cuộc thoại đó, luận văn tiến hành miêu tả, phân tích để rút ra những đặc điểm trong cấu trúc hội thoại

Về đặc điểm của cuộc thoại trong Tiếng cười dân gian Việt Nam, luận văn đi vào miêu

tả, phân tích hai nội dung là hình thức hội thoại trong các cuộc thoại và cấu trúc của các cuộc thoại

3

Khảo sát các cuộc thoại trong Tiếng cười dân gian Việt Nam và phân loại các cuộc

thoại theo các hình thức hội thoại, chúng tôi có bảng thống kê sau:

Bảng 2.2 Bảng thống kê hình thức hội thoại của các cuộc thoại trong Tiếng cười dân gian Việt Nam

Ngày đăng: 17/01/2020, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo (1992), TIếng Việt 12, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: TIếng Việt 12
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
2) Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
3) Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học (T2) – Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học" (T2) "– Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
4) Nguyễn Thị Phương Chi (2003), “Một số cơ sở của chiến lược từ chối”, Ngôn ngữ, Số 8, tr. 18 – 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cơ sở của chiến lược từ chối
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi
Năm: 2003
5) Hoàng Dũng – Bùi Mạnh Hùng (2007), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Hoàng Dũng – Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
6) Lương Ngọc Danh (2004), Những hình thức diễn đạt trong tiếng Việt có liên quan đến phương châm hội thoại (khóa luận tốt nghiệp), Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hình thức diễn đạt trong tiếng Việt có liên quan đến phương châm hội thoại
Tác giả: Lương Ngọc Danh
Năm: 2004
7) Nguyễn Đức Dân (1987), “Hiện tượng mơ hồ trong nghệ thuật gây cười”, Người Hà Nội, Số 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng mơ hồ trong nghệ thuật gây cười
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1987
8) Nguyễn Đức Dân (1996), Logic và tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
9) Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10) Nguyễn Đức Dân (2003), Nỗi oan thì, là, mà, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi oan thì, là, mà
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
11) Nguyễn Đức Dân (2003), “Những nghịch lí ngữ nghĩa”, Ngôn ngữ, Số 4, tr. 1 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghịch lí ngữ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 2003
12) Nguyễn Thị Đan (1994), Bước đầu tìm hiểu cấu trúc hội thoại, cuộc thoại, đoạn thoại (luận văn thạc sĩ), Trường Đại học Sư phạm I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu cấu trúc hội thoại, cuộc thoại, đoạn thoại
Tác giả: Nguyễn Thị Đan
Năm: 1994
13) Lê Đông (1994), “Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng của câu hỏi”, Ngôn ngữ, Số 2, tr. 41 – 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng của câu hỏi
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1994
14) Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
15) Nguyễn Thiện Giáp (1998), Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
16) Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
17) Nguyễn Thiện Giáp (1999), Phân tích hội thoại, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hội thoại
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
18) Nguyễn Thị Ngọc Hân (2006), Đặc điểm lượt lời hồi đáp thuộc hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Việt giao tiếp (luận văn thạc sĩ), Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lượt lời hồi đáp thuộc hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Việt giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Hân
Năm: 2006
19) Dương Tuyết Hạnh (1999), Cấu trúc tham thoại (luận văn thạc sĩ), Trường Đại học Sư phạm I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc tham thoại
Tác giả: Dương Tuyết Hạnh
Năm: 1999
20) Nguyễn Thị Hai (2001), “Hành động từ chối trong tiếng Việt hội thoại”, Ngôn ngữ, Số 1, tr. 1 – 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành động từ chối trong tiếng Việt hội thoại
Tác giả: Nguyễn Thị Hai
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w