1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sỹ Khoa học giáo dục: Thực trạng, hệ thống biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tự học môn Giáo dục học của sinh viên Cao đẳng Sư phạm An Giang

100 245 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn nghiên cứu nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo của nhà trường nói chung, hoạt động học tập, đặc biệt là hoạt động tự học môn Giáo dục học nói riêng cho người sinh viên của trường Cao đẳng sư phạm An Giang. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn:

-Các thầy cô trong khoa Tâm lý- Giáo dục trường ĐHSP Hà Nội

-Cô Hà Thị Đức, phó tiến sĩ khoa học giáo dục

-Một số giáo viên và sinh viên khoa Tư nhiên, khoa Xã hội trường CĐSP An Giang

-Đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này

Đỗ Công Tuất

Trang 4

0T

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TƯ HỌC MÔN GIÁO DỤC

Chương 3: HỆ THỐNG BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

- HIẾU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC CỦA SINH VIÊN0T 58

0T

Trang 6

2.1.4 Nhà trường cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và giảng dạy của giáo

Trang 8

M ở đầu

Chúng ta đang sống, hoạt động trong thời đại mà cuộc cách mạng khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ như vũ bão, từ đó nảy sinh sự bùng nổ thông tin Lượng thông tin mới tăng nhanh, thông tin củ trở nên lạc hậu, lỗi thời, mất tác dụng Theo ý kiến của các nhà thống kê, trong khoảng thời gian từ bảy đến mười năm, lượng thông tin khoa học tăng lên gấp đôi Hai phần ba lượng trí thức và hơn 90% lượng thông tin khoa học kỹ thuật do loài người tích lũy chỉ trong thế kỷ 20 Số các nhà bác học ở thế kỷ 20 bằng phân nửa số các nhà khoa học trong lịch sử loài người

Một nửa số cấc tài liệu khoa học xuất hiện trong vòng từ 15 đến 20 năm trở lại đây Trước tình hình đó, đòi hỏi nội dung dạy học trong trường học nói chung, trường đại học, cao đẳng nói riêng phải không ngừng được hiện đại hóa, phản ánh kịp thời, thiết thực những thành tựu mới nhất của khoa học, công nghệ cùng với xu thế phát triển của chúng

Trong khi đó, nhà trường lại yêu cầu người sinh viên phải nắm vững nội dung

dạy học được hiện đại hóa với thời gian học lập không đổi Mâu thuẫn này được giải quyết khi:

- Tăng số giờ học trong ngày, trong tuần, tháng, năm học

- Tích cực hóa hoạt động nhận thức của sinh viên

Trong các giải pháp nêu trên, giải pháp hàng đầu là tích cực hóa hoạt động nhận (hức của người sinh viên, đảm bảo cho người sinh viên huy động ở mức cao nhất các thao tác trí tuệ nhằm đạt hiệu quả học tập lốt nhất

Việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của người sinh viên không những có ý nghĩa trước mắt là kích thích họ học tập tích cực, sáng tạo, đạt kết quả học tập mà còn đào tạo họ trở thành những người lao động tích cực, năng động, sáng tạo, thích ứng

với công việc giảng dạy và giáo dục học sinh sau này

Trang 9

Dạy học là một quá trình hoạt động có tính chết hai mặt: Hoạt động giảng dạy

của người thầy giáo và hoạt động học tập của người sinh viên, Hai hoạt động này tồn

tại trong mối quan hệ biện chúng với nhau

Người sinh viên trong trường Cao đẳng sư phạm có ý thức học tập tự giác cao vì

nó gắn liền với động cơ học tập đã được xác định Khả năng tư duy trừu tượng của người sinh viên rất phát triển Năng lực độc lập nhận thức của người sinh viên đã được hình thành và ngày càng được nâng cao vốn kinh nghiệm hoạt động lao động trí

óc và chân tay ngày càng phong phú Nghề nghiệp đã được xác định (họ đã học cao đẳng sư phạm năm thứ hai)

Đó là những điều kiện thuận lợi để cho người sinh viên phát huy tính tích cực

học tập của mình ngày càng ít lệ thuộc vào người thầy giáo

Điều đó cũng đời hỏi nhà trường sư phạm cần tạo điều kiện cho người sinh viên phát huy tính chủ dộng, tích cực trong học tập, lao động, hoạt động xã hội Ngoài việc

học tập trên lớp, người sinh viên phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu để hoàn thiện nhân cách của chính bản thân mình

Việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức của người sinh viên không tách rời và mâu thuẫn với sự lãnh đạo, tổ chức và điều khiển của người giáo viên Trong quá trình

dạy học, người giáo viên cần phát huy vai trò chủ đạo của mình, nghĩa là phí!i định hướng, dẫn dắt, điều chỉnh, đánh giá hoạt động học tập của người sinh viên nhằm giúp cho học lập bộ mồn của mình giảng dạy đạt chất lượng và hiệu quả cao nhất

Dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên, người sinh viên cần phát huy được cao

độ tính tích cực, vai trò chủ thể nhận thức của mình trong học tập

Như vậy, trong hoạt động dạy học ở trường Cao đẳng sư phạm cần phải phát huy cao độ vai trò chủ thể nhận thức của người sinh viên trong sự thống nhất với vai trò

chứ đạo của người giáo viên

Việt Nam đang bước vào thời kỳ mở của, cùng thế giới bước vào thế kỷ 21, thời

kỳ văn minh trí mộ Để đáp ứng với một xã hội mới, nhà trường cần đào tạo được

những con người - Chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa,

mọi nền văn minh của quốc gia… Hướng bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người

Trang 10

Việt Nam là không ngừng gia tăng tính tự giác, năng động, tự chủ, phát huy sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân kết hợp với sức mạnh của cả cộng đồng, con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phu về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Để đáp ứng những đòi hỏi của xã hội, nhà trường cần phải đào tạo được những người có ý thức và năng lực tự chủ, phải có tính năng động, họ phải có năng lực tự

học, tự nghiên cứu, phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

Trường Cao đẳng sư phạm An Giang trong năm học 98-99 đang đẩy lên một phong trào : Cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm phát huy vai trò chủ thể nhận thức

của người sinh viên trong quá trình dạy học Một trong những phương hướng của phong trào này là phát huy vai trò tích cực tự giác của người sinh viên, tăng cường công tác tự học, tự nghiên cứu của họ trong quá trình đào tạo của nhà trường

Trên đây là những lý do khiến cho tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề :

Thực trạng và hệ thống biệt! pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tự

học môn Giáo dục học của sinh viên Cao đẳng sư phạm An Giang

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần nhở bé vào việc nâng cao chất lượng

và hiệu quả của công tác đào tạo của nhà trường nói chung, hoạt động học tập, đặc

biệt là hoạt động tự học môn Giáo dục học nói riêng cho người sinh viên của trường Cao đẳng sư phạm An Giang

2.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1 Khách th ể nghiên cứu

Là hoạt động dạy học của nường Cao đẳng sư phạm An Giang

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Là hoạt động tự học nói chung, hoạt động tự học môn giáo dục học nói riêng của người sinh viên Cao đẳng sư phạm An Giang

Trang 11

3.GI Ả THUYẾT KHOA HỌC

Hoạt động tự học của người sinh viên trong trường sư phạm có ảnh hưởng lớn đến chất lượng học tập của họ

Để trâng cao chất lượng học tập nói chung, chất lượng hoạt động tự học môn Giáo dục học nói riêng cho sinh viên cân có những biện pháp cải tiến của cả giáo viên

và sinh viên

4.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Đề tàì cần giải quyết một số nhiệm vụ sau :

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động học tập nói chung, tự học của sinh viênCao đẵng sư phạm nói riêng

4.2 Phản ánh thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Cao đẵng sư phạm An Giang

4.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tự

học môn Giáo dục học của sinh viên Cao đẵng sư phạm An Giang, cả ba nhiệm vụ được tiến hành trong phạm vi hoạt động tự học ở nhà của sinh viên

5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau dây :

5.1 Cá c phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm các phương pháp sau :

U

Quan sát sư phạm

Quan sát sư phạm là phương pháp thu thập thông tin về quá trình giáo dục, trên

cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm cho ta những tài liệu sống về thực tiễn giáo dục để có thể khái quát rút ra những qui luật nhằm chỉ đạo quá trình tổ chức giáo

dục thế hệ trẻ tốt hơn

Phương pháp này được sử dụng tìm hiểu, quan sát việc tự học của học sinh ở nhà, học tập trên lớp để thu nhập tài liệu cần thiết cho đề tài

Trang 12

Phương pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm giáo dục là đem lý luận phân tích thực tiễn giáo dục, từ phân tích thực tiễn giáo dục để rút ra lý luận giáo dục mới

Trong thời gian giảng dạy bộ môn giáo dục học của bản thân cá nhân và kinh nghiệm giảng dạy của đồng nghiệp, bản thân có thể dựa vào đó mà rút ra những kinh nghiệm trong công tác giảng dạy hầu đạt kết quả tốt hơn

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Trong quá trình hoạt động, người sinh viên tạo ra các sản phẩm nhất định Đó là thành quả độc đáo của từng cá nhân Qua sản phẩm mà có thể biết được phần nào về

phẩm chất, năng lực của người sinh viên

Các sản phẩm của người sinh viên được nghiên cứu là: bài làm, tập vở ghi chép, bài tập thực hành của sinh viên

U

Phương pháp điều tra

Đây là phương pháp thu thập tài liệu cần thiết với số lượng lớn bằng hệ thống các câu hỏi được ghi trên giấy và người được hỏi sẽ trả lời trên giấy

Phương pháp này được sử dụng để điều tra tình hình học tập của sinh viên và

hoạt động của giáo viên, qua đó rút ra những kết luận cần thiết cho đề tài

(Các phiếu điều tra được nêu trong phần phụ lục)

U

Phương pháp chuyên gia

Đây là phương pháp thu nhận thông tin khoa học bằng sử dụng đội ngũ chuyên gia có trình độ cao ở một lĩnh vực nhất định, ý kiến của từng người sẽ bổ sung cho nhau, kiểm tra lẩn nhau cho ta một ý kiến đa số, khách quan về một vấn đề khoa học

Trang 13

Tôi đã sử dụng phương pháp này (ở một chừng mực nào đó) để tham khảo ý kiến

của các đồng chí cán bộ giảng dạy lâu năm, có uy tín của nhà trường về các vấn đề phương pháp giảng dạy, về việc hướng dẫn sinh viên tự học

U

Phương pháp thức nghiệm khoa học

Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của đối tượng giáo dục do nhà khoa

học tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và được kiểm tra

Đối tượng thực nghiệm : Lớp 22 A1

Lớp đối chúng 22 B1

Thời gian tiến hành thực nghiệm : tháng 01-1998 -> 11-1998

Nội dung thực nghiệm: Cải tiến phương pháp giảng dạy của giáo viên nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của sinh viên trong quá trình tiếp thu trí thức khoa học

Trong các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, hai phương pháp được sử dụng

chủ yếu là: điều tra và thực nghiệm khoa học

5.2 các ph ương pháp nghiên cứu lý thuyết

Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết là tổng hợp các phương nhận thức khoa

học bằng con đường suy luận dựa trên các tài liệu lý thuyết đã thu nhập được từ các nguồn khác nhau

Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm các phương pháp sau đây :

Trang 14

Phân loại, hệ thống lý thuyết

Phân loại là thao tác sắp xếp tài liệu khoa học theo những vấn đề, theo những

mặt, những đơn vị kiến thức có cùng một dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển

Phân loại là bước quan trọng giúp ta hệ thống hóa kiến thức, sắp xếp kiến thức theo mô hình nghiên cứu, làm cho sự hiểu biết cởa ta chặt chẽ sâu sắc

U

Phương pháp giả thuyết

Giả thuyết là một giả định, một dợ đoán độc đáo về bản chất đối tượng nghiên

cứu Từ giả thuyết mà tìm ra chân lý Để có giả thuyết, nhà khoa học cần có :

- Chuyên môn vững vàng

- Kinh nghiệm hoạt động sáng tạo phong phú

- Năng lực dự báo

Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết là cơ sở để xây dựng phẫn cơ sở lý luận

của đề tài nghiên cứu Nó được sử dụng để chọn lọc ra những thông tin cần thiết, sắp

xếp chúng theo những yêu cầu nhất định, tìm hiểu kỹ những nội dung quan trọng, gạt

bở những thông tin không cần thiết, phê phán những sai lầm, sắp xếp chúng theo hệ

thống do yêu cầu của đề tài Nó là cơ sở để chuyển sang nghiên cứu thông tin từ thực

tiễn

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC

C ỦA SINH VIÊN

Tự học, một hoạt động có ý nghĩa to lớn, có tác dụng quyết định kết quả học tập

của người sinh viên trong nhà trường nên từ trước đến nay, hoạt động tự học của người học sinh nói chung, người sinh viên nói riêng đã đước nhiều nhà khoa học quan tâm, dành nhiều thời gian và công sức nghiên cứu Điển hình là một số công trình nghiên cứu sau đây :

1.1.1 Các tác gi ả nước ngoài bàn về vấn đề tự học :

- Tự học như thế nào của N.A.Rubakin

Trong tác phẩm của mình, Rubakin đã tổng kết những kinh nghiệm quí báu từ chính cuộc sống lao động và học tập của mình Ông đặc biệt nhấn mạnh tới việc giáo

dục cho học sinh động cơ học tập đúng đắn, đó là điều kiện để học sinh tích cực chủ động trong hoạt động tự học

- Tổ chức công việc tự học của người sinh viên đại học - Tác phẩm của hai tác

giả A.Goroxepxki và M.LubixƯna Hai tác giả đã nghiên cứu và bàn tới công việc tổ

chức hoạt động tự học cho sinh viên và đưa ra một số kiến nghị về phương pháp học

tập của người sinh viên

- Để nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả hoạt động tự học cho sinh viên, A.M.Machiuskin, A.V.Pêtrốpxki đã chỉ ra rằng việc thiết kế các bài tập nhận

thức, nhất là các bài tập nêu vấn đề để người sinh viên thực hiện trong quá trình tự

học Đây được coi là một biện pháp quan trọng

- B.P.Êxipốp với việc làm bài ở nhà của học sinh

Theo tác giả, công việc của học sinh ở nhà diễn ra trong từng thời gian nhất định, không có sự hướng dẫn trực tiếp của người giáo viên mặc dù những công việc đó là do giáo viên giao cho Một yêu cầu quan trọng đối với việc làm bài ở nhà của học sinh là tính tự lập của họ

Trang 16

Việc giáo dục cho học sinh có thái độ tích cực đối với việc làm bài ở nhà là một

bộ phận của việc giáo dục thái độ cộng sản chủ nghĩa đối với lao động Việc học tập ở nhà giúp cho học sinh trang bị kỹ năng tự lực trong học tập, thức đẩy việc tự lực học

tập của các em Công việc này đòi hỏi người giáo viên phải có sự hướng dẫn, kiểm tra đúng đắn, kịp thời

- Ngay từ trong những năm 30 của thế kỷ này, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật

là T.Makiguchi đã có tác phẩm "Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo" với quan niệm cho

rằng: giáo dục xét như là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc cho bản thân và cộng đồng

-"Phương pháp dạy học ở đại học" là tác phẩm của hai nhà giáo dục Ấn Độ là vS.D Shartna và Shaktỉ Ahmed Trong tác phẩm giáo dục của mình, hai ông trình bày

hoạt động tự học như là một hình thức dạy học có hiệu quả

- Những khía cạnh tâm lý của công việc đọc sách của L.p Dobrép và phương pháp đọc sách của A.P.Primacốpxki

Trong hai tác phẩm này, các tác giả đã trình bày những cơ sở khoa học và nhũng điêu kiện ảnh hưởng đến quá trình đọc sách, một hoạt động quan trọng của hoạt dộng

lự học của người sinh viên

- Cuốn sách Học tập hợp lý của giáo sư R.Reteke chủ biên đã nêu bật vấn đề cần

phải bồi duỡng cho người sinh viên năng lực tự học, tự nghiên cứu

- I.PH.KHARLAMốP với "Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào đã bàn đến vai trò của hoạt động tự học trong việc nâng cao tính tích cực của hoạt

dộng trí tuệ của người học sinh khi thông hiểu và tiếp thu tri thức mới

1.1.2 Các nhà giáo d ục học Việt Nam bàn về hoạt động tự học của người học sinh nói chung, người sinh viên nói riêng

Ở Việt Nam, hoạt động tự học của người học sinh nói chung, người sinh viên nói riêng cũng đã được nhiều nhà giáo dục học bàn tới theo các khía cạnh khác nhau

Trang 17

Trong những năm 60 của thế kỷ 20 này, tư tưởng về hoạt động tự học của người sinh viên đã được một số tác giả nghiên cứu, trình bày trong các công trình nghiên cứu

về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp giảng dạy bộ môn

- Tự học - một tư tưởng lớn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về hoạt động dạy học Chính cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương sáng về ý chí quyết tâm trong học tập và rèn luyện trong khó khăn gian khổ để đạt tới đỉnh cao của tài năng và đạo đức Bản thân Bác Hồ là tấm gương vĩ đại về tư học, tự giáo dục, tự rèn luyện :

Từ một thanh niên mới qua tiểu học, Bác kiên trì tự học bằng nhiều hình thức, nhiều phương pháp và đã đạt đỉnh cao trí tuệ nhân loại khi đang ở độ tuổi 30

Tư tưởng tự học của Người được tóm tắt thành một số điểm cơ bản sau :

- Trong họat động tự học điều quan trọng hàng đầu là phải xác định rõ mục đích

học tập và xây dựng được ý thức, động cơ, thái độ học tập đúng đắn

- Phải tự mình lao động để tạo ra những điều kiện cho việc tự học diễn ra trong

suốt cuộc đời

- Muốn tự học thành công, phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập hợp lý,

phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi khó khăn

- Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để tự

học

- Học đến đâu, ra sức luyện tập, thực hành đến đó

Vấn đề tự học là một tư tưởng lớn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về cách học tập

Những lời chỉ dẫn quí báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính cuộc đời tự học bền bỉ và thành công rực rỡ của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị

to lớn Đặc biệt, trong tình hình cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão và xã hội nước ta đang có những chuyển biến sau sắc thì vấn đề tự học đang trở thành một yêu cầu cấp bách và bắt buộc cho tất cả những ai đang đứng trong

guồng máy sản xuất của xã hội Để đáp ứng được yêu cầu này, một mặt ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, người học sinh phải được trau dồi cả về ý thức và năng

lực tự học, tự nghiên cứu ở mức độ nhất định Mặt khác, nhà trường và người giáo viên cần chú ý khuyến khích, kích thích nhu cầu tự học ở mỗi người học sinh, mở

Trang 18

rộng thêm những hình thức, tạo ra những phương tiện thuận lợi cho hoạt động tự học,

tạo điều kiện thu hút mọi người hứng thú tham gia, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên của mỗi người dân lao động

- Mấy suy nghĩ về kinh nghiệm tự học của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đăng trên

tạp chí Nghiên cứu giáo dục số tháng 01 - 1970

- Giáo sư Lê Khánh Bằng, khoa Tâm lý - Giáo dục với tổ chức công tác tự học cho sinh viên

- Tối ưu hóa việc tổ chức tự học của học sinh trường phổ thông trung học vừa

học vừa làm của Đỗ Ngọc Đạt - cán bộ giảng dạy khoa Tâm lý - Giáo đục, trường Đại

Học vSư Phạm Hà Nội

Trong tác phẩm của mình, tác giả đã đề cập đến cơ sở của bản chất công tác tự

học và những biện pháp tối ưu hóa việc tổ chức công tác tự học cho học sinh trường

phổ thông trung học vừa học vừa làm

- Các thầy giáo, cổ giáo của khoa Tâm ly- Giáo dục như thầy Đặng Vũ Hoạt, cô

Hà Thị Đức, thầy Nguyễn Ngọc Bảo đã có những công trình nghiên cứu về hoạt động

tự học của người sinh viên Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đề

cập đến những biện pháp sư phạm của người giáo viên nhằm nâng cao chất lượng tự

học Một vài biện pháp đó là :

Hướng dẫn phương pháp tự học cho người sinh viên

Hình thành ở học thói quen đọc sách báo, tài liệu tham khảo cố liên quan

Tự động hoàn thành kế hoạch học tập

Có kế hoạch kiểm tra kế hoạch tự học của người sinh viên

Về phía học sinh, sinh viên, để hoạt động tự học đạt kết quả về chất lượng lốt

cần đáp ứng những biện pháp sau đây :

Hình thành ý thức, động cơ tự học

Phát huy nổ lực chủ quan của chính người học

Về phía nhà trường:

Trang 19

Đảm bảo thời gian tự học cho sinh viên

Có điều kiện vật chất cho công tác tự học

Kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ hoạt động tự học của sinh viên

- Dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học của trường Đại Học Sư Phạm Hà

Nội, Viện Khoa Học Giáo Dục, Viện Nghiên Cứu Phát Triển Giáo dục đã có một số

học viên sau đại học cũng đã đề cập đến hoạt động tự học cho người học sinh, sinh viên trong các trường học Tiêu biểu là các tác phẩm sau :

Vũ Duy Yên với bước đầu tìm hiểu việc sử đụng thời gian tự học ở nhà của học sinh

Về vấn đề làm việc độc lập với sách của sinh viên của tác giả Trần Văn Hiếu

Những yêu cầu đối với việc thiết kế bài tập về nhà cho sinh viên của tác giả

Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đêu đề cập đến việc học

tập, đặc biệt là hoạt động tự học của sinh viên và đề ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung hoạt động tự học nói riêng

Sinh viên, nằm trong lứa tuổi thanh niên, tuổi từ 18 đến 23 đó là đại biểu của

một nhóm xã hội đang chuẩn bị tham gia lao động xây đựng chủ nghĩa xẵ hội

K.Đ.Usinxki đã từng viết rằng ưong đời người không có một thời kỳ nào có tầm quan trọng đối với suốt quãng đời về sau như thời kỳ thanh niên

Tuổi thanh niên, đây là thời gian hình thành xu hướng và tính cách con người

"Ngọn lửa nung đót tuổi trẻ chính là ngọn lửa rèn đúc nên tính cách của con người Cho nên không nên đập tắt ngọn lửa này mà cũng không nên sợ nó, không nên

Trang 20

coi nói như là một cái gì nguy hiểm cho xã hội mà cũng đừng cản trở nó tự do cháy bùng lên, mà chỉ nên quan tâm lo cho cái chất liệu được rót vào tâm hồn thanh niên

phải là một chất liệu cổ phẩm chất tốt" (K.D.Usinxki -Tuyển tập - Theo sách Tâm lý

học cá nhân, tập 2, Côvaliốp)

Thanh niên là lứa tuổi nở rộ của những sức lực thể chất và tinh thần của cá nhân Đây là thời kỳ trưởng thành về thể chất, đạo đức, trí tuệ, ý chí

Ở tuổi 18, người ta có thể làm được các công việc chân tay không hề bị hạn chế

Ở tuổi này con người đạt tới mức tối đa về sức mạnh bắp thịt

Cá nhân ở tuổi thanh niên có quyền công dân trên đất nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, họ có quyền bầu cử cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước - Quốc Hội và đến

năm 21 tuổi họ có quyền ứng cử vào Quốc Hội

Thanh niên đang đứng nước ngưỡng của của cuộc sống tự lập và có một số đã bước vào cuộc sống đó

Về mặt nhận thức

Hoạt động nhận thức của thanh niên đã phát triển đến đỉnh cao về chất

Khả năng tưởng tượng, ghi nhớ, tư duy, ngôn ngữ của thanh niên phát triển

mạnh mẽ, có chiều sâu Khối lượng trí thức của thanh niên tăng lên đáng kể Hứng thứ đọc sách báo của thanh niên rất phong phú, đặc hiệt hứng thú đọc sách báo văn học, khoa học, kỹ thuật

Về tình cảm

Tuổi thanh niên là thời kỳ yêu đương, tình yêu ghi dấu vết của nó lên đời sống

và hoạt động của cá nhân Hơn nữa tình yêu chiếm khá nhiều thời gian cho các buổi

gặp gỡ và những lúc mộng mơ Điều đó đòi hỏi thanh niên có thái độ mới đối với bề ngoài của mình, dẫn đến nhu cầu ăn mặc hợp thời trang, chải tóc đẹp, xử sự cho phù

hợp thị hiếu thời đại

Tình yêu một mặt nó có thể làm cho thanh niên xao lãng việc học tập và rèn luyện nhưng mặt khác, nó có thể thực hiện chức năng cao quí của con người -làm cho con người cao quí hơn, vị tha hơn, cao cả hơn, có nhiều ước mơ hơn

Trang 21

Thanh niên rất yêu đời và lạc quan Cảm giác về sự trẻ trung của mình, về sức

mạnh và thể chất tinh thần của mình, đà hay bổng của trí tưởng tượng định hướng về tương lai được vẽ ra bằng những màu sắc xán lạn, những điền kiện thuận lợi của sinh

hoạt, học tập, lao động dưới chế độ xã hội chủ nghĩa – Đó là cội nguồn tạo nên tâm

trạng đặc biệt của thanh niên

Tinh thần lạc quan đó được thể hiện rõ ở tâm trạng phấn chấn và yêu đời, tin

tưởng vào bản thân, vào khả năng của mình, ở niềm tin vững chắc ước mơ sẽ trở thành

hiện những hành động độc lập Sự hình thành về thế giới quan, cảm giác rõ rệt về sức

mạnh của mình, về những khả năng của mình - đó là cội nguồn biểu lộ tính độc lập

của thanh niên

Thanh niên đã xác định cho mình ý nghĩa của cuộc đời mình, vạch ra kế hoạch cho cuộc sống

Họ cũng có thái độ phê phán đối với những vấn đề lý luận, thực tiễn

Thanh niên luôn kiểm tra hoạt động của mình một cách chặt chẽ, họ không chịu được lý thuyết suông

Tính độc lập của thanh niên còn thể hiện ở chỗ họ đã biết kiềm chế bản thân mình

Kiên quyết và quả cảm là những nét tính cách tiêu biểu của thanh niên

Tính kiên quyết của thanh niên gắn liền với tính minh xác của những niềm tin

của họ, với sự phát triển của tính độc lập, với cảm giác về khả năng, những sức lực về

thể chất và tinh thần của mình

Trang 22

Niềm tin sâu sắc vào lý tưởng, tính xác định của con đường sống đã chọn, và từ

đó là tính bộc trực của cách phản ứng; kỹ năng biết tự mình xử lý các vấn đề do cuộc

sống đặt ra và giải quyết các vấn đề đó trên cơ sở suy tính các khả năng, năng lực hiến mình cho hứng thú say mê, tính thẳng thắn và trung thực -tất cả những điều đó góp

phần vào việc thể hiện tính kiên quyết và quả cảm của thanh niên

Thanh niên quí trọng con người ở tính kiên quyết, quả cảm Họ có thái độ khinh

miệt những con người có tính nhát gan và nhu nhược Tở ra nhu nhược, nhát gan trước

mặt mọi người, như thế có nghĩa là mất lòng kính trọng của bạn bè bị dư luận tập thể coi thường, mà dư luận tập thể là dư luận cao nhất của thanh niên

Tính cương trực của tuổi trẻ cũng bộc lộ ra trong chí hướng muốn cho lời nói và

việc làm hoàn toàn phù hợp với nhau

Tóm lại, thanh niên - sinh viên có các đặc điểm tâm lý cơ bản sau đây :

- Sự phát triển cao của hoạt động nhận thức, học tập

- Bước đầu trên con đường sáng tạo khoa học, kỹ thuật

- Khả năng tham gia công tác xã hội

Đây là giai đoạn sôi động nhất, nhân cách phát triển hoàn chỉnh, ham hoạt dộng, khát khao lí tưởng, đồng thời đây cũng là giai đoạn nở rộ cho những tài năng, hứng thú, sáng tạo

Điều này cho phép người sinh viên trong những năm tháng học tập trong nhà trường Cao đẳng sư phạm có thể phát huy cao nhất tính tích tực của mình trong các

hoạt động học tập nhằm đạt kết quả cao nhất để trở thành người giáo viên tương lai

Trang 23

1.3 T Ự HỌC - MỘT HÌNH THỨC HỌC TẬP KHÔNG THỂ THIẾU CỦA SINH VIÊN

1.3.1 B ản chất- ý nghĩa của công tác tự học của sinh viên

Qúa trình dạy học như chúng ta biết, là một hệ thống bao gồm nhiều nhân tố tạo thành với vị trí và chức năng khác nhau Trong đó, thầy giáo với hoạt động giảng dạy

và học sinh với hoạt động học tập là hai nhân tố trang tâm Dạy học là một quá trình

thống nhất biện chúng giữa hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò, Trong mối quan hệ biện chúng đó, thầy giáo giữ vai trò chủ đạo, là người tổ chức, hướng dẫn, lãnh đạo, điều khiển; học sinh giữ vai trò chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo để thực

hiện các nhiệm vụ dạy học đề ra Hai hoạt động này (giảng dạy của thầy giáo và học

tập của học sinh) hợp lại thành một thể thống nhất, tồn tại trong mối quan hệ biện chúng với nhau Nếu không có mối quan hệ này thì cũng có nghĩa là không có sự tác động qua lại giữa thầy và trò, dạy và học, và do đó cũng không có lí do tồn tại bản thân quá trình dạy học

Quá trình dạy học ở nhà trường Cao đẳng sư phạm cũng không nằm ngoài qui

luật trên Đó là quá trình bao gồm hai nhân tố trung tâm:

- Hoạt động giảng dạy của giáo viên

- Hoạt động học tập của sinh viên

Hoạt động học tập của sinh viên có tính đa dạng nhằm đảm bảo cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụ trung tâm của mình: đạt kết quả cao nhất trong học tập

Trong hoạt động học tập của người sinh viên, tự học, tự nghiên cứu là một bộ

phận không thể tách rời mà họ phải hoàn thành với ý thức và năng lực nhất định

Hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên có thể được coi là sự tiếp nối một cách logic công việc học tập ở trên lớp

Ở đây, người sinh viên phải hoàn thành một cách tự lực các bài tập, các nhiệm

vụ do người giáo viên đề ra sau các giờ lên lớp

Nội dung công tác tự học của người sinh viên thường bao gồm các công việc sau đây:

Trang 24

- Nắm vững tài liệu học tập trong sách giáo khoa, giáo trình mà trên lớp người giáo viên không có thời gian giảng, chỉ có những gợi ý nhất định

- Nắm vững tài liệu học tập trên lớp

- Hoàn thành các bài tập viết, các báo cáo

- Tiên hành quan sát sư phạm các hiện tượng giáo dục

- Thực hiện công tác thực hành, thí nghiệm

- Chuẩn bị cho bài học sắp tới, cho kỳ kiểm tra hay thi cử

Hoạt động tự học, tự nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn, thậm chí có tính quyết định

trực tiếp chất lượng học tập, chất lượng đào tạo và tu dưỡng của người sinh viên Theo giáo sư R.Retzke, trong những năm học tập ở trường Đại học, Cao đẳng có khoảng 50% số công việc phải làm cho việc học tập là nằm trong tự học, những năm sau còn nhiều hơn

Cũng theo ông, tự học có thể hiểu là việc hoàn thiện các nhiệm vụ khoa học khác không nằm trong các bước tổ chức giảng dạy của người giáo viên Nó là một bộ phận quan trọng của hoạt động học tập không phụ thuộc vào:

- Hình thức tổ chức

+ Cá nhân hay tập thể!

+ Trên lớp hay ở nhà

+ Trong hay ngoài nhà trường

+ Trong lao động sản xuất hay trong hoạt động xã hội

- Mục đích khác nhau của công việc

+ Học bài giảng trên lớp của thầy

+ Giải các bài tập

+ Đọc tài liệu tham khảo

+ Chuẩn bị cho công tác thảo luận

+ Tiến hành tham quan học tập

Trang 25

Trong bất cứ trường hợp nào, công việc tự học đều cũng nhằm mục đích:

- Tiếp thu tri thức

- Tích lũy, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cần thiết

- Nâng cao tay nghề trong các lĩnh vực nhất định

Trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão ngày nay, thông tin bùng nổ và tăng gấp bội thì không có con đường nào khác là phải học, học

nữa, học mãi và tự học, tự nghiên cứu để hoàn thiện vốn tri thức của mình

Tự học có ý nghĩa to lớn đối với quá trình tiếp thu tri thức của người sinh viên Nhưng để cho hoạt động tự học đạt kết quả tốt, nó đòi hỏi người sinh viên phải có một

sự nổ lực cao, sáng tạo Nói theo LêNin là nếu không tự lực lao động (kể cả lao động

học tập) ở một mức độ nhất định thì không thể tìm ra chân lý trong một vấn đề nghiêm túc nào đó

Nếu được sự giúp đỡ tận tình của người giáo viên, có tài liệu tham khảo đầy đủ nhưng lại thiếu một sự nổ lực, tích cực, sáng tạo cần thiết của người sinh viên thi kết

quả tự học sẽ không được như ý muốn, thậm chí rất kém

Chính giáo sư Retzke đã khẳng định:

" Làm việc tự lập, có ý chí, kiên trì, có tinh thần phấn đấu cao đối với bản thân, tinh thần kỷ luật tự giác sắt đá và chấp hành nghiêm túc các qui định học tập - đó là điều kiện tiên quyết, nhất quyết phải có để tiến bước một cách có hiệu quả đến đích

của học tập, và đồng thời đó cũng là những điều kiện tiên quyết để có thể thu được

những kết quả ương hoạt động nghề nghiệp sau này khi kết thức việc học tập ở Đại

Trang 26

Để nâng cao chất lượng của họat động dạy học, phải chú ý đến cả 2 mặt :

dạy và học

Việc cải tiến phương pháp dạy và học là một công việc rất phức tạp, có tác dụng quyết định đến chất lượng đào tạo, nhưng không thể giải quyết gọn trong một thời gian ngắn

Về phương pháp học tập của người sinh viên: từ trước tới nay người học nói chung, người sinh viên nói riêng luôn học tập trong thế thụ động, không được phép

chủ động thiết kế quy trình học tập của mình và cũng không cần phải chịu trách nhiệm trước nhất quyết định của chính mình

Mà phương pháp học tập của người sinh viên có tầm quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy - đào tạo của nhà trường Phương pháp học tập của người sinh viên phải mang tính tích cực, độc lập, tự giác, sáng tạo Người sinh viên, trong quá trình học tập của mình, phải được mở rộng quyền chủ động của mình, phải chịu trách nhiệm cao với kết quả của mình, có ảnh hưởng ngay tới tương lai của chính họ

Cải tiến phương pháp học tập, của người sinh viên không tách rời việc cải tiến phương pháp giảng dạy của người thầy giáo Đó là hai mặt của một vấn đề, cả hai cần được quan tâm và cải tiến.?

Thực tiễn đã chúng minh rằng, trong quá tình dạy học, người giáo viên có ý thức sâu, rộng, nắm vững kỷ thuật giảng dạy nhung nếu người sinh viên không tích cực, tự giác, chủ động học tập, việc học tập trên lớp không được hổ trợ bởi cổng tác tự học, tự nghiên cứu thì chết lượnghoc tập nói riêng, chất lượng dạy học nói chung khó có thể đạt kết quả như mong muốn

Như vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo nói chung, kết quả học tập nói riêng

của người sinh viên trong trường Đại học , Cao đẳng, phải chú ý đến hoạt động dạy

của thầy giáo và hoạt động học của sinh viên, trong đó phải phát huy được vai trò tích

cực, tự giác, độc lập, sáng tạo của người sinh viên, phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, kỷ năng, kĩ xảo cần thiết Phải

tổ chức tốt hoạt động tự học, tự nghiên cứu của người sinh viên

Trang 27

Bản chất quá trình dạy học trong trường Đại học, Cao đẳng là quá trình nhận

thức độc đáo của người sinh viên dưới sự lãnh đạo của người giáo viên nhằm thực

hiện các nhiệm vụ đã đề ra

Trong quá trình dạy học người sinh viên phải nắm được:

- Tri thức về tự nhiên; xã hội, tư duy, kĩ thuật

- Cách thức hoạt động

- Kinh nghiệm hoạt động sáng tạo

- Hệ thống thái độ đối với thế giới

Là một nhân tố cấu thành của hoạt động học tập, hoạt động tự học của người sinh viên cũng là quá trình tiếp thu, gia công, lưu giữ , chuyển hóa những tri thức tiếp thu trên lớp thành sản phẩm trí tuệ của bản thân Đó là quá trình chuyển hóa mục đích, nhiệm vụ của quá trình dạy học thành mục đích, nhiệm vụ học tập của bản thân người sinh viên Quá trình tự học của người sinh viên cũng vận động và phát triển theo qui

luật nhất định Sự vận động và phát triển của hoạt động học tập, trong đó có công tác

tự học của người sinh viên được thể hiện ở các điểm sau đây:

- Từ chỗ chưa ý thức được đầy đủ, chính xác, sâu sắc đến chỗ ý thức đầy đủ hơn, chính xác hơn mục đích, nhiệm vụ học tập

- Từ chưa biết đến biết và biết ngày càng sâu sắc, đầy đủ và hoàn thiện hơn

- Từ chổ nắm tri thức đến chỗ nắm kỉ năng Và tới nắm chúng một cách sâu sắc hơn, cao hơn

- Từ chỗ vận dụng những điều đã học vào các tình huống quen thuộc đến vận

dụng chúng vào các tình huống mới

- Trên cơ sở đó, ngày càng hoàn thiện hơn các năng lực các phẩm chất hoạt động trí tuệ cũng như hoàn thiện thế giới quan khoa học, các phẩm chất đạo đức

Như vậy, nhân cách của học sinh ngày càng được phát triển, hoạt động học tập

của họ ngày càng có tiền đề mới, cơ sở mới để tiến hành ở trình độ cao hơn

Trang 28

Cơ sở phương pháp luận của công tác tự học của người sinh viên đã được K.MAC khẳng định:

" Sự hình thành con người không chỉ là kết quả của những tác động bên ngoài

mà còn là một quá trình hiện thực và khách quan của sự tự thay đổi, tự chuyển hóa"

Tự học, đó là một qúa trình gia công một các tích cực các tác động bên ngoài phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân người sinh viên

Như vậy, tự học tất yếu đòi hỏi phải có sự nổ lực, tích cực hóa hoạt động nhận

thức, trong đó người sinh viên bằng những hoạt động của mình để tiếp thu những tri

thức, kỹ năng kỹ xảo Vậy là kết quả của công tác tự học phụ thuộc rất nhiều vào chính hoạt động tích cực, tự giác, sáng tạo của chính người sinh viên

Bác Hồ, trong những dịp nói chuyện với cán bộ, học sinh người người luôn luôn

nhấn mạnh đến : Phải chịu khó học tập, kiên trì học suốt đời

1.3.2 Hoạt động tự học của sinh viên — Đó là hoạt động nhận thức

nh ằm chiếm lĩnh hệ thống tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo

Hoạt động học tập của người sinh viên trong trường sư phạm là quá trình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, những phẩm chất đạo đức của con người mới XHCN Việt Nam

So với hoạt động học tập của học sinh phổ thông, hoạt động học tập của người sinh viên có những điểm khác nhau như sau :

- Người sinh viên đã trải qua một quá trình học tập và rèn luyện 12 năm học tập trong trường phổ thông đồng thời được sống trong xã hội ngày càng văn minh, thịnh vượng, đặc biệt là sống trong xã hội đang diễn ra sự đổi mới sâu sắc, toàn diện

- Sinh viên đã tiếp thu, tích lũy được những kinh nghiệm sống ngày càng phong phú, đa dạng

- Trên cơ sở có vốn kinh nghiệm sống, năng lực nhận thức phát triển cao độ nên trong quá trình học tập, sinh viên luôn mong muốn nội dung tri thức được học tập trong nhà trường cao đẳng phải rộng hơn Người sinh viên không thởa mãn với chương trình học tập của nhà trường, luôn luôn có xu hướng tìm tòi tri thức mới

Trang 29

- Hoạt động dạy học trong trường Đại học, Cao đẳng diễn ra với sự tác động qua

lại tích cực rất cao giữa vai trò tích cực, chủ động, tự giác của học sinh với sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên

- Chính sự khác nhau giữa hoạt động học tập của người sinh viên với người học sinh nó cho phép hoạt động dạy học trong trường Cao đẳng sư phạm tiến hành với phương pháp học tập tích cực hơn, phải biến quá trình đào tạo của nhà trường thành quá trình tự đào tạo của người sinh viên, phương pháp nghiên cứu của nhà khoa học, trong đó quá trình học tập

Điều này đòi hỏi nhà trường Cao đẳng sư phạm hiện nay phải tổ chức hoạt dộng

học tập cho người sinh viên, đặc biệt là tự học, tự nghiên cứu một cách tốt nhất cũng như tạo điều kiện cho hoạt động này đạt kết quả tốt

Việc tổ chức tự học cho người sinh viên thực chất là quá trình tổ chức nhận thức

nhằm lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng,kĩ xảo, phát triển năng lực trí tuệ và hành động một cách tích cực, độc lập

Hoạt động tự học của người sinh viên được bắt đầu bằng việc sau đây :

- Xây dựng kế hoạch học tập ở nhà

- Phân phối thời gian công tác tự học hợp lý

- Thực hiện kế hoạch đã đề ra

- Sử dụng cách thức, biện pháp tự học

- Tự kiểm tra, đánh giá việc tự học

Quá trình dạy học, như trên đã trình bày, tồn tại như một hệ thống phát triển biện chúng Nó chứa đựng rất nhiều qui luật phản ánh những mối quan hệ tất yếu, chủ yếu,

bền vững vốn có của nó Đó là các qui luật sau :

- Qui luật thống nhất biện chúng giữa dạy và học

- Qui luật thống nhất biện chúng giữa dạy học và phát triển trí tuệ của học sinh

- Qui luật thống nhất biện chúng giữa dạy học và giáo dục

Trang 30

- Quỉ luật thống nhất biện chúng giữa nội đung và phương pháp, phương tiện dạy

học

- Qui luật thống nhất giữa việc xây dựng kế hoạch, việc tổ chức, việc điều chỉnh,

việc kiểm ưa hoạt động của học sinh trong chu trình dạy học

Trong số các qui luật trên thì qui luật thống nhất biện chúng giữa dạy và học là qui luật cơ bản nhất của quá trình dạy học Nó phản ánh mối quan hệ tất yếu, chủ yếu,

bền vững giữa hai nhân tố trung tâm, đặc trưng cho tính chất hai mặt của quá trình dạy

học: Hoạt động giảng dạy của thầy giáo và hoạt động học tập của người học sinh K.Babanxki đã nhấn mạnh :

"Chỉ trong sự tác động qua lại tích cực giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học Sự phá vỡ mối quan hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi quá trình toàn vẹn đó."

Mặt khác qui luật này chi phối, bao tròm các qui luật khác, quá trình dạy học và ngược lại, các qui luật khác lại phục vụ cho việc thực hiện bản thân nó

Trong hệ thống "Thầy - Trò" thầy đóng vai trò chỉ đạo, với tư cách là chủ thể tác động sư-phạm đứng trước hai đối tượng điều khiển : Học sinh và hoạt động nhận thức

của nó Với vai trồ này thầy phải thiết kế yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung dạy học và các

hoạt động của bản thân cũng như của học sinh, từ đó tổ chức thực hiện và đánh giá kết

quả thực hiện kế hoạch Học sinh trong quá trình dạy học, tồn tại với tư cách là đối tượng điều khiển, đối tượng dạy : Tiếp thu những tác dộng của thầy một cách có ý

thức nhằm tiến hành hoạt động nhận thức được đúng hướng, đúng qui luật

Song trong quá trình dạy học, học sinh không chỉ là đối tượng chịu sự tác động

sư phạm, mà tồn tại như một chủ thể nhận thức, chủ thể hoạt động học tập Ở đây ta

thấy quá trình nhận thức của học sinh cũng là quá trình phản ánh độc đáo thế giới khách quan vào ý thức của chúng Thế giới khách quan là cái được phản ánh, tức là đối tượng nhận thức, còn học sinh coi là cái phản ánh, chủ thể nhận thức

Điều này được thể hiện rõ nét trong hệ thống "học sinh - tài liệu học tập" Trong

hệ thống này, học sinh tiến hành hoạt động nhận thức Với tư cách là chủ thể nhận

Trang 31

thức, học sinh sẽ chiếm lĩnh tài liệu học tập Biến vốn kinh nghiệm của loài người thành vốn kinh nghiệm của bản thân

Mặc dù học sinh là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình dạy, song chỉ khi nào

là chủ thể nhận thức thì các em mới tiếp thu một cách có ý thức, có hiệu quả sự tác động sư phạm của thầy, nghĩa là có cơ sở vững chắc để thực hiện tốt tư cách là đối tượng dạy

Như vậy, có thể nói rằng, trong quá trình dạy học, thầy với hoạt động dạy đóng vai trò tự tổ chức, tự điều khiển

Qua sự phân tích trên, chúng ta thấy hoạt động học tập của sinh viên nói chung,

hoạt động tự học nói riêng, đều cần có sự giúp đỡ của người giáo viên Ngược lại, việc

giảng dạy của người giáo viên không thể thay thế hoàn toàn cho hoạt động tự học của người sinh viên được Trong quá trình dạy học, hoạt động tự học cùa người sinh viên

có ý nghĩa to lớn đến các quả học tập của họ Nếu người sinh viên không nỗ lực ý chí, phát huy tính tích cực trong học tập, tự lực, tự giác trong hoạt động học tập thì tri thức khoa học do thầy truyền thụ cho vẫn là tri thức "chết"

Đúng như ý kiến của một nhà khoa học sau :

Trong các bài giảng của giáo sư cho dù có đầy đủ, súc tích đến đâu chăng nữa thì

thực chất mà nói chẳng qua cũng vẫn chỉ là những chương trình, những lời chỉ dẫn

tuần tự nhận thức của sinh viên Người nào chỉ biết ngồi nghe giáo sư và bản thân mình không cảm thấy khát khao đọc sách thì có thể nót tất cả những điều người ấy nghe giảng ở trường đại học cũng sẽ chỉ như một tòa nhà xây trên cát mà thôi

Để học tập đạt kết quả, người giáo viên phải tổ chức được hoạt động học tập của

học sinh, đặc biệt là hoạt động tự học, tự nghiên cứu của họ Điều này đòi hỏi người giáo viên:

- Quản lý được hoạt động tự học của người sinh viên

- Ra bài về nhà cho họ phù hợp qui thời gian rãnh rỗi của họ

- Giúp sinh viên xây dựng được kế hoạch, chương trình học tập ở nhà

- Cải tiến phương pháp giảng dạy

Trang 32

Qua điều tra kết quả học tập của người sinh viên cho thấy: Những sinh viên học

yếu không phải chỉ do các em thiếu cần cù trong học tập, thiếu tài liệu, sách báo cho

việc học tập mà còn do một nguyên nhân quan trọng là sinh viên chưa biết cách học

tập, chưa có phương pháp tự học tích cực

Tự học, tuy không có sự tham gia trực tiếp của người giáo viên nhưng vẫn là sự

tiếp nối một cách lôgic công việc học tập trên lớp, ở đây người sinh viên phải hoàn thành công việc do người giáo viên đứa ra ở trên lớp, ôn tập củng cố tri thức, giải bài

tập, đọc sách báo

Để hoạt động tự học đạt kết quả tốt nhất, cần phải đảm bảo được một số việc như sau:

- Nghiêm túc thực hiện các yêu cầu của người giáo viên đã giao cho ở trên lớp

- Nếu có điều kiện, tranh thủ sự giúp đỡ, chỉ bảo của thầy giáo nhưng không được ỉ lại thầy, lệ thuộc hoàn toàn vào thầy

- Tổ chức hoạt động tự học một cách có hệ thống, có kế hoạch, có phương pháp

với sự tích cực, tự giác, sáng tạo của bản thân, tranh thủ sự giúp đỡ của tập thể

- Có sự kiểm tra, đánh giá của thầy giáo và tự kiểm tra, đánh giá của chính người sinh viên một cách thường xuyên, khách quan

Hoạt động chiếm lĩnh tri thức khoa học của người sinh viên bao gồm các hoạt động sau đây:

- Nghe giảng trên lớp, ghi chép bài

- Tham khảo tài liệu, giáo trình, sách báo

- Thảo luận tổ, nhóm

- Xây dựng kế hoạch học tập

1.3.2.1 Nghe gi ảng trên lớp và ghi chép bài

Nghe giảng - ghi chép bài - Đó là hoạt động quan trọng nhất của người sinh viên

bởi vì qua bài giảng của thầy trên lớp mà người sinh viên lĩnh hội được hệ thống tri

thức khoa học có hệ thống, có kế hoạch

Trang 33

Nghe giảng và ghi chép bài - đó là hai hoạt động cùng diễn ra đồng thời Công

việc này đã diễn ra trong suốt thời gian học phổ thông, nhưng lên học Cao đẳng công

việc này đã diễn ra căng thẳng hơn, đòi hỏi sự nổ lực cao hơn

Nghe giảng và ghi chép bài giúp người sinh viên lĩnh hội tri thức mà người giáo viên truyền thụ trên lớp

Hoạt động này đòi hỏi người sinh viên phải tích cực hơn, căng thẳng trí tuệ hơn,

phải tập trung chú ý cao độ hơn

Nghe giảng và ghi chép bài: hai hoạt động diễn ra đồng thời cùng lúc Nó đòi hỏi người sinh viên phải biết tập trung và phân phối chú ý cho phù hợp

Biết cách ghi chép bài trên lớp là một yêu cầu mà người sinh viên cần phải rèn luyện cho chính bản thân mình

Theo cá nhân, biết cách ghi chép là:

- Ghi theo cách hiểu của bản thân khi nghe thây giảng trên lớp, ghi chép kết hợp

với tư duy Trái ngược với nó là hình thức đọc chép, ghi từng câu từng chữ của người

Trái với cách ghi chép nêu trên là cách ghi chép:

- Chờ thầy đọc rồi chép vào tập

- Ghi tràn lan

- Không hiểu bài cũng ghi chép

- Ghi sai kiến thức mà không có sự bổ sung cần thiết

Đó là cách ghi thụ động không có sự tích cực, không có sự tham gia của tư duy

Trang 34

Như vậy trong quá trình giảng dạy, người giáo viên cần phải quan tâm, hướng

dẫn cho sinh viên, nhất là sinh viên năm thứ nhất biết cách ghi chép bài, tránh giảng bài theo kiểu đọc chép

1.3.2.2 L ập kế hoạch và phân phát thời gian tự học

Để học tập đạt kết quả tốt, người sinh viên phải biết xây dựng kế hoạch và phân

phối thời gian hợp lý

Người sinh viên cần xây dựng cho mình có được một kế hoạch học tập hợp lý

Kế hoạch đó có thể là cho một tuần, cho một tháng, cho một học kỳ và dài hơn là kế

hoạch cho cả năm học

Để xây dựng kế hoạch học tập cần phải căn cứ vào các điểm sau đây:

- Dựa vào kế hoạch của nhà trường, của khoa, của lớp

- Dựa vào kế hoạch của năm học, học kỳ, tháng

- Phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ học tập

- Phù hợp đặc điểm riêng từng cá nhân

Việc phân phối thời gian cho việc học tập hay nghĩ ngơi của sinh viên một cách

hợp lý có ý nghĩa lớn đến kết quả học tập của họ

Trong quá trình học tập, nếu không có một kế hoạch học tập hợp lý và thời gian

biểu phù hợp, sẽ dẫn tới tình trạng:

- Học tập tùy hứng

- Học tập được chăng hay chớ

- Đầu năm thong thả , cuối năm vội vàng

1.3 2.3 Đọc sách và tài liệu

Sách và tài liệu học tập là nơi trình bày hệ thống tri thức khoa học đã được khái quát hóa mà loài người đã tích lũy được qua bao đời nay, nhất là phản ánh những thành tựu mới nhất của khoa học, kỹ thuật, văn hóa Nó là nguồn cung cấp tri thức phong phú, sinh động hấp dẫn

Trang 35

Đối với người sinh viên, họ càng phải làm việc với sách báo, tài liệu ở mức độ cao hơn so với các lứa tuổi trước đó

Việc coi trọng hướng đẫn cho người sinh viên biết sử dụng, đọc sách báo, tài liệu

học tập, trước hết là giáo trình môn học không thể thay thế cho vai trò của lời giảng Ngược lại chống xu hướng đề quá cao vai trò của lời giảng và hạ thấp vai trò tự học

của người sinh viên theo giáo trình, cả hai xu hướng trên đều dẫn tới hậu quả là, không tận dụng được sự hổ trợ lẫn nhau giữa hai nguồn tri thức, làm hạn chế kết quả

học tập của sinh viên

Trong nhà trường, người sinh viên phải biết sử dụng nhiều nguồn sách và tài liệu khác như:

Có hai cách đọc sách mà người sinh viên có thể theo:

- Đọc một mạch: Cách thức này được thực hiện khi đọc sách báo, tài liệu tham

khảo nhằm "để biết"

- Đọc nghiên cứu: Cách thức này được thực hiện khi người sinh viên phải nghiên

cứu sâu sắc nội dung tài liệu nhất định

Dù cho cách đọc nào đi chăng nữa thì người giáo viên cũng nên hướng dẫn người sinh viên, yêu cầu họ đọc một phần hay toàn bộ tài liệu Trong khi đọc tài liệu, người sinh viên cần biết cách ghi chép nhất định Có mấy cách ghi sau đây:

- Ghi nhật ký: Hình thức ghi chép nhăm giúp cho người sinh viên tích lũy được

những hiểu biết khái quát về các tài liệu đã đọc, cũng như ghi lại những cảm nghĩ,

nhận xét đối với các tài liệu đã đọc

Trang 36

Trích ghi: Đây là hình thức giúp cho người sinh viên ghi lại những câu, những đoạn văn đáp ứng yêu cầu học tập về nội dung hay hình thức diễn đạt

+ Đoạn văn quan trọng

+ Câu văn tuyệt diệu

Dàn ý viết đề cương giống nhau ở chổ, nội dung của chúng được trình bày ở

dạng khai quất theo một hệ thống nhất định Chúng khác nhau ở chổ

+ Dàn ý chỉ là phản ảnh những tiêu đề của các phần và có thể có cả những ý cơ

bản nhất, chủ yếu nhất của từng phần

+Đề cương thường phản ảnh những tiêu đề, ý cơ bản, chứ yếu của các phần, nó được trình bày chi tiết hơn, phản ảnh những luận điểm cơ bản, có thể kèm theo những câu, những đoạn trích dẫn

- Ghi tóm lắt: Là hình thức, dựa trên dàn ý đã xây dựng được, ghi lại những ý cơ

bản nhất, chủ yếu nhất phản ảnh được nội dung cơ bản của tài liệu dưới dạng ngắn

gọn nhất

Để đọc sách và tài liệu học tập đạt kết quả, người sinh viên cần quan tâm đến

một số công việc sau đây:

Trang 37

- Trước khi lên lớp nghe giảng, cần đọc kỹ bài mà thầy sắp giảng để sơ bộ nắm được dàn ý nội dung của bài mới, sơ bộ đề xuất thắc mắc, chuẩn bị tư thế để nghe

giảng, chủ động và hứng thú tiếp thu bài giảng của thầy,

- Cần tích cực tư duy trong quá trình đọc sách, mục đích để:

+ Hoàn thành tốt việc ghi chép

+ Liên kết tri thức đã học, tri thức đọc được trong sách, trí thức thu được trong

giờ lên lớp theo hệ thông chặt chẽ

+ Liên hệ với thực tiến

+ Ghi nhớ bền vững

- Phải xem xét kỷ lưỡng lời chú thích, bảng chỉ dẫn, sơ đồ, hình vẽ, bài tập, câu

hỏi trong sách để tự kiểm tra việc nắm tri thức của bản thân

- Làm quen với việc sử dụng từ điển, thư mục thư viện

Đọc sách và tài liệu là quá trình hoạt động nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức khoa học, bổ sung trí thức cho việc học tập trên lớp được phong phú, hoàn chỉnh Để giúp sinh viên đọc sách và tài liệu đạt kết quả tốt, người giáo viên cần lưu ý một số

việc sau đây:

- Giới thiệu cho sinh viên những tài liệu liên quan đến việc giảng dạy bộ môn mà mình phụ trách

- Giao nhiệm vụ cho sinh viên đọc tài liệu nếu cần thiết

- Chỉ ra cho người sinh viên biết cách đọc, biết cách ghi chép cần thiết

- Nếu cần thiết, có thể kiểm tra kết quả đọc sách, tài liệu của sinh viên

1.3.2.4 Thảo luận tổ nhóm

Thảo luận là một hình thức dạy học mới chỉ có ở bậc Đại học, Cao đẳng Thảo

luận đòi hỏi người sinh viên phải chuẩn bị ý kiến của mình về những vấn đề nhất định

có liên quan tới nội dung học tập của một hay nhiều vấn đề, rồi tiến hành báo cáo, tranh luận, thảo luận,

(Thảo luận được dòng với cách hiểu như Xêminar)

Trang 38

Thảo luận giúp cho người sinh viên:

- Mở rộng, đào sâu những vấn đề học tập trên cơ sở nhìn nhận chúng một cách

có suy nghĩ, phân tích chúng có lí lẽ, có dẫn chúng minh họa,

- Phát triển ở người sinh viên tư duy khoa học, ngôn ngữ và hứng thú học tập

- Rèn luyện được phương pháp đọc sách và tài liệu học tập

- Bồi dưỡng năng lực phân tích, phê phán trong quá trình thảo luận Để tiến hành

thảo luận đạt kết quả tốt, người sinh viên cần phải chú ý mấy điểm sau:

- Nghiên cứu sách báo, tài liệu có liên quan đến đề tài mà sinh viên chuẩn bị thảo

luận

- Tiến hành quan sát, tham quan đối tượng, tiến hành thí nghiệm, trò chuyện với các đối tượng có thể cung cấp những thông tin có ích

- Tập hợp, sắp xếp các vấn đề theo trình tự logíc nhất định, có lập luận chặt chẻ,

có ví dụ dẫn chúng minh họa, nêu lên những vấn đề thảo luận theo quan điểm của riêng mình

- Đặt câu hỏi thắc mắc trước tập thể để làm sáng tỏ vấn đề mà mình quan tâm,

trả lời trước tập thể những câu hỏi trước tập thể vấn đề mình nghiên cứu ghi lại những

vấn đề cần bổ sung

Có thể nói, thảo luận là hình thức học tập có tác dụng to lớn trong việc phát huy tính tích cực của người sinh viên

Trang 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TƯ HỌC MÔN GIÁO D ỤC HỌC CỦA SINH VIÊN CAO ĐANG SƯ PHẠM AN

Đây là trường sư phạm có qui mô đào tạo lớn trong khu vực Đồng bằng sông

- Khoa Bồi dưỡng

Ngoài các khoa cơ bản trên đây, trường còn có một số hình thức đào tạo sau đây:

- Đào tạo chuyên tu

Trang 40

Năm học 97-98, trường tuyển sinh với số lượng 1382 sinh viên-học viên theo

học 5 khoa cơ bản

Năm học 98-99, trường tuyển sinh: 1011 sinh viên-học viên

Tổng số sinh viên-học viên của trường là: 5489 người

Riêng 4 khoa ( Tự nhiên, Xã hội, Ngoại ngữ, Tiểu học) có tổng số sinh viên là:

2800 người, tổng số lớp: 78 lớp

Những năm trước đây ( từ 1997 trở về trước) số lượng giáo viên có bằng thạc sĩ

rất ít Còn lại là tốt nghiệp Đại học

Trong năm 97-98 này, trường có 15 giáo viên đi học cao học tại thành phố Hồ Chí Minh

Danh sách này không tính số học sinh của khoa mầm non (đào tạo học sinh bậc

Ngày đăng: 17/01/2020, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w