1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dự thảo tóm tắt Luận Án Tiến sĩ Sinh học: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H''mong, Dao ở tỉnh Yên Bái

22 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 580,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án nghiên cứu nhằm xác định một số chỉ số hình thái, một số chỉ số chức năng (tuần hoàn, hô hấp, phản xạ) của học sinh từ 6 đến 17 tuổi ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay, đánh giá một số chỉ số về năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc theo lứa tuổi và giới tính, xác định mối tương quan giữa chiều cao đứng với các thông số hô hấp, giữa IQ với trí nhớ ngắn hạn, độ tập trung chú ý, phản xạ cảm giác - vận động, cảm xúc và với khả năng vượt khó của học sinh. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

TRẦN LONG GIANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

VÀ NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH TỪ 6 ĐẾN 17 TUỔI, NGƯỜI DÂN TỘC KINH, H’MONG, DAO Ở TỈNH YÊN BÁI

DỰ THẢO T M TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHO HỌC TỰ NHI N, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Mai Văn Hưng

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thƣ viện Quốc gia Việt Nam;

- Trung tâm Thông tin - Thƣ viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ trên các đối tượng học sinh, sinh viên Tuy nhiên những nghiên cứu này còn ít, chưa phản ánh đầy đủ về năng lực trí tuệ và các chỉ số sinh học đa dân tộc

ở nước ta hoặc là đã được tiến hành khá lâu không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay Do đó cần có những nghiên cứu tiếp trên các đối tượng thuộc các dân tộc ít người đang sinh sống tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa trên cả nước

Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa có diện tích tự nhiên 6888 km2, dân số 75 vạn người với 30 dân tộc anh em Những nghiên cứu về năng lực trí tuệ và các chỉ số sinh học của các đối tượng học sinh trên địa bàn này là rất cần thiết Qua đó chúng ta có được các dữ liệu khoa học phục vụ cho việc đề xuất các giải pháp đúng đắn trong cải tiến phương pháp giáo dục, rèn luyện thể chất, chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng con người Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số vùng cao nói riêng

Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh

từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H,mong, Dao ở tỉnh Yên Bái”

Mục tiêu của đề tài

- Xác định một số chỉ số hình thái, một số chỉ số chức năng (tuần hoàn, hô hấp, phản xạ) của học sinh từ 6 đến 17 tuổi ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay;

- Đánh giá một số chỉ số về năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc theo lứa tuổi và giới tính;

- Xác định mối tương quan giữa chiều cao đứng với các thông số hô hấp, giữa IQ với trí nhớ ngắn hạn, độ tập trung chú ý, phản xạ cảm giác - vận động, cảm xúc và với khả năng vượt khó của học sinh

Những điểm mới của đề tài

- Đã xác định được thực trạng và sự phát triển một số chỉ số hình thái - thể lực, chỉ số chức năng tuần hoàn, hô hấp, thần kinh và năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc Kinh, Dao, H’mong lứa tuổi từ 6 đến 17 tại tỉnh Yên Bái Những

số liệu này chưa có trong bất cứ nghiên cứu nào từ 10 năm trở lại đây

Trang 4

- Tìm thấy gia tốc tăng trưởng hình thái không đồng đều qua các lớp tuổi của học sinh trong quá trình tăng trưởng,

từ đó có thể đề xuất các giải pháp phù hợp cho mỗi giai đoạn tăng trưởng khác nhau nhằm nâng cao chất lượng hình thái người các dân tộc khác nhau tại Việt Nam

- Khi xem xét sự phân bố theo mức trí tuệ của học sinh giữa các dân tộc, chúng tôi thấy tỷ lệ học sinh đạt mức IQ trên trung bình và xuất sắc ở học sinh H’mong có giá trị lớn hơn so với ở học sinh Kinh và Dao Đây là những dữ liệu rất có

ý nghĩa cho các nhà quản lý giáo dục trong việc tạo môi trường học tập thuận lợi cho con em các dân tộc được phát huy tiềm năng trí tuệ của mình để góp phần xóa bỏ khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa học sinh vùng thấp và học sinh dân tộc thiểu số ở vùng cao

- Tìm thấy mối tương quan giữa một số chỉ số trí tuệ của học sinh, trên cơ sở các kết quả này giúp cho giáo viên ứng dụng vào thực tiễn dạy học theo phương pháp phân hóa và phát triển năng lực, năng khiếu bẩm sinh của cá nhân học sinh

Chương 1

TỔNG QU N TÀI LIỆU

1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN Ở TRẺ EM

Sự tăng trưởng ở trẻ em từ 6 tuổi cho đến trước tuổi dậy thì

Ở giai đoạn này quá trình sinh trưởng diễn ra tương đối đồng đều, trung bình mỗi năm chiều cao tăng khoảng 4 – 5

cm và cân nặng tăng thêm 2 – 3 kg Các cơ bắp ở tay và chân phát triển mạnh, nên động tác phát triển mạnh mẽ

Sự tăng trưởng của trẻ em ở giai đoạn dậy thì

Ở giai đoạn này, ngoài tác động của các yếu tố dinh dưỡng và môi trường như giai đoạn đầu, sự tăng trưởng còn chịu ảnh hưởng của sự trưởng thành tính dục

Sự tăng đột biến về chiều cao thường xuất hiện sau 2 năm khi có các biểu hiện sinh dục thứ cấp và khoảng 1 năm trước khi có biểu hiện dậy thì hoàn toàn

2 CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA TRẺ EM

2.1 Các chỉ số hình thái – thể lực

Mục đích của những nghiên cứu này là nhằm tìm biện pháp nâng cao sức khỏe, thể lực cho con người ở những vùng sinh thái khác nhau, đáp ứng việc phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhất là thời đại ngày nay

2.2 Các nghiên cứu về hình thái – thể lực ở Việt Nam

Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh và chuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành lập bộ môn hình thái học ở một số trường đại học và viện nghiên cứu

Cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” xuất bản năm 1975 do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về thể lực người Việt Nam ở mọi lứa tuổi, trong đó có lớp tuổi từ 18 đến 25

Trang 5

Cuốn “Các giá trị sinh học người Việt Nam thập kỷ 90 thế kỷ XX” đã nêu thực trạng các giá trị sinh học người Việt Nam với một phổ thông tin tương đối đa dạng và có ý nghĩa chủ yếu phục vụ cho ngành y tế

Ngoài ra, còn nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu về hình thái - thể lực người Việt Nam như Võ Hưng, Lê Nam Trà, Nghiêm Xuân Thăng, Trần Đình Long, Đào Mai Luyến, Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan, Mai Văn Hưng, Hoàng Quý Tỉnh, Nguyễn Thị Bích Ngọc,…

3 CÁC CHỈ SỐ CHỨC NĂNG CỦA CÁC HỆ THỐNG CƠ QUAN

3.1 Các thông số thông khí phổi

Nhiều tác giả đã nghiên cứu về dung tích sống và các chức năng hô hấp Phần lớn các công trình nghiên cứu chức năng phổi của trẻ em Việt Nam tập trung vào các chỉ tiêu thông khí phổi như dung tích sống, khí lưu thông, khí bổ trợ, khí dự trữ và sự biến đổi các chỉ tiêu này theo lứa tuổi và theo giới tính, như các nghiên cứu nêu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” và “Các giá trị sinh học người Việt Nam thập kỷ 90 thế kỷ XX”, của Trịnh Bỉnh Dy và cs, Nguyễn Văn Tường và cs, Trần Thị Loan, Đỗ Hồng Cường, Nguyễn Thị Bích Ngọc,…

3.2 Tần số tim, huyết áp động mạch

Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về tần số tim và huyết áp của trẻ em, như “Hằng số sinh học người Việt Nam”, “Các giá trị sinh học người Việt Nam thập kỷ 90 thế kỷ XX”, của Trần Đỗ Trinh và cs, Đoàn Yên và cs, Nguyễn Văn Mùi, Trần Thị Loan, Đỗ Hồng Cường, Nguyễn Thị Hiên,…

3.3 Điện tâm đồ

3.3.1 Một số đặc điểm về các thông số điện tâm đồ cơ bản ở trẻ em

Điện tâm đồ là một đường cong, đồ thị tuần hoàn, ghi lại các biến thiên của các điện lực do tim phát ra trong các hoạt động co bóp Một số thông số điện tâm đồ: trục QRS, khoảng PQ, QRS, QT, các sóng P, Q, R, S,…

3.3.2 Các nghiên cứu về điện tâm đồ của trẻ em ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về điện tâm đồ ở nước ta từ trước đến nay không nhiều, phần lớn tập trung trong lĩnh vực y học, như “Hằng số sinh học người Việt Nam” và “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX”, của Trần Đỗ Trinh, Đào Mai Luyến, Mai Văn Hưng, Phạm Hữu Hòa và cs, Nguyễn Xuân Cẩm Huyên,…

3.4 Phản xạ cảm giác – vận động

Phản xạ là phản ứng của cơ thể đối với các tác nhân kích thích tác động từ môi trường bên trong hoặc bên ngoài cơ thể Ở Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu về thời gian phản xạ cảm giác - vận động, như của Đỗ Công Huỳnh và cs, Trần Thị Loan, Tạ Thúy Lan, Mai Văn Hưng, Nguyễn Thị Bích Ngọc,…

Trang 6

4 ĐẶC ĐIỂM TRÍ TUỆ CỦA TRẺ EM

4.1 Trí tuệ

Theo quan điểm hiện nay, trí tuệ được coi là năng lực thích ứng.Những nghiên cứu về trí tuệ của học sinh Việt Nam chủ yếu được thực hiện từ những năm cuối của thập kỷ 80 thế kỷ XX đến nay, như của Ngô Công Hoàn, Võ Văn Toàn và cs, Trần Thị Loan, Tạ Thúy Lan, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Hiên,…

4.2 Trí nhớ

Trí nhớ là sự tiếp nhận và tái hiện những sự vật, hiện tượng mà con người đã cảm giác, đã suy nghĩ, đã hành động.Những nghiên cứu về trí nhớ ở Việt Nam tiêu biểu như của Nghiêm Xuân Thăng, Trần Thị Loan, Phạm Minh Hạc, Tạ Thúy Lan,…

4.3 Chú ý

Chú ý có tác dụng hướng các quá trình này tập trung vào một hay một số đối tượng, tạo điều kiện cho đối tượng được phản ánh một cách tốt nhất Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng chú ý trên các đối tượng khác nhau, như của Nghiệm Xuân Thăng, Trần Thị Loan, Mai Văn Hưng, Tạ Thúy Lan,…

4.4 Trạng thái cảm xúc

Theo Pavlov, cảm xúc là mối liên quan giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu, cơ sở của cảm xúc là sự hưng phấn các trung tâm dưới vỏ não và các quá trình sinh lý do hệ thần kinh thực vật gây ra Ở Việt Nam, cảm xúc cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Phạm Minh Hạc, Tạ Thúy Lan,…

4.5 Khả năng vượt khó

Chỉ số vượt khó là đại lượng đo khả năng đối diện và xoay sở của một người trước các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn trong cuộc sống Theo Paul G.Sloltz, chỉ số AQ của một người được biểu hiện bằng bốn chỉ số: C (kiểm soát, điều khiển), O (quyền sở hữu), R(phạm vi hoạt động), E (tính nhẫn nại)

5 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VĂN H A – ĐỜI SỐNG NGƯỜI DAO VÀ H’MONG

5.1 Người Dao

Địa bàn cư trú của người Dao chủ yếu ở rẻo giữa - vùng tiếp giáp giữa vùng thấp và vùng cao Người Dao hiện nay chủ yếu trồng quế, lúa nương và làm ruộng lúa nước, trồng hoa màu, có nhiều nghề thủ công như dệt vải, rèn, mộc, làm giấy, chăn nuôi gia súc Trong đời sống, ngoài những nghi lễ trong gia đình, bản làng, người Dao còn có tục cấp sắc, tết nhảy, cúng Bàn Vương

5.2 Người H’mong

Người H’mong thường cư trú ở vùng núi cao, vùng đầu nguồn, có khí hậu khắc nghiệt, thiếu nước sản xuất và sinh hoạt và điều đó đã quyết định hình thái sản xuất của họ Nông nghiệp trồng trọt là nguồn sống chính của người H’mong Tập quán sinh đẻ và nuôi dạy con cái của người H’mong có nhiều nghi thức, nghi lễ

Trang 7

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu hính thái gồm 7781 học sinh từ 6 đến 17 tuổi, mẫu nghiên cứu các chỉ số năng lực trí tuệ - chức năng hệ thần kinh gồm 3701 học sinh từ 8 đến 17 tuổi, mẫu nghiên cứu các chỉ số hô hấp gồm 3230 học sinh và mẫu nghiên cứu các chỉ số tuần hoàn, điện tâm đồ gồm 1825 học sinh từ 7 đến 15 tuổi

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp tính tuổi

Tuổi của các đối tượng được tính theo quy ước chung của WHO

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

Mẫu lớn được chọn dựa vào công thức:

2.3.4 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số sinh học

2.3.5 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số về năng lực trí tuệ

2.4 Phương pháp xử lý số liệu

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Trang 8

3.1 Các chỉ số hình thái và chức năng một số hệ cơ quan của học sinh

3.1.1 Chiều cao đứng

Chiều cao đứng (CCĐ) của học sinh tăng dần theo tuổi, tăng trung bình mỗi năm khoảng 4,92 ÷ 5,0cm đối với nam

và 4,19 ÷ 4,34cm đối với nữ Thời điểm tăng nhảy vọt về CCĐ của nam muộn hơn so với ở nữ khoảng 1 ÷ 2 năm

CCĐ của nam và nữ ít có sự chênh lệch ở giai đoạn từ 6 đến 11 tuổi.Từ 12 đến 14 tuổi, CCĐ của nữ lớn hơn so với

ở nam, còn ở lứa tuổi 15 ÷ 17, CCĐ của nam lại lớn hơn rõ so với ở nữ

CCĐ của nam, nữ dân tộc Kinh và Dao lớn hơn nhiều so với của nam, nữ dân tộc H’mong ở hầu hết các lứa tuổi.CCĐ của nam, nữ dân tộc Kinh chỉ lớn hơn so với của nam, nữ dân tộc Dao ở một số lứa tuổi

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn CCĐ của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính

So với kết quả CCĐ học sinh trong những nghiên cứu gần đây của Đỗ Hồng Cường tại Hòa Bình và của Nguyễn Thị Bích Ngọc tại Vĩnh Phúc và Phú Thọ thì CCĐ của học sinh dân tộc Kinh và Dao tại Yên Bái có giá trị tương đương, còn CCĐ của dân tộc H’mong có giá trị nhỏ hơn ở nhiều lứa tuổi

So sánh với kết quả CCĐ của quần thể tham chiếu của Mỹ giai đoạn 2007 ÷ 2010 và giá trị của quần thể tham chiếu của WHO năm 2007 cho thấy, CCĐ của học sinh cùng lứa tuổi người dân tộc Kinh, Dao, H’mong trong nghiên cứu của chúng tôi có giá trị thấp hơn từ 10 đến hơn 20 cm

3.1.2 Cân nặng

Cân nặng của nam và nữ đều tăng dần từ 6 ÷ 17 tuổi Trong đó, cân nặng của nam tăng trung bình khoảng 2,73÷2,85 kg/năm, cân nặng của nữ tăng trung bình khoảng 2,46 ÷ 2,53 kg/năm Tốc độ tăng cân nặng của học sinh không đồng đều, tăng nhanh nhất ở nam lúc 15 tuổi và ở nữ lúc 14 tuổi

Ở giai đoạn 6 ÷ 10 tuổi và 15 ÷ 17 tuổi, cân nặng của học sinh nam lớn hơn so với ở nữ, giai đoạn 11 ÷ 12 tuổi cân nặng của học sinh nam và nữ có giá trị tương đương, còn ở giai đoạn 13 ÷ 14 tuổi thì cân nặng của nữ lại lớn hơn so với ở nam

Trang 9

Cân nặng của nam, nữ dân tộc Kinh lớn hơn nhiều so với cân nặng của nam, nữ dân tộc Dao và H’mong ở tất cả các lứa tuổi nghiên cứu

So với kết quả cân nặng trong nghiên cứu của Đỗ Hồng Cường và của Nguyễn Thị Bích Ngọc thì cân nặng của học sinh Kinh có giá trị tương đương, trong khi cân nặng của học sinh Dao và H’mong có giá trị nhỏ hơn ở một số lứa tuổi

Hình 3.2.Đồ thị biểu diễn cân nặng của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính

So sánh với kết quả chiều cao đứng của quần thể tham chiếu của Mỹ giai đoạn 2007 ÷ 2010 cho thấy, cân nặng của học sinh cùng lứa tuổi người dân tộc Kinh, Dao, H’mong trong nghiên cứu của chúng tôi có giá trị thấp hơn từ 15 ÷ 30kg

3.1.3 Vòng ngực trung bình

VNTB của học sinh nam tăng trung bình mỗi năm 1,87 ÷ 1,95 cm, của nữ tăng trung bình mỗi năm 1,86 ÷1,89 cm VNTB của học sinh nam có giá trị lớn hơn so với của học sinh nữ ở hầu hết các lứa tuổi với p<0,05 (trừ lứa tuổi 14 ÷ 15, VNTB của nam có giá trị nhỏ hơn so với của nữ) VNTB của nam tăng nhanh nhất ở tuổi 16, còn của nữ tăng nhanh sớm hơn

2 năm Tốc độ tăng VNTB của học sinh nam lớn hơn so với của học sinh nữ

Hình 3.3.Đồ thị biểu diễn VNTB của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính

Trang 10

VNTB của học sinh Kinh lớn hơn so với của học sinh Dao và H’mong ở nhiều lứa tuổi, tuy nhiên giai đoạn 9 ÷ 14 tuổi ở cả nam và nữ sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

VNTB của học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi có giá trị lớn hơn so với số liệu nêu trong cuốn HSSH, GTSH, của Tạ Thúy Lan và cs, nhưng lại có giá trị tương đương ở hầu hết các lứa tuổi so với nghiên cứu của nhiều tác giả khác

3.1.4 Chỉ số BMI

Chỉ số BMI của cả nam và nữ đều tăng dần theo tuổi Chỉ số BMI của nam tăng trung bình mỗi năm khoảng 0,23 ÷ 0,27 kg/m2 và của nữ tăng trung bình mỗi năm 0,30 ÷ 0,37 kg/m2 Thời điểm tăng nhanh chỉ số BMI của học sinh cũng diễn

ra cùng thời điểm tăng nhanh về cân nặng và muộn hơn so với thời điểm tăng nhanh về CCĐ

Tốc độ tăng chỉ số BMI của học sinh nam nhanh nhất ở nam lúc 15 tuổi (tăng 0,74 ÷ 0,87 kg/m2) và ở nữ lúc 14 tuổi (tăng 0,94 ÷ 1,08 kg/m2)

Chỉ số BMI của học sinh Kinh có giá trị lớn hơn so với của học sinh Dao và học sinh H’mong ở tất cả các lứa tuổi đối với nam và lớn hơn so của học sinh Dao ở các lứa tuổi 6, 7, 12, 13; của học sinh H’mong ở các lứa 9, 17 đối với nữ Chỉ

số BMI của học sinh dân tộc Dao có giá trị tương đương so với của học sinh H’mong ở hầu hết các lứa tuổi đối với nam và nhỏ hơn ở các lứa tuổi 9 ÷ 11, 14, 17 đối với nữ

So với kết quả chỉ số BMI trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Mùi và số liệu nêu trong cuốn GTSH thì BMI của học sinh các dân tộc trong nghiên cứu của chúng tôi có giá trị lớn hơn ở nhiều nhóm tuổi

So với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Loan trên học sinh Hà Nội cách đây hơn 15 năm và so với kết quả nghiên cứu của Đỗ Hồng Cường trên học sinh dân tộc Kinh ở Hòa Bình, của Nguyễn Thị Bích Ngọc trên học sinh dân tộc Kinh ở Phú Thọ và Vĩnh Phúc thì nhìn chung chỉ số BMI của học sinh Kinh trong nghiên cứu của chung tôi có giá trị tương đương

So sánh với kết quả BMI của quần thể tham chiếu của Mỹ giai đoạn 2007 ÷ 2010 và giá trị của quần thể tham chiếu của WHO năm 2007 cho thấy, BMI của học sinh cùng lứa tuổi người dân tộc Kinh, Dao, H’mong trong nghiên cứu của chúng tôi có giá trị thấp hơn nhiều Tuy nhiên, khi so sánhvới tiêu chuẩn của WHO dành cho người châu Á thì giá trị BMI trung bình của học sinh ba dân tộc ở tất cả các lứa tuổi nghiên cứu vẫn nằm trong giới hạn thể trạng bình thường

3.1.5 Chỉ số Pignet

Chỉ số Pignet của học sinh nam tăng dần từ 6 ÷ 14 tuổi, sau đó giảm dần ở 15 ÷17 tuổi; chỉ số Pignet của nữ tăng dần từ 6 ÷ 13 tuổi, từ 14 ÷ 17 tuổi chỉ số này giảm dần Điều này là do ở lứa tuổi nhỏ CCĐ của học sinh tăng nhanh hơn so với cân nặng và vòng ngực, còn ở lứa tuổi 15 ÷ 17 ở nam và 14 ÷ 17 tuổi ở nữ thì cân nặng và vòng ngực lại phát triển nhanh hơn CCĐ Ở cả ba dân tộc, thời điểm giảm nhanh Pignet của nam xuất hiện lúc 16 tuổi và của nữ là lúc 15 tuổi Hầu như không có sự khác biệt về chỉ số này ở học sinh nam giữa các dân tộc Đối với nữ, nữ Kinh có chỉ số Pignet nhỏ hơn so với nữ Dao ở giai đoạn 15 ÷ 17 tuổi, nhưng lại lớn hơn so với nữ H’mong ở giai đoạn 8 ÷ 14 tuổi Nữ dân tộc Dao có chỉ số Pignet lớn hơn so với của nữ dân tộc H’mong ở các lứa tuổi từ 8 ÷ 17 tuổi

Trang 11

Chỉ số Pignet của học sinh trong nghiên cứu này có giá trị nhỏ hơn so với số liệu nêu trong cuốn GTSH, trong nghiên cứu của Trần Đình Long và cs, của Tạ Thúy Lan và cs và tương đương với số liệu trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc

3.1.6 Một số chỉ số chức năng tuần hoàn

3.1.6.1 Tần số tim

Tần số tim của học sinh giảm dần từ 7 đến 15 tuổi Sự giảm tần số tim theo tuổi được giải thích bằng sự thay đổi nội tại của nút xoang và sự thay đổi tác dụng của hệ thần kinh tự chủ lên tim Tần số tim của học sinh nữ có giá trị cao hơn so với tần số tim của học sinh nam ở học sinh của cả ba dân tộc; ở nhiều lứa tuổi sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Tần số tim của học sinh Kinh, Dao, H’mong có giá trị tương đương nhau ở cả học sinh nam và nữ (p>0,05) Điều này cho thấy, tần số tim của trẻ em không phụ thuộc nhiều vào di truyền, dinh dưỡng và điều kiện sống

Huyết áp động mạch của học sinh Kinh, Dao, H’mong có giá trị tương đương nhau ở cả học sinh nam và nữ (p>0,05) Điều này cho thấy, huyết áp động mạch của trẻ em phụ thuộc vào tuổi và giới tính nhưng không phụ thuộc nhiều vào di truyền, dinh dưỡng và điều kiện sống

3.1.6.3 Một số thông số điện tâm đồ

Trục điện tim:

Trục điện tim trung bình của nam ở ba dân tộc dao động trong khoảng 53,97o ÷ 68,72o, của nữ dao động từ 62,64o

÷ 69,36o Hầu hết số lượng học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi có trục điện tim trung gian (tỷ lệ tương ứng cho học sinh Kinh, Dao, H’mong lần lượt là 98,69%, 98,68%, 99,01% số học sinh có trục điện tim trung gian), một tỷ lệ nhỏ số học sinh

có trục điện tim lệch phải và không có học sinh nào có trục điện tim lệch trái Không có sự khác biệt giữa các dân tộc về tỷ lệ (%) trục điện tim và góc α ở cả học sinh nam và nữ (p>0,05)

Thời gian PQ:

Thời gian PQ trung bình của học sinh tăng dần từ nhóm 7 ÷ 9 tuổi đến nhóm 13 ÷ 15 tuổi ở cả nam và nữ Từ 7 đến

15 tuổi, thời gian PQ tăng thêm từ 11,33 ÷ 11,67 ms đối với nam và 9,69 ÷ 11,65 ms đối với nữ Theo Gibson, thời gian PQ tương quan thuận với trọng lượng của cả hai nhĩ, do đó sự tăng kích thước tâm nhĩ và chậm dẫn truyền tại nút nhĩ - thất dẫn

Ngày đăng: 17/01/2020, 01:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm