Luận án được nghiên cứu với mục tiêu nhằm xác định, lựa chọn mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công kiểm soát quá trình bằng thống kê trong các doanh nghiệp của Việt Nam. Đồng thời xác định được tính chất, và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến áp dụng thành công phương pháp SPC trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài
Toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội, nhưng đồng thời cũng đặt ra những
thách thức rất to lớn đối với các quốc gia và doanh nghiệp Để tồn tại, đứng
vững và phát triển trong môi trường kinh tế quốc tế cạnh tranh gay gắt thì việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế
nói chung là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Khả năng cạnh
tranh thực sự của một quốc gia, doanh nghiệp phụ thuộc trước hết vào năng suất
và chất lượng sản phẩm do các doanh nghiệp tạo ra Với một nguồn lực đầu vào
như nhau tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao với giá trị gia tăng nhiều hơn là
con đường cơ bản đảm bảo cho doanh nghiệp, quốc gia phát triển bền vững
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, nhiều mô hình, các công cụ và
phương pháp quản trị đã được các doanh nghiệp đưa vào áp dụng như: Hệ thống
quản lý chất lượng ISO; Quản lý chất lượng toàn diện (TQM); Sản xuất tinh gọn
(Lean); 5S; SQC; SPC… đã được đưa vào áp dụng, và đã mang lại hiệu quả rất
thiết thực cho các doanh nghiệp
SPC (Statistical Process Control) là phương pháp quản lý cho chương
trình kiểm soát chất lượng tại các doanh nghiệp, lợi ích của SPC là: Giảm lãng
phí, chi phí trong sản xuất; Cải tiến quy trình; Cải thiện thông tin trong điều
hành, quản lý; Giảm mức độ biến đổi của sản xuất; Tăng chất lượng sản phẩm/
dịch vụ, từ đó giảm các khiếu nại của khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh
Qua tổng quan các tài liệu cho thấy, hầu hết các nghiên cứu về SPC chủ yếu tập
trung vào các khía cạnh: Xây dựng quy trình (các bước) để thực hiện SPC sao
cho hiệu quả; Nghiên cứu các yếu tố để thực hiện thành công SPC trong các
doanh nghiệp; Kết quả thực hiện thành công của SPC trong các doanh nghiệp
Hưởng ứng phong trào năng suất chất lượng, theo Quyết định số
712/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia "Nâng cao năng suất và chất lượng sản
phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020" Nhiều doanh
nghiệp Việt nam nghiên cứu triển khai áp dụng các hệ thống quản lý, các công
cụ cải tiến chất lượng Trong đó, việc nghiên cứu triển khai áp dụng SPC được
các doanh nghiệp biết đến và nghiên cứu triển khai áp dụng trong thời gian qua
Song đáng tiếc là hiệu quả từ việc triển khai áp dụng SPC đem lại còn rất hạn
chế Chất lượng sản phẩm hàng hóa do các doanh nghiệp Việt nam sản xuất còn
khá thấp trong khi giá thành sản xuất lại cao hơn các nước trong khu vực và và trên thế giớí
Có thể thấy, thông qua nghiên cứu tài liệu đã chỉ ra các nghiên cứu về chủ
đề này là ở những quốc gia có trình độ sản xuất phát triển hơn Việt Nam, đặc biệt áp dụng nhiều trong ngành sản xuất công nghiệp Tại Việt Nam số lượng các nghiên cứu về chủ đề này là chưa nhiều Đây chính là gợi ý về khoảng trống
để tác giả có hướng tiến hành nghiên cứu Vậy các câu hỏi đặt ra là:
Câu hỏi 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công SPC trong các
doanh nghiệp?
Câu hỏi 2: Chiều hướng, mức độ tác động của các yếu tố đến áp dụng
thành công SPC?
Câu hỏi 3: Những giải pháp nào để thực hiện thành công SPC trong các
doanh nghiệp?
Xuất phát từ những câu hỏi nghiên cứu và những vấn đề lý luận ở trên tác
giả quyết định lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công kiểm soát quá trình bằng thống kê (SPC- Statistical Process Control) trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam”
Mục tiêu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Xây dựng mô hình một số yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công SPC trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam; Sử dụng mô hình này xác định tính chất tác động và đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến áp dụng thành công SPC; Đề xuất các khuyến nghị cho các doanh nghiệp của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn là các doanh nghiệp cơ khí chế tạo,
quy mô vừa và nhỏ trong các khu và cụm công nghiệp tại Hà Nội
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công
SPC trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu với 02 đối tượng là các
giảng viên tại các trường đại học, và các cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp có ứng dụng SPC
Nghiên cứu định lượng: Giai đoạn 1, đánh giá về độ tin cậy và loại bỏ
những biến quan sát không phù hợp, thông qua nghiên cứu sơ bộ 84 doanh nghiệp Giai đoạn 2, nghiên cứu chính thức, để kiểm định mô hình và các giả
Trang 23 thuyết nghiên cứu Tiếp theo thực hiện phân tích ANOVA để kiểm định định sự
khác nhau giữa các nhóm doanh nghiệp về áp dụng thành công SPC
Kết quả đạt được của nghiên cứu
Về mặt lý luận: Khẳng định các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành
công SPC trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam Đồng thời xác định
được mức độ tác động của từng yếu tố đến thực hiện thành công SPC
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các doanh nghiệp thấy được
mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố thực hiện SPC trong các doanh nghiệp, từ đó
tăng nhận thức về tầm quan trọng của SPC trong quản lý hoạt động sản xuất
Kết cấu của luận án
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Mô hình và Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và kiến nghị
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm về SPC
Phương pháp SPC (Statistical Process Control) là việc sử dụng một tập
hợp các kỹ thuật/ công cụ thống kê để kiểm soát quá trình sản xuất, phân tích và
theo dõi nguyên nhân biến đổi các đặc tính chất lượng hay các thông số để từ đó
kiểm soát và cải tiến quy trình Cho đến nay có nhiều các khái niệm khác nhau
về SPC được đưa ra Cụ thể:
Theo Juran (1988) thì SPC là áp dụng các kỹ thuật thống kê để đo lường
và phân tích sự biến đổi trong quá trình
Theo Oakland (2003), SPC là một hệ thống những thủ tục thống kê
được thiết kế thực hiện trong các doanh nghiệp sản xuất để ngăn chặn lỗi và
khuyết tật
Theo Ben và Antony, SPC là một kỹ thuật thống kê sử dụng để kiểm soát
quá trình và giảm thiểu biến đổi (Ben & Antony, 2000)
Theo tác giả Caulcutt (1996), SPC là một tập hợp kỹ thuật thống kê có thể
được sử dụng để dễ dàng kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất
4 Theo Sower, SPC là một hệ thống những thủ tục thống kê được thiết kế thực hiện trong các doanh nghiệp sản xuất để ngăn chặn lỗi và khuyết tật (Sower, 1990)
Theo Dale và Shaw, SPC được sử dụng để kiểm soát và quản lý một quá trình (sản xuất hoặc dịch vụ) thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê (Dale & Shaw, 1989)
Nói tóm lại: SPC là một tập hợp các kỹ thuật thống kê được sử dụng để kiểm soát quá trình sản xuất (Ben & Antony, 2000; Caulcutt, 1996; Young & Winistorfer, 1999), loại bỏ lỗi, khuyết tật (Sower, 1990; Oakland J S., 2003), và
sử dụng để phân loại, giảm thiểu sự biến động trong quá trình và quản lý một cách có hệ thống (Ben & Antony, 2000; Rosenkrantz, 2002; Juran, 1988) Để hiểu rõ hơn về SPC ta cần làm rõ các thuật ngữ, qúa trình, kiểm soát, biến đổi và thống kê
1.2 Lợi ích của SPC
Giảm lãng phí, chi phí; Cải tiến quy trình, và đầu ra; Có thể dự đoán trước kết quả đạt được; Giảm mức độ biến đổi; Tăng chất lượng sản phẩm/ dịch vụ, làm giảm các khiếu nại của khách hàng; Tăng thị phần và cải thiện hiệu quả kinh doanh; Tăng nhận thức, sự tham gia của mọi người về SPC trong kiểm soát chất lượng; Giảm việc ngừng lại để thử nghiệm, kiểm tra, đánh giá; Giảm thời gian vận chuyển; Giảm thời gian dành cho xử lý các vấn đề chất lượng
1.3 Các yếu tố thành công
Các yếu tố để áp dụng thành công SPC được hiểu là một nhóm các yếu tố đảm bảo cho việc áp dụng thành công phương pháp SPC trong doanh nghiệp Theo đó, chỉ khi doanh nghiệp đảm bảo được đầy đủ và đồng thời các yếu tố này, nếu không việc áp dụng sẽ không đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
1.4 Thành công của SPC trong doanh nghiệp
Trong luận án nghiên cứu của tác giả, kết quả của việc thực hiện SPC thành công cho biết rằng SPC được giới thiệu vào các tổ chức là do các doanh nghiệp muốn nâng cao chất lượng quy trình sản xuất để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Cụ thể trên khía cạnh chất lượng chia ra thành hai loại: Chất lượng cứng; Và chất lượng mềm (Cheng & Dawson, 1998; Deleryd, Deltin, & Klefsjö, 1999) Chi tiết các yếu tố này sẽ được tác giả trình bày trong mục 1.5.3
Trang 31.5 Các hướng nghiên cứu về SPC
1.5.1 Xây dựng quy trình để thực hiện SPC
Từ tổng quan tài liệu cho thấy quy trình của Lim & cộng sự (2015) là
tương đối đầy đủ, quy trình này tương đối hoàn chỉnh phù hợp với điều kiện
thực tế và xu hướng phát triển của khoa học công nghệ hiện nay
Nghiên cứu của Does & cộng sự (1997): Kết quả nghiên cứu chỉ ra 07 yếu
tố để triển khai SPC thành công gồm: (i) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (ii) Làm
việc nhóm; (iii) Các biểu đồ kiểm soát; (iv) Xác định quá trình ưu tiên; (v) Xác
định các đặt tính quan trọng của chất lượng; (vi) Phân tích hệ thống đo lường;
(vii) Nghiên cứu thử nghiệm
Nghiên cứu của Xie & Goh (1999): Nhóm tác giả xác định được 06 yếu tố
đó là: (i) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (ii) Làm việc nhóm; (iii) Đào tạo và
giáo dục về SPC; (iv) Xác định quá trình ưu tiên; (v) Xác định các đặt tính quan
trọng của chất lượng; (vi) Trao đổi và chia sẻ kiến thức
Nghiên cứu của Antony (2000): Antony đã chỉ ra 10 yếu tố quan trọng
gồm: (i) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (ii) Đào tạo và giáo dục về SPC; (iii)
Làm việc nhóm; (iv) Xác định quá trình ưu tiên; (v) Xác định các đặc tính quan
trọng của chất lượng; (vi) Phân tích hệ thống đo lường; (vii) Các biểu đồ kiểm
soát; (viii) Trao đổi và chia sẻ kiến thức; (ix) Nghiên cứu thử nghiệm và (x) Sử
dụng phần mềm SPC
Nghiên cứu của Robinson & cộng sự (2000): Nghiên cứu chỉ ra 07 yếu tố
đó là: (i) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (ii) Làm việc nhóm; (iii) Các biểu đồ
kiểm soát(iv) Đào tạo và giáo dục về SPC; (v) Xác định quá trình ưu tiên; (vi)
Xác định đặc tính quan trọng của chất lượng và (vii) Nghiên cứu thử nghiệm
Nghiên cứu của Antony & Taner (2003): Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra 08
yếu tố gồm: (i) Cam kết và tham gia của lãnh đạo cấp cao; (ii) Đào tạo và giáo
dục về SPC; (iii) Nghiên cứu thử nghiệm; (iv) Làm việc nhóm; (v) Phân tích hệ
thống đo lường; (vi) Xác định các đặc tính quan trọng của chất lượng; (vii) Các
biểu đồ kiểm soát; (viii) Giải thích các biểu đồ kiểm soát
Nghiên cứu của Gordon & cộng sự (1994): Kết quả cho thấy 03 yếu tố là:
(i) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (ii) Đào tạo và giáo dục về SPC; (iii) Làm việc
nhóm
Nghiên cứu của Harris & Yit (1994): Kết quả nghiên có 04 yếu tố làm nên thành công gồm có: (i) Đào tạo và giáo dục về SPC; (ii) Làm việc nhóm; (iii) Cam kết lãnh đạo cấp cao; (iv) Các biểu đồ kiểm soát (Harris & Yit, 1994) Nghiên của Rungtusanatham và cộng sự (1997): Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố sau: (i) Đào tạo và giáo dục về SPC; (ii) Sử dụng biểu đồ kiểm soát; (iii)
Hỗ trợ kỹ thuật; (iv) Bước kiểm tra cuối cùng; (v) Có các đội cải tiến chất lượng
; (vi) Cách lấy mẫu; (vii) Hiểu biết về quá trình
Nghiên cứu của Deleryd và cộng sự (1999): Nghiên cứu chỉ ra 06 yếu tố gồm có: (i) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (ii) Giới thiệu về SPC; (iii) Đào tạo
và giáo dục về SPC; (iv) Hỗ trợ liên tục; (v) Truyền thông; (vi) Kết cấu phù hợp Nghiên cứu của Rungasamy & cộng sự (2002): Nghiên cứu gồm 10 yếu tố: (i) Các biểu đồ kiểm soát; (ii) Trao đổi và chia sẻ kiến thức; (iii) Lưu giữ và cập nhật dữ liệu về quá trình; (iv) Xác định các đặt tính quan trọng của chất lượng; (v) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (vi) Phân tích hệ thống đo lường; (vii) Xác định quá trình ưu tiên; (viii) Sử dụng phần mềm SPC; (ix) Đào tạo và giáo dục về SPC; (x) Làm việc nhóm
Nghiên cứu của Grigg (2004): Nghiên cứu của Grigg chỉ ra 05 yếu tố là: (i) Cam kết của lãnh đạo; (ii) Sự hiện diện của người quản lý; (iii) Đào tạo về chất lượng; (iv) Sử dụng quy trình chất lượng; (v) Hệ thống chất lượng hiện tại Nghiên cứu của Phyanthamilkumaran và Fernando (2008): Nghiên cứu xem xét 07 yếu tố chính làm nên thành công của các dự án SPC trong các công
ty này, đồng thời với biến điều tiết là thay đổi văn hoá cũng được nghiên cứu Nghiên cứu của Rohani & cộng sự (2009): Kết quả nghiên cứu chỉ ra 06 yếu tố để triển khai SPC thành công gồm: (i) Vai trò của bộ phận chất lượng; (ii) Làm việc nhóm; (iii) Đào tạo và giáo dục SPC; (iv) Triển khai SPC; (v) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; và (vi) Tập trung vào quá trình, có tác động tích cực với các kết quả mà doanh nghiệp đạt được sau khi thực hiện SPC
Nghiên cứu của Evans & Mahanti (2012): Nghiên cứu lựa chọn được 12 yếu tố phù hợp gồm: (i) Cam kết và tham gia của người quả lý; (ii) Các biểu đồ kiểm soát; (iii) Phân tích hệ thống đo lường; (iv) Xác định quá trình ưu tiên; (v) Đào tạo về SPC; (vi) Trao đổi và chia sẻ kiến thức; (vii) Sử dụng phần mềm SPC; (viii) Làm việc nhóm; (ix) Người hướng dẫn SPC
Cụ thể các yếu tố đó được tổng hợp trong bảng dưới đây
Trang 47
Run gas am
y, A
nto
Xie &
G oh,
19
99
Ant ony &
T
ane
Doe
s, S chi ppe
rs,
Ant ony , A lej
and
ro,
&
Tan er, 20
00
Run gtu san
ath
am
,
And ers on, &
D
ool
ey,
199
9
Eva
ns
& M aha
nti
,
201
2
Har ris &
Y
it,
199
4
Gor don , P
hilp
ot,
Bou nds , &
L
ong
,
199
., Y
uso
200
9
Rob ins on, A
udi
ber
t,
& Z end
a, 2
000
Tổn
g
8
1.5.3 Áp dụng thành công SPC trong các doanh nghiệp
Kết quả của việc áp dụng thành công SPC mang lại nhiều giá trị và lợi ích cho doanh nghiệp Việc xác định được các tiêu chí thể hiện rằng doanh nghiệp
đã áp dụng thành công SPC, sẽ giúp có được một đánh giá chính xác việc áp dụng phương pháp này trong các doanh nghiệp Tất cả những kết quả thể hiện thành công theo Wilkinson (1992) được nhóm và chia theo hai khía cạnh: Thứ nhất, khía cạnh chất lượng cứng bao gồm một loạt các yếu tố liên quan đến quản
lý kỹ thuật sản xuất, kiểm soát quá trình triển khai các chức năng chất lượng, phản ánh định hướng công tác quản lý sản xuất trong doanh nghiệp; Thứ hai, khía cạnh chất lượng mềm chú ý, quan tâm hơn đến việc thiết lập nhận thức của người sản xuất, làm tăng hài lòng khách hàng và cải thiện khả năng cũng như kinh nghiệm quản lý
Thành công trên khía cạnh chất lượng cứng:
Từ tổng quan lý thuyết cho thấy, những nghiên cứu đã chỉ ra các tác động tích cực sau khi SPC được thực hiện trong các doanh nghiệp, chủ yếu liên quan đến các kết quả hữu hình, phản ánh định hướng công tác quản lý sản xuất như:
tỷ lệ phế liệu thừa, tỷ lệ làm lại sản phẩm hỏng, năng suất được cải thiện, khả năng thay đổi quy trình giảm và cải thiện chi phí, thời gian luân chuyển giữa các
bộ phận sản xuất đã được cải thiện tốt hơn (Cheng & Dawson, 1998; Deleryd, Deltin, & Klefsjö, 1999) Bên cạnh những tác động tích cực ở trên, SPC cũng được nhiều nghiên cứu chỉ ra còn ảnh hưởng tích cực đến năng lực quy trình sản xuất (Cp, Cpk ) của các doanh nghiệp
Thành công trên khía cạnh chất lượng mềm:
Chất lượng, khía cạnh mềm chủ yếu liên quan đến thiết lập nhận thức của người sản xuất, lợi ích cho khách hàng, và những kết quả vô hình đạt được như:
Sự hài lòng của khách hàng được cải thiện, người lao động trong doanh nghiệp
có thêm kinh nghiệm đảm bảo chất lượng, khả năng cạnh tranh của công ty cải thiện, từ đó tạo dựng một hình ảnh tốt với các khách hàng (Cheng & Dawson, 1998; Deleryd, Deltin, & Klefsjö, 1999)
Khi thực hiện SPC cho chương trình cải tiến chất lượng, để đạt được hiệu quả cao đòi hỏi phải có một bộ phận phụ trách riêng, đồng thời quyền hạn và tính chủ động trong việc ra quyết định của các nhân viên kỹ thuật cũng tăng lên, hoạt
Trang 5động thảo luận nhóm thường xuyên hơn để làm rõ mối quan hệ giữa các bước
trong quy trình sản xuất
Tóm lại: Mặc dù các cách tiếp cận được thực hiện trên nhiều góc độ khác
nhau, nhưng thành công của việc áp dụng SPC được thể hiện rất rõ ràng trên hai
khía cạnh sau: Thứ nhất, khía cạnh chất lượng cứng bao gồm một loạt các yếu tố
liên quan đến quản lý kỹ thuật sản xuất, kiểm soát quá trình triển khai các chức
năng chất lượng, phản ánh định hướng công tác quản lý sản xuất trong doanh
nghiệp; Thứ hai, khía cạnh chất lượng mềm chú ý, quan tâm hơn đến việc thiết
lập nhận thức của người sản xuất, làm tăng hài lòng khách hàng và cải thiện khả
năng cũng như kinh nghiệm quản lý
CHƯƠNG 2
MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu
2.1.1 Mô hình nghiên cứu lý thuyết
Mô hình nghiên cứu được hình thành dựa trên tổng quan nghiên, mục tiêu
và câu hỏi nghiên cứu của tác giả Từ những nghiên cứu trước cho thấy, tại
những thời điểm, quốc gia, ngành nghề khác nhau có những kết luận không hoàn
toàn đồng nhất Vì vậy cần có thêm nghiên cứu để đóng góp thêm cho những kết
luận trong lĩnh vực này
Kế thừa từ những kết quả nghiên cứu trước tác giả đề xuất mô hình
nghiên cứu của mình bao gồm 07yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công
SPC gồm: (i) Cam kết của lãnh đạo; (ii) Làm việc nhóm; (iii) Đào tạo và giáo
dục; (iv) Vai trò của bộ phận chất lượng; (v) Tập trung vào quá trình; (vi) Thực
hiện SPC; và (vii) Lưu trữ dữ liệu
Hình 2-1: Mô hình nghiên cứu lý thuyết
2.1.2 Các giả thuyết nghiên cứu
Căn cứ vào mô hình nghiên cứu tác giả đưa ra giả thuyết
Bảng 2-1: Các giả thuyết nghiên cứu Giả
Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công SPC (Chất chất cứng)
H1.1 Cam kết của lãnh đạo cấp cao ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cứng
H1.2 Làm việc nhóm ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cứng
H1.3 Đào tạo và giáo dục về SPC ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cứng
H1.4 Vai trò của bộ phận chất lượng ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cứng
H1.5 Tập trung vào quá trình ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cứng
H1.6 Thực hiện SPC ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cứng
H1.7 Lưu trữ dữ liệu ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cứng
Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công SPC (Chất lượng mềm)
H2.1 Cam kết của lãnh đạo cấp cao ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm
H2.2 Làm việc nhóm ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm
H2.3 Đào tạo và giáo dục về SPC ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm
H2.4 Vai trò của bộ phận chất lượng ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm
H2.5 Tập trung vào quá trình ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm
H2.6 Thực hiện SPC ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm
H2.7 Lưu trữ dữ liệu ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm
Trang 62.1.3 Mô tả các biến nghiên cứu
Các biến độc lập
Cam kết của lãnh đạo cấp cao (TMC): Đây là yếu tố cần thiết đầu tiên và
quan trọng nhất để thực hiện SPC thành công trong các doanh nghiệp Lãnh đạo
cấp cao cam kết hỗ trợ ngân sách và nguồn lực thích đáng cho các hoạt động này
(Antony, 2000; Antony, Alejandro, & Taner, 2000) Bên cạnh đó cần khuyến
khích tất cả mọi người cùng tham gia thì sẽ mang lại thành công cho chương
trình SPC của mình
Làm việc nhóm (TW): Làm việc nhóm là việc tương tác giữa các thành
viên, nhằm thúc đẩy hiệu quả công việc, từ đó tận dụng được kiến thức, ý chí
của tất cả mọi người Thông qua thúc đẩy giao tiếp giữa các nhóm từ những bộ
phận khác nhau trong doanh nghiệp thì giải quyết vấn đề sẽ dễ dàng hơn (Does,
Schippers, & Trip, 1997)
Đào tạo và giáo dục về SPC (TR): Đào tạo là việc giảng dạy các kỹ năng
hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể nào đó, để người học nắm vững
những tri thức, kĩ năng một cách có hệ thống Trong doanh nghiệp đào tạo SPC
được bắt đầu cho người quản lý cấp cao trước, sau đó lần lượt xuống các mức
thấp hơn (Antony, Alejandro, & Taner, 2000)
Tập trung vào quá trình (PF): Hầu hết tất cả các sản phẩm được sản xuất
đều thông qua một loạt các quá trình khác nhau và chúng đều góp phần hướng
tới chất lượng của sản phẩm cuối cùng Để xác định được quá trình ưu tiên thực
hiện thì cần phải có sự hỗ trợ của người quản lý kết hợp với sử dụng sơ đồ quy
trình và sơ đồ nhân-quả để có thể nhìn thấy rõ hơn các mối quan hệ này
(Antony, 2000)
Vai trò của bộ phận chất lượng (QD): Bộ phận chất lượng đóng một vai
trò quan trọng để hỗ trợ thực hiện SPC trong doanh nghiệp, bao gồm: kỹ thuật,
phương pháp thực hiện, giám sát và công tác tổ chức (Does, Schippers, & Trip,
1997; Evans & Mahanti, 2012) Bên cạnh đó bộ phận chất lượng cũng phải thể
hiện thêm vai trò của mình là cung cấp thông tin để từ đó làm thay đổi nhận thức
cho tất cả nhân viên trong thực hành SPC (Antony, 2000)
12 Triển khai thực hiện SPC (DP): Khi mới bắt đầu, áp dụng SPC ngay trong toàn bộ quy trình cùng một lúc không phải là một ý tưởng hay, sẽ tốt hơn nếu nếu được triển khai dần dần rồi đánh giá sơ bộ Sau khi SPC thực hiện thành công ở một khâu nào đó thì sẽ dễ dàng để mở rộng sang tất cả những bộ phận khác trong doanh nghiệp
Lưu trữ dữ liệu (DUP): Thu thập dữ liệu và cập nhật các kiến thức về quy trình phải được thực hiện thường xuyên và liên tục để đảm bảo rằng nội dung thông tin của bất kỳ quy trình nào đều được cập nhật khi có sự thay đổi Dữ liệu thu thập được đòi hỏi phải phù hợp, đáng tin cậy, đầy đủ, chính xác và kịp thời
Các biến phụ thuộc
Trong mô hình nghiên cứu của tác giả, kết quả của việc thực hiện SPC thành công được thể hiện trên khía cạnh chất lượng Theo Wilkinson (1992) chất lượng được chia theo hai khía cạnh: Thứ nhất, khía cạnh chất lượng cứng bao gồm một loạt các yếu tố liên quan đến quản lý kỹ thuật sản xuất, kiểm soát quá trình triển khai các chức năng chất lượng, phản ánh định hướng công tác quản lý sản xuất trong doanh nghiệp Thứ hai, khía cạnh chất lượng mềm chú
ý, quan tâm hơn đến việc thiết lập nhận thức của người sản xuất, làm tăng hài lòng khách hàng và cải thiện khả năng cũng như kinh nghiệm quản lý (Wilkinson, 1992)
2.2 Thiết kế nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu định tính
Mục tiêu là kiểm tra và sàng lọc các biến độc lập trong mô hình lý đồng thời xác định sơ bộ mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc Đối tượng phỏng vấn là 09 người, 05 người làm công tác quản lý sản xuất, kỹ thuật, chất lượng trong các doanh nghiệp, 04 Giảng viên đại học giảng dạy trong lĩnh vực này Các cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng từ 45’ đến 60’ Cuối cùng tổng hợp kết quả phỏng vấn của tất cả các chuyên gia theo từng nội dung, vấn đề nghiên cứu
2.2.2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Nghiên cứu định lượng sơ bộ với 84 doanh nghiệp để đánh giá độ tin cậy của các thang đo và loại bỏ những biến quan sát không phù hợp Phương pháp
Trang 7thực hiện bộ bằng cách kiểm tra từng biến quan sát thông qua hệ số tương quan
biến tổng (Item-Total correlation), đồng thời phương sai trích lớn hơn 50% với
các hệ số tải về nhân tố (Factor Loading) cần > 0,5
Thiết kế bảng hỏi, ngoài phần giới thiệu và phần nội dung thông tin chung, nội
dung chính của bảng hỏi bao gồm các câu hỏi chung về ảnh hưởng của các yếu
tố áp dụng thành công SPC
2.2.3 Nghiên cứu định lượng chính thức
Nghiên cứu định lượng chính thức với 272 đối tượng là các doanh nghiệp
thông qua phương pháp khảo sát Để đánh giá độ tin cậy của thang đo; Kiểm
định giá trị của thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố EFA; Phân tích
hồi quy bội để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các biến độc lập tới biến phụ thuộc; Kiểm định lại nhân tố khám phá
CFA
2.2.4 Tổng thể nghiên cứu
Tổng thể nghiên cứu của luận án là những doanh nghiệp sản xuất tại Việt
Nam, nơi trực tiếp áp dụng phương pháp SPC Đề tài giới hạn không gian
nghiên cứu là các doanh nghiệp cơ khí chế tạo, quy mô vừa và nhỏ trong các
khu và cụm công nghiệp tại Hà Nội
2.2.5 Chọn mẫu nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn phương
pháp chọn mẫu phi xác suất là chọn mẫu tiện lợi Khảo sát các doanh nghiệp
trong các khu và các cụm công nghiệp của Hà Nội, do điều kiện về không gian,
thời gian và kinh phí
2.2.6 Các nguồn dữ liệu
Thu thập dữ liệu thứ cấp: Chủ yếu là sách của một số tác giả nổi tiếng, các
bài báo khoa học Từ đó giúp có những thông tin cần thiết để phục vụ cho
nghiên cứu
Thu thập dữ liệu sơ cấp Thứ nhất là điều tra phỏng vấn trực tiếp đối với
đối tượng phỏng vấn Thứ hai thực hiện bằng hình thức gửi thư điện tử để trả lời
tại địa chỉ: https://goo.gl/forms/5upQMDOZgD5B4VTo2
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kết quả nghiên cứu định tính
Nhận định về các biến độc: Nhóm các chuyên gia cũng đề nghị một số điều chỉnh đối với từ ngữ và nội dung, các biến độc lập đảm bảo độ tin cậy
Nhận định về biến phụ thuộc: Biến phụ thuộc có 02 yếu tố: Chất lượng (khía cạnh cứng); Chất lượng (khía cạnh cứng) Nhóm chuyên gia cũng đề nghị một số điều chỉnh từ ngữ, nội dung để đảm bảo độ tin cậy
3.2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ Kết quả đánh giá thang đo trong nghiên cứu định lượng sơ bộ
Cam kết của lãnh đạo cấp cao (TMC): Thang đo Cam kết của lãnh đạo cấp cao vẫn đảm bảo độ tin cậy do đó tiếp tục sử dụng mà không cần điều chỉnh Thang đo Làm việc nhóm (TW): Kết quả cho thấy các biến quan sát TW1, TW2, TW4, TW5 đều đạt yêu cầu còn biến quan TW3 bị loại khỏi mô hình nghiên cứu
Thang đo Đào tạo và giáo dục về SPC (TR): Kết quả đánh giá, phân tích cho thấy các biến quan sát trong thang đo này đều được chấp nhận
Thang đo Vai trò của bộ phận chất lượng (QD): Các biến quan sát QD1, QD2, QD3, QD4, QD6, QD7 đạt yêu cầu Riêng biến QD5 = 0,126 < 0,3 Kết quả đó gợi ý cho việc loại biến quan sát QD5
Thang đo tập trung vào quá trình (PF): Tiến hành đánh giá phân tích cho thấy các biến quan sát trong thang đo này đều đạt yêu cầu và được chấp nhận Thang đo Thực hiện SPC (DP): Tiến hành đánh giá thang đo DP, các biến quan sát trong thang đo này đều được chấp nhận
Thang đo Lưu trữ dữ liệu (DUP): Đánh giá thang đo DUP có hệ số Cronbach Alpha = 0.803, các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên đạt yêu cầu
Thang đo Chất lượng cứng (QPHA): Tiến hành đánh giá thang đo QPHA, các biến quan sát QPHA1, QPHA2, QPHA3, QPHA4 đều đạt yêu cầu Thang đo Chất lượng mềm (QPSA): Kết quả cho thấy các biến quan sát QPSA1, QPSA2, QPSA3, QPSA4, tất cả đều đạt yêu cầu
Trang 83.3 Nghiên cứu định lượng chính thức
3.3.1 Kiểm định giá trị thang đo
Tác giả kiểm tra dữ liệu bằng kiểm định KMO và kiểm định Barlett Kết
quả KMO = 0,793 (> 0,5) thỏa mãn điều kiện (Kaiser, 1974) Tương tự kết quả
kiểm định Barlett cho thấy p = 0,000 < 5% chứng tỏ các biến có quan hệ với
nhau, có đủ điều kiện để phân tích nhân tố bằng kiểm định EFA Bên cạnh đó
kết quả cho thấy từ 10 nhóm nhân tố ban đầu theo thiết kế với 38 biến quan sát,
sau khi phân tích EFA gộp lại thành 9 nhóm nhân tố mới Tổng phương sai giải
thích được khi nhóm nhân tố được rút ra là 61,959% (>50%)
Kết quả EFA biến Cam kết của lãnh đạo cấp cao, có xuất hiện thêm biến
quan sát mới TR3 cùng tải về một yếu tố Tất cả các hệ số tải đều đạt tiêu chuẩn
đề ra
Kết quả EFA biến Làm việc nhóm cho thấy tất cả các tiêu chí đo lường
được tải về một nhân tố Tất cả các hệ số tải đều đạt tiêu chuẩn đề ra
Kết quả EFA biến Đào tạo và giáo dục về SPC Biến quan sát TR3 không
được tải về cùng nhóm yếu tố này, các biến còn lại cùng tải về một yếu tố, và
đạt tiêu chuẩn đề ra
Kết quả EFA Tập trung vào quá trình có xuất hiện thêm biến quan sát DP4
cùng tải về một yếu tố Tất cả các tiêu chí đo lường, hệ số tải đều đạt yêu cầu
Kết quả EFA Vai trò của bộ phận chất lượng cho thấy tất cả các tiêu chí
đo lường được tải về một nhân tố, và đều đạt tiêu chuẩn đề ra
Kết quả EFA biến Thực hiện SPC Biến quan sát DP4 không được tải về
cùng nhóm yếu tố này, các biến còn lại cùng tải về một yếu tố, và đạt tiêu chuẩn
đề ra
Kết quả EFA cho Lưu trữ dữ liệu cho thấy tất cả các tiêu chí đo lường
được tải về một nhân tố với hệ số tải đạt yêu cầu
Kết quả EFA với hai biến Chất lượng (khía cạnh cứng) và Chất lượng
(khía cạnh mềm) tất cả các tiêu chí đo lường trong hai nhóm này được tải về một
nhân tố, tất cả các hệ số tải đều đạt tiêu chuẩn đề ra Dựa theo nội dung của các
thành phần trong nhóm mới này tác giả đặt lại tên cho nhóm mới là Chất lượng
16 Kết quả EFA với biến Kết quả kinh doanh cho thấy tất cả các tiêu chí đo lường được tải về một nhân tố với hệ số tải đạt tiêu chuẩn
3.3.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo
Thang đo Cam kết của lãnh đạo cấp cao: Kết quả Cronbach Alpha = 0,845 các biến quan sát đều nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha của biến tổng Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 Như vậy đây là thang đo tốt
Thang đo Làm việc nhóm: Kết quả Cronbach Alpha = 0,751, các biến quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha biến tổng Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 Như vậy đây là thang đo tôt, đảm bảo độ tin cậy
Thang đo Đào tạo và giáo dục về SPC: Kết quả Cronbach Alpha = 0,849 Các biến quan sát = đều thỏa mãn điều kiện về giá trị hệ số Cronbach’s Alpha và
hệ số tương quan với biến tổng Do đó các biến quan sát là thang đo tốt để đo lường
Thang đo Vai trò của bộ phận chất lượng: Kết quả Cronbach Alpha = 0,834 Các biến quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn Cronbach’s Alpha của biến tổng Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 Như vậy, thang
đo có thể coi là đảm bảo tốt về độ tin cậy
Thang đo Tập trung vào quá trình: Kết quả Cronbach Alpha =0,736 Các biến quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn Cronbach’s Alpha của biến tổng Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 Như vậy, thang đo là đảm bảo tốt về độ tin cậy
Thang đo Thực hiện SPC: Kết quả Cronbach Alpha = 0,783 Các biến quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha của biến tổng Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 Như vậy, thang đo là đảm bảo tốt về độ tin cậy
Thang đo Lưu trữ dữ liệu: Kết quả Cronbach Alpha = 0,689 Các biến quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn Cronbach’s Alpha của biến tổng Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 Như vậy, thang đo có thể coi là đảm bảo tốt về độ tin cậy
Trang 9Thang đo Chất lượng cứng: Kết quả Cronbach Alpha = 0,857 Các biến
quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha của biến
tổng Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 Như vậy, thang có thể coi
là đảm bảo tốt về độ tin cậy
Thang đo chất lượng mềm: Kết quả Cronbach Alpha = 0,867 Các biến
quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn Cronbach’s Alpha của biến tổng
Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 Như vậy, thang đo có thể coi là
đảm bảo tốt về độ tin cậy
Như vậy, với 9 biến quan sát, với các thang đo trong mô hình nghiên cứu
đều đảm bảo tốt về độ tin cậy, có tương quan chặt chẽ với nhau để đo lường giữa
các yếu tố
3.3.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Kiểm định giả thuyết và phân tích hồi quy
Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình thứ nhất
Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến cho thấy tính đa cộng tuyến của các
biến kiểm soát không đáng kể và các biến trong mô hình được chấp nhận Mối
quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được thể hiện trong phương
trình hồi quy tuyến tính sau:
QPHA = 0,434+ 0,185TMC+ 0,131TW+ 0,138TR+ 0,136QD+ 0,177DP+
0,210DUP+ ε
Trong đó: QPHA: Chất lượng; TMC: Cam kết của lãnh đạo cấp cao; TW:
Làm việc nhóm; TR: Đào tạo và giáo dục về SPC; QD: Vai trò của bộ phận chất
lượng; DP: Thực hiện SPC; DUP: Cập nhật dữ liệu; ε: Là sai số ngẫu nhiên
Mức ảnh hưởng của từng yếu tố được sắp xếp lần lượt theo thứ tự sau:
Cam kết của lãnh đạo: 0,202; Lưu trữ dữ liệu: 0,185; Thực hiện SPC: 0,158;
Đào tạo và giáo dục: 0,144; Vai trò của bộ phận chất lượng: 0,141; Làm việc
nhóm: 0,126
Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình thứ hai
Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến cho thấy tính đa cộng tuyến của các
biến kiểm soát không đáng kể và các biến trong mô hình được chấp nhận Mối
quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được thể hiện trong phương
trình hồi quy tuyến tính sau:
QPSA = 0,134+ 0,155TMC+ 0,162TW+ 0,126TR+ 0,107QD+ 0,187DP+
0,160DUP+ ε
Trong đó: QPSA: Chất lượng mềm; TMC: Cam kết của lãnh đạo cấp cao;
TW: Làm việc nhóm; TR: Đào tạo và giáo dục về SPC; QD: Vai trò của bộ phận chất lượng; DP: Thực hiện SPC; DUP: Cập nhật dữ liệu; ε: Là sai số ngẫu nhiên Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố được sắp xếp lần lượt theo thứ tự sau: Cam kết của lãnh đạo: 0,165; Thực hiện SPC: 0,163; Làm việc nhóm: 0,152; Lưu trữ dữ liệu: 0,144; Đào tạo và giáo dục: 0,128; Vai trò của bộ phận chất lượng: 0,109
Kết quả kiểm định giả thuyết Kiểm định giả thuyết theo mô hình thứ nhất
Trên cơ sở kết quả phân tích các chỉ số hồi quy bội ở phần trước cho thấy các hệ số Beta hầu hết đều có ý nghĩa thống kê Kết quả cuối cùng được thể hiện trong bảng
Bảng 3-1: Tóm tắt kết quả kiểm định các giả thuyết theo mô hình thứ nhất
Giả
Giá trị
H1.1 Cam kết của lãnh đạo cấp cao ảnh hưởng tích cực đến
H1.2 Làm việc nhóm ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
H1.3 Đào tạo và giáo dục về SPC ảnh hưởng tích cực đến
H1.4 Bộ phận chất lượng ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
H1.5 Tập trung vào quá trình ảnh hưởng tích cực đến chất
H1.6 Thực hiện SPC ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
H1.7 Lưu trữ dữ liệu ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
Trang 10Kiểm định giả thuyết theo mô hình thứ hai
Bảng 3-2: Tóm tắt kết quả kiểm định các giả thuyết theo mô hình thứ hai
Giả
Giá trị
H2.1 Cam kết của lãnh đạo cấp cao ảnh hưởng tích cực đến chất
nhận H2.2 Làm việc nhóm ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm P<0,05 Chấp
nhận
H2.3 Đào tạo và giáo dục về SPC ảnh hưởng tích cực đến chất
nhận
H2.4 Bộ phận chất lượng ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
nhận
H2.5 Tập trung vào quá trình ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
H2.6 Thực hiện SPC ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm P<0,05 Chấp
nhận
H2.7 Lưu trữ dữ liệu ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm P<0,05 Chấp
nhận
3.3.4 So sánh ảnh hưởng của các nhóm trong mỗi biến kiểm soát
Ảnh hưởng của mỗi nhóm trong mỗi biến kiểm soát mô hình thứ nhất
Quy mô, có ba nhóm bao gồm: Nhóm 1 - Lớn; nhóm 2 - Vừa; và nhóm 3 -
Nhỏ Kết quả cho giá trị Sig = 0,002 < 0,05, như vậy không thỏa mãn giả định
của kiểm định One way Anova do đó không thể sử dụng kết quả phân tích
Anova
Tuổi đời doanh nghiệp có bốn bốn nhóm gồm: Nhóm 1 < 5 năm; Nhóm 2
Từ 6 đến 10 năm; Nhóm 3 Từ 11 đến 15 năm; Nhóm 4 Từ 15 năm trở lên Kết
quả cho giá trị Sig = 0,555 > 0,05 Vậy có thể khẳng định có sự đồng nhất về
phương sai giữa các nhóm tuổi đời, kết quả có thể sử dụng được Tuy nhiên với
phân tích anova giá trị Sig 0,308 > 0,05 thì chưa đủ cơ sở để khẳng định có sự
khác biệt giữa chất lượng cứng với tuổi đời của doanh nghiệp
Hình thức sở hữu có ba nhóm gồm: Nhóm 1 Nhà nước; Nhóm 2 Cổ phần
nhà nước; Nhóm 3 Tư nhân Kết quả cho giá trị Sig = 0,042 < 0,05 Như vậy
20 không thỏa mãn giả định của kiểm định One way Anova do đó không thể sử dụng kết quả phân tích Anova
Ảnh hưởng của mỗi nhóm trong mỗi biến kiểm soát mô hình thứ hai
Quy mô có ba nhóm bao gồm: Nhóm 1 - Lớn; nhóm 2 - Vừa; và nhóm 3 - Nhỏ Kết quả cho giá trị Sig = 0,000 < 0,05, như vậy không thỏa mãn giả định của kiểm định One way Anova do đó không thể sử dụng kết quả phân tích Anova
Tuổi đời doanh nghiệp có bốn nhóm gồm: Kết quả phân tích Anova giữa loại hình tuổi đời và chất lượng mềm, với giá trị Sig 0,957 > 0,05 Vậy có thể khẳng định có sự đồng nhất về phương sai giữa các nhóm tuổi đời, kết quả có thể sử dụng được Tuy nhiên với phân tích anova giá trị Sig 0,541 > 0,05 thì chưa đủ cơ sở để khẳng định có sự khác biệt giữa chất lượng mềm với tuổi đời của doanh nghiệp
Hình thức sở hữu có ba nhóm gồm: Nhóm 1 Nhà nước; Nhóm 2 Cổ phần nhà nước; Nhóm 3 Tư nhân, với giá trị Sig 0,059 > 0,05, vậy có thể khẳng định
có sự đồng nhất về phương sai giữa các nhóm hình thức sở hữu, kết quả có thể
sử dụng được Kết quả phân tích Anova giữa loại hình sở hữu và chất lượng mềm, với giá trị Sig 0,000 < 0,05 ta có thể kết luận có sự khác biệt về chất lượng mềm giữa các nhóm sở hữu khác nhau Theo đó nhóm các doanh nghiệp
tư nhân thành công hơn nhóm các doanh nghiệp cổ phần nhà nước và nhà nước
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu
Thứ nhất, Tác giả tổng hợp các khái niệm về SPC, và các khái niệm liên quan Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành tổng quan lý thuyết, phân tích các nghiên cứu về SPC trên các khía cạnh khác nhau, là: (i) Xây dựng quy trình thực hiện SPC; (ii) Các yếu tố thực hiện thành công SPC trong doanh nghiệp; (iii) Áp dụng thành công SPC trong các doanh nghiệp
Thứ hai, tác giả đã xây dựng được mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu chính thức gồm 07 biến độc lập: (i) Cam kết của lãnh đạo; (ii) Làm việc nhóm; (iii) Đào tạo và giáo dục; (iv) Tập trung vào quá trình; (v) Vai trò của bộ