Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Biến động dân cư trong quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2009 tìm hiểu quá trình ĐTH và sự biến động của dân cư tỉnh Bình Dương từ sau ngày tái lập tỉnh (năm 1997) đến năm 2009; phân tích mối quan hệ giữa biến động dân cư với quá trình ĐTH trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Kim Nhật Thư
Chuyên ngành : ĐỊA LÍ HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM THỊ XUÂN THỌ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới TS Phạm Thị Xuân Thọ - người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tác giả cũng trân trọng cảm ơn các cơ quan: Cục Tống kê tỉnh Bình Dương, Ủy ban Dân số - gia đình và trẻ em tỉnh Bình Dương và các huyện thị, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương, Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bình Dương, Sở Y tế Bình Dương, Sở Lao động – Thương binh – Xã hội tỉnh Bình Dương đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu và thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu
Cuối cùng, tác giả xin lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Bình Dương, ngày………tháng……….năm 2009
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Nhật Thư
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCN : Cụm công nghiệp CNH – HĐH: công nghiệp hóa – hiện đại hóa ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng ĐNB : Đông Nam Bộ
ĐTH : Đô thị hóa GDP : Tổng sản phẩm trong nước KCN : Khu công nghiệp
KT – XH : Kinh tế - xã hội KTTĐ : Kinh tế trọng điểm KVI : Khu vực I (Nông – lâm – ngư nghiệp) KVII : Khu vực II (Công nghiệp và Xây dựng) KVIII : Khu vực III (Dịch vụ)
NGTK : Niên giám thống kê
TP : Thành phố TTr : Thị trấn
TX : Thị xã UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bình Dương là một tỉnh thuộc vùng ĐNB - một trong những tỉnh phát triển kinh tế năng động nhất của cả nước Ngay sau ngày tái lập tỉnh (1997) đến nay, Bình Dương luôn là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về tốc độ phát triển kinh tế và nổi bật hơn hẳn đó là sự hình thành và tập trung các KCN Sự phát triển công nghiệp và quá trình ĐTH đã làm biến động mạnh mẽ sự gia tăng dân số và biến động trong phân bố dân cư
Theo kết quả cuộc Tổng điều tra Dân số - Gia đình và Nhà ở tháng 4/2009, Bình Dương
là địa phương có tốc độ tăng dân số cao nhất cả nước giai đoạn 1999 – 2009 với mức tăng 7,3%/năm Trong đó, mức tăng dân số tự nhiên của tỉnh thấp, chỉ còn 1,00% (2009) nhưng mức tăng dân số cơ học thuộc nhóm cao nhất cả nước (6,73% năm 2009)
Từ 1997 đến 2009, dưới tác động của CNH và ĐTH, dân số Bình Dương có nhiều biến động về mặt qui mô, kết cấu cũng như phân bố dân cư … Dân số tăng nhanh do công nghiệp phát triển, dân số hoạt động phi nông nghiệp tăng, đời sống người dân được nâng cao Tuy nhiên
do công nghiệp của Bình Dương phân bố chưa tập trung, còn xen lẫn vào những điểm dân cư nông thôn … Vì vậy tỉ lệ dân đô thị Bình Dương thấp hơn so với các tỉnh thành khác trong tứ giác tăng trưởng kinh tế phía Nam và chậm hơn so với tốc độ phát triển công nghiệp của tỉnh Thực tế Bình Dương có tốc độ ĐTH rất nhanh, thể hiện ở qui mô dân số thành thị, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp, chất lượng cuộc sống …
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã mạnh dạn chọn vấn đề: “Sự biến động dân cư trong quá trình ĐTH ở tỉnh Bình Dương” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn đóng góp những
phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp góp phần xây dựng tỉnh Bình Dương ngày càng phát triển bền vững hơn
Trang 5Khảo sát thực tế và thu thập thông tin, số liệu cụ thể về các biến động dân cư tỉnh Bình Dương dưới tác động của quá trình ĐTH
Phân tích tác động của quá trình ĐTH đối với sự biến động dân cư của từng huyện nói riêng và toàn tỉnh nói chung
Tổng kết thực trạng và thu thập số liệu thông tin, dự báo xu hướng biến động dân cư, quá trình đô thị trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2010 – 2020, đề ra những giải pháp điều chỉnh cân đối giữa dân số, phân bố dân cư nhằm đẩy mạnh quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Dương
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Về mặt không gian
Tìm hiểu sự biến động dân cư trên địa bàn tỉnh Bình Dương thông qua phân tích kĩ những biến động này ở các địa bàn huyện, thị; Đặc biệt là những địa phương có quá trình ĐTH nhanh như Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Thủ Dầu Một
Sự biến động dân số và phân bố dân cư gắn bó mật thiết với CNH và ĐTH, vì vậy mối quan hệ giữa dân cư – công nghiệp - đô thị là một trong những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu Ở Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu với những góc nhìn khác nhau, cụ
thể như PGS Trần Hùng nghiên cứu “Dân số học đô thị”, PGS.TS Trần Cao Sơn chú ý đến vấn đề: “Dân số và tiến trình ĐTH, động thái phát triển và triển vọng”, TS Phạm Thị Xuân Thọ nghiên cứu cụ thể về “Địa lí dân cư” và “Địa lí đô thị” Ở cấp Bộ, có công trình nghiên cứu
“Định hướng qui hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến 2020” của Bộ xây dựng …
Bình Dương có nền kinh tế phát triển năng động thuộc vùng kinh tế ĐNB, nơi đã và đang diễn ra quá trình CNH và ĐTH nhanh nhất cả nước Vì vậy, các vấn đề địa lí KT - XH của Bình
Trang 6Dương đang được quan tâm nghiên cứu kĩ lưỡng Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các chuyên gia, thạc sĩ chuyên ngành địa lí học – những người quan tâm đến sự phát triển của tỉnh Bình Dương, tuy nhiên các công trình tập trung chủ yếu vào từng lĩnh vực kinh tế cụ thể như công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Riêng về mặt dân cư cũng đã có một số công trình nghiên
cứu nhưng đa phần là nghiên cứu từng mảng chuyên biệt của dân cư, cụ thể như đề tài “Nguồn lao động và sử dụng lao động ở Bình Dương” luận văn thạc sĩ Phạm Thị Bình, “Dân số và phát triển KT - XH của tỉnh Bình Dương” luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Hiển, “Quá trình hình thành
và phát triển các KCN và tác động của nó đến sự phân bố lao động tỉnh Bình Dương” thạc sĩ Vương Minh Hùng, “Tác động của quá trình CNH và ĐTH đến đời sống dân cư tỉnh Bình Dương từ sau ngày tái lập đến nay”, khóa luận tốt nghiệp sinh viên Vũ Thị Hiền, khoa Địa lí
trường ĐHSP TPHCM … Các đề tài trên là những nguồn tài liệu vô cùng quí báu, làm tài liệu
tham khảo cho tác giả khi thực hiện đề tài nghiên cứu “Sự biến động dân cư trong quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến 2009.”
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
5.1.2 Quan điểm hệ thống
Có thể nói CNH - HĐH là một tiến trình, một xu thế tất yếu của sự phát triển KT - XH và quá trình ĐTH thường gắn liền với CNH – HĐH Bên cạnh đó, quá trình ĐTH lại làm biến động mạnh mẽ về mặt dân cư
Dân cư và ĐTH là là một trong những bộ phận cấu thành, không thể tách rời khi xét đến
sự phát triển KT - XH Biến động dân cư ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình ĐTH và ngược lại, ĐTH cũng tác động mạnh mẽ đến những sự thay đổi của dân cư; cả ĐTH và biến động dân cư đều có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển KT - XH của bất kì lãnh thổ nào Vì vậy, khi nghiên
cứu “Biến động dân cư trong quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương” phải xem các vấn đề dân cư và
ĐTH như là một hệ thống nằm trong hệ thống KT - XH hoàn chỉnh, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng
Trang 75.1.3 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Trên mỗi đơn vị lãnh thổ, sự biến động của dân số phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có tác động của quá trình CNH – HĐH Tùy theo đặc trưng của từng lãnh thổ mà quá trình CNH – HĐH có những nét riêng và kéo theo những biến động về dân số
Bình Dương có nền kinh tế phát triển khá năng động với tốc độ CNH - HĐH nhanh, dân
cư có nhiều biến động Trực thuộc vùng kinh tế ĐNB – nơi có nền kinh tế năng động, tốc độ CNH - ĐTH nhanh nhất cả nước, do đó ngoài những đặc trưng riêng của tỉnh, sự biến động dân
cư của Bình Dương không thể tách rời khỏi những đặc điểm, xu hướng chung của các tỉnh thành khác trong vùng ĐNB nói riêng và cả nước nói chung Vì vậy, khi nghiên cứu vấn đề biến động dân cư trong quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương phải xét vấn đề này trong mối quan hệ với những biến động dân cư của vùng ĐNB và cả nước
5.1.4 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Các đối tượng địa lí luôn luôn vận động và phát triển theo không gian và thời gian Sự biến động dân số và quá trình ĐTH ở những giai đoạn trước có ảnh hưởng không nhỏ tới đặc điểm của dân số và ĐTH ở những giai đoạn sau Vì vậy, khi nghiên cứu vấn đề, cần có cái nhìn khách quan trong mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai để đảm bảo tính khoa học và chính xác của vấn đề
Trong đề tài, tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa quá trình ĐTH và biến động dân cư Bình Dương từ năm tái thành lập tỉnh 1997 cho đến năm 2009.Trên cơ sở đó dự báo xu hướng biến động dân cư Bình Dương đến năm 2020
5.1.5 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Để hướng tới sự phát triển cân đối, hài hòa và bền vững trong tương lai, việc nghiên cứu dân số và ĐTH cũng phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững ĐTH dẫn tới sự biến động dân cư nhưng sự biến động ấy phải hài hòa, hợp lí với sự phát triển KT - XH của toàn tỉnh, tránh không dẫn đến tình trạng ĐTH quá mức như các nước đang phát triển khác
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thống kê
Tất cả những thông tin được tổng hợp, phân tích trên cơ sở nguồn số liệu thống kê đầy đủ
rõ ràng Dựa vào những nguồn số liệu cụ thể, chính xác được tập hợp từ các nguồn thống kê đáng tin cậy như Cục Thống kê, Ủy ban nhân dân tỉnh và các huyện thị, Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương … để đưa ra những phân tích, đánh giá mang tính khoa học và chính xác, đó cũng là cơ sở dự báo của đề tài đến năm 2020
5.2.2 Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Trang 8Đây là một phương pháp quan trọng khi nghiên cứu các vấn đề địa lí vì mọi công trình địa lí đều có thể bắt đầu và kết thúc bằng bản đồ Sử dụng phương pháp bản đồ - biểu đồ trong quá trình nghiên cứu sẽ giúp thể hiện các vấn đề nghiên cứu được cụ thể hơn, trực quan hơn và toàn diện hơn Trong đề tài nghiên cứu này, hệ thống số liệu cập nhật sẽ được xây dựng thành những biểu đồ, bản đồ chuyên đề phản ánh sự biến động của dân số, phân bố dân cư cũng như quá trình ĐTH trên địa bàn tỉnh Bình Dương theo không gian và thời gian Các bản đồ trong đề tài được thành lập bằng phần mềm MapInfo 9.0, dựa trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập và xử lí
5.2.3 Phương pháp dự báo:
Bằng kiến thức thực tế và những số liệu, thông tin tổng hợp từ những thay đổi của ĐTH
và biến động dân cư Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2009, tác giả tính toán, dự báo biến động dân số Bình Dương đến năm 2020 Từ đó tổng hợp thông tin, đề xuất những định hướng
và giải pháp cụ thể về vấn đề dân số, phân bố dân cư và ĐTH
5.2.4 Phương pháp phân tích – so sánh
Trên cơ sở những thông tin, tư liệu có được, tác giả tiến hành sắp xếp, xử lí thành các biểu đồ, bảng số liệu … phân tích và đưa ra những ý kiến so sánh sự biến động dân cư Bình Dương với các tỉnh thành khác, so sánh sự biến động dân số giữa các huyện thị với nhau theo từng giai đoạn để thấy được sự biến động dân số tỉnh Bình Dương nhằm thực hiện tốt các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra
5.2.5 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này được thực hiện thông qua việc phỏng vấn các nhà quản lí, các cấp chính quyền và một số chuyên viên để xác định lại độ tin cậy của những số liệu đã có, làm cơ sở khoa
học đảm bảo những nhận xét đưa ra mang tính chính xác cao
5.2.6 Phương pháp hệ thống thông tin địa lí GIS
Trong đề tài này, các bản đồ này được thành lập chủ yếu bằng phần mềm Map Info 9.0, một trong những ứng dụng của GIS nhằm phục vụ trực tiếp cho đề tài và góp phần quản lí hệ thống thông tin địa lí của các đối tượng Ngoài ra, đề tài còn thể hiện các mối quan hệ địa lí thông qua hệ thống bảng số liệu, lược đồ và biểu đồ
5.2.7 Phương pháp thực địa
Phương pháp này được sử dụng nhằm kiểm tra độ chính xác, tin cậy của những số liệu cũng như thông tin cập nhật được qua hệ thống Internet cũng như số liệu thống kê của các cơ quan ban ngành
6 Cấu trúc đề tài
Trang 9Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về dân cư và ĐTH
Chương 2: Biến động dân cư trong quá trình ĐTH ở tỉnh Bình Dương từ 1997 đến 2009 Chương 3: Định hướng, giải pháp phát triển dân số, phân bố dân cư và đẩy mạnh quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương đến năm 2020
Trang 10Chương1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DÂN CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA 1.1 Dân số
1.1.1 Khái niệm dân số
Dân số là đại lượng tuyệt đối để chỉ số người trong một đơn vị hành chính (xã, phường, huyện, tỉnh, vùng) hay một quốc gia, một châu lục hoặc cả hành tinh tại một thời điểm nhất định
Nói cách khác, dân số chính là tổng số người dân sinh sống trên một đơn vị lãnh thổ nhất định ở một thời điểm nhất định
1.1.2 Gia tăng dân số
Thể hiện tình hình biến động dân số của một quốc gia, một vùng lãnh thổ … được thể hiện bằng tổng số gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng dân số cơ học
1.1.2.1 Gia tăng dân số tự nhiên (Natural Increase): là hiệu số giữa số sinh và số tử trong một thời gian nhất định
- Tỉ suất sinh: Có nhiều thước đo mức độ sinh, dưới đây là một số thước đo thường
được dùng trong nghiên cứu dân số
+ Tỉ suất sinh thô (Crude Birth Rate) là tương quan giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình ở cùng thời điểm Tỉ suất sinh thô được tính bằng đơn vị phần
nghìn (0/00)
CBR = B
P B: Số trẻ em sinh ra trong một năm của một nước hay một khu vực nào đó
P: Dân số trung bình trong năm
Theo tổ chức Y tế thế giới WHO nếu tỉ suất sinh thô đạt:
- Dưới 160/00 là nước có tỉ suất sinh thô thấp
- Từ 160/00 - 240/00 là nước có tỉ suất sinh thô đạt mức trung bình
- Từ 250/00 - 290/00 là nước có tỉ suất sinh thô tương đối cao
- Từ 300/00 - 390/00 là nước có tỉ suất sinh thô cao
- Từ 400/00 trở lên là nước có tỉ suất sinh thô rất cao
Trang 11Hình 1.1: Tỉ suất sinh thô dân số Thế giới thời kì 1950 - 2005
Từ 1950 đến 2005, CBR của các nước đang phát triển có xu hướng giảm mạnh từ 420/00
xuống 240/00 (giảm 180/00); nhóm nước phát triển cũng giảm từ 230/00 xuống 110/00 (giảm 120/00)
và theo đó CBR của toàn thế giới cũng giảm nhanh từ 36o/00 xuống còn 21o/00 (giảm 15o/00).Vậy, các nước đang phát triển có CBR giảm nhanh nhưng vẫn ở mức cao so với mức trung bình của toàn thế giới
+ Tỉ suất sinh chung hay tỉ suất sinh sản (General Fertility Rate also called the fertility rate – GFR) là số trẻ em sinh ra còn sống tính trên 1000 phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ (15 tuổi đến
49 tuổi) trong một năm nhất định
GFR =
P w15 − 49Trong đó: B: số trẻ em sinh ra trong năm
P w15-49: số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi) Cần lưu ý rằng hiện nay có 2 quan niệm về độ tuổi sinh đẻ của phụ nữ
- Từ 15 – 49 (đa số mọi người coi đây là độ tuổi sinh đẻ)
- Từ 15 – 44 (được sử dụng ở châu Âu và các nước có tỉ suất sinh thấp)
Tỉ suất sinh chung phản ánh mức sinh chính xác hơn tỉ suất sinh thô Giữa hai thước đo này có mối liên hệ với nhau: CBR = GFR k với k là hệ số thể hiện số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ so với tổng số dân, dao động từ 20 – 30%
Về cơ bản tỉ suất sinh chung phụ thuộc vào kết cấu tuổi của phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi (hoặc 44 tuổi) Mức sinh không đáng kể ở lứa tuổi 15 nhưng đạt mức cao nhất từ 20 – 30 tuổi và giảm dần cho đến tuổi 49
Trang 12+ Tổng tỉ suất sinh (Total Fertility Rate) là số con trung bình sinh ra còn sống của một phụ nữ (hay một nhóm phụ nữ) trong suốt đời mình
ASFR: tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi (Age Specific Fertility Rate)
P
B
wx fx
Bfx: số trẻ em sinh ra trong năm bởi số phụ nữ ở độ tuổi x
Pwx: số phụ nữ trong độ tuổi x
Có nhiều yếu tố tác động đến tỉ suất sinh làm cho nó thay đổi theo thời gian và không gian, bao gồm các yếu tố tự nhiên – sinh học, phong tục tập quán, tâm lí xã hội, trình độ phát triển KT - XH và các chính sách phát triển dân số của từng quốc gia…
- Tỉ suất tử là chỉ số thống kê dân số đo mức tử vong của dân cư Tỉ suất tử vong
cũng thay đổi theo không gian, thời gian, đời sống vật chất tinh thần, tai nạn …Nhìn chung, những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến tỉ suất tử bao gồm các yếu tố tự nhiên sinh học, các điều kiện KT - XH và thiên tai
+ Tỉ suất tử thô (Crude Death Rate) là tương quan giữa số người chết trong năm so với dân số trung bình cùng thời điểm Tỉ suất tử thô được tính bằng đơn vị phần nghìn (0/00)
CDR = D
P D: Số người chết trong năm của địa phương
P: Dân số trung bình trong năm của địa phương
Trang 13Hình 1.2: Tỉ suất tử thô dân số Thế giới thời kì 1950 – 2005
Theo tổ chức WHO, chỉ số CDR của các nước được quy ước:
- Dưới 110/00: tỉ lệ tử vong thấp
- Từ 110/00 – 140/00: tỉ lệ tử vong trung bình
- Từ 150/00 – 250/00: tỉ lệ tử vong cao
- Trên 250/00: tỉ lệ tử vong rất cao
Tỉ suất tử thô trên thế giới nói chung và ở các nhóm nước nói riêng đều có xu hướng giảm
do chất lượng cuộc sống và các điều kiện KT – XH, giáo dục, y tế ngày càng được nâng cao
Từ 1950 – 2005, CDR của thế giới giảm 160/00 (từ 250/00 xuống 9o/00), nước phát triển giảm 50/00 (từ 150/00 xuống 100/00) và các nước đang phát triển giảm với tốc độ nhanh hơn 200/00
(từ 280/00 xuống còn 80/00)
Ở các nước phát triển, CDR giảm nhanh từ 150/00 – 90/00 (giai đoạn 1950 – 1955 và 1975 - 1980) rồi chững lại ở 90/00 sau đó có chiều hướng nhẹ và ổn định ở mức 100/00 Nguyên nhân chính là do ở các nước phát triển có tỉ lệ người già cao Ở các nước đang phát triển, nhờ những tiến bộ của y tế, KHKT và kết cấu dân số trẻ nên mức tử vong cũng giảm nhanh trong giai đoạn
1950 – 1955 và 1975 – 1980 (giảm 110/00) Từ 1980 đến nay, mức tử vong giảm chậm lại và thấp hơn so với mức chung các nước phát triển và mức trung bình của thế giới
Ngoài tỉ suất tử thô, ta còn một số tiêu chí khác như:
+ Tỉ lệ tử vong trẻ (Infant Mortality Rate) là tỉ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi trong năm
tính trên 1000 đứa trẻ sinh ra trong năm (đơn vị tính: 0 / 00 ) IMR =
B
D
0 0
Trong đó: D0: Số trẻ em tử vong dưới 1 tuổi trong năm
Trang 14B0: Số trẻ em sinh ra trong năm
Tỉ lệ này phản ánh trình độ nuôi dưỡng và tình hình sức khỏe chung của trẻ em ở một lãnh thổ.Trên thế giới hiện nay, tỉ lệ tử vong của trẻ em ngày càng giảm dần
Vậy, gia tăng tự nhiên (Natural Increase - NI) là hiệu số giữa số sinh và số tử trong một thời gian nhất định
NI = B – D Trong đó: B: Số sinh
D: Số tử vong trong cùng thời kì
Tỉ suất gia tăng tự nhiên (Rate of Natural Increase - RNI) là tỉ số giữa gia tăng tự nhiên và dân số trung bình trong cùng thời kì
RNI = B-D
P k
Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên còn được tính bằng hiệu số giữa tỉ suất sinh thô và tỉ suất
tử thô Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên được tính bằng đơn vị phần trăm (%)
RNI = CBR - CDR
Theo quy ước, tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên được chia thành 4 nhóm
- ≤ 0%: dân số không tăng hoặc giảm
- 0% - 0,9%: dân số gia tăng chậm
- 1,0% - 1,9%: dân số gia tăng trung bình
- Từ 2% trở lên: dân số gia tăng cao và rất cao
Hình1.3: Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên thế giới tính trung bình năm,
Trang 15thời kì 2000 – 2005
Tình hình gia tăng dân số có sự khác biệt rất lớn giữa các nhóm nước và các khu vực Tốc
độ gia tăng nhanh nhất vẫn thuộc về châu Phi, trừ khu vực Bắc Phi và Nam Phi – là những nơi
có nền kinh tế khá phát triển, phần còn lại của châu Phi đều có mức gia tăng từ 2% trở lên, có nơi lên đến 3%; tiếp đó là khu vực Mĩ la tinh, Tây Nam Á và Đông Nam Á Các nước phát triển khu vực châu Âu, Bắc Mĩ … luôn có tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên ở mức thấp (dưới 10%), thậm chí có nhiều nước dân số không tăng như Liên Bang Nga và khu vực Tây, Nam và Đông
Âu (Đức, Italia, Tây Ban Nha, Ba Lan …)
Vấn đề gia tăng dân số đã và đang đặt các nước trên thế giới vào những thách thức khác nhau, đó là sự bùng nổ dân số ở các nước đang phát triển và sự già hóa dân số ở các nước phát triển
1.1.2.1 Gia tăng dân số cơ học
Xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu như gia tăng tự nhiên là động lực phát triển dân số thì gia tăng cơ học tuy không có ảnh hưởng lớn đến tổng số dân thế giới nói chung nhưng đối với từng khu vực, từng quốc gia thì nó lại có ý nghĩa quan trọng
Trong quá trình sinh tồn, vì nhiều lí do và hoàn cảnh khác nhau con người có thể thay đổi địa bàn cư trú, từ đó làm xuất hiện khái niệm chuyển cư Sự chuyển cư có liên quan chặt chẽ đến điều kiện sống của con người Chuyển cư làm thay đổi số lượng và cấu trúc dân số và kéo theo các hiện tượng KT - XH khác Để phân biệt với gia tăng dân số tự nhiên, người ta gọi sự gia tăng dân số ở một lãnh thổ liên quan đến việc chuyển cư là gia tăng dân số cơ học Gia tăng dân
số cơ học có thể tính với các chỉ số sau:
- Tỉ suất nhập cư (Immigration Rate - IR) là tỉ số giữa người nhập cư và số dân trung bình năm (đơn vị tính là %)
IR = I
P k Trong đó, I: số người nhập cư trong năm
P: dân số trung bình năm
Trang 16P: Dân số trung bình năm của vùng xuất cư
- Chuyển cư thực (Net Migration – NM) là hiệu số giữa số người nhập cư và số người xuất cư
Pt: dân số tại thời điểm điều tra cuối Công thức trên cho biết tốc độ tăng trưởng dân số trong một năm
Tính tốc độ tăng trưởng dân số trong khoảng thời gian nhiều năm, các nhà dân số học thường sử dụng công thức hàm mũ để dự báo dân số
Pt = P0×ert
Từ đó ta có:
Po
Pt t
r Po
Pt rt
Po
Pt e
e Po
Pt rt rt
ln
*
1 ln
1.1.3 Biến động dân số
Qui mô và cơ cấu dân số trên một vùng lãnh thổ không ngừng biến động do số lượng người sinh ra và chết đi luôn thay đổi, bên cạnh đó còn có sự di chuyển thường xuyên của các nhóm dân cư đi và đến
1.1.3.1 Biến động về qui mô dân số
Trang 17Qui mô dân số của một vùng là tổng số dân sinh sống trong vùng lãnh thổ đó vào một thời điểm xác định Theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, tính đến giữa năm 2005 dân số thế giới là 6.477 triệu người trong tổng số trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Qui mô dân số giữa các nước là rất khác nhau, có 11 quốc gia với số dân trên 100 triệu người (chiếm 61% dân số thế giới) trong khi đó có 17 quốc gia chỉ có số dân từ 0,01 – 0,1 triệu người (chiếm 0,018% dân số thế giới)
Qui mô dân số thế giới có nhiều biến động, thời gian dân số tăng thêm một tỉ người và thời gian tăng gấp đôi ngày càng rút ngắn Lịch sử nhân loại trải qua hàng triệu năm mới xuất hiện một tỉ người đầu tiên, nhưng sau đó thời gian dân số có thêm một tỉ người ngày càng rút ngắn, từ 123 năm xuống 32 năm và chỉ còn 12 năm Thời gian dân số tăng gấp đôi cũng rút ngắn, từ 300 năm xuống 123 năm và chỉ còn 47 năm
Bảng 1.1: Tình hình phát triển dân số thế giới
Năm 1804 1927 1959 1974 1987 1999
2025 (dự báo)
Số dân trên thê giới
Thời gian dân sô
(Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/World_population)
Qui mô dân số có sự chênh lệch giữa nhóm nước phát triển và đang phát triển 95% số dân tăng thêm hàng năm tập trung ở các nước đang phát triển, năm 2005 các nước này chiếm 81% dân số thế giới Dự báo đến 2025 có tới 84% dân số thế giới tập trung ở các nước đang phát triển, các nước phát triển có tỉ trọng dân số giảm dần từ 19% (2005) xuống 16% (2025) Nguyên nhân chính là do tốc độ và trình độ phát triển KT - XH khác nhau ở các nhóm nước
1.1.3.2 Biến động về kết cấu dân số
Kết cấu sinh học dân số
Bao gồm kết cấu dân số theo độ tuổi và theo giới Việc thống kê dân số theo kết cấu sinh học ở mỗi vùng không chỉ có ý nghĩa đối với các vấn đề nghiên cứu dân số mà còn đóng vai trò
quan trọng trong chiến lược phát triển KT - XH của từng vùng, từng khu vực đó
- Kết cấu dân số theo độ tuổi là sự tập hợp những nhóm người sắp xếp theo những nhóm tuổi nhất định Trong dân số học, cơ cấu dân số theo độ tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó
Trang 18thể hiện khá rõ nét tình hình sinh – tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một vùng, một quốc gia …
Thông thường dân số được chia thành ba nhóm dân số theo độ tuổi có liên quan đến việc
sử dụng lao động, đó là:
+ Nhóm tuổi dưới lao động: từ 0 – 14 tuổi
+ Nhóm tuổi lao động: từ 15 – 59 tuổi (hoặc đến 64 tuổi)
+ Nhóm tuổi trên lao động: 60 tuổi (hoặc 65 tuổi) trở lên
Theo luật lao động ở Việt Nam, tuổi lao động được qui định đối với nam từ 15 đến 59 tuổi, với nữ từ 15 đến hết 54 tuổi
Căn cứ vào kết cấu dân số theo độ tuổi, có thể phân biệt được những nước có kết cấu dân
Kết cấu dân số già thường xuất hiện ở những nước phát triển với tỉ lệ dân số dưới lao động chiếm chưa đến 25% dân số và đang có xu hướng tiếp tục giảm, trong khi đó tỉ lệ dân số trên độ tuổi lao động chiếm trên 10% dân số và đang có xu hướng tăng lên Nguyên nhân chính
là so sự hạ thấp của mức sinh dẫn đến tỉ lệ trẻ em giảm xuống, bên cạnh đó nhờ sự phát triển và
sự tiến bộ của các yếu tố KT - XH, y tế, chăm sóc sức khỏe … làm cho tỉ lệ người già tăng lên
(Nguồn: Ủy ban Dân số - Gia đình – Trẻ em, Hà Nội tháng 6/2006
Trang 19Tính toán từ kết quả điều tra dân số Việt Nam, năm 2009)
Tỉ số phụ thuộc không ngừng giảm xuống và giảm một cách nhanh chóng Nếu năm 1979,
cứ 100 người trong độ tuổi lao động phải nuôi 98 người ngoài độ tuổi lao động (bình quân mỗi người phải nuôi 0,98 người phụ thuộc) thì đến năm 2009 chỉ còn 52, (bình quân 2 người lao động chỉ nuôi thêm 1 người phụ thuộc) Theo dự báo, đến năm 2015 tỉ số phụ thuộc dân số của Việt Nam chỉ còn khoảng 44, nghĩa là chưa đạt một nửa so với năm 1979
Theo đó, Việt Nam đang ở trong thời kì “cơ cấu dân số vàng” hay “ dư lợi dân số”, tức là
gánh nặng tỉ lệ dân số phụ thuộc giảm dần, tạo điều kiện tốt cho kinh tế quốc dân; kinh tế gia đình
có tiết kiệm để đầu tư phát triển
Trong "gánh nặng phụ thuộc ", người ta còn chia ra tỉ số phụ thuộc trẻ và tỉ số phụ thuộc già bằng các công thức tính sau:
Tỉ số phụ thuộc trẻ = ố ườ ướ ổ độ
Có nhiều cách để thể hiện kết cấu dân số theo giới
+ Kết cấu dân số theo giới được chia theo tỉ suất phần trăm
ℎ ặ + hoặc tỉ số nam được tính trên 100 nữ cũng tương tự như tỉ số nữ
× ℎ ặ × Trong đó: Pm: dân số nam
Pf: dân số nữ P: tổng số dân
Cơ cấu dân số theo giới luôn biến động theo không gian và thời gian ở từng khu vực, từng quốc gia Trên thế giới, từ nửa sau thế kỉ XX trở lại đây, tỉ số giới tính được xác định bằng số
Trang 20nam trên 100 nữ có nhiều thay đổi Giai đoạn 1950 – 1960 tỉ suất giới tính luôn nhỏ hơn 100, nhưng từ 1970 đến nay tỉ suất này biến động theo xu hướng tăng tỉ lệ nam so với tỉ lệ nữ Dự báo đến 2025, tỉ suất nam/100 nữ của thế giới luôn cao hơn 100, tức là dân số nam nhiều hơn dân số nữ
Kết cấu dân số theo giới tính có sự khác biệt ở các nhóm nước Ở các nước phát triển, số nam luôn nhiều hơn nữ; ngược lại, ở các nước đang phát triển số nữ cao hơn số nam
Bảng1.3 Tỉ suất giới tính (đơn vị: %)
Năm Toàn thế giới Các nước đang
phát triển Các nước phát triển
(Nguồn: Nguyễn Kim Hồng (2001) - Dân số học đại cương, trang 11)7
Tỉ suất giới tính thay đổi theo từng độ tuổi Ở độ tuổi sơ sinh, nam luôn nhiều hơn nữ nhưng từ độ tuổi trưởng thành trở đi nữ luôn nhiều hơn nam Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến tỉ suất giới tính như chiến tranh, chuyển cư, thói quen sinh hoạt, khả năng tự bảo vệ chăm sóc bản thân …
Ở Việt Nam, từ năm 1960 đến nay tỉ suất giới tính luôn dưới mức 100, có năm chỉ đạt 92,3% Tuy nhiên từ sau 1979 đến nay tỉ suất nam/nữ có xu hướng tăng dần, đến năm 2009 đạt 98,1%
Tỉ suất giới tính hiện nay nam vẫn ít hơn nữ - điều đó thể hiện sự ổn định và cân bằng về giới tính của dân số Việt Nam Tuy nhiên nếu tỉ suất giới tính cứ tăng như hiện nay, dự báo chỉ trong khoảng 20 – 30 năm nữa, sẽ có khoảng 3 triệu thanh niên Việt Nam rơi vào cảnh “thừa nam – thiếu nữ chưa có gia đình” Đây không còn là vấn đề riêng của các nhà dân số học hay các nhà nhân khẩu học mà nó sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển KT - XH của cả nước
Trang 21Hình 1.4: Tỉ suất giới tính Việt Nam, giai đoạn 1979 – 2009
Kết cấu sinh học của dân số còn được thể hiện tổng hợp qua tháp dân số Tháp dân
số là sự biểu thị kết hợp cơ cấu tuổi và giới tính của dân số dưới dạng hình học Tháp dân số
không chỉ cung cấp những thông tin chung về tuổi, giới tính của dân số một quốc gia mà còn có thể chỉ ra các yếu tố làm thay đổi qui mô và cơ cấu dân số trong những khoảng thời gian trước
và sau đó
Hình 1.5 Các kiểu tháp dân số cơ bản
Có ba kiểu tháp dân số cơ bản:
+ Kiểu mở rộng: đáy tháp rộng và hẹp dần về phía đỉnh, thể hiện nhóm tuổi dưới lao
động lớn và tỉ lệ dân số thuộc nhóm trên độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ nhỏ, đây là hình dạng tháp phổ biến ở những nước có kết cấu dân số trẻ
+Kiểu thu hẹp: Tháp có dạng phình to ở giữa, thu hẹp về hai phía đáy và đỉnh tháp.Thể
hiện sự chuyển tiếp từ dân số trẻ sang dân số già, tỉ suất sinh giảm nhanh, nhóm trẻ em ít, gia tăng dân số có xu hướng giảm dần
98,1
92 93 94 95 96 97 98 99
%
Tỉ suất nam/100 nữ
Trang 22+ Kiểu ổn định: Tháp có dạng hẹp ở phần đáy và mở rộng hơn ở phần đỉnh, thể hiện tỉ
suất sinh thấp, tỉ lệ tử thấp ở nhóm trẻ nhưng cao ở nhóm già, tuổi thọ trung bình cao, dân số ổn định cả về qui mô lẫn cơ cấu, đây là dạng tháp của những nước có kết cấu dân số già
Hình 1.6: Tháp dân số Việt Nam năm 2000
Hình 1.7: Tháp dân số Việt Nam năm 2009
So sánh tháp dân số Việt Nam năm 2000 và năm 2009 cho thấy, tháp dân số bắt đầu chuyển sang dạng hình chum, tức là dân số đang đi vào thời kì ổn định Sự “thu hẹp” khá nhanh
ở phần chân tháp tương ứng với sự giảm tỉ trọng của nhóm dân số dưới 15 tuổi ở cả hai giới cho thấy mức sinh của nước ta trong 9 năm qua đã giảm nhanh và giảm liên tục Sự “nở ra” khá nhanh trên đỉnh tháp ở cả hai giới thể hiện xu hướng già hóa của dân số Việt Nam, tỉ trọng người ngoài độ tuổi lao động đang tăng lên Sự “nở ra” khá đều của dân số ở các nhóm tuổi từ
15 – 54 làm cho hình dạng tháp chuyển từ hình tam giác cân sang dạng hình chum, dân số bắt đầu đi vào giai đoạn ổn định và có xu hướng già hóa
Kết cấu xã hội của dân số:
Phản ánh những khía cạnh xã hội của dân cư ở một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định, bao gồm kết cấu dân số theo lao động, nghề nghiệp, trình độ văn hóa … Kết cấu xã
hội của dân số thể hiện rõ chất lượng dân cư của đơn vị lãnh thổ cần nghiên cứu
- Kết cấu dân số theo lao động
0-4 10-14
6.000.000 4.000.000 2.000.000 2.000.000 4.000.000 6.000.000
Trang 23 Nguồn lao động: bao gồm dân số trong độ tuổi qui định có khả năng tham gia lao động (thông thường là từ 15 tuổi đến 55 (đối với nữ) và 60 (đối với nam))
Nguồn lao động được chia thành 2 nhóm:
o Nhóm dân số hoạt động kinh tế còn gọi là lực lượng lao động, bao gồm những người có việc làm ổn định, có việc làm tạm thời và những người có nhu cầu lao động nhưng
chưa có việc làm
Căn cứ vào số ngày lao động trong năm người ta còn chia nhóm dân số hoạt động kinh tế thành hai nhóm: dân số hoạt động kinh tế thường xuyên và dân số hoạt động kinh tế không thường xuyên
- Dân số hoạt động kinh tế thường xuyên là những người có tổng số ngày
làm việc lớn hơn một nửa số ngày trong năm (ở Việt Nam là ≥ 183 ngày)
- Dân số không hoạt động kinh tế thường xuyên là những người có tổng số
ngày làm việc ít hơn một nửa số ngày trong năm
o Nhóm dân số không hoạt động kinh tế bao gồm những người đủ tuổi lao động trở lên nhưng không thuộc bộ phận dân số hoạt động kinh tế Lực lượng này bao gồm học sinh, sinh
viên, những người nội trợ hoặc những người thuộc tình trạng khác không tham gia lao động
Theo quy luật chung về mức độ tham gia hoạt động kinh tế của dân số là sẽ tăng nhanh ở
độ tuổi 15 – 24, đạt cực đại và ổn định ở giai đoạn 25 – 39 tuổi và từ năm 40 tuổi trở lên, tỉ lệ dân số hoạt động kinh tế bắt đầu giảm và giảm liên tục tới mức thấp nhất
Dân số hoạt động theo khu vực kinh tế:
Hiện nay trên thế giới đang phổ biến cách phân chia các hoạt động kinh tế thành 3 khu vực, ứng với mỗi khu vực có một số lượng lao động nhất định
- KVI: lao động trong các ngành nông – lâm –ngư nghiệp
- KVII: lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng
- KVIII: lao động trong các ngành dịch vụ
Xét trên qui mô toàn thế giới, năm 2005 có trên 40% dân số hoạt động trong KVI, 30% trong KVII và gần 30% trong KVIII Tuy nhiên cơ cấu này có sự khác biệt giữa các nhóm nước, các nước phát triển số lao động trong ngành dịch vụ luôn cao, đạt trên 80% (Hoa Kì) hoặc 50 – 79% (các nước khác ở Bắc Mĩ và Tây Âu); các nước đang phát triển, tỉ lệ này chiếm chưa đến 30% dân số
Xu hướng chung của nền kinh tế toàn cầu hiện nay là chuyển dịch theo hướng CNH – HĐH nên tỉ trọng lao động trong các khu vực kinh tế đang có sự thay đổi và thay đổi nhiều nhất
là ở các nước đang phát triển với tỉ lệ lao động trong KVIII ngày càng tăng lên
Trang 241.2 Phân bố dân cư
1.2.1 Khái niệm dân cư
Dân cư là tập hợp người sống trên một đơn vị lãnh thổ được đặc trưng bởi kết cấu, mối quan hệ qua lại với nhau về mặt kinh tế, bởi tính chất của việc phân công lao động và cư trú theo lãnh thổ
Đặc điểm của dân cư
Trong hệ thống tự nhiên – dân cư – kinh tế, dân cư là thành phần năng động nhất gắn bó
giữa tự nhiên và kinh tế nhờ những thuộc tính sẵn có của mình và toàn bộ những giá trị vật chất lẫn tinh thần của xã hội đều do dân cư tạo ra
Về phương diện kinh tế dân cư vừa là người sản xuất vừa là người tiêu thụ những sản
phẩm do mình tự sản xuất ra Thông qua việc tiêu thụ các giá trị vật chất – tinh thần, dân cư đảm bảo được sự tái sản xuất của chính mình bên cạnh các quá trình tái sản xuất khác của xã hội Nói cách khác, dân cư là khâu trung tâm của quá trình tái sản xuất xã hội, có ảnh hưởng quan trọng đến sự phân bố và phát triển của các ngành kinh tế
Dân cư cũng có quá trình tái sản xuất của riêng mình Tái sản xuất dân cư thực chất là tạo
ra thế hệ mới, quá trình này đòi hỏi một khoảng thời gian lâu hơn các quá trình sản xuất vật chất khác; Bên cạnh đó, tái sản xuất dân cư có sức ì rất lớn, tức là nó thường bắt đầu và dừng lại chậm hơn các quá trình sản xuất vật chất
1.2.2 Sự phân bố dân cư
Khái niệm phân bố dân cư: Phân bố dân cư là sự sắp xếp số dân một cách tự giác hoặc
tự phát trên một đơn vị lãnh thổ nhất định phù hợp với điều kiện sống và các yêu cầu của xã hội
Trên thế giới có những nơi tập trung rất đông dân nhưng có nơi dân cư khá thưa thớt Sự phân bố dân cư là một hiện tượng xã hội có tính quy luật, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển KT - XH
Hiện nay, ở nhiều nước, nhất là những nước đang phát triển, do quá trình CNH và HĐH, dân cư tập trung ngày càng đông vào các thành phố lớn, người lao động phải sống chen chúc trong những khu chật hẹp, thiếu tiện nghi… trong khi đó ở vùng nông thôn, dân cư thưa thớt và thậm chí là thiếu lao động
Ngược lại, ở những nước phát triển, sự sắp xếp dân cư mang tính khoa học hơn Số dân thành thị chiếm tỉ lệ cao phù hợp với sự phát triển của công nghiệp và đô thị; bên cạnh đó, dân
cư còn được phân bố lại ở các vùng thưa dân nhưng lại giàu tiềm năng, nhằm mục đích tạo điều
Trang 25kiện khai thác tốt mọi tài nguyên, tận dụng và điều hòa nguồn lao động giữa các vùng trong phạm vi cả nước Vậy, có thể nói phân bố dân cư là một hiện tượng xã hội có quy luật
1.2.3 Mật độ dân số (population density)
Để thể hiện tình hình phân bố dân cư, người ta thường sử dụng tiêu chí mật độ dân số, mật độ dân số dùng để xác định mức độ tập trung của số dân sinh sống trên một đơn vị lãnh thổ
và được tính bằng tương quan giữa số dân trên một đơn vị diện tích ứng với số dân đó
D = PSP: Số dân cư trú của lãnh thổ
S: Diện tích lãnh thổ (không kể các hồ lớn trong nội địa)
Để đo mật độ dân số người ta thường dùng đơn vị: người/km2
Năm 2009, Việt Nam có tổng dân số là 85.789.573 người với diện tích trên 329,3 nghìn
km2, mật độ dân số là 259 người/km2, xếp thứ 35 trên thế giới
Vậy, mật độ dân số là đại lượng bình quân chỉ sự phân bố của dân cư trên một lãnh thổ nào đó Nói cách khác, mật độ dân số chính là số dân cư cư trú, sinh sống tính trung bình trên một đơn vị diện tích (thường là km 2 )
Mật độ dân số càng lớn thể hiện mức độ tập trung dân càng cao và ngược lại, mật độ dân
số càng nhỏ thể hiện mức độ tập trung dân cư càng thấp Tuy nhiên trên thực tế, dân cư không tập trung đồng đều trên các đơn vị lãnh thổ nên việc tính toán mật độ dân số trên một đơn vị lãnh thổ càng nhỏ thì độ chính xác càng cao
Các loại mật độ dân số
Tùy theo mục đích nghiên cứu, người ta có thể tính toán và sử dụng các loại mật độ khác như:
+ Mật độ dân số thành thị (số dân thành thị tính trung bình trên một thành phố)
+ Mật độ dân số nông thôn (số dân nông thôn tính trung bình trên một km2 của vùng nông thôn)
+ Mật độ dân số trên một đơn vị diện tích canh tác (người/ha)
+ Mật độ lao động trên một đơn vị canh tác (lao động/ha)
1.2.4 Biến động phân bố dân cư
1.2.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới phân bố dân cư
Sự phân bố dân cư trên một đơn vị lãnh thổ luôn luôn biến động vì sự phân bố dân cư là kết quả tác động tổng hợp của hàng loạt các nhân tố cả tự nhiên và KT - XH
Trang 26 Nhóm nhân tố tự nhiên: Có vai trò quan trọng đối với sự phân bố dân cư vì nó có
thể tạo điều kiện thuận lợi hay gây trở ngại Các điều kiện tự nhiên bao gồm: địa hình, khí hậu, nguồn nước, đất đai, khoáng sản … có tác động không nhỏ đến sự phân bố dân cư Các điều kiện tự nhiên tác động đến tâm lý của con người, tạo điều kiện thuận lợi hay gây khó khăn cho các quá trình sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến bức tranh phân bố dân cư
Dân cư có xu hướng tập trung đông đúc ở những khu vực có khí hậu ôn hòa, địa hình bằng phẳng với độ cao dưới 200m và ở gần các nguồn nước, nhất là lưu vực các con sông lớn Bằng chứng là các nền văn minh của nhân loại thường gắn liền với các con sông lớn như nền văn minh Ấn - Hằng, nền văn minh Lưỡng Hà … và cho đến nay, đây vẫn là khu vực tập trung các nước đông dân trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước thuộc khu vực Đông Nam
Á … Ngược lại, những nơi có khí hậu quá khắc nghiệt (quá nóng hoặc quá lạnh), địa hình núi non hiểm trở, đất đai khô cằn … thường có mật độ dân cư thưa thớt như hoang mạc Xahara, dãy Hymalaya, các khu vực hàn đới
Tuy nhiên, trong thời đại phát triển công nghiệp hiện nay, khi phân tích các nhân tố tự nhiên cần chú ý đến nhân tố khoáng sản Đây là nhân tố có ý nghĩa nhất định trong việc phân bố lại dân cư của một số nước và thế giới Có những nơi điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai khô cằn, thiếu nguồn nước nhưng lại tập trung các mỏ khoáng sản lớn vẫn có sức hút đối với dân cư, ví dụ như các mỏ lưu huỳnh ở hoang mạc Atacama ven bờ biển Chi-lê …
Nhóm nhân tố KT - XH, lịch sử
- Trình độ phát triển sản xuất: có ý nghĩa quyết định đối với sự phân bố dân cư
Trong xã hội nguyên thủy, con người sống không tập trung do phải lang thang kiếm sống bằng việc săn bắt, hái lượm… Đến thời đại phong kiến, nền nông nghiệp định canh ra đời, bắt đầu cho sự tập trung một số lượng dân tương đối lớn trên một đơn vị diện tích nhỏ Sau đó, chủ nghĩa tư bản và cao hơn nữa là chủ nghĩa xã hội xuất hiện cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, hệ thống các thành phố lớn đã thực sự trở thành trung tâm thu hút dân cư Trình độ sản xuất phát triển ngày càng cao, dân cư càng tập trung đông đúc … từ đó làm cho bộ mặt phân bố dân cư trên thế giới dần dần thay đổi
- Tính chất của nền kinh tế: sự phân bố dân cư phụ thuộc chặt chẽ vào tính chất của
nền kinh tế Các khu dân cư đông thường gắn liền với hoạt động sản xuất công nghiệp Trong các KCN, mật độ dân số lại có sự khác nhau tùy theo tính chất của từng ngành sản xuất Hiện nay với khoa học kĩ thuật ngày càng tiên tiến, hiện đại mức độ tập trung dân cư ở các KCN có
xu hướng giảm
Trang 27Các khu vực sản xuất nông nghiệp thường có mật độ dân cư thưa thớt hơn Một số nơi tuy cùng hoạt động nông nghiệp nhưng vẫn có sự khác biệt về mật độ dân số, ví dụ như những vùng trồng lúa nước thường có mật độ dân cư trù mật hơn những vùng phát triển lâm nghiệp, vùng trồng lúa mì, ngô
- Lịch sử khai thác lãnh thổ: Những khu vực có lịch sử khai thác lãnh thổ lâu đời
như Đông Nam Á, Tây Âu… thường tập trung đông dân cư hơn các vùng mới khai thác như Canada, châu Úc… Ở Việt Nam, cùng là đồng bằng châu thổ màu mỡ nhưng do lịch sử khai thác lâu đời hơn nên mật độ dân số ĐBSH năm 2006 là 1225 người/km2 trong khi đó ĐBSCL chỉ là 429 người/km2
- Chuyển cư: Các dòng chuyển cư có tác động nhất định tới bức tranh phân bố dân
cư của thế giới Có nhiều loại chuyển cư khác nhau: chuyển cư có tổ chức hay không có tổ chức; chuyển cư vĩnh viễn hay tạm thời… Xét chung, các luồng chuyển cư thường gắn liền với những nhân tố KT - XH Chuyển cư làm tăng mật độ dân số ở vùng nhập cư và giảm mật độ dân số ở vùng xuất cư Trong lịch sử nhân loại, bức tranh phân bố dân cư thế giới cũng đã có nhiều biến động do chuyển cư
Tổng hòa các yếu tố trên cho thấy, sự phân bố dân cư mang tính quy luật và chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố Trong đó, nhóm các yếu tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng, nhóm nhân tố KT - XH đóng vai trò quyết định Các yếu tố KT - XH luôn luôn biến động nên bức tranh phân bố dân cư của thế giới cũng có nhiều biến động theo thời gian lẫn không gian
1.2.4.2 Đặc điểm biến động phân bố dân cư thế giới
Biến động phân bố dân cư theo thời gian
Theo số liệu thống kê, mật độ dân số thế giới có sự thay đổi theo các thời kì Khi mới xuất hiện loài người, dân số chỉ khoảng 12,5 vạn, mật độ dân số thế giới lúc này chỉ là 0,00025 người/km2 Sang thời kì nông nghiệp, mật độ dân số gần 1 người/km2; đến thời đại công nghiệp, mật độ dân số thế giới không ngừng tăng lên, năm 1650 là 3,7 người/km2 và cho đến năm 2005 đạt 48 người/km2
Từ nửa sau thế kỷ XVII đến nay, bức tranh phân bố dân cư giữa các châu lục có nhiều biến động Sự thay đổi thể hiện khá rõ theo thời gian
Châu Á vẫn là khu vực đông dân nhất thế giới, tỉ trọng dân cư trong 4 thế kỉ qua có thay đổi nhưng không đáng kể Từ giữa thế kỉ XVIII cho đến nay, châu Á luôn chiếm trên 60% dân
số toàn cầu Đây là nơi có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, nhất là vùng châu Á gió mùa Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, châu Á là nơi tập trung những chiếc nôi của nền văn minh nhân loại như nền văn minh Ấn Hằng, Lưỡng Hà … đến nay, châu Á tập trung hầu hết các
Trang 28nước đông dân và có tốc độ gia tăng tự nhiên cao và châu Á ít chịu ảnh hưởng của các cuộc chuyển cư liên lục địa như châu Phi, châu Mĩ
Bảng 1.4 Tỉ trọng phân bố dân cư theo các châu lục, thời kì 1650 – 2005
Châu Âu là khu vực đông dân thứ hai, sau châu Á Giai đoạn 1650 – 1750, tỉ trọng dân
số ổn định ở mức 21,2 – 21,5% Vào giữa thế kỉ XIX, tỉ trọng dân số tăng vọt lên đạt 24,2% Nguyên nhân chính là do sự bùng nổ dân số Vào đầu thế kỉ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu kéo theo đó năng suất lao động tăng lên, nhiều sản phẩm mới ra đời đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống của nhân dân Tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số theo đó mà tăng lên nhưng sau đó nhanh chóng đi vào ổn định Việc bùng nổ dân số châu Âu ít ảnh hưởng đến dân số thế giới vì dân số của châu lục này chiếm tỉ trọng tương đối thấp Từ sau thế kỉ XIX đến nay, tỉ trọng dân cư bắt đầu giảm dần và giảm một cách đột ngột từ 24,5% (năm 1850) xuống còn 11,2% (2005) Nguyên nhân là do châu Âu bao gồm những quốc gia phát triển, đang đi vào thời
kì hậu công nghiệp nên dân số đang có dấu hiệu già hóa Bên cạnh đó, tỉ trọng dân số của châu
Âu giảm còn do hậu quả của những đợt chuyển cư sang các châu lục mới khai phá sau này như châu Mĩ và châu Đại Dương
Dân số châu Phi giảm mạnh từ giữa thế kỉ XVII đến giữa thế kỉ XIX Nguyên nhân chủ yếu do chuyển cư, đó là các cuộc vận chuyển nô lệ châu Phi sang châu Mĩ của các nhà tư bản phương Tây Nhưng từ cuối XIX cho đến nay, dân số châu Phi bắt đầu tăng lên do mức gia tăng
tự nhiên cao, mức tăng dân số tự nhiên của đa số các nước châu Phi còn ở mức khá cao, thường trên 2%/năm Hiện nay đây là châu lục có mức tăng dân số tự nhiên cao nhất thế giới
Châu Mĩ có số dân tăng liên tục do các dòng nhập cư liên tục từ châu Phi và châu Âu Châu Úc là châu lục được tìm thấy muộn nhất trong các châu lục trên nên số dân còn ít, chiếm tỉ trọng nhỏ trong toàn bộ dân số thế giới (dưới 0,5%) Tỉ trọng dân số từ sau 1850 đến
2005 có tăng lên (từ 0,2% lên 0,5%) do sự gia tăng dân số tự nhiên và các dòng nhập cư từ châu
Trang 29Âu Nhìn chung, dân số ở châu lục này có tăng qua các năm về số lượng tuyệt đối nhưng với số lượng không đáng kể nên tỉ trọng dân số có xu hướng giảm so với các châu lục khác
Biến động dân cư theo không gian
Mật độ dân số thế giới năm 2005 là 48 người/km2 Tuy nhiên, bức tranh phân bố dân cư trên thực tế không đồng đều, vẫn có những vùng đông dân, vùng thưa dân thậm chí còn có những khu vực không có người ở
- Phân bố dân cư có sự thay đổi theo độ cao của địa hình
Địa hình từ 500m trở xuống chiếm 57,3% diện tích thế giới và tập trung đến 4/5 nhân loại Trong đó, có 56,2% dân số tập trung ở khu vực có độ cao địa hình tuyệt đối dưới 200m; với
độ cao trên 1000m chỉ có 8% dân số cư trú
- Phân bố dân cư biến động theo vĩ tuyến
Đại bộ phận dân cư tập trung ở Bắc bán cầu và trù mật nhất từ khu vực quanh chí tuyến bắc (22027’B), (trừ những vùng hoang mạc ở Tây Á và Bắc Phi) đến 500B ở Tây Âu Ở Nam bán cầu, địa hình chủ yếu là đại dương nên sự phân bố dân cư không rõ nét, đa số dân cư tập trung quanh khu vực xích đạo đến chí tuyến nam (23027’N) Các khu vực còn lại dân cư phân bố thưa thớt do những hạn chế về điều kiện cư trú như khí hậu, đất đai …
- Phân bố dân cư thay đổi theo các châu lục
Đông dân nhất vẫn là khu vực Đông và Nam châu Á, chiếm hơn 1/2 dân số thế giới với các cường quốc dân số như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước trong khu vực Đông Nam Á Khu vực tập trung dân đông thứ hai trên thế giới là hai bờ của Bắc Đại Tây Dương gồm Đông Hoa Kỳ, Canada và các nước thuộc Tây Bắc châu Âu chiếm 10% dân số thế giới Tiếp theo là vùng duyên hải Đông Phi, Tây Phi, Đông Âu và các nước Trung Âu
Ở những vùng băng giá, đồng rêu ven Bắc Băng Dương và vùng hoang mạc rộng lớn ở châu Phi và châu Úc, khu vực rừng xích đạo Nam Mĩ và châu Phi, những vùng núi cao hiểm trở
… dân cư cực kì thưa thớt, có nơi chưa đến 1 người/km2
- Phân bố dân cư thay đổi theo khu vực nông thôn - thành thị
Ở các nước phát triển dân cư chủ yếu tập trung ở thành thị với hơn 80% dân số Ngược lại, ở các nước đang phát triển, tỉ lệ thị dân chưa cao, điển hình như Việt Nam, đến tháng 4 năm
2009 chỉ có 29,6% dân số tập trung ở thành thị so với 70,4% dân số tập trung ở nông thôn Điều này cho thấy mạng lưới đô thị ở các nước đang phát triển còn khá mỏng so với các nước phát triển
Tuy nhiên, ở các khu vực thành thị, với tính chất nền kinh tế chủ yếu là phi nông nghiệp nên mức độ tập trung dân số ở các đô thị thường rất cao, dẫn tới hệ quả là mật độ dân số thành
Trang 30thị luôn cao hơn so với mật độ dân số nông thôn Theo báo cáo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam tháng 04/2009, Tây Bắc và Tây Nguyên là những nơi có tốc độ ĐTH khá chậm, mạng lưới các đô thị còn thưa thớt nên mật độ dân số ở đây dao động từ 69 người/km2đến 93 người/km2 Trong khi đó khu vực ĐNB - nơi có tốc độ ĐTH cao nhất cả nước với 3 trung tâm đô thị lớn: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu – mật độ dân số lên tới
594 người/km2, cao gấp 6 đến 9 lần
Tình hình chung về phân bố dân cư ở Việt Nam:
Như các quốc gia khác, sự phân bố dân cư ở Việt Nam cũng phụ thuộc vào các nhân tố tự nhiên lẫn KT - XH, lịch sử… Tùy theo từng thời kì và từng vùng lãnh thổ cụ thể mà hình thành nên bức tranh phân bố dân cư như ngày nay Mật độ dân số nước ta không ngừng tăng lên từ
195 người/km2 (1979), 230 người/km2 (1996) và 259 người/km2 (2009)
Dân cư có sự phân bố không đồng đều giữa đồng bằng và trung du, miền núi; giữa thành thị và nông thôn Vùng đồng bằng chiếm 1/4 diện tích lãnh thổ nhưng tập trung tới 75% dân số với mật độ tương đối cao: 1305người/km2 ở ĐBSH và 429 người/km2 ở ĐBSCL (năm 2009) Trong khi đó, 3/4 diện tích nước ta là đồi núi nhưng chỉ tập trung được 25% dân số với mật độ dân số thấp hơn cả mức trung bình của cả nước (259 người/km2), như Tây Bắc 69 người/km2, Tây Nguyên 93 người/km2, Đông Bắc 148 người/km2 (năm 2009)
Hiện nay trên 70% dân cư tập trung ở nông thôn, tuy nhiên những năm trở lại đây cùng với tiến trình CNH – HĐH, nhiều đô thị mới ra đời và trở thành cực hút đối với dân cư Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở tháng 4 năm 2009 của Tổng cục thống kê Việt Nam, tỉ lệ dân thành thị và nông thôn đang có sự chuyển dịch đáng kể theo tăng tỉ lệ dân thành thị và giảm tỉ lệ dân nông thôn
Năm 2009, tỉ lệ dân thành thị chiếm 29,6%; giai đoạn 1999 – 2009, mức tăng dân số thành thị bình quân 3,4%/năm, trong khi đó, dân số nông thôn chỉ tăng 0,4%/năm Tuy nhiên, mức độ ĐTH giữa các vùng có sự khác biệt: ĐNB cao nhất: 57,1%, ĐBSH: 29,2%, trong khi đó TDMNPB: 16%; ĐBSCL: 22,8%
Tỉ lệ dân thành thị thấp nhưng mật độ dân số ở các thành phố luôn cao, cao hơn mức trung bình cả nước Năm 2009, cả nước có mật độ dân số trung bình là 259 người/km2 nhưng TP.Hồ Chí Minh là 2410 người/km2, Hà Nội 1296 người/km2 - cao gấp 5 – 10 lần so với mức trung bình cả nước
Gia tăng dân số thành thị là một tất yếu nhưng gia tăng quá nhanh cũng đặt ra nhiều vấn
đề về KT - XH – MT cần phải giải quyết Có thể nói, sự phân bố dân cư không đồng đều hiện
Trang 31nay của nước ta có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế chung của cả nước về mặt tích cực lẫn tiêu cực
1.3 Đô thị hóa
1.3.1 Khái niệm ĐTH
ĐTH là quá trình biến các điểm quần cư nông thôn thành quần cư đô thị Quá trình ĐTH
diễn ra từ rất sớm nhưng thuật ngữ “đô thị hóa” mới thực sự được phổ biến vào những năm đầu
thế kỉ XX ĐTH là khái niệm đa chiều, đa diện về KT - XH lẫn môi trường với những biểu hiện thay đổi mạnh mẽ trong sản xuất và đời sống như sự di chuyển dân cư, thay đổi nơi ở, sự phát triển của sản xuất công nghiệp và sự thay đổi lối sống, mức sống biến thành xã hội văn minh hơn
Theo nghĩa hẹp, ĐTH được hiểu là quá trình biến thành đô thị, tức là sự phát triển của thành phố và nâng cao vai trò của nó trong đời sống KT - XH, tăng tỉ trọng dân số đô thị trong nước, trong vùng và trên thế giới
Theo nghĩa rộng, “ĐTH” là một quá trình lịch sử nâng cao vai trò của đô thị trong sự vận động phát triển của xã hội, bao gồm những nội dung sau:
- Quá trình tập trung dân cư vào các đô thị (sự chuyển cư vào các đô thị) hình thành
và phát triển các đô thị mới
- Quá trình tập trung dân cư càng đông vào các đô thị lớn
- Quá trình mở rộng không ngừng diện tích đô thị
- Quá trình phổ biến lối sống đô thị
Như vậy “ĐTH là một quá trình KT - XH mà biểu hiện của nó là sự tăng nhanh về số lượng, qui mô của các điểm dân cư, sự tập trung dân cư trong các thành phố, nhất là các thành phố lớn và phổ biến rộng rãi lối sống thành thị”
1.3.2 Đặc điểm đô thị hóa
Dân cư đô thị có xu hướng tăng nhanh
Dân cư đô thị trên thế giới tăng lên ngày càng nhanh chóng cả về số lượng dân thành thị lẫn số lượng đô thị
Năm 2008 có hơn 51% dân số thế giới tập trung ở các đô thị và đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm kế tiếp, dự báo đến năm 2030 sẽ có trên 60% dân số thế giới tập trung vào các đô thị
Bảng 1.5: Tỉ lệ dân cư thành thị và nông thôn thế giới, thời kì 1900 – 2005
(đơn vị: %)
Trang 32Khu vực 1900 1950 1970 1980 1990 2008 Dự báo
2030
Thành thị 13,6 29,2 37,7 39,6 43,0 51,0 60,0
Nông thôn 86,4 70,8 62,3 60,4 57,0 49,0 40,0
(Nguồn: www.World Bank.org.vn)
Tỉ lệ thị dân có sự khác nhau giữa các nhóm nước Các nước phát triển có tỉ lệ thị dân cao trên 70%, các nước đang phát triển tỉ lệ thị dân thấp hơn (thường dao động từ 30% - 40%) và các nước kém phát triển thường dưới 30%
Trên thực tế, các nước phát triển có tỉ lệ dân đô thị cao nhưng số dân thực tế tập trung ở các thành phố này ít hơn so với các nước đang phát triển Cụ thể, vào những năm 1970 hơn một nửa dân số đô thị của thế giới thuộc về các nước phát triển nhưng đến năm 2000 chỉ còn lại 1/3
Tỉ lệ dân đô thị không phản ánh đầy đủ mức độ ĐTH cũng như tốc độ ĐTH của tất cả các nước Ở Việt Nam, tỉ lệ dân thành thị tăng khá chậm, từ 24,2% (2000) đến 29,6% (năm 2009) nhưng trên thực tế thì số dân đô thị tăng tương đối khá từ 18,8 triệu người lên 25,4 triệu người trong cùng khoảng thời gian trên, đạt tốc độ tăng trưởng 3,34%/năm
Dân cư tập trung vào các thành phố lớn và cực lớn
Dân cư đô thị tăng nhanh về số lượng tương đối lẫn tuyệt đối làm cho số dân đô thị ngày càng tăng lên và số người sống trong các đô thị lớn cũng tăng nhanh Đầu thế kỉ XX, chỉ có khoảng 13 đô thị có số dân trên 1 triệu người nhưng đến năm 1995 đã là 333 đô thị Nếu như đầu thế kỉ XX thế giới không có thành phố nào có số dân lên tới 10 triệu người nhưng đến đầu thế kỉ XXI đã có đến 25 thành phố trên 10 triệu dân, trong đó các nước đang phát triển tập trung đến 19 đô thị
Phổ biến rộng rãi lối sống thành thị
“Lối sống” là thuật ngữ chỉ tất cả những điều kiện và hình thức hoạt động sống của con
người, đặc trưng xã hội, giai cấp và tầng lớp nhất định Một trong những đặc điểm cơ bản của ĐTH là quá trình phổ biến rộng rãi lối sống thành thị vào nông thôn Việc ĐTH nông thôn làm cho lối sống của dân cư nông thôn xích lại gần với lối sống cư dân thành thị về nhiều mặt với những đặc điểm như:
Trang 33- Gắn với sản xuất công nghiệp, tức là dễ thay đổi nơi ở và nơi làm việc; tác phong làm việc khẩn trương, nhanh nhẹn và giờ giấc chính xác hơn
- Cuộc sống người dân thành thị gắn với các hoạt động dịch vụ, mức sống cao và gắn liền với thị trường
- Có nhu cầu cao và đa dạng hơn về văn hóa, giáo dục; mối quan hệ xã hội và giao tiếp đa dạng, phức tạp hơn
- Sử dụng thời gian nhàn rỗi vào những hoạt động khác nhau như hoạt động sinh hoạt văn hóa, thể thao …
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động sản xuất cơ bản của cư dân nông thôn vẫn là nông nghiệp nhưng đã hiện đại hơn nhờ tiếp cận với những tiến bộ của khoa học kĩ thuật và dịch vụ
mà khu vực đô thị cung cấp; trong quá trình ĐTH, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tăng lên nhanh chóng
Xu hướng chung của thế giới hiện nay ngày càng có nhiều luồng chuyển cư theo dạng con lắc từ nông thôn ra thành phố làm việc, chính những luồng dân cư này đã tạo điều kiện cho
sự di chuyển các dòng hàng hóa và thông tin từ thành thị vào nông thôn, làm cho lối sống đô thị được truyền vào nông thôn một cách thường xuyên và đều đặn hơn, đời sống ở các vùng nông thôn cũng được nâng cao khá rõ rệt
1.4 Ảnh hưởng của đô thị hóa với dân số và phân bố dân cư
1.4.1 ĐTH ảnh hưởng đến gia tăng dân số
ĐTH thường gắn liền với CNH nên một trong những dấu hiệu cơ bản của ĐTH là sự tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị lớn làm tăng qui mô và mật độ dân số đô thị
Trên thế giới, số dân đô thị liên tục tăng từ 2,6 tỉ người (1995) lên 3,1 tỉ người (2005), dự báo sẽ là 4,1 tỉ người (2015) và 5,1 tỉ người (2025)
Ở Việt Nam số lượng dân thành thị tăng khá nhanh, từ 14,9 triệu người (1995) đến 22,3 triệu người (2005) và hiện nay là 25,4 triệu người (2009) Dự báo trong tương lai con số này sẽ còn tăng mạnh Các vùng đô thị thường có tỉ lệ gia tăng dân số cao hơn mức trung bình chung của cả nước, nhưng trong đó tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên chiếm tỉ lệ không đáng kể, ngược lại tỉ
lệ gia tăng dân số cơ học luôn đóng vai trò chủ đạo trong vấn đề gia tăng dân số của đô thị
Bảng 1.6: Tỉ suất gia tăng dân số TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2010
Giai đoạn CBR ( 0 / 00 ) CDR ( 0 / 00 ) RNI (%) NMR (%) PGR (%)
Trang 34TP Hồ Chí Minh (Việt Nam)
Tỉ lệ gia tăng dân số TP Hồ Chí Minh khá cao, dự báo sẽ tăng nhanh trong những năm tới Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên của thành phố vào loại thấp và thấp hơn mức trung bình chung của cả nước (giai đoạn 2001 – 2005: 1,09%, giai đoạn 2006 – 2010 tiếp tục giảm chỉ còn 0,94%) Ngược lại tỉ suất gia tăng cơ học của dân số lại tăng nhanh, đóng vai trò là động lực phát triển dân số thành phố với 1,68% (giai đoạn 2001 - 2005) và 1,77% (giai đoạn 2006 - 2010), cao gấp 1,88 lần so với gia tăng dân số tự nhiên
Sự tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị không chỉ ảnh hưởng đến vấn đề gia tăng dân số đô thị mà còn ảnh hưởng đến qui mô dân số của đô thị Qui mô dân số của các đô thị ngày càng lớn và theo đó là sự xuất hiện của các siêu đô thị ngày càng nhiều
1.4.2 ĐTH ảnh hưởng đến kết cấu dân số
Kết cấu dân số có sự thay đổi rõ rệt trong quá trình ĐTH
Kết cấu dân số theo tuổi: nguồn tăng dân số chủ yếu của các đô thị lớn hiện nay ở nước ta
là những dòng chuyển cư từ nông thôn ra thành thị, thành phần tham gia vào các luồng di cư nông thôn - thành thị chủ yếu là nhóm dân số trong tuổi lao động Tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân
số là không đáng kể, luôn thấp hơn mức trung bình của cả nước … Do đó tỉ lệ dân số nhóm trong tuổi lao động và trên tuổi lao động thường chiếm tỉ lệ cao, ngược lại nhóm dân số dưới
tuổi lao động thường thấp hơn khu vực nông thôn
Kết cấu dân số theo giới tính: với những đô thị phát triển mạnh công nghiệp nặng thì tỉ số
nam luôn cao hơn nữ và ngược lại tỉ suất nữ cao hơn nam ở những đô thị có công nghiệp nhẹ và
dịch vụ phát triển
Kết cấu dân số theo lao động: ở khu vực thành thị cũng có những đặc trưng riêng, do sản
xuất của đô thị tập trung vào các ngành sản xuất phi nông nghiệp nên lao động chủ yếu tập trung
ở KVII và KVIII; lao động ở KVI chiếm tỉ lệ không đáng kể
1.4.3 ĐTH ảnh hưởng đến phân bố dân cư
ĐTH ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phân bố dân cư: quá trình ĐTH cũng tạo nên sự phân
bố lại của dân cư Các trung tâm công nghiệp, thương mại, hành chính … dân cư thường tập trung với mật độ cao hơn so với các vùng nông nghiệp Tuy nhiên ngay trong vùng đô thị cũng
Trang 35có sự phân bố không đồng đều, dân cư tập trung ở khu vực nội thành và thưa dần ở vùng ngoại
ô
Khu vực đang diễn ra quá trình ĐTH luôn có lực hút khá mạnh đối với dân cư ở các vùng nông thôn lân cận và các tỉnh thành khác Với những vùng ĐTH diễn ra mạnh mẽ thì càng tạo nên sự biến động lớn về dân cư; sự tập trung dân cư vào các trung tâm công nghiệp, khu thương mại… gây nên tình trạng tập trung lao động ở vùng trung tâm Ở những khu vực ĐTH lâu đời,
sự phân bố dân cư ít biến động hơn so với những vùng đô thị mới Quá trình ĐTH phát triển càng mạnh thì bức tranh phân bố dân cư càng có nhiều biến động Sự tập trung dân cư quá mức không chỉ gây khó khăn, trở ngại cho việc quản lí dân cư mà còn dẫn tới những biến đổi sâu sắc
về KT – XH và môi trường
Tóm lại, ĐTH có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sư gia tăng, qui mô, kết cấu dân số cũng như sự phân bố dân cư … thể hiện qua những thay đổi về các quá trình dân số, chất lượng cuộc sống … Ở những nơi đang diễn ra quá trình ĐTH cần phải có những định hướng, chiến lược phát triển ổn định và lâu dài để đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường sống, các điều kiện KT - XH hiện tại cũng như tương lai
Trang 36Chương 2 BIẾN ĐỘNG DÂN CƯ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
Hồ Chí Minh, phía Đông giáp Đồng Nai và phía Tây giáp Tây Ninh
Với diện tích 2695,54 km2, chiếm 0,83% diện tích cả nước, đứng thứ 43 trên 63 tỉnh thành, Bình Dương có 7 đơn vị hành chính, trong đó có 1 TX tỉnh lị thuộc đô thị loại III và 6 huyện thuộc nhóm đô thị loại V
Bảng 2.1: Các đơn vị hành chính tỉnh Bình Dương, năm 2009
Đơn vị Số phường,
xã, TTr
Diện tích (km2)
Số dân (người)
Mật độ dân số (người/ km2)
( Nguồn: NGTK tỉnh Bình Dương, năm 2009) \
2.1.2 Các điều kiện tự nhiên
Bình Dương có nền địa chất vững chắc, địa hình tương đối bằng phẳng, lượn sóng yếu với độ cao tuyệt đối từ 3 – 4m đến vài chục mét Bên cạnh đó, do nằm cách xa biển kết hợp với
độ cao địa hình nên khí hậu của tỉnh ít biến động và khá ôn hòa thích hợp cho việc sinh trưởng, phát triển của các loại cây công nghiệp dài ngày cũng như việc xây dựng các KCN tập trung, các khu dân cư và các trung tâm thương mại …
Do lượng mưa trung bình năm tương đối cao nên Bình Dương có mật độ sông suối
thuộc loại khá Có ba sông lớn là sông Đồng Nai, sông Bé và sông Sài Gòn; ngoài ra còn có
Trang 37sông Thị Tính - một phụ lưu của sông Sài Gòn – rất thuận lợi trong việc phát triển loại hình giao thông vận tải đường thủy
2.1.3 Các điều kiện KT - XH
Theo số liệu thống kê ngày 1/4/2009, với 1.482.636 người, chiếm 1,73% dân số cả nước đạt mật độ 550 người/km2, Bình Dương là một trong những tỉnh có mật độ dân số cao, cao hơn
so với mật độ trung bình của cả nước
Cơ sở hạ tầng khá tốt với sự có mặt của những tuyến giao thông huyết mạch của cả nước như quốc lộ 1A, quốc lộ 13, một phần của tuyến đường sắt Thống Nhất, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai … rất thuận lợi cho việc giao lưu và vận chuyển hàng hoá
Với đường lối chính sách khá thông thoáng, Bình Dương luôn chủ động phát huy nội lực và thực hiện chủ trương mở cửa thu hút nhân tài, vật lực từ khắp mọi miền tổ quốc và từ nhiều nước trên thế giới đầu tư phát triển KT - XH
Sau ngày tái lập tỉnh 1997 đến nay, Bình Dương luôn là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về tốc độ phát triển kinh tế, nền kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững So với cả nước, tuy chỉ chiếm 0,83% diện tích và trên 1% dân số nhưng Bình Dương chiếm 1,7% GDP, đóng góp 2,3% tổng thu ngân sách và 8,5% kim ngạch xuất khẩu của cả nước (năm 2005)
Trang 38Hình 2.1: Lược đồ hành chính tỉnh Bình Dương
2.2 Quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương từ 1997 đến nay
Ngày 6/11/1996 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra nghị quyết tách 8 tỉnh, trong đó tỉnh sông Bé được chia thành 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.695,54 km2, dân số là 646.317 người, gồm 4 đơn vị hành chính
Nguồn: UBND Tỉnh Bình Dương
Trang 39cấp huyện: TX Thủ Dầu Một và các huyện Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát Tỉnh lị đặt tại TX Thủ Dầu Một Tháng 7 năm 1999, theo nghị quyết của chính phủ, Bình Dương chính thức có thêm 3 huyện mới được thành lập trên cơ sở các đơn vị hành chính sẵn có, Dầu Tiếng (tách từ huyện Bến Cát), Dĩ An (tách từ huyện Thuận An) và Phú Giáo (tách từ huyện Tân Uyên)
Bảng 2.2: Hệ thống đô thị tỉnh Bình Dương năm 2009
9 TTr Dầu Tiếng Huyện lỵ V 18.183
(Nguồn: Bộ xây dựng, công ty tư vấn xây dựng tổng hợp, xí nghiệp thiết kế qui hoạch xây dựng, “Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và dân cư nông thôn tỉnh Bình Dương đến năm 2020”; Cục thống kê Bình Dương,
“NGTK tỉnh Bình Dương năm 2009”)
Theo thống kê đến năm 2009, trên địa bàn tỉnh có 1 TX thuộc nhóm đô thị loại III trực thuộc tỉnh (TX Thủ Dầu Một) và 8 thị trấn xếp loại đô thị loại V, trực thuộc huyện Hệ thống đô thị phân theo cấp bậc hành chính với đô thị tỉnh lỵ là TX Thủ Dầu Một, 6 thị trấn huyện lỵ và 2 thị trấn thuộc huyện
Phần lớn các đô thị nằm ở vị trí đầu mối giao thông, trên các trục đường chính như quốc
lộ 1A, quốc lộ 13, ĐT 743,741 … Tính chất các đô thị là dịch vụ và công nghiệp, trong đó công nghiệp chiếm tỉ trọng cao và ngành dịch vụ cũng chiếm tỉ trọng cao và đang có xu hướng tăng thêm Điển hình như cơ cấu đóng góp GDP của TX Thủ Dầu Một năm 2005 là KVI: 1,7%; KVII: 47,9% và KVIII: 50,4%
Bảng 2.3: Mức độ ĐTH tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997 – 2009
Dân số (người) 658.565 679.044 810.190 1.307.000 1.497.117
Dân số thành thị
(người) 131.309 187.911 239.849 392.320 448.345
Trang 40Tỉ lệ ĐTH (%) 19,9 27,7 29,6 30,0 30,0
(Nguồn: Tính toán từ NGTK tỉnh Bình Dương các năm.)
Tốc độ ĐTH diễn ra khá nhanh ngay sau ngày tái lập tỉnh, tăng từ 19,9% lên 27,7% chỉ trong vòng 1 năm, sau đó tăng lên 29,6% (năm 2002) Từ sau năm 2002 đến nay, tốc độ ĐTH của tỉnh vẫn tăng nhưng đang có xu hướng chậm lại, đến năm 2009 đạt mức 30,0% Tỉ lệ ĐTH của tỉnh hiện nay cao hơn mức trung bình chung của cả nước (29,6% - năm 2009) nhưng vẫn còn thấp so với mức trung bình chung của cả vùng ĐNB - nơi có tốc độ ĐTH nhanh nhất cả nước (56,1% - năm 2009)
Trên thực tế, số dân thành thị của Bình Dương tăng khá nhanh về giá trị tuyệt đối, trong khoảng thời gian 12 năm đã tăng thêm 260.434 người; cụ thể tăng từ 187.911 người (năm 1997) lên 448.345 người (năm 2009), đạt tốc độ tăng trưởng 7,2%/năm – cao hơn mức tăng dân số trung bình của cả tỉnh trong giai đoạn này (6,59%/năm)
Quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến nay là một quá trình tích cực đem lại nhiều thay đổi trong đời sống nhân dân, điều đó được thể hiện rõ nét qua mức thu nhập cũng như chất lượng cuộc sống của người dân … Tuy nhiên do công tác thống kê tỉ lệ dân thành thị của tỉnh còn hạn chế, tức là chỉ căn cứ vào số nhân khẩu cư trú trên địa bàn TX Thủ Dầu Một và các thị trấn, nên tỉ lệ dân thành thị của Bình Dương chỉ dừng ở mức 30,0%, con số này chưa phản ánh đúng thực tế ĐTH của tỉnh
Trên thực tế, Bình Dương có những khu vực nông thôn nhưng tập trung dân cư khá đông, mật độ dân số còn cao hơn một số đô thị của tỉnh Ví dụ như xã Bình Chuẩn (Thuận An) mật độ dân số năm 2009 là 4.034 người/km2,xã Thuận Giao (Thuận An) là 6.451 người/km2 với tỉ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 67% dân số
Mặc dù các địa phương này tốc độ ĐTH đang diễn ra song song cùng với quá trình CNH, thể hiện ở số lao động tham gia hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp ngày càng cao, đời sống người dân ngày càng được cải thiện Tuy nhiên do điều kiện cơ sở vật chất hạ tầng chưa đáp ứng đủ chuẩn đô thị nên vẫn được xếp vào các khu vực nông thôn Qua đó thể hiện sự chưa tương xứng giữa tốc độ ĐTH thực tế của tỉnh so với số liệu thống kê Những năm tới đây, khi điều kiện cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng được đầu tư và phát triển đồng bộ hơn thì số lượng dân thành thị của Bình Dương sẽ tăng lên rất nhanh cả về giá trị tương đối và giá trị tuyệt đối
Do đó, nếu chỉ dựa vào tỉ lệ dân thành thị để đánh giá tốc độ ĐTH của Bình Dương thì ta chỉ có thể đưa ra những nhận định sau:
- Tốc độ ĐTH của Bình Dương tăng chậm chưa tương xứng với tốc độ phát triển công nghiệp của tỉnh Điều này trái với quy luật ĐTH – CNH diễn ra trên khắp thế giới