Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu Shannon - Weiner H’..... sinh sản, di truyền, tiến hóa … Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côntrùng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN - -
NGUYỄN LÂM TÙNG
DẪN LIỆU BƯỚC ĐẦU
VỀ CÔN TRÙNG NƯỚC Ở XÃ TÂN HỢP, HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Người hướng dẫn khoa học PGS TS NGUYỄN VĂN VỊNH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn VănVịnh, người thầy đã định hướng và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quátrình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp củamình
Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệmKhoa cùng các thầy, cô giáo Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đạihọc Sư Phạm Hà Nội 2, những người đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiệnthuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệp củamình Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Hiếu - Trưởngphòng thí nghiệm Động Vật học, Thầy giáo Khuất Văn Quyết và các cán bộgiảng dạy tổ Thực vật - Vi sinh đã tạo điều kiện cho tôi sử dụng một số thiết
bị tại phòng thí nghiệm Thực vật học góp phần giúp tôi hoàn thành khóa luậnđúng thời gian
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã độngviên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứukhoa học Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Lâm Tùng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kếtquả nghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận là do nghiên cứu, thựctiễn đảm bảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trìnhkhoa học, trong các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sáchchuyên khảo,…nào khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Lâm Tùng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam 10
1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên ở xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 15
1.3.1 Vị trí địa lý 15
1.3.2 Địa hình 15
1.3.3 Đất đai 15
1.3.4 Khí hậu 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Thời gian nghiên cứu: 8/2016 đến 5/2017 17
2.3 Địa điểm nghiên cứu 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Phương pháp thu mẫu ngoài tự nhiên 19
2.4.2 Phương pháp phân tích mẫu 20
2.4.3 Một số chỉ số Đa dạng sinh học 20
2.4.4 Xử lý số liệu 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 23
3.1.1 Thành phần loài Phù du (Ephemeroptera) 29
Trang 53.1.2 Thành phần loài Chuồn chuồn (Odonata) 29
3.1.3 Thành phần loài của bộ Cánh úp (Plecoptera) 30
3.1.4 Thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera) 30
3.1.5 Thành phần loài Cánh cứng (Coleoptera) 30
3.1.6 Thành phần loài Cánh rộng (Megaloptera) 31
3.1.7 Thành phần loài Hai cánh (Diptera) 31
3.1.8 Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera) 31
3.1.9 Thành phần loài Cánh vẩy (Lepidoptera) 32
3.2 So sánh số lượng và thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 32
3.2.1 So sánh số lượng loài giữa các điểm nghiên cứu 32
3.2.2 Tính tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 35
3.3 Một số đặc điểm của quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 38 3.3.1 Mật độ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 38
3.3.2 Loài ưu thế và một số chỉ số đa dạng 40
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44 BÀI BÁO KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN HƯỚNG NGHIÊN CỨU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước tại
khu vực nghiên cứu
Shannon - Weiner (H’) 40
Trang 7Hình 3.4 Sơ đồ MDS (Non-metric Multi-Dimensional Scaling) về mức độ
tương đồng tại khu vực nghiên
cứu 37
Hình 3.5 Số cá thể thu được ở mỗi bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 40
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Côn trùng ở nước giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nước ngọt và
có mặt hầu hết trong các thủy vực nội địa, đặc biệt rất phổ biến ở các hệ thốngsông, suối thuộc vùng trung du, núi cao Mỗi một môi trường thủy vực, nhómsinh vật này đều có những đặc tính thích nghi phù hợp So với nhiều nhómsinh vật khác, côn trùng nước có nhiều đặc tính nổi trội như số lượng loài, sốlượng cá thể lớn…đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếu trongchuỗi và lưới thức ăn: vừa là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 vừa lànguồn thức ăn của của cá và nhiều loài động vật có xương sống khác Vì vậychúng tham gia tích cực trong vai trò cân bằng mối quan hệ dinh dưỡng ở hệsinh thái thủy vực
Nhiều loài côn trùng nước có quan hệ mật thiết đối với con người Một
số loài côn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh Đáng chú ý là những nhóm giữ vai trò quan trọng trong dịch tễ học như các
loài thuộc giống Anopheles, Aedes thuộc bộ Hai cánh (Diptera)… Giai đoạn
trưởng thành của chúng là những vector truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da chongười Khác với nhóm côn trùng trên cạn, phần lớn các loài thuộc côn trùngnước tồn tại cả trong môi trường nước và trong môi trường cạn Do vậy,chúng là đối tượng lý tưởng dùng trong các nghiên cứu về sinh thái học vàsinh học tiến hóa Đa phần các loài côn trùng nước đều nhạy cảm với các biếnđổi của môi trường nước Vì vậy hiện nay, một trong những hướng nghiêncứu quan trọng về nhóm côn trùng nước là dùng đối tượng này làm chỉ thịchất lượng môi trường
Trên thế giới đã có rất nhiều thành tựu nghiên cứu trên đối tượng côntrùng nước, từ việc phân loại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái,
Trang 9sinh sản, di truyền, tiến hóa … Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côntrùng nước cũng đã được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là ở các Vườn Quốcgia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, những nơi có hệ thống sông, suối phongphú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước cao.
Xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái nơi có hệ thống sông, suốiphong phú, tiềm ẩn tính đa dạng về loài và là nơi thuận lợi cho việc trú ngụcủa các loài côn trùng nước, tuy nhiên việc nghiên cứu về nhóm sinh vật này
vẫn chưa được quan tâm, vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Dẫn liệu
bước đầu về côn trùng nước ở xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”.
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định thành phần loài côn trùng nước tại thủy vực dạng suối thuộc
xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Nghiên cứu đặc điểm của quần xã côn trùng nước: thành phần loài,mật độ cá thể, mức độ đa dạng dựa vào mức độ đa dạng sinh học theo cácdạng sinh cảnh
3 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn
3.1.Ý nghĩa khoa học
- Đề tài cung cấp những dẫn liệu đa dạng về loài, phân bố theo tính chấtdòng chảy của côn trùng nước thuộc địa phận xã Tân Hợp, huyện Văn Yên,tỉnh Yên Bái
3.2.Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tư liệu phục vụ cho việcnghiên cứu về côn trùng nước sau này tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnhYên Bái
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới
Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới,đặc biệt ở những nước phát triển Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liênquan đến từng bộ của nhóm côn trùng này, từ những nghiên cứu về phân loạihọc (Eaton, 1871, 1883 - 1888; Lepneva, 1970, 1971; McCafferty, 1973,1975; Kawai, 1961, 1963), sinh thái học (Brittain, 1982), tiến hoá (Edmunds,1972; McCafferty, 1991) đến những nghiên cứu về ứng dụng (Morse, 1984)[21] Đặc biệt đã có nhiều nghiên cứu về các nhóm côn trùng nước gắn bóchặt chẽ với đời sống con người mà đa phần là tác nhân gây bệnh hoặc tácnhân truyền bệnh cho người và động vật như: ruồi, muỗi,… Điển hình là cácnghiên cứu của Resh và Rosenberg, 1979; Merritt và Cummins, 1984; Merritt
và Newson, 1978; Kim và Merritt, 1987 [21]
Việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị chất lượngnước đã được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX qua các công trìnhnghiên cứu của Kuehne (1962), Bartsch và Ingram (1966), Wilhm và Dorris(1968) Sang những năm 1970, 1980 côn trùng nước trở thành vấn đề trungtâm trong các nghiên cứu về sinh thái học ở các thủy vực nước ngọt (Barnes
và Minshall, 1983) [21] Đã từ lâu, các nhà khoa học sớm nhận ra vai trò quantrọng của côn trùng nước trong các hệ sinh thái, do đó phạm vi nghiên cứucôn trùng nước ngày càng được mở rộng, các hướng nghiên cứu không chỉdừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như:biến động quần thể côn trùng, các mối quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầucủa sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984; Cummins, 1994) [21]
Trang 11Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bốhàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty W.P.,1983; Kawai T., 1985; John C.M., Yang Lianfang và Tian Lixin, 1994; Yoon,I.B., 1995; Merritt R W và Cummins K W., 1996; … Các nghiên cứu này
đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về côn trùng nước bao gồm cả phânloại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng
Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc nhómCôn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánhlông (Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng(Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy(Lepidoptera)
Nghiên cứu về Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậm chícòn được xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Dựa vào nhữngbằng chứng hóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷCacbon và đầu kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm[10] Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ rất sớm Công trình nghiên cứuđầu tiên về phân loại học Phù du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus(1758) Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng vào mộtnhóm là Ephemera [24]
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điểnhình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933),Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự(1935) [8]
Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42
họ và hơn 400 giống của bộ Phù du Các nghiên cứu về Phù du, đặc biệt là
Trang 12phân loại học vẫn đang phát triển, vẫn còn nhiều loài chưa được mô tả, nhất là
ở các khu vực nhiệt đới [13]
Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du đượcthực hiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925),Lestage (1921, 1924) [26]
Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù du
là sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù durất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình của Landa
và Soldan (1991), Bufagni (1997) [26]
Nghiên cứu về Chuồn chuồn (Odonata)
Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếu trùngsống trong nước cho đến giai đoạn trưởng thành Vòng đời của chúng trải qua
3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành Thiếu trùng thường sốngtrong nước, chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởng thànhsống trên cạn Bộ Chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộAnisozygoptera, phân bộ Zygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộAnisoptera (Chuồn chuồn ngô) Phân bộ Anisozygoptera chỉ có 1 giống làEpiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố ở độ cao khoảng 2.000m ởnhững con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao Himalaya (Tani & Miyatake,1979; Kumar & Khanna, 1983) Hai phân bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơinước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùng phong phú [22].Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những côngtrình nghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học củaCorbet (1999), Silsby (2001) [5] Các công trình nghiên cứu này chủ yếudựa vào giai đoạn trưởng thành Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida &Ishida (1985) đã xây dựng khóa định loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tớigiống ở vùng châu Á [1]
Trang 13Nghiên cứu về Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp được biết khoảng 2.000 loài và là mộttrong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có cánhhiện nay Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi, nó cónhững đặc điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phầnngực (Hynes, 1976) [15]
Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có
3 đốt bàn nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy nhưmột số loài thuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu) Chúng có ăng ten dàidạng chỉ, tơ đuôi khá dài đặc biệt là các thiếu trùng ở nước Hầu hết, cánh củacác loài thuộc bộ Cánh úp rất phát triển nhưng đôi khi lại ngắn Các đặc điểm
đó dùng để phân biệt chúng với bộ Cánh màng Ấu trùng bộ Cánh úp trải quathời gian dài sống ở nước Các thiếu trùng Cánh úp giống con trưởng thành ởnhiều đặc điểm Thiếu trùng luôn có tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ởgiữa Mang nếu có, chỉ tìm thấy ở phần ngực và phần bụng được tạo thànhgiữa các tơ đuôi Thiếu trùng sống chủ yếu ở nước, có một vài loài sống trongđất ẩm (Harpers và Stewart, 1996) [15]
Morse J C., Yang Lianfang & Tian Lixin (1994); Merritt & Cummins(1996) khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tácgiả đã xây dựng khóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sởcho việc định loại các loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ saunày [22]
Nghiên cứu về Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú Nhữngnghiên cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiệnbởi Ross (1956, 1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởiMorse (1997) [18]
Trang 14Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer(1911, 1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930,1932), đặc biệt là Ulmer khi nghiên cứu khu hệ động vật ở Indonesia (1951,
1955, 1957) Ông đã cung cấp những thông tin cơ bản về Cánh lông ở khuvực nghiên cứu này Cánh lông ở Borneo đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lầnđầu bởi Kimmins (1955) Ở Philippin, Banks (1937) là người đầu tiên nghiêncứu khu hệ Cánh lông ở khu vực này Tiếp đến là Ulmer (1955, 1957) nghiêncứu dựa vào giai đoạn ấu trùng Trong khi đó các hướng nghiên cứu khác lạidựa vào giai đoạn trưởng thành Đặc biệt trong giai đoạn gần đây việc nghiêncứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càng được quan tâm như: Kimmis(1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989), Chantaramongkol (1986,
1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 - 1998, 2002-2004),Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000), Mey (1989,
1990, 1995 - 1999, 2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992, 1994),Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong(2003) [18] Ismail (1993, 1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấutrùng Cánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á [22]
Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánhlông cũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ,Srilanka được nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc(Martynov, 1931; Wang, 1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987) Tronggiai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa trên đốitượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này được nhiều nhà khoa học quantâm tìm hiểu Do đó, các công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiệnngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins (1996) [18] Ở khu vực Bắc
Mỹ, Merritt R W & Cummins K W (1996), đã xây dựng khóa định loại tớigiống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành [21]
Trang 15Nghiên cứu về Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côntrùng biến thái hoàn toàn Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài đượcbiết trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae Giai đoạntrưởng thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm Tuy nhiên, giaiđoạn ấu trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [22]
Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọtnhư: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ Chúngtrải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình
Ấu trùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng Các loài thuộc họnày lại phân bố rất hẹp Ở châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đớithuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [22]
Nghiên cứu về Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng là bộ lớn nhất trong giới Động vật Hiện nay, số loàithuộc bộ côn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và khoảng10.000 thuộc nhóm côn trùng nước [22] Theo các kết quả nghiên cứu nhómsống dưới nước được xem là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới Hiệnnay, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học,sinh thái học, tiến hóa như: các nghiên cứu của Feng (1932, 1933),Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969), Nertrand (1973), Jach (1984).Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji (1995, 1998, 2003) [23]
đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộ Cánh cứng ởchâu Á
Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đãđịnh loại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng
510 loài và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹthuộc bộ Cánh cứng [22]
Trang 16Nghiên cứu về Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công
bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer(1934), Zwich & Hortle (1989) [21] Đối với khu vực châu Á, Delfinado &Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phầnloài của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã Lai Khóa định loại tới họ và giốnghiện nay chủ yếu thực hiện theo khóa định loại được xây dựng bởi Harris(1990) [22]
Nghiên cứu về Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánhnửa sống ở nước (Dudgeon, 1999) Trong đó, khu vực châu Á có số lượngloài chiếm ưu thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cảnhững phân họ đặc hữu ở khu vực này (Andersen, 1982; Spence &Andersen, 1994) [23]
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khásớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury(1972, 1973) [22] Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như:Nepidae được nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ởvùng nhiệt đới châu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser
& Chen (1991, 1992), Sites và cộng sự (1997) [23] Merritt & Cummins(1996), Morse & cộng sự (1994) đã xây dựng khóa định loại tới giống của các
họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc Mỹ và Trung Quốc [21] [22]
Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha vàLeptopodomorpha Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côntrùng sống trên bề mặt của nước Trong phân bộ này, có hai họ lớn làVelliidae (trên thế giới có khoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài)(Chen và cộng sự, 2005) Theo Bendell (1988), Damgaard & Andersen (1996)
Trang 17các loài trong họ Gerridae được xem như những sinh vật chỉ thị cho chấtlượng môi trường nước [21].
Nghiên cứu về Cánh vảy (Lepidoptera)
Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae vàCrambidae sống ở nước Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu là
về phân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck
& Solis (1994) và Munroe (1995) [21] Trong các nghiên cứu này, các tác giảcũng đã thành lập khóa định loại cụ thể tới loài
1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam
Nghiên cứu về Phù du (Ephemeroptera)
Ở Việt Nam, trong những năm đầu của thế kỷ 20, các mô tả vềEphemeroptera cũng được đề cập và quan tâm nghiên cứu Mở đầu cho nhữngnghiên cứu về Ephemeroptera ở Việt Nam, nhà côn trùng học Lestage (1921,1924), đã mô tả một loài mới của bộ Phù du cho khoa học, dựa vào mẫu vật
được lưu giữ ở bảo tàng Paris Ông đặt tên loài là Ephemera duporti, do các
loài thuộc giống Ephemera có kích thước lớn, phân bố khá rộng và dễ thuthập nên nó được tiếp tục nghiên cứu ở giai đoạn này Sau đó, Navas (1922,
1925) đã công bố hai loài Ephemera longiventris và Ephemera innotata, cũng
dựa trên các mẫu vật thu được ở miền Bắc Việt Nam Cho đến nay, hai loàinày cũng chưa tìm thấy ở các khu vực phân bố khác, nên có thể xem chúngnhư là loài đặc hữu cho khu hệ Ephemeroptera ở Việt Nam
Đặng Ngọc Thanh (1967), cũng đã đề cập đến thành phần loài của Phù
du (Ephemeroptera), tác giả đã mô tả một loài mới thuộc họ Heptageniidae.Đặng Ngọc Thanh (1980), xác định khu hệ Phù du ở Bắc Việt Nam bao gồm
54 loài, 29 giống thuộc 13 họ khác nhau Tuy nhiên trong số này chỉ có 13loài là được định tên đầy đủ, số còn lại chỉ ở mức độ giống Trong nghiên cứu
Trang 18này đã mô tả hai loài cho khoa học đó là Thalerosphyrus vietnamensis Dang
và Neopheieridae cuaraoensis Dang [7].
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loạicác nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đãđưa ra khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du [6]
Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2001, 2003, 2004, 2005, 2006,
2007, 2008) ở một số Vườn Quốc gia của Việt Nam Những nghiên cứu này,
đã công bố hàng loạt các kết quả về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và
đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng như xây dựngcác khóa định loại tới loài [24] [25] [27] [28] [29] [30] [31]
Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và
14 họ Phù du ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóađịnh loại và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ởViệt Nam, nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếptheo về bộ Phù du ở nước ta [25]
Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc giaTam Đảo đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ Trong đó, có 10loài lần đầu tiên ghi nhận cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, đó là:
Platybaetis edmundsi Muller - Liebenau, 1980; Baetiella trispinata Tong and Dudgeon, 2000; Serratella albostriata Tong and Dudgeon, 2000; Torleya arenosa Tong and Dudgeon, 2000; Cincticostella boja Allen, 1975; Ephemera serica Eaton, 1871; Choroterpes trifrucata Ulmer, 1939; Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939; Caenis cornigera Kang and Yang, 1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [9] Ngoài việc phân loại các loài
thuộc bộ côn trùng này, tác giả còn nhận xét về sự phân bố của chúng theo độcao của suối Thác Bạc
Trang 19Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia
Ba Vì, Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ Trong đó có một
loài ghi nhận lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858)
[10] Trong khoảng thời gian này, tác giả cũng tiến hành điều tra thành phầnloài Phù du ở một số Vườn Quốc gia khác ở Việt Nam [11] [12]
Nghiên cứu về Chuồn chuồn (Odonata)
Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tảnmạn và chưa thành hệ thống Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạntrưởng thành Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vàonhững năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một sốnhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo được công bố năm 1902khi điều tra khu hệ động vật Đông Dương Trong báo cáo này, ông công bố
139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae và Agrionidae Trong 139 loài,
Martin đã mô tả 9 loài mới và một giống mới là Merogomphus [1].
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loạicác nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đãxây dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [6]
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côntrùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họcủa bộ Chuồn chuồn ở khu vực này Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phânloại thiếu trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít Do đó, những mẫu vật thuđược mới chỉ phân loại đến bậc giống [3]
Nghiên cứu về Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâmnghiên cứu trong thơi gian gần đây Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai(1968, 1969), Zwick (1988), Stark và cộng sự (1999) [15], nhưng tất cả cácmẫu vật đều ở giai đoạn trưởng thành Mục đích của những nghiên cứu là
Trang 20nhằm xác định lại và mô tả một số loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên nhữngnghiên cứu trước đó và những điều tra về sau của cả giai đoạn trưởng thành
và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam Thêm vào đó là việc xác định khóađịnh loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng ởViệt Nam cũng như sinh thái, nơi ở của chúng Cao Thị Kim Thu (2002), đãxây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam Công trình là cơ sởkhoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [15]
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côntrùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộCánh úp Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 12loài thuộc 3 họ [9]
Nghiên cứu về Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Những tài liệu
về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu
Âu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913) Sau những nghiên
cứu đầu tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và Paraphlegopteryx tonkinensis, ông đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về
Cánh lông ở Việt Nam Tiếp theo, Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930,
1932, 1933) đã mô tả một số loài thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae,Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae vàRhyacophiloidae Banks (1931) và Mosely (1934) [12] nghiên cứu vềHydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae Oláh (1987 - 1989)
mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae[18]
May (1995-1998) và Malicky (1994, 1995, 1998), mô tả các loài thuộccác họ Hydropsychoidae, Glossosomatoidae, Rhyacopphiloidae,Phiolopotamoidae, Limnephiloidae, Hydroptiloidae, Sericostomatoidae vàLeptoceroidae từ các mẫu vật thu được ở một số vùng của Việt Nam Malicky
Trang 21và Mey (2001), mô tả 2 loài mới thuộc giống Ceratopsyche ở miền Bắc Việt Nam Schefter và Johanson (2001), mô tả 3 loài thuộc giống Helicopsyche.
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001) định loại được 23 loài thuộc 16 họ của
bộ Cánh lông ở Vườn Quốc gia Tam Đảo khi nghiên cứu về nhóm côn trùngnước tại khu vực này [3]
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựngkhóa định loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta Hoàng ĐứcHuy (2005) mô tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ởViệt Nam dựa vào giai đoạn ấu trùng [6]
Nghiên cứu về Cánh cứng, Hai cánh, Cánh nửa, Cánh vảy và Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera),Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng(Megaloptera) còn tản mạn Các nghiên cứu thường không tập trung vào một
bộ cụ thể mà thường đi cùng với các công trình nghiên cứu về khu hệ côntrùng nước nói chung như: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở VườnQuốc gia Tam Đảo [24]; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon JaeBae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã [17], Nguyễn Xuân Quýnh
và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật không xương sống nướcngọt thường gặp ở Việt Nam [6]
Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắtđầu vào những năm đầu của thế kỷ XX Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae
(Hemiptera) được mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903
thuộc Bắc Việt Nam Tiếp theo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được
mô tả bởi Andersen (1975, 1980, 1993); Andersen & Cheng (2004);Polhemus (2001); Chen & Zettel (1999), Polhemus & Andersen (1994);Polhemus & Karunaratne (1993) [31]
Trang 22Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài củacác loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học cho các nghiêncứu về bộ Cánh nửa ở nước ta [31].
1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên ở xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
1.3.1 Vị trí địa lý
Vị trí: Xã Tân Hợp là một xã nằm ở trung tâm của huyện Văn Yên, tỉnh YênBái, cách thành phố Yên Bái 35km về phía Tây Bắc theo trục đường cao tốcNội Bài - Lào Cai
Tọa độ: Từ 21o53’14’’ vĩ độ Bắc
Từ 104o35’9’’ kinh độ ĐôngTổng diện tích tự nhiên: 62,01 km2
1.3.3 Đất
đai
Nhóm đất phù sa phân bổ chủ yếu dọc sông Hồng, và các suối trên địabàn có độ phì tự nhiên khá cao thích hợp cho các loại cây lương thực, câycông nghiệp
Nhóm đất đồi (gồm đất đỏ vàng, đất mùn vàng) phân bổ rộng khắp trên địabàn, nhóm đất này có độ phì nhiêu khá cao thích hợp với cây công nghiệp dài
ngày (cây chè, dứa, mía, quế ).
1.3.4 Khí hậu
Trang 23Xã Tân Hợp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnhhưởng của gió mùa Đông Bắc, có lượng mưa lớn, bình quân 1.800 - 2.000mm/năm, nhiệt độ trung bình 23 - 24ºC, độ ẩm không khí 81 - 86%.
Trang 24Sương muối: Xuất hiện chủ yếu ở độ cao trên 600 m, nhiệt độ càngxuống thấp số ngày có sương càng nhiều Vùng thấp thuộc thung lũng sôngHồng ít xuất hiện.
Mưa đá: Xuất hiện ở một số nơi vào khoảng cuối mùa xuân, đầumùa hạ và thường đi kèm với hiện tượng dông và gió xoáy cục bộ
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đa dạng côn trùng nước tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên,tỉnh Yên Bái
2.2 Thời gian nghiên cứu:
Thời gian tiến hành nghiên cứu được thực hiện từ tháng 08/2016 đếntháng 04/2017 Mẫu vật sử dụng trong nghiên cứu được thu thập ngoàithực địa từ ngày 02/09/2016 đến ngày 04/09/2016
Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại phòngthí nghiệm Động vật học, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học sưphạm Hà Nội 2
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Tại các thủy vực dạng suối tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.Trước khi tiến hành thu mẫu, tôi ghi lại một số đặc điểm, hình ảnhchính của các điểm nghiên cứu:
Điểm 1 (ký hiệu B1) Độ cao 75m
Trang 26Nước suối tương đối trong và chảy mạnh, nền đáy chủ yếu là đá tảng,đôi chỗ có cát và sỏi nhỏ Hai bên suối là rừng quế, dọc bờ suối có nhiều câybụi nhỏ, độ che phủ 10 - 20% Suối có đôi chỗ tạo thành vùng nước đứng.
Độ sâu trung bình 20 - 30cm, có nơi sâu >1m
Điểm 3 (ký hiệu B3) Độ cao 111m.
Tọa độ N:21 o 53,117’ E:104 o 36,303’.
Khe gần đường đi vào điểm trường hạnh phúc Hai bên suối là rừngthứ sinh có nhiều cây bụi, trong suối đôi chỗ có các cây cỏ thủy sinh Nướcchảy bình thường, nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, đôi chỗ có cát và sỏi Độ chephủ 15 - 25%
Điểm 4 (ký hiệu B4) Độ cao 57m.
Tọa độ N:21 o 55,578’ E:104 o 35,808’.
Trời nắng, suối chảy bình thường, dọc hai bên bờ suối có nhiều câybụi nhỏ, đôi khi giữa suối có nhiều cỏ Hai bên suối là rừng trồng và nhà dân.Nền đáy của suối chủ yếu là đá và cát, ít đá tảng lớn, suối được người dânthả chăn nuôi vịt Độ sâu của suối thấp 10 - 30cm, độ che phủ 50 - 60%, cónơi 80%
Điểm 5 (ký hiệu B5) Độ cao 92m.
Tọa độ N:21 o 55,146’ E:104 o 35,356’.
Trời nắng Một bên suối là rừng thứ sinh một bên là ruộng lúa, dọchai bờ suối có nhiều cây bụi nhỏ Nền đáy của suối chủ yếu là sỏi và đá nhỏ,thỉnh thoảng có bùn đất và cát Suối chảy bình thường, chảy qua đường
đi Độ sâu trùng bình của suối 20 - 40cm, độ che phủ 0 -15%
Điểm 6 (ký hiệu B6) Độ cao 54m.
Tọa độ N:21 o 55,497’ E:104 o 36,019’.
Suối tại điểm thu mẫu chảy ngay vào sông Hồng, cách sông Hồng 300
- 400m Nền đáy của suối chủ yếu là đá nhỏ, bùn, ít đá tảng, thỉnh thoảng có
Trang 27cát và sỏi nhỏ Hai bên bờ suối là ruộng canh tác của người dân, điểm thumẫu nằm ngay dưới chân đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai Độ che phủ 0%.
Điểm 7 (ký hiệu B7) Độ cao 59m.
Tọa độ N:21 o 55,013’ E:104 o 36,825’.
Một bên suối là ruộng lúa, một bên là nhà dân Dọc hai bên bờ suối
là ít cây thủy sinh Nền đáy của suối chue yếu là đá, đôi khi là bùn và sỏinhỏ Suối chảy ra sông Hồng, Cách sông Hồng 800m Độc che phủ 0 - 5%
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu mẫu ngoài tự nhiên
Thu mẫu ngoài tự nhiên được tiến hành theo phương pháp của
Merritt và Cummins (1996)[21], Morse và cộng sự[22] (1994), Nguyen
Đối với mẫu định tnh được thực hiện ở cả nơi nước chảy và nướcđứng Ở nhiều nơi có cây bụi thủy sinh dùng vợt sục vào các cây bụi đó vàcác rễ cây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp việc thumẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay
Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber lấy 2 mẫu: 1 mẫu ở nơi
Trang 28Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất Do các cá thể côntrùng nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phải nhẹ nhàng và nhặt qua
Trang 29mẫu ngay tại thực địa Mẫu thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 800,ghi etiket đầy đủ và đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tạiphòng thí nghiệm Động vật học, Khoa Sinh - Kỹ Thuật Nông Nghiệp,trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
2.4.2 Phương pháp phân tích mẫu
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay thêm ít nước.Dùng panh nhặt hết các ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước cầnnghiên cứu cho vào lọ và bảo quản trong cồn 800
2.4.3 Một số chỉ số Đa dạng sinh học
Chỉ số Đa dạng sinh học (ĐDSH) được sử dụng trong đề tài là: chỉ sốShannon - Weiner (chỉ số H’)
Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) nhằm xác định lượng thông tin hay
tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Chỉ số Shannon
- Weiner được tính bằng cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị phân loạichia cho tổng số cá thể trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số đó Tổng
các đơn vị phân loại cho chỉ số đa dạng Công thức để tính chỉ số này là:
s
H' =-n n
Trang 30Với H’: chỉ số đa dạng loài
Trang 31s: số lượng loàiN: số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu
ni: số lượng cá thể của loài iHai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon -
Weiner là số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa cácloài Do vậy, số lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các
cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạngloài được xác định thông qua hàm số Shannon - Weiner
Từ kết quả tnh toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp
Chỉ số tương đồng (chỉ số Jacca - Sorensen) được chúng tôi sử dụng để
đánh giá mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu Chỉ
số này được tính theo công thức:
K 2c
Trang 32Trong đó: a: số loài trong điểm thu mẫu thứ
nhất b: số loài trong điểm thu mẫu thứ hai
c: số loài chung cho cả hai điểm thu mẫu
Trang 33K nhận giá trị từ 0 đến 1 Giá trị K càng gần 1 thì mức độ giống nhau
về thành phần loài của các điểm nghiên cứu càng lớn Các giá trị của K tươngứng với mức tương đồng như sau:
0,00 - 0,20: gần nhau rất ít0,21 - 0,40: gần nhau ít0,41 - 0,60: gần nhau0,61 - 0,80: gần nhau nhiều0,81 - 1,00: rất gần nhau
2.4.4 Xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị biểu diễn số lượng
và biến động số lượng Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoftoffice exel 2007 và phần mềm Primer 6
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
Kết quả phân tch mẫu vật thu được tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnhYên Bái đã xác định được 83 loài thuộc 73 giống, 40 họ của 9 bộ côn trùngnước Số lượng loài, giống và họ cụ thể của từng bộ được trình bày trongbảng 3.1
Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước
tại khu vực nghiên cứu
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Trang 35Hình 3.1 Tỷ lệ số loài theo từng bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu bảng 3.1 cho thấy Phù du là bộ có số loài lớn nhấtvới 31 loài chiếm 37,3% tổng số loài thu được, tiếp theo là bộ Chuồn chuồnvới 18 loài chiếm 21,7%, bộ Cánh cứng thu được 12 loài chiếm 14,4%, hai bộHai cánh và Cánh lông cùng thu được 8 loài chiếm 9,7%, bộ Cánh nửa thuđược 3 loài chiếm 3,6%, bộ Cánh úp, Cánh rộng và Cánh vảy chỉ thu được 1loài chiếm 1,2% Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các kết quảnghiên cứu trước đây của Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001)[24], Jung S
W (2006)[19], Jung S W và cộng sự (2008)[20] cho rằng ở các thủy vựcdạng suối số lượng loài của các bộ Phù du, bộ Chuồn chuồn luôn chiếm ưuthế Cũng so với những kết quả nghiên cứu trên, kết quả nghiên cứucủa chúng tôi có sự khác biệt ở số loài thuộc bộ Cánh cứng (12 loài), bộCánh lông và Hai cánh cùng có 8 loài, các bộ này có số lượng loài khá lớn sovới các bộ khác, trong khi đó các bộ Cánh rộng, bộ Cánh úp lại có số lượngloài còn hạn chế Sự khác biệt có thể do thời gian thu mẫu của chúng tôitại khu vực nghiên cứu chưa bắt gặp nhiều loài thuộc các bộ này Để làm rõhơn tính đa dạng của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi phân
Trang 36Bảng 3.2 Thành phần loài côn trùng nước thu được ở các điểm nghiên cứu
16 Afronurus meo Nguyen & Bae, 2003 +
17 Ecdyonurus cervina Braasch & Soldán,1984 +
18 Epeorus hieroglyphicus Braasch & Soldán,1984 +
19 Epeorus carinatus Braasch & Soldán, 1984 +
20 Epeorus soldani Braasch & Soldán, 1990 +
21 Iron longitibius Nguyen & Bae, 2004 +
22 Iron martinus Braasch & Soldán, 1984 + +
23 Poegniodes dao Nguyen & Bae, 2004 + +
24 Trichogenia maxillaries Braasch & Soldán,1988 + +
Trang 37Họ Isonychiidae
25 Isonychia formosana Ulmer, 1912 +
Họ Leptophlebiidae
26 Choroterpes proba Ulmer, 1939 + +
27 Choroterpes trifurcata Ulmer, 1939
29 Isca sp.1
30 Isca janeae Peters & Edmunds, 1970 +
31 Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939 +