1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005-2017

14 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 695,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đo lường mức độ tập trung thông qua chỉ số CRk và HHI của 35 NHTM Việt Nam giai đoạn 2005-2017 nhằm đưa ra đánh giá về cấu trúc thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng dưới tác động của M&A. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra chỉ số tập trung kinh tế HHI có xu hướng tăng sau mỗi thương vụ sáp nhập ngân hàng, thể hiện tính cạnh tranh giảm do M&A.

Trang 1

sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017

Lương Minh Hà

Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng

Tô Phương Ngọc

Sinh viên K19CLC-TC.A

Nguyễn Thị Minh Tâm

Sinh viên K19CLC-TC.A

Nguyễn Bích Ngọc

Sinh viên K19CLC-TC.A

Lê Vũ Thu Trang

Sinh viên K19CLC-TC.A

Ngày nhận: 13/05/2019 Ngày nhận bản sửa: 23/05/2019 Ngày duyệt đăng: 17/06/2019

Trên thế giới, hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) các ngân hàng thương

mại (NHTM) là xu hướng phổ biến nhằm cải tổ hệ thống NHTM, tăng cường

tính cạnh tranh và khai thác các lợi thế kinh tế Trong bài viết này, nhóm

nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đo lường mức độ tập trung thông qua

chỉ số CRk và HHI của 35 NHTM Việt Nam giai đoạn 2005- 2017 nhằm

đưa ra đánh giá về cấu trúc thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

The competition level among Vietnamese commercial banks after M&A in the period of 2005- 2017

Abstract: Four years after completing Project 254 “Restructuring the system of credit institutions in the period

of 2011 - 2015”, the banking sector of Vietnam has changed remarkably through a series of mergers and acquisitions (M&A) However, the change in the number of Vietnamese commercial banks also impacted on the competitiveness in the banking sector, so the access of commercial banks’ performances in the post-merger period is extremely important The objective of the article is to analyze the competitive situation of Vietnamese commercial banks before and after the merger, thereby seeing the level of competition in the banking industry decrease after mergers through analyzing two indicators HHI and CRk.

Keywords: M&A, Vietnamese banks, economic concentration.

Ha Minh Luong, M.Ec.

Email: halm@hvnh.edu.vn

Ngoc Phuong To, Student of K19 Advanced Program

Email: tophuongngoc6a14gv@gmail.com

Ngoc Bich Nguyen, Student of K19 Advanced Program

Email: ngocnb.025@gmail.com

Tam Thi Minh Nguyen, Student of K19 Advanced Program

Email: minhtam31198@gmail.com

Trang Vu Thu Le, Student of K19 Advanced Program

Email: trangism216@gmail.com

Organization of all: Finance faculty, Banking Academy of Vietnam

Trang 2

dưới tác động của M&A Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra chỉ số tập trung kinh

tế HHI có xu hướng tăng sau mỗi thương vụ sáp nhập ngân hàng, thể hiện tính cạnh tranh giảm do M&A Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh vẫn ở khoảng chấp nhận được do các ngân hàng sáp nhập đều có quy mô không lớn so với toàn hệ thống và chỉ số CRk vẫn thể hiện sự tập trung ở mức trung bình

Từ khóa: tập trung kinh tế, M&A, ngân hàng, Việt Nam

1 Khái quát ngành ngân hàng Việt

Nam giai đoạn 2005- 2017

Trong suốt giai đoạn 2005- 2017, nền kinh

tế Việt Nam có nhiều biến động, đặc biệt

là năm 2008 do sự ảnh hưởng của cuộc

khủng hoảng kinh tế thế giới mà nền kinh

tế Việt Nam có xu hướng đi xuống cho tới

năm 2013 mới có sự khởi sắc Tuy nhiên,

nhìn chung, Việt Nam đã tạo ra được một

môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh

tranh và năng động Nền kinh tế hàng hóa

nhiều thành phần được khuyến khích phát

triển, các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở

nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày

càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài, và phát triển thêm một số lĩnh

vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ

ngày càng lớn

Theo đó ngành ngân hàng trong giai đoạn

này cũng có nhiều sự thay đổi lớn, đặc

điểm của giai đoạn này thể hiện rõ nét qua

ba đặc trưng nổi bật: tăng trưởng nóng,

suy thoái do khủng hoảng và dần đi vào

ổn định Đặc biệt, với sự ra đời của Đề án

“Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng

giai đoạn 2011 - 2015” (sau đây gọi tắt

là Đề án 254), hoạt động của các NHTM

chịu sự tác động mạnh mẽ Vì vậy, bài viết

sẽ tập trung vào 2 giai đoạn chính: (1) Giai

đoạn 2005- 2011: Giai đoạn trước khi thực

hiện Đề án 254; (2) Giai đoạn 2012- 2017:

Giai đoạn trong và sau khi thực hiện Đề án

254

Trong khoảng từ năm 2005 đến 2011, dư

nợ cho vay kinh doanh, đầu tư bất động sản chiếm tỷ trọng lớn trên tổng dư nợ

Đặc biệt trong năm 2007, tăng trưởng tín dụng trở nên quá nóng khi đạt tốc độ tăng 54% do nhu cầu tín dụng trong nền kinh

tế tăng cao, trong đó bao gồm cả nhu cầu vốn đầu tư chứng khoán và bất động sản

Từ năm 2012- 2017, tăng trưởng dư nợ tín dụng tuy không mạnh mẽ như giai đoạn trước nhưng ổn định và đều đặn hơn

Cùng năm 2007, mức tăng trưởng huy động vốn của toàn ngành Ngân hàng đạt 47,64%- tốc độ tăng mạnh nhất so với những năm trước đó Đến năm 2010, tổng huy động vốn từ nền kinh tế của hệ thống ngân hàng đã đạt 2.321.973 tỷ đồng, tăng 36,24% so với năm 2009, đây là mức tăng khả quan sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Giai đoạn 2012- 2017, tăng trưởng huy động vốn ở mức ổn định, chỉ trong 2 năm 2014 và 2015 tốc độ tăng trưởng huy động vốn chững lại do lãi suất huy động được điều chỉnh xuống mức thấp

so với các kênh sinh lời khác

Bên cạnh hai hoạt động chính của các NHTM là huy động vốn và tín dụng thì các hoạt động khác như bảo hiểm hay cung cấp các dịch vụ thanh toán cũng từng bước được phát triển qua các năm

2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Trang 3

2.1 Cơ sở lý thuyết về M&A và cạnh

tranh trong các NHTM Việt Nam

Trên thế giới, hoạt động mua bán sáp

nhập các NHTM trong ngành tài chính-

ngân hàng là xu hướng phổ biến nhằm

cải tổ hệ thống NHTM, tăng cường tính cạnh tranh và khai thác các lợi thế kinh

tế Bên cạnh đó, hoạt động này còn đem đến những kết quả khả quan khác như gia tăng lợi nhuận, tinh giản bộ máy hoạt động, tiết kiệm chi phí xâm nhập

Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN 2005- 2017

Hình 1 Tăng trưởng dư nợ tín dụng các NHTM Việt Nam giai đoạn 2005- 2017

Đơn vị: nghìn tỷ đồng, %

Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN

Hình 2 Tăng trưởng huy động vốn các NHTM Việt Nam giai đoạn 2005- 2017

Đơn vị: nghìn tỷ đồng, %

Trang 4

thị trường hay giải cứu các NHTM bên

bờ vực phá sản Tại Việt Nam, từ năm

2006, khi Luật Doanh nghiệp 2005 có

hiệu lực và đi vào đời sống, hoạt động

M&A NHTM tại Việt Nam đã bước đầu

phát triển cả về số lượng và giá trị, theo

đó các nghiên cứu dưới đây về M&A

trong lĩnh vực ngân hàng được chia

thành 2 hướng: Hướng thứ nhất đưa ra

những nhân tố tác động tới M&A; và

hướng thứ hai chỉ ra sự ảnh hưởng của

hoạt động M&A đến các yếu tố bên

trong các ngân hàng cũng như các chỉ số

của thị trường kinh tế

Hướng thứ nhất phải kể đến các nghiên

cứu của Ngô Đức Huyền Ngân (2009),

Shipra Jindal (2008) và Vương Thị Minh

Đức (2018) Nghiên cứu của Jindal (2008)

đã chỉ ra lý do tại sao M&A lại đóng vai

trò quan trọng nhìn từ góc độ của công ty

hoặc ngân hàng Ngô Đức Huyền Ngân

(2009) đã phân tích thực trạng hoạt động

M&A của hệ thống ngân hàng Việt Nam,

điểm mạnh, điểm yếu cũng như động cơ

sáp nhập của các ngân hàng và đề xuất

các giải pháp giúp định hướng các NHTM

trong hoạt động M&A của các ngân hàng

Việt Nam Vương Thị Minh Đức (2018)

đánh giá ưu điểm và những vấn đề còn

tồn tại, rút ra được những đặc điểm, nhân

tố ảnh hưởng đến hoạt động M&A ngân

hàng tại Việt Nam, qua đó gợi ý một số

giải pháp phát triển hoạt động M&A trong

ngành ngân hàng tại Việt Nam

Hướng nghiên cứu thứ hai đã có nhiều

đánh giá về tác động của hoạt động M&A

trong ngành ngân hàng tới mức độ cạnh

tranh và các yếu tố khác Nghiên cứu của

Le Hai Trung (2014) đã chỉ ra M&A là

một trong những nhân tố chính làm cải

thiện mức độ cạnh tranh các ngân hàng

nội địa Cùng mục đích đưa ra đánh giá về

cấu trúc thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, nghiên cứu của Nguyễn Thế Bính (2015) sử dụng phương pháp

đo lường mức độ tập trung thông qua chỉ

số CRk và HHI Đó là mức độ tập trung thị trường trong hệ thống có xu hướng giảm trong cả 03 tiêu chí: Tổng tài sản, huy động vốn và cho vay của hệ thống NHTM Việt Nam Với mục đích phân tích tác động của M&A tới các yếu tố khác, nhóm tác giả Vuong Quan Hoang, Tran Tri Dung và Nguyen Thi Chau Ha (2009)

đã kết hợp các nguồn dữ liệu từ phỏng vấn quản lý tới báo cáo tài chính hay thông cáo báo chí để phân tích các tác động của M&A tại Việt Nam thời kỳ đổi mới tới Nghiên cứu của Phan Quan Viet (2014)

đã nghiên cứu hoạt động M&A ở Việt Nam giai đoạn 2005- 2011 và phân tích các thành tựu và tác động của các thương

vụ M&A đến thị trường kinh tế Việt Nam Nghiên cứu của nhóm tác giả Hoang Thi Thanh Hang, Phan Dien Vy, Jay Bandaralage (2016) đã chỉ ra tác động của M&A đối với hệ thống NHTM Việt Nam

là tích cực; sau M&A, mức độ tập trung kinh tế chỉ ở mức trung bình và mức độ cạnh tranh cao Tuy nhiên các chỉ số tập trung trong bài không thể phản ánh toàn

bộ sự ảnh hưởng của một nhóm ngân hàng trên thị trường

Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Lý, Trần Văn Quyết, Dương Thanh Tình (2013), được thực hiện dựa trên các số liệu thu thập được từ các báo cáo tài chính của các NHTM, đã phân tích các vấn đề cần lưu ý và đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trong thời gian tới

từ thương vụ sáp nhập đầu tiên theo chủ trương tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của NHNN Nghiên cứu của Lương Minh Hà, Nguyễn Minh Chi, Ngô Trần Vân Khanh

Trang 5

(2018) đã bổ sung thêm kiến thức về hoạt

động M&A nói chung tại Việt Nam khi

đánh giá, phân tích cả những nhân tố tác

động tới M&A và những nhân tố bị ảnh

hưởng bởi M&A

Tổng quan các nghiên cứu trên cho thấy,

nghiên cứu về hoạt động M&A trong lĩnh

vực Tài chính- Ngân hàng tại Việt Nam là

không quá mới mẻ, tuy nhiên các tác giả

nhận thấy rằng đa phần các nghiên cứu

về cạnh tranh trong ngành ngân hàng và M&A đều thể hiện được mối quan hệ qua lại của hoạt động M&A đến hoạt động của các ngân hàng thời kỳ hậu sáp nhập nhưng chưa khẳng định rõ hệ quả của hoạt động này đến mức độ cạnh tranh trong ngành cũng như các mô tả chi tiết hơn xung quanh các tác động đó đến tính cạnh tranh giữa các NHTM

Bảng 1 Thống kê về tỷ trọng của 3 NHTM thuộc mẫu nghiên cứu giai đoạn 2005- 2017

(%) (triệu đồng)Tuyệt đối Tương đối(%) (triệu đồng)Tuyệt đối Tương đối(%) (triệu đồng)Tuyệt đối

2005 72,30% 373.625.709 76,81% 273.373.778 75,75% 279.725.897

2006 63,49% 460.735.158 71,57% 335.891.086 69,51% 317.146.479

2007 50,66% 568.032.155 58,45% 403.072.326 56,34% 389.350.609

2008 48,85% 662.199.555 56,21% 439.616.893 53,20% 442.098.432

2009 42,19% 795.713.178 50,26% 542.948.497 46,66% 504.726.555

2010 38,11% 1.041.619.762 47,46% 714.619.647 44,12% 655.375.289

2011 36,40% 1.232.897.811 48,90% 882.088.192 42,24% 724.660.428

2012 40,80% 1.402.803.136 47,18% 983.816.228 41,87% 877.546.566

2013 42,13% 1.593.748.531 47,16% 1.077.014.225 40,92% 1.035.644.731

2014 43,40% 1.888.577.751 48,18% 1.288.021.030 41,89% 1.286.856.543

2015 44,83% 2.304.385.067 48,52% 1.584.385.457 42,53% 1.558.705.673

2016 46,12% 2.742.883.228 49,16% 1.919.719.072 45,66% 1.971.533.188

2017 46,67% 3.332.637.968 49,55% 2.321.931.257 46,73% 2.321.440.228

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

Bảng 2 35 NHTMCP thuộc mẫu nghiên cứu

BIDV Bưu điện Liên Việt Xăng dầu Petrolimex Techcombank VIB

Trang 6

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để khảo sát diễn biến chỉ số tập trung kinh

tế sau các thương vụ M&A trong lĩnh vực

NHTM tại Việt Nam, nghiên cứu chủ yếu

dựa trên dữ liệu thứ cấp từ trang thông tin

điện tử của NHNN và các báo cáo thường

niên của các NHTM Việt Nam trong giai

đoạn nghiên cứu (2005- 2017) Đây là

khoảng thời gian mở cửa nền kinh tế với

hàng loạt bộ Luật đã ra đời, tạo hành lang

pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp nói

chung, ngành ngân hàng nói riêng có cơ sở

tiến hành M&A, như Luật Doanh nghiệp

2005, Luật Cạnh tranh 2004, Luật Chứng

khoán 2006 Các thông tin được sử dụng

là ba chỉ tiêu thể hiện đặc trưng hoạt động

kinh doanh của các NHTM, đó là: tổng tài

sản, dư nợ tín dụng và tiền gửi khách hàng

Về phương pháp đo lường, nhóm sử dụng

chỉ số HHI (Herfindahl-Hirschman Index)

và CRk (Concentration Ratio) Hai chỉ

số này được sử dụng phổ biến nhất trong

việc đo lường mức độ tập trung thị trường

trong nền kinh tế nói chung và lĩnh vực

ngân hàng nói riêng (Le Hai Trung, 2014;

Nguyễn Thế Bính, 2015; Hoang Thi

Thanh Hang và cộng sự, 2016)

2.2.1 Chỉ số CRk

Chỉ số CRk được dùng để đo lường mức

độ tích tụ thị trường, cho biết liệu thị phần

có rơi vào một nhóm ngân hàng không

Trong ngành ngân hàng Việt Nam hiện

nay, tuy có nhóm 4 ngân hàng lớn nhất

về quy mô tổng tài sản gồm có Agribank,

BIDV, Vietinbank và Vietcombank,

nhưng đặc thù của Agribank là doanh

nghiệp Nhà nước tổ chức theo mô hình

công ty TNHH Một thành viên, với 100%

số vốn thuộc sở hữu Nhà nước, và chưa

thực hiện cổ phần hóa trong giai đoạn mà

nhóm thực hiện nghiên cứu nên khi tính toán chỉ số CRk, nhóm sẽ không xét đến Agribank trong mẫu Do đó, trong nghiên cứu này, nhóm sử dụng CR3, để kiểm tra mức độ tập trung trên ba khía cạnh tổng tài sản, huy động vốn và cho vay của các ngân hàng qua các năm

Cách thức xác định chỉ số này như sau (Westman, 2005):

Trong đó Si là thị phần của doanh nghiệp lớn thứ i trong ngành; n = 3 hoặc 5 tùy trường hợp cần xác định CR3 hay CR5

Dựa vào các mức độ tập trung, có thể phân loại thị trường thành các dạng sau:

- Cạnh tranh hoàn hảo, với tỷ lệ tập trung

rất nhỏ

- Cạnh tranh một cách tương đối, CR3<

65%, mức độ tập trung trung bình

- Độc quyền nhóm (Oligopoly) hoặc có vị trí thống lĩnh thị trường, CR3> 65%, mức

độ tập trung cao

- Độc quyền, CR1 xấp xỉ 100%.

2.2.2 Chỉ số HHI

Chỉ số HHI được sử dụng để đo lường quy

mô của doanh nghiệp trong mối tương quan với ngành Đây là một chỉ báo về mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành, thường được tính bằng tổng bình phương thị phần của các doanh nghiệp và

có giá trị từ 0 đến 10.000 Nhóm chọn ra 35 NHTMCP có đầy đủ dữ liệu từ năm 2005 đến năm 2017 về cả ba chỉ tiêu tổng tài sản, huy động vốn và tín dụng

Trang 7

Trong giai đoạn 2005- 2017, tỉ trọng của

35 NHTMCP này ở cả ba chỉ tiêu tổng

tài sản, tổng mức tín dụng và tổng mức

huy động vốn toàn ngành dao động trong

khoảng từ 65%- 80% Cụ thể, năm 2005

chiếm 66,92% tổng tài sản ngành ngân

hàng; 67,4% tổng mức tín dụng toàn

ngành và 74,48% tổng mức huy động vốn

toàn ngành Như vậy, mẫu 35 NHTM có

tính đại diện cho toàn ngành, đủ cơ sở

cho nhóm nghiên cứu đưa ra nhận xét, kết

luận Trong bài viết, nhóm chỉ tập trung

vào các NHTMCP, không bao gồm chi

nhánh ngân hàng nước ngoài và NHTM

Nhà nước

Cho vay và huy động vốn là hai nghiệp vụ

kinh doanh chính của các NHTM Trong

đó, cung cấp tín dụng là hoạt động đặc

trưng quan trọng nhất, mang đến lợi nhuận

lớn hàng đầu cho các NHTM Bên cạnh

đó, nghiệp vụ huy động vốn tuy không

mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng lại là nghiệp vụ giải quyết yếu tố đầu vào cho ngân hàng Tổng tài sản là một trong những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá mức độ cạnh tranh giữa các NHTM trên thị trường, vì tổng tài sản gắn liền với ưu thế thị phần, thị phần càng lớn thì lợi thế cạnh tranh càng lớn Như vậy, việc chọn ba chỉ tiêu trên từ 35 NHTMCP

là phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của nhóm

Cách tính chỉ số HHI như sau:

Trong đó n là tổng số doanh nghiệp và Si

là thị phần của doanh nghiệp thứ i trong ngành

Theo Horizontal Merger Guidelines, ban

Bảng 3 Thống kê về tỷ trọng của 35 NHTM thuộc mẫu nghiên cứu giai đoạn 2005- 2017

Tương đối

(%) (triệu đồng)Tuyệt đối Tương đối(%) (triệu đồng)Tuyệt đối Tương đối(%) (triệu đồng)Tuyệt đối

2005 66,92% 516.760.444 67,40% 355.908.514 74,48% 369.261.254

2006 68,07% 725.646.844 68,96% 469.335.221 73,08% 456.237.130

2007 71,69% 1.121.198.264 71,45% 689.593.938 73,66% 691.014.997

2008 71,42% 1.355.569.659 69,45% 782.139.042 71,19% 830.944.686

2009 74,70% 1.886.127.679 70,24% 1.080.223.502 74,08% 1.081.798.054

2010 79,58% 2.733.515.807 73,38% 1.505.739.030 76,01% 1.485.412.554

2011 80,95% 3.387.402.885 75,46% 1.803.940.516 77,53% 1.715.431.917

2012 80,77% 3.438.228.450 76,64% 2.085.339.141 77,13% 2.095.695.648

2013 80,06% 3.783.202.151 79,41% 2.283.551.548 77,12% 2.530.798.753

2014 81,29% 4.351.580.113 78,21% 2.673.524.938 78,58% 3.071.850.082

2015 83,76% 5.139.731.747 80,88% 3.265.621.097 79,64% 3.664.951.828

2016 83,96% 5.947.657.847 81,53% 3.904.909.719 80,30% 4.318.209.066

2017 85,17% 7.140.908.948 82,64% 4.686.289.107 82,26% 4.967.927.375

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

Trang 8

hành bởi Bộ Tư pháp Hoa Kỳ và Ủy ban

Thương mại Liên bang Mỹ, các cơ quan

quản lý cạnh tranh thường phân loại các

thị trường theo cơ sở sau: (i) HHI< 1.000:

Thị trường không mang tính tập trung; (ii)

1.000≤ HHI≤ 1.800: Thị trường tập trung

ở mức độ vừa phải; (iii) HHI> 1.800: Thị

trường tập trung ở mức độ cao.

Ưu điểm chủ yếu của chỉ số HHI so với

các cách đo khác (chẳng hạn như tỷ lệ tập

trung- CR) là đã tính tỷ trọng lớn hơn đối

với các doanh nghiệp lớn

Chỉ số HHI tăng làm mức độ cạnh tranh

giữa các ngân hàng giảm, ngược lại, khi

chỉ số HHI giảm nghĩa là mức độ cạnh

tranh giữa các ngân hàng tăng

3 Kết quả nghiên cứu

Thông qua tính toán nhóm nghiên cứu

thấy rằng, chỉ số HHI ở các chỉ tiêu Tổng

tài sản, Tín dụng và Huy động vốn đều có

xu hướng giảm trước năm 2011 và tăng

lên từ năm 2012 trở đi (Hình 3) Điều

này cho thấy mức độ cạnh tranh của các

NHTM trước năm 2011 cao hơn so với

các năm sau đó Diễn biến của chỉ số CR3

trong giai đoạn này tương tự như chỉ số

HHI: Đồ thị của chỉ số CR3 (Hình 4) cũng

cho thấy một sự sụt giảm liên tục trong

giai đoạn 2005- 2011 và bắt đầu ổn định

hơn trong giai đoạn 2012- 2017 Hai chỉ

số này bổ sung cho nhau cùng thể hiện

mức độ cạnh tranh của các NHTM tại Việt

Nam có xu hướng giảm khi số lượng ngân

hàng giảm do hoạt động M&A Điều này

đồng nghĩa với việc hoạt động M&A có

tác động làm tăng mức độ tập trung kinh

tế trong ngành Ngân hàng, kết quả này

giúp nhóm có cơ sở thực tế để đề xuất

những kiến nghị trong phần tiếp theo

Trong giai đoạn trước năm 2004, quá trình cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể Tuy nhiên do ảnh hưởng của kinh tế trong nước, các ngân hàng gặp khó khăn trong việc thu hồi các khoản nợ từ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nên các ngân hàng, đặc biệt là NHTMCP nông thôn mất khả năng thanh toán, gây ảnh hưởng đến cả hệ thống ngân hàng trong nước Vì vậy, nhiều vụ sáp nhập đã diễn ra (NHTMCP Phương Nam đã M&A hàng loạt các NHTM khác như NHTMCP nông thôn Ðồng Tháp năm 1997, Ðại Nam năm 1999, Châu Phú năm 2001, Cái Sắn năm 2003; NHTMCP Ðông Á tiến hành M&A NHTMCP

Tứ Giác Long Xuyên năm 2001 và NHTMCP Nông thôn Tân Hiệp năm 2004; Sacombank M&A Ngân hàng Thạnh Thắng năm 2002; NHTMCP Phương Ðông M&A với NHTMCP nông thôn Tây

Ðô năm 2003…) để tránh ảnh hưởng dây chuyền không tốt tới cả hệ thống cũng như củng cố niềm tin của người dân

Đề án 254 “Tái cơ cấu các TCTD” chính thức được phê duyệt vào năm 2012, tạo

ra nhiều thay đổi lớn trên thị trường tài chính Các vụ sáp nhập ngân hàng làm giảm số lượng ngân hàng trên thị trường dẫn đến sự biến động của chỉ số HHI và CR3 qua từng năm Nhóm nghiên cứu tập trung làm rõ sự thay đổi đó bằng việc phân tích hai giai đoạn chính: (1) Giai đoạn 2005- 2010; (2) Giai đoạn 2011- 2017

3.1 Mức độ cạnh tranh qua chỉ số HHI

Giai đoạn 2005 - 2010, chỉ số HHI ở cả

3 chỉ tiêu Tổng tài sản, Huy động vốn và Tín dụng đều có xu hướng giảm Đây là giai đoạn bùng nổ mạnh về số lượng các NHTM được thành lập Số lượng ngân hàng mới thành lập tăng, khiến cho thị

Trang 9

phần của các ngân hàng thành phần giảm,

chỉ số HHI trong giai đoạn này giảm Đặc

biệt trong năm 2008, trên thị trường ghi

nhận có 43 ngân hàng thương mại, tăng so

với các năm trước đó (Bảng 4) Tuy nhiên,

trong giai đoạn này, thị trường ngân hàng

không ghi nhận một thương vụ mua bán

sáp nhập nào, do vậy những thay đổi của

chỉ số HHI chủ yếu do sự góp vốn của các công ty nước ngoài và trong nước (nhất

là sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2006) và do số lượng ngân hàng mới tăng 2006: 3 NHTMCP dừng hoạt động

2007: thành lập NHTMCP Việt Nam

Bảng 4 Số lượng ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2017

Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017

Ghi chú: bao gồm NHTM quốc doanh và NHTMCP, không bao gồm các chi nhánh NH nước ngoài tại VN

Nguồn: Báo cáo thường niên NHNN 2005- 2017

Bảng 5 Các thương vụ sáp nhập trong ngành ngân hàng giai đoạn 2005- 2017

nhập NHTM toàn Số lượng

hệ thống

2011 - NHTMCP Liên Việt- Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện VNPT - NHTMCP Bưu điện Liên Việt

(LienVietPostBank) 42

2011 - NHTMCP Đệ Nhất (Ficombank)- NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank)

- NHTMCP Sài Gòn (SCB)

- NHTMCP Sài Gòn

2012 - NHTMCP Nhà Hà Nội (Habubank)- NHTMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB) - NHTMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB) 39

2013 - NHTMCP Đại Tín (TrustBank)- Tập đoàn Thiên Thanh - NHTMCP Xây dựng (CB) 39

2013

- NHTMCP Đại Á

- NHTMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh

(HDBank)

- Công ty tài chính Việt Societe Generale (SGVF)

- NHTMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh

2013 - NHTMCP Phương Tây (WesternBank)- Công ty tài chính dầu khí Việt Nam (PVFC) - NHTMCP Đại chúng Việt Nam (PvcomBank) 38

2015 - NHTMCP Phát triển Mê Kông (MDB)- NHTMCP Hàng hải Việt Nam (Maritimebank) - NHTMCP Hàng hải Việt Nam

2015 - NHTMCP Phương Nam (Southern Bank)- NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) - NHTMCP Sài Gòn Thương Tín

2015 - NHTMCP Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB)

- NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

- NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

Trang 10

Thương Tín

2008: thành lập 3 NHTM (Lien Viet Bank,

Bao Viet Bank, Tien Phong Bank)

2009: 1 NHTMCP dừng hoạt động (theo

Báo cáo thường niên của SBV)

2011: 2 NH bị sáp nhập

2012: 1 NH bị sáp nhập

2013: 1 NH bị sáp nhập

2015: 3 NH bị sáp nhập

Năm 2011, Đề án 254 bước vào thời kì

đầu thực hiện, số lượng ngân hàng đã

giảm đáng kể (Bảng 4) bắt đầu từ thương

vụ sáp nhập đầu tiên giữa NHTMCP Đệ

Nhất (Ficombank), NHTMCP Việt Nam

Tín Nghĩa (TinNghiaBank) và NHTMCP

Sài Gòn (SCB) Ở giai đoạn này, chỉ số

HHI về mức độ cạnh tranh giữa các ngân

hàng trên thị trường thấp hơn với giai đoạn

trước (2005 - 2011), nghĩa là mức độ cạnh

tranh cao hơn giai đoạn trước (HHI trung

bình giai đoạn 2005- 2011: 1314; HHI

trung bình giai đoạn 2012- 2017: 989;

HHI năm 2012 giảm 53,42% so với HHI

năm 2005), nhưng nhìn chung vẫn ở mức

cạnh tranh cao (100 ≤ HHI ≤ 1000) Quy

định nghiêm ngặt về việc thành lập và duy

trì hoạt động của các tổ chức tín dụng của

Đề án 254 làm cho số lượng ngân hàng

mới giảm so với thời kỳ trước, kết hợp

với những thương vụ sáp nhập và mua lại

ngân hàng (SHB mua lại Habubank- 2012,

HDBank mua lại Đại Á- 2013, ) dẫn đến

thị phần của các ngân hàng tăng, khiến

chỉ số HHI tăng nhẹ, mức độ cạnh tranh

giảm nhẹ theo thời gian Tuy nhiên, sau

lần giảm mạnh vào năm 2006 (12,21%)

và 2007 (giảm 28,32%), mức độ tăng ở

chỉ số HHI của những lần này không quá cao (tăng từ 1,8- 3% qua các năm), vì vậy, mức độ cạnh tranh vẫn cao hơn so với thời

kì 2005- 2011 (HHI trung bình giai đoạn 2005- 2011: 1314; HHI trung bình giai đoạn 2012- 2017: 989; so với năm 2005, chỉ số HHI năm 2012 ở chỉ tiêu Tổng tài sản giảm còn 1051 đơn vị, ở chỉ tiêu Tín dụng giảm xuống mức 1089 và ở chỉ tiêu Huy động vốn giảm còn 1206)

Trong năm 2012, vụ M&A duy nhất giữa NHTMCP Nhà Hà Nội và NHTMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB) đã ảnh hưởng phần nào đến thị phần của SHB (NH mua) Cụ thể, theo Hình 3, chỉ số HHI của chỉ tiêu tổng tài sản đã bắt đầu tăng trở lại: Năm

2012 tăng thêm 11% so với năm 2011

Tuy vậy, về chỉ tiêu tín dụng và huy động vốn, chỉ số HHI vẫn giảm nhẹ ở năm 2012

Sang đến năm 2013, ngành ngân hàng tiếp tục “chứng kiến” ba thương vụ M&A của

7 doanh nghiệp: NHTMCP Đại Á hợp nhất với Cty tài chính dầu khí Việt Nam thành NHTMCP Đại Chúng, NHTMCP Đại Á và Công ty tài chính Việt Societe Generale- SGVF sáp nhập vào HDBank, NHTMCP Đại Tín và Tập đoàn Thiên Thanh hợp tác thành lập NHTMCP Xây dựng (CB) Các thương vụ này đều ảnh hưởng đến cả 3 tiêu chí, khiến thị phần ở

cả 3 tiêu chí của 3 ngân hàng sau M&A tăng lên, còn thị phần của các ngân hàng khác cũng bị ảnh hưởng Do đó, chỉ số HHI trong năm 2013 ở chỉ tiêu tổng tài sản và chỉ tiêu tín dụng tiếp tục tăng Tuy nhiên, chỉ số HHI ở chỉ tiêu huy động vốn vẫn tiếp tục giảm nhẹ Như vậy, sau 3 thương vụ kể trên, mức độ cạnh tranh ở 2 chỉ tiêu tổng tài sản và tín dụng giảm nhẹ, đặc biệt là mức độ cạnh tranh tín dụng đã không còn ở mức cạnh tranh cao, mà giảm

Ngày đăng: 16/01/2020, 16:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w