Ở hệ sinh thái rừng tự nhiên độ cao300m chưa có công trình nghiên cứu nào về nhóm động vật chân khớp bé và vai trò chỉ thị của chúng làm cơ sở khoa học cho việc quản lý vàkhai thác bền v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
2 KHO A S IN H -
KT N N
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
CẤU TRÚC QUẦN XÃ VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA) Ở HỆ SINH THÁI ĐẤT RỪNG TỰ NHIÊN ĐỘ CAO 300m THUỘC VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái
học
HÀ NỘI, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
2 KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
CẤU TRÚC QUẦN XÃ VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA) Ở HỆ SINH THÁI ĐẤT RỪNG TỰ NHIÊN ĐỘ CAO 300m
THUỘC VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái
họcNgười hướng dẫn khoa học: TS ĐÀO DUY TRINH
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu
sắc tới TS Đào Duy Trinh, người thầy ngay từ đầu đã định hướng và
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tàinghiên cứu Tôi xin cảm ơn Ths Nguyễn Thị Hằng và Ths Đàm Thị HảiĐường K18 lớp sinh thái học khoa Sinh - KTNN, trường Đại học sưphạm Hà Nội 2 đã cùng tôi nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này
Trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ khoa học và tạo điều kiện nghiên cứucủa Ban Chủ nhiệm Khoa Sinh – KTNN cùng các cán bộ của bộ mônĐộng vật học của Trường ĐHSP Hà Nội 2 ngôi trường mà tôi đang học
và thực hiện khóa luận Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn Ban GiámĐốc, cán bộ, nhân viên VQG Ba Bể đã tạo điều kiện, giúp đỡ, cung cấpthông tin cần thiết cho tôi trong thời gian nghiên cứu
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình của tôi,cùng các bạn nơi tôi đang học đã tạo điều kiện giúp tôi về thời gian, độngviên về tinh thần để tôi vượt qua mọi khó khăn trong học tập cũng nhưtrong cuộc sống
Hà Nội, ngày tháng năm
2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Huyền
Trang
Trang 43
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, tất cả các số liệu và những kết quả nghiêncứu trong luận văn này đều do tôi nghiên cứu, số liệu hoàn toàn trungthực, không trùng lặp với các đề tài khác và chưa được sử dụng để bảo vệbất kì luận văn nào Các thông tin đã được trích dẫn trong khóa luận làhoàn toàn chính xác, được lấy từ các tài liệu có nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong khóa luận này
Hà Nội, ngày tháng năm
2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Huyền
Trang
Trang 6DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT
cảnh
Trang 11Hình 3.2 Chỉ số đa dạng loài H’ ở hệ sinh thái đất RTN độ cao 300m thuộc
VQG Ba Bể 27
Hình 3.3 Chỉ số đồng đều J’ ở hệ sinh thái đất RTN độ cao 300m thuộc
Trang 121 Lý do chọn đề
tài
MỞ ĐẦU
Trang 13VQG Ba Bể là một khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng, khu
du lịch sinh thái của Việt Nam, nằm trên địa phận tỉnh Bắc Kạn, vớitrung tâm là hồ Ba Bể Vườn Quốc gia Ba Bể là một di sản thiên nhiênquý giá với hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi có tới 417 loàithực vật và 299 loài động vật có xương sống Nhiều loài động vậtquý vẫn còn lưu giữ, bảo tồn…VQG Ba Bể là một điểm du lịch sinhthái lý tưởng với phong cảnh kỳ thú và sự đa dạng sinh học Đã cónhững nghiên cứu về động vật ở đây như: chim, thú, bò sát,…[17] nhưng
về thành phần và cấu trúc Oribatida vẫn còn rất ít Ngoài tự nhiênchúng sống chủ yếu trong môi trường đất và các môi trường sống liênquan với hệ sinh thái đất, như thảm lá rừng và xác vụn thực vật, trên thâncây hay lớp rêu bám trên thân cây, đất treo trên cành cây, trong tán lácây xanh Đặc biệt nhóm Ve giáp Oribatida (Acari: Oribatida) cơ thể có
vỏ cứng, mật độ quần thể lớn, đa dạng về thành phần loài, đặc điểmphân bố rộng, dễ thu lượm, dễ nhận dạng, lại rất nhạy cảm với những biếnđổi của môi trường sống (Vũ Quang Mạnh, 2007) [3]
Vườn Quốc Gia (VQG) Ba Bể chưa có nhiều công trình nghiên cứu
về nhóm động chân khớp bé, đặc biệt là ở độ cao 300m Gần đây doviệc khai thác tài nguyên thiên nhiên, du lịch, nghiên cứu đã tác độngkhông nhỏ đến sinh cảnh ở VQG Ở hệ sinh thái rừng tự nhiên độ cao300m chưa có công trình nghiên cứu nào về nhóm động vật chân khớp
bé và vai trò chỉ thị của chúng làm cơ sở khoa học cho việc quản lý vàkhai thác bền vững tài nguyên rừng của VQG
Hiện tại, khu hệ Ve giáp ở VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã có một sốtác giả nghiên cứu Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Vũ QuangMạnh (2002) về: “Đa dạng quần xã Ve giáp (Acari: Oribatei) vùng đồi núiĐông Bắc và Bắc
Trang 14Kạn”, Báo cáo Hội nghị Vườn Quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn, 26 – 27/9/2002[2] Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu đồng bộ về cấu trúcquần xã Ve giáp ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m tại VQG BaBể.
Vì thế với mong muốn bổ sung dẫn liệu mới và mở rộng sự hiểu biết
đầy đủ về Ve giáp Việt Nam vì những lí do trên chúng tôi đã chọn đề
tài nghiên cứu: “Cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m, thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể”.
2 Mục đích nghiên cứu của đề
tài
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và cấu trúc quần xã Oribatida,liên quan đến yếu tố tự nhiên bao gồm sinh cảnh và chiều sâu thẳng đứngtrong hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc VQG Ba Bể, tỉnhBắc Kạn, làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá vai trò chỉ thị củaOribatida trong việc quản lý, khai thác sử dụng bền vững hệ sinh thái đấtViệt Nam
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề
tài
3.1 Lập danh sách các loài Oribatida đã biết ở hệ sinh thái đất rừng tựnhiên độ cao 300m thuộc VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Nghiên cứu phân tích cấu trúc quần xã Oribatida về đặc điểm phân
bố, mật độ quần thể, độ ưu thế, đa dạng loài (H’), độ đồng đều (J’) ở hệsinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên
cứu
4.1 Đối tượng nghiên
cứu
Trang 15Các loài thuộc bộ Ve giáp (Acari: Oribatida), phân lớp Ve bét(Acari), lớp Hình nhện (Arachnida), phân ngành Chân khớp có kìm(Chelicerata), ngành Chân khớp (Arthropoda), của Giới Động vật(Animalia) ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc VQG BaBể
4.2 Phạm vi nghiên
cứu
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và cấu trúc quần xã Oribatida
ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc VQG Ba Bể, tỉnh BắcKạn, liên
Trang 16quan đến yếu tố tự nhiên, bao gồm: Sinh cảnh và chiều sâu thẳng đứng trong đất (0-10cm và 10-20cm), tầng thảm lá mục và tầng rêu.
5 Đóng góp mới của đề tài
Khóa luận cung cấp số liệu về đa dạng thành phần loài, đặc điểmphân bố của Oribatida ở sinh cảnh rừng tự nhiên VQG Ba Bể
Khóa luận cung cấp dẫn liệu về cấu trúc quần xã Oribatida ởrừng tự nhiên VQG Ba Bể Cấu trúc quần xã Oribatida được cung cấp vềcác chỉ tiêu như: đặc điểm phân bố, mật độ quần thể, độ ưu thế, chỉ số đadạng loài (H’), chỉ số đồng đều (J’) theo sinh cảnh và chiều sâu thẳngđứng trong đất
Khóa luận bổ sung tư liệu về thành phần loài Oribatida, góp phầnđánh giá tài nguyên đa dạng động vật đất của Việt Nam, và khảo sátcấu trúc quần xã Oribatida như yếu tố chỉ thị sinh học
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI
LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Việc nghiên cứu phân tích sự thay đổi các đặc trưng định lượngcủa Oribatida (số lượng loài, mật độ, chỉ số đa dạng H’, chỉ số đồng đềuJ’) theo dạng sinh cảnh, theo độ sâu đất được áp dụng ở khu VQG Ba
Bể làm cơ sở khoa học chỉ ra những tác động tích cực cũng như tiêu cựccủa các nhân tố môi trường, con người đến hệ sinh vật đất
1.2 Lược sử nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu Oribatida trên thế giới
Một trong những nghiên cứu khoa học đầu tiên về động vật ở đất lànhà tự nhiên học người Anh, Saclơ Dacuyn Ngay từ năm 1881, cuốn sách
“Sự tạo mùn nhờ các hoạt động của giun đất” đã được công bố ở LuânĐôn Trong những năm cuối của thế kỷ thứ XIX có hàng loạt các côngtrình nghiên cứu về giun đất của H Post (1862), Hesen (1882) hay cáccông trình nghiên cứu về vai trò phân hủy xác thực vật của nhà khoa họcngười Đan Mạch P Miller (1879,1884)….[18]
Cho đến những năm đầu thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu đã đồngthời mở rộng nghiên cứu đồng bộ hầu hết các nhóm sinh vật sống trongđất… và những năm 50 của thế kỷ 20, bộ môn khoa học sinh học mới rađời đó là khoa học sinh thái đất được hình thành như một chuyên ngànhriêng Các trung tâm nghiên cứu về sinh vật đất được ra đời ở nhiều nướctrên thế giới, công bố các khoa học cơ sở về nhiều nhóm động vật đất vàsinh thái đất… Cũng trong thời kỳ này các công tác nghiên cứu cơ bản,ứng dụng bước đầu đề xuất từ một số vấn đề liên quan về quản lý pháttriển bền vững tài nguyên đa dạng sinh vật đất, hệ sinh thái đất [18]
Trang 18Khu hệ Oribatida được nghiên cứu từ rất sớm và diễn ra ở hầu hếtcác nước có nền khoa học phát triển như Đức, Pháp, Ý, Nga,…Mặc
dù có rất nhiều công trình và dẫn liệu về sự đa dạng và phong phú củakhu hệ động vật đất này, tuy nhiên theo Behan- Pelletier et al., 2000[11] thì số loài thực tế hiện biết chỉ chiếm khoảng ¼ số loài có trongthực tế
Berlese là một trong số những người quan tâm đến Ve giáp ở Châu
Âu sớm nhất Các công trình nghiên cứu về Acari trước đây của ông cómột vị trí đặc biệt và có một vai trò vô cùng quan trọng vì đó đều là nhữngloài mới cho khoa học Năm 1881 đến năm 1923 ông đứng tên mộtmình, hoặc đồng tác giả của 73 công trình nghiên cứu về Acari,Microarthropoda, Scorpiones Trong đó, ông đã mô tả 120 loàiOribatida và đều viết bằng tiếng la tinh rất ngắn gọn chỉ gồm một vài nétgạch đầu dòng [11]
Krivolutsky, 1979 đã nghiên cứu về vai trò chỉ thị của Oribatida
và khẳng định chúng là nhóm chỉ thị sinh học tốt cho kiểu đất, chomức độ ô nhiễm đất bởi phóng xạ [12]
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của mình kết hợp với các công trình
của các tác giả khác Schatz, 2002 đã tổng hợp và công bố bản mục lụccác loài Oribatida đã biết ở khu vực Trung Châu Mỹ Danh sách gồm
543 loài Oribatida thuộc 87 họ Ngoài ra, ông còn liệt kê số lượngOribatida đã được thu thập ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũngthuộc Trung Mỹ như: Cuba (225 loài), Antilles (387 loài), LasserAntilles (172 loài), Jamaica (28 loài), Dominica (21 loài) (Schatz,2002).Số lượng loài Oribatida của Trung Mỹ, bao gồm cả Mexico là 978loài, nếu cộng thêm cả Antilles nữa, con số này 1238 loài (Schatz, 2002)[11]
Trang 19Một số nghiên cứu sơ bộ về chỉ thị sinh học trong môi trường đôthị cũng cho thấy Oribatida là nhóm động vật nhạy cảm với sự thayđổi chất lượng không khí (Andre’, 1976; Weigmann, 1991; Weigmann
et al., 1992; Steiner, 1995) [13], [12].
Trang 201.2.2 Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam
Ở Việt Nam và Đông Dương trước năm 1945 đã có một số côngtrình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về một số nhóm động vật đấtnhư thân mềm, gián, bọ hung, bọ nhảy, mối, ruồi… Sau đó, các nghiêncứu về động vật đất ở Việt Nam được tập trung vào những nhóm ưu thế
và có ý nghĩa kinh tế, y học như muỗi, bọ hung, côn trùng hai cánh, một
số nhóm chân khớp bé, giun tròn, giun đất…Trong các nghiên cứu nàyđộng vật chưa được khảo sát đầy đủ và đồng bộ bằng các phương phápnghiên cứu chuyên ngành riêng Chúng cũng không được đánh giá như 1thành phần không thể thiếu trong cấu trúc chu trình dinh dưỡng của cácquần xã sinh vật cạn [17]
Nhiều dẫn liệu về phân loại học, phân bố sinh học và sinh thái củamột số nhóm động vật đất quan trọng của quần xã sinh vật đất Việt Nam
đã được bổ sung và công bố Có thể kể đến một số công trình đi chuyênsâu nghiên cứu một số nhóm động vật đặc trưng như giun đất của một
số tác giả: Thái Trần Bái (1983), Vũ Quang Mạnh, Huỳnh Thị KimHối (1985), Đỗ Văn Nhượng (1987), về côn trùng cánh cứng của ĐặngThị Đáp (1981,1988), Về ve giáp (Acaria: Oribatei) của Nguyễn TríTiến, Vũ Quang Mạnh (1985), về mối của Nguyễn Đức Khảm (1976),Nguyễn Đức Khảm và Vũ Văn Tuyển (1985), về bọ nhảy của NguyễnTrí Tiến(1994)…Đặc biệt từ năm 90 của thế kỷ XX ngoài các nghiêncứu cơ bản về đa dạng sinh học động vật đất Việt Nam, các nhà nghiêncứu còn chú ý ứng dụng sinh vật đất vào cải tạo và tăng độ phì của đất,sinh vật đất trong quản lý và phát triển tài nguyên (Vũ Quang Mạnh,1995), hệ động vật đất với quá trình cải tạo đất góp phần phủ xanh đấttrống, đồi trọc [18]
Năm 2002, Vũ Quang Mạnh và Vương Thị Hòa đã đưa ra dẫn liệu
bổ sung về vai trò, cấu trúc của quần xã Oribatida ở vùng Tam Đảo,
Trang 2110tỉnh Vĩnh Phúc Có nhận xét cấu trúc quần xã Oribatida ở hệ sinh thái đất
có liên quan rõ
Trang 22rệt với sự suy giảm của cây gỗ rừng Nó có thể được xem xét, đánh giánhư một đặc điểm sinh học, chỉ thị diễn thế của rừng Tam Đảo nói riêng
và của Việt Nam nói chung [5]
Năm 2005, trong báo cáo tại Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần thứ
V, Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm đã công bố khu hệ Oribatida ViệtNam gồm 158 loài, thuộc 46 họ, mang tính chất Ấn Độ - Mã Lai và thuộcvùng động vật Đông Phương (Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm, 2005)[6]
Năm 2010, các tác giả Đào Duy Trinh, Trịnh Thị Thu, Vũ Quang
Mạnh đã đưa ra các dẫn liệu về thành phần loài, đặc điểm phân bố vàđịa động vật khu hệ Oribatida ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ.Ghi nhận được 103 loài thuộc 48 giống, 28 họ, số loài giảm dần theo
độ cao và theo thứ tự: rừng tự nhiên → trảng cỏ cây bụi → rừng nhân tác
→ đất canh tác → vườn quanh nhà [7]
Năm 2013, Đào Duy Trinh, Nông Thị Kiều Hoa, Trần VănVinh nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của môi trường khu công nghiệpPhúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc đến sự biến động thành phần loài Ve giáp(Acari: Oribatida) so với vùng phụ cận thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh VĩnhPhúc đã ghi nhận sự có mặt của 39 loài thuộc 18 họ và 29 giống trong đósinh cảnh khu công nghiệp có số lượng loài nhiều nhất, có 3 loài xuất hiện
ở cả 3 sinh cảnh [8]
Năm 2014, Đào Duy Trinh, Hứa Thị Huế, Nông Thị Kiều Hoa,Phạm Văn Ngọc, Trần Văn Vinh, Vũ Quang Mạnh, nghiên cứu sự biếnđộng thành phần loài thuộc bộ Ve giáp ở KCN Phúc Yên - Vĩnh Phúc vàphụ cận đã phát hiện được 39 loài Ve giáp (Acari: Oribatida), thuộc 18
họ và 29 giống Trong đó sinh cảnh khu công nghiệp có số lượng loàinhiều nhất 29 loài (chiếm
Trang 24Như vậy những nghiên cứu về Ve giáp ở Việt Nam đang có hướngphát triển thu được những thành tựu đáng kể Việc nghiên cứu Ve giáp
ở nhiều vùng miền, nhiều hệ sinh thái khác nhau là cần thiết, đặc biệt làcác nghiên cứu tổng hợp cấu trúc quần xã Ve giáp về thành phần loài,mật độ quần thể, độ đa dạng loài, độ đồng đều quần xã và việc đánh giávai trò của chúng trong hệ sinh thái, giúp hiểu biết đầy đủ về tài nguyên
đa dạng sinh học Việt Nam, là cơ sở khoa học cho việc quản lý và khaithác bền vững hệ sinh thái đất
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành ở độ cao 300m rừng tự nhiên tại VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Trang 26VQG Ba Bể ở độ cao 145m so với mặt nước biển, diện tích mặt
hồ khoảng 500ha được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi có nhiều suốingầm và hang động [17]
60 - 65% và có hàm lượng mùn lớn không kể trên cao hay dưới thấp [17]
* Tài nguyên động thực vật
VQG có hệ động thực vật phong phú và đa dạng mang đặc trưngrừng mưa nhiệt đới Rừng có nhiều gỗ quý (đinh, lim, nghiến, táu…)cùng nhiều cây dược liệu và nhiều loại chim muông, thú rừng nhưphượng hoàng, công, trĩ, hươu, nai, sơn dương, khỉ, lợn rừng, kỳ đà…[17]
Do kiến tạo địa chất, sự bồi đắp của các con sông, suối đã tạo cho
Ba Bể những bồn địa, những thung lũng lòng máng, lòng chảo, đất đaikhá màu mỡ thích hợp với việc trồng lúa, ngô, các loại rau, đậu, cây côngnghiệp (mía, bông) và cây ăn quả (cam, quýt, chuối, hồng) [17]
2.1.1.2 Đặc điểm dân sinh và sản xuất kinh tế
* Đặc điểm dân sinh
VQG Ba Bể nằm trong diện tích của 5 xã có nhiều dân tộc sinh sốngchủ yếu là dân tộc Tày và dân tộc Nùng
Trang 27Sự phân bố giữa các xã không đồng đều, phần lớn tập trung dọc cáctrục đường giao thông [17]
Trang 282.1.2 Thời gian nghiên cứu và số lượng mẫu
Chúng tôi tiến hành khảo sát và điều tra cấu trúc quần xã Ve giáp từtháng 6 năm 2015 Chúng tôi tiến hành lấy mẫu vào 30/06/2015 với số lượng
Tầng
Sinh cảnh
Đất 10-20cm
Đất
30/06/2015 30/06/2015 30/06/2015 30/06/2015
2.2 Vật liệu nghiên cứu
Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: Hộp cắt kim loại hình khối hộpchữ nhật cỡ (5x5x10) cm Túi nilong dựng mẫu, bút dạ không xóa, sổghi chép, dụng cụ đào đất … Máy xác định tọa độ địa lý GPS là thiết bịthu và sử lý tín hiệu từ các vệ tinh địa tĩnh để xác định tọa độ địa lý củabất kì địa điểm nào trên trái đất (Trần Đình Nghĩa, 2005) [4]
Dụng cụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Hệ thống lọc mẫuđất (rây lọc, phễu lọc,…) Dụng cụ tách mẫu, phân tích mẫu và làm tiêubản: đĩa petri, lam kính, lamen, ống hút, bút tách mẫu, giấy thấm,bông ; Kính lúp Olympus SZ40; Kính hiển vi; Labomed Seme PlanAchro Lp:40x/0,65
5121040 Hoá chất sử dụng : Glixerol, Formaldehyt, Cồn 900 [1] [3]
Trang 30Ở VQG Ba Bể, chúng tôi tiến hành thu mẫu đối với các mẫu tầngrêu mẫu định lượng là từ 200-300 gram rêu bám thân cây gỗ rừng, xácvụn thực vật ở trên mặt đất nằm ở độ cao từ 0+100cm trên mặt đất.Các mẫu này đều cân trọng lượng mỗi mẫu và tính trung bình theo kg.Đối với thảm lá rừng phủ trên mặt đất, chúng tôi tiến hành gom tất cả lámục, cành cây, xác hữu cơ phủ trên mặt đất có diện tích (20cm x 20cm),đem cân và ghi lại trọng lượng, sau đó tính trung bình để biết trên 1m2diện tích có trọng lượng thảm lá rừng là bao nhiêu Mẫu đất được lấy ở
độ sâu 0-10cm và 11-20cm với kích thước của mỗi mẫu thu là 5x5x10cm,mẫu đất được lấy theo ô tiêu chuẩn với diện tích mỗi ô là 1m2, mỗi ôtiêu chuẩn lấy 5 mẫu gồm 4 góc và một mẫu ở giao điểm của 2 đườngchéo
* Tách lọc mẫu Oribatida theo phương pháp phễu lọc “Berlese –
Sử dụng phương pháp truyền thống trong nghiên cứu khu hệ vàsinh thái động vật đất ở thực địa và trong phòng thí nghiệm theoKrivolutsky, (1975) [14]
Trang 31Các mẫu đất sau khi thu ở thực địa về, sẽ tiếp tục tiến hành táchđộng vật chân khớp bé ra khỏi đất theo phương pháp phễu lọc “Berlese-Tullgren”, dựa theo tập tính hướng đất dương và hướng sáng âm củađộng vật đất, trong thời gian 7 ngày đêm, ở điều kiện nhiệt độ phòng thínghiệm
Để xử lý mẫu, bảo quản và định loại: Các ống nghiệm chứa động vậtthu được nhờ phễu “Berlese- Tullgren” sẽ được đổ trên giấy lọc đặt sẵntrong đĩa
Trang 32petri để dưới kính lúp 2 mắt để nhặt riêng từng nhóm Oribatida Cácmẫu Oribatida không làm tiêu bản, sẽ được cho vào trong ống nghiệmchứa dung dịch định hình là formaldehyt 4% Các ống nghiệm đều đượcgắn nhãn ghi đầy đủ ngày thu mẫu, địa điểm Toàn bộ tiêu bản định loại
và các mẫu vật được bảo quản tại phòng động vật, khoa Sinh – KTNN,Đại học sư phạm Hà Nội 2
Đặc điểm hình thái phân loại
Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc cơ thể Oribatida (Vũ Quang Mạnh, 2007) [3]
Prosoma là phần đầu ngực bao gồm cả 4 đôi đôi chân I, II, III và
Trang 34 Propodosoma là phần thân trước mang đôi chân I và II.
Metapodosoma là phần thân giữa mang đôi chân III và IV
Podosoma là phần ngực bao gồm cả 4 đôi chân
Hình 2.3 Sơ đồ cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quan Oribatida bậc cao
a Mặt lưng, b Mặt bụng, c Mặt bên (từ Vũ Quang Mạnh, 2007) [3]
ro: Chóp đỉnh rostrum: ro, lm: Lông rostrum; tấm lamella
le, in, ss: Lông mọc trên lamella, lông interlamela, lông sensilus
Bothridium: Gốc của lông sensilus
Exa và Exp: Lông trước gốc bothridium và lông sau gốc bothridium
tutorium: Tấm ki tin chìa ra nằm dưới và chạy song song với lamella
cuspis: phần đỉnh của tấm lamela chìa lên bề mặt cơ thể
prolamela: Phần tấm kéo dài ở trước lamella, không chìa lên trên bề mặt
cơ thể
Trang 35 c1, c2, c3, cp, d1, d2, e1, e2, f1, f2, h1, h2, h3, ps1, ps2, ps3 : Các lông
notogaster ở ve giáp bậc thấp; gla: Tuyến dầu nhờn; h: Lông dưới
miệng;
1a, 1b, 1c, và 2a, 3a, 3b, 3c, và 4a, 4b, 4c, 4d: Các lông của epimeres 1,
2, 3 và 4; ap1, ap2, ap3, ap4, ap5, ap sej., ap.st.: Các mấu lồi trong
apodemes; ep1, ep2, ep3, ep 4: Các gân cơ epimeres của gốc chân; pd1, pd2, pd3, pd4: Các tấm pedotecta phủ mặt trên của gốc các chân; ia,
ih, im, ips, iad, ian: Các khe cắt lyrifissures.
G, AG: Giáp sinh dục và giáp quanh sinh dục; g và ag: Các lông sinh dục
và lông quanh sinh
dục
Định loại Oribatida
Mẫu Oribatida, trước khi được định loại cần được tẩy màu, làmtrong vỏ kintin cứng Quá trình làm trong màu có thể diễn ra trongmột vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kínhlõm Đưa lam kính quan sát dưới kính lúp: dựa vào đặc điểm hình dạngngoài, dùng kim tách sơ bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhauriêng Đặt lamel ở bên trái lam kính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm.Nếu dung dịch axit nhỏ vào chỗ lõm dưới lamel chưa đầy cần bổ sungcho đầy Dùng kim chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lamel đểquan sát ở các tư thế khác nhau theo hướng lưng và bụng và ngược lại.Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát, ta chuyển sang ở kính hiển vi
Sau khi định loại xong, các loài được đo kích thước và chụp ảnh;tất cả các cá thể cùng một loài để chung vào một ống nghiệm, dùng dungdịch định hình bằng formaldehyt 4% Dùng giấy can ghi các thông số tên
Trang 36loài cần thiết bằng bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước; tất cả cácống nghiệm được đặt chung vào lọ thuỷ tinh lớn chứa formaldehyt 4%
để bảo quản lâu dài Ghi tất cả các tên loài đã được định loại vào nhật kýphòng thí nghiệm