Ở New Zeland Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy những hiệu quả trong việc sử dụng hệ thống điểm số BMWP trong việc đánh giá chất lượng nước sông nhất làloại ô nhiễm hữu cơ.. Một nghiên cứu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
======
PHẠM THỊ NGÂN
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SUỐI TÂY THIÊN
ĐỘ CAO TỪ 178M ĐẾN 351M THUỘC XÃ ĐẠI ĐÌNH,
HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
BẰNG SINH VẬT CHỈ THỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Môi trường
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
======
PHẠM THỊ NGÂN
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SUỐI TÂY THIÊN
ĐỘ CAO TỪ 178M ĐẾN 351M THUỘC XÃ ĐẠI ĐÌNH,
HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
BẰNG SINH VẬT CHỈ THỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Môi trường
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN HIẾU
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Hiếu
- cán bộ giảng dạy Tổ Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật Nông nghiệp, TrườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2 Thầy là người đã định hướng và tận tình chỉ bảo,giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiệnkhóa luận tốt nghiệp của mình
Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Chủ nhiệmcùng các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sinh - Kỹ thuật Nông nghiệp, TrườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã truyền đạt kiến thức và tạo điềukiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệpcủa mình
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã độngviên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứukhoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Phạm Thị Ngân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kếtquả nghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận là do nghiên cứu, thựctiễn đảm bảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trìnhkhoa học, trong các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sáchchuyên khảo,… nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Phạm Thị Ngân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiến 2
3.1.Ý nghĩa khoa học 2
3.2.Ý nghĩa thực tiễn 3
4 Điểm mới của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái quát về tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước trên thế giới 4
1.2 Khái quát về tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước ở Việt Nam .7
1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 11
1.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 11
1.3.1.1 Vị trí địa lí 11
1.3.1.2 Đặc điểm khí hậu .11
1.3.1.3 Mạng lưới thủy văn 12
1.3.2 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội 13
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Thời gian nghiên cứu 14
2.3 Địa điểm nghiên cứu 14
2.4 Nội dung nghiên cứu 16
2.5 Phương pháp nghiên cứu 16
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 16
Trang 62.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nhiệm 17
2.5.3 Phương pháp xác định hệ thống tính điểm BMWPVIET và chỉ số sinh học ASPT 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1 Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu 20
3.2 Phân bố của các họ ĐVKXS cỡ lớn theo á đai tại khu vực nghiên cứu 26
3.3 Đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu 28
3.3.1 Một số chỉ số thủy lí hóa học của nước 28
3.3.1.1 Giá trị DO (Oxy hòa tan) 30
3.3.1.2 Giá trị pH 30
3.3.1.3 Độ dẫn 31
3.3.1.4 Độ đục 31
3.3.1.5 Nhiệt độ 32
3.3.2 Đánh giá chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu bằng hệ thống tính điểm BMWPVIET và chỉ số ASPT 32
3.3.3 Mối tương quan giữa ASPT và một số chỉ số hoá học của nước 34
3.4 Những tác động gây ảnh hưởng tới chất lượng nước tại suối Tây Thiên 35 3.4.1 Nguyên nhân 36
3.4.1.1 Hoạt động sinh hoạt của người dân 36
3.4.1.2 Hoạt động du lịch 36
3.4.1.3 Hoạt động sản xuất nông nghiệp 36
3.4.2 Một số đề xuất để bảo vệ tài nguyên nước ở khu vực nghiên cứu 37
3.4.2.1 Giải pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân.37 3.4.2.3 Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined Kết luận Error! Bookmark not defined Kiến nghị Error! Bookmark not defined. TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 7PHỤ LỤC
BÀI BÁO KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASPT : Average Srores Per Taxon
Điểm số trung bình cho các đơn vị phân loại
A : Điểm thu mẫu
BMWP : Biological Monitoring Working Party
Một tổ chức nghiên cứu về quan trắc sinh học
DO : Dissolved Oxygen: Oxy hòa tan
ĐVKXS : Động vật không xương sống
SVCT : Sinh vật chỉ thị
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu tại suối Tây Thiên 14Hình 3.1.Tỉ lệ % các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu 25Hình 3.2 Số lượng họ thu được tại 2 á đai ở khu vực nghiên cứu 27Hình 3.3 Phương trình hồi quy tuyến tính giữa chỉ số ASPTvới các thông số của nước 35
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Mối liên quan giữa chỉ số sinh học ASPT và mức độ ô nhiễm19Bảng 3.1 Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu 20Bảng 3.2 Số lượng họ và tỉ lệ % các họ thuộc nhóm ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu 25Bảng 3.3 Số lượng họ ĐVKXS cỡ lớn theo từng bộ ở 2 á đai 27Bảng 3.4 Một số đặc điểm sinh cảnh và các chỉ số thủy lý, hóa học củanước tại các điểm nghiên cứu 29Bảng 3.5 Mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước tại các điểm nghiên cứu 33
Trang 11Tuy nhiên, các thủy vực nước ngọt trên thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng đang bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng bởi nhiều loại chấtthải khác nhau mà nguyên nhân chủ yếu là do chất thải từ các hoạt động:công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt của con người Chúng tác động theonhiều chiều hướng khác nhau gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con ngườicũng như mọi sinh vật trên trái đất Từ đó, công tác đánh giá và dự báo ônhiễm môi trường trở thành một nhu cầu cấp thiết, không còn chỉ giới hạntrong phạm vi quốc gia hay khu vực riêng lẻ nào.
Hiện nay, trong công tác đánh giá và dự báo giám sát môi trường,phương pháp sử dụng nhiều nhất là đánh giá chất lượng nước thông quaphân tích các chỉ tiêu lý hóa Nhưng phương pháp này có một số hạn chế làchỉ phản ánh tình trạng thủy vực ngay tại thời điểm lấy mẫu, khó có thể dựbáo được chính xác về các tác động lâu dài của môi trường nước đến hệsinh vật dưới nước, đồng thời phương pháp này phải được thực hiện liêntục với tần số lớn gây tốn kém về mặt kinh tế
Trang 12Bên cạnh đó phương pháp quan trắc sinh học, có thể khắc phục đượcmột số hạn chế của phương pháp trên là, cung cấp được các dẫn liệu về thờigian, tiện lợi cho việc sử dụng và cho kết quả nhanh Việc sử dụng ĐVKXSlàm SVCT để đánh giá chất lượng nước và giám sát sinh học bằng SVCT
có rất nhiều ưu điểm nên được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu Những nămgần đây, việc áp dụng quan trắc sinh học đã được chú ý tại Thái Lan và cácnước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam
Xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc có tốc độ phát triểnkinh tế cao nhưng lại tồn tại nhiều bất cập về môi trường, việc phát triểnkinh tế kéo theo sự xuống cấp về chất lượng môi trường, đặc biệt là môitrường nuớc bởi nó là nguồn tiếp nhận chất thải, nước thải từ các hoạt độngcủa con người Vì vậy một số thủy vực thuộc xã Đại Đình có dấu hiệu ônhiễm, trong đó có suối Tây Thiên Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nàođánh giá chất lượng nước ở khu vực suối này, trong đó có đoạn suối nằmtrong độ cao từ 178m đến 351m
Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu: “Đánh giá chất lượng nước suối Tây Thiên độ cao từ 178m đến 351m thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc bằng sinh vật chỉ thị” để tìm hiểu thực trạng chất lượng nước tại khu vực này.
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá chất lượng môi trường nước suối Tây Thiên độ cao từ 178mđến 351m thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc bằng sinhvật chỉ thị là nhóm ĐVKXS cỡ lớn bởi phương pháp sử dụng hệ thống tính
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiến
3.1.Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp danh lục các họ ĐVKXS cỡ lớn tại suối Tây Thiên độcao từ 178m đến 351m thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 13là cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu sau này.
Bước đầu tìm hiểu chất lượng nước ở địa phương bằng cách sử dụngnhóm ĐVKXS cỡ lớn
4 Điểm mới của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu đầu tiên về ĐVKX cỡ lớn thuộc xã ĐạiĐình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc và đánh giá chất lượng môi trườngnước trên địa bàn dựa vào nhóm sinh vật này
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát về tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước trên thế giới
Việc sử dụng quan trắc sinh học để đánh giá chất lượng nước sông đầutiên hình thành ở châu Âu do hai nhà khoa học Kolkwitz (1908) vàMarsson (1909) thực hiện Mức độ nhiễm bẩn của nước sông được chiathành 4 loại là bẩn ít, bẩn vừa α, bẩn vừa β và rất bẩn, mức độ được xácđịnh dựa vào chỉ số độ nhiễm bẫn (Saprobic index) Dựa vào danh các loàichỉ thị người ta chia thành các giá trị nhiễm bẩn phù hợp với sự chống chịu
ô nhiễm của từng loài Mặc dù hệ thống này được chấp nhận rộng rãi ở cácnước Châu Âu nhưng nó cũng gặp những chỉ trích như phương pháp dựatrên sự nhiễm bẩn chỉ thiên về chỉ số sinh học và hệ thống điểm số đơn giản[28], [29]
Ở Anh
Ở Anh, việc quan trắc sinh học tiếp tục mở rộng với các chỉ số đánhgiá mức độ ô nhiễm dựa trên nguyên tắc các nhóm sinh vật chống chịu ônhiễm khác nhau Hai chỉ số được đánh giá cao là chỉ số định lượng “Chỉ
số Trent” (TBI) của Woodiwis (1964) và chỉ số bán định lượng “Điểm sốChandler (CBS) của Chandler (1970)
Việc sử dụng chỉ số TBI và điểm số CBS chỉ phù hợp đánh giá chấtlượng nước sông trong phạm vi nhỏ mà không phù hợp áp dụng cho diệnrộng Vì thế năm 1976, một tổ chức nghiên cứu quan trắc sinh học
“Biological Monitoring Woring Party” ra đời đã đưa ra hệ thống điểm sốBMWP, sự phân loại mức độ ô nhiễm nước dựa vào số loài và phân bố củaĐVKXS cỡ lớn [26]
Ở Tây Ban Nha
Năm 1988, Alba - Tercedor và Sanchoz - Ortega đã áp dụng phươngpháp sử dụng chỉ số BMWP tại khu vực bán đảo Iberia (ở Tây Ban Nha)
Trang 15Kết quả nghiên cứu cho thấy xuất hiện một số họ mới và điểm số của một
số họ cũng có sự biến đổi.Sau đó Carmen Zamora cùng một số người tiếnhành một nghiên cứu để giải thích sự biến thiên của chỉ số BMWP và chỉ
số ASPT theo nhiệt độ và xác định sự phụ thuộc của các chỉ số này theomùa Cuộc nghiên cứu trong vòng 2 năm đã cho kết quả: đối với thủy vựckhông ô nhiễm sự tương quan giữa chỉ số BMWP và nhiệt độ là khôngđáng kể, các thủy vực bị ô nhiễm thì chỉ số BMWP phụ thuộc nhiều vàonhiệt độ, còn đối với chỉ số ASPT thì không phụ thuộc vào nhiệt độ ngay
cả khu vực ô nhiễm hay không ô nhiễm Qua đây các nhà nghiên cứu khảngđịnh chỉ số BMWP phụ thuộc vào mùa vụ còn chỉ số ASPT thì không, dovậy mà chỉ số ASPT được đánh giá là ưu việt hơn [18]
Ở New Zeland
Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy những hiệu quả trong việc sử dụng
hệ thống điểm số BMWP trong việc đánh giá chất lượng nước sông nhất làloại ô nhiễm hữu cơ Do đó họ đã tiếp nhận hệ thống điểm số này và pháttriển chúng cho phù hợp với đất nước mình, chỉ số được biến đổi gọi làMCI (Macroinvertebrate Community Index) tương tự như điểm trung bìnhbậc phân loại ASPT của Anh [30]
Ngoài ra, hệ thống điểm số BMWP còn được ứng dụng và đạt hiệuquả cao trong việc đánh giá chất lượng nước sông ở một số các nước nhưThụy Điển, Bồ Đào Nha, Braxin, Italia, Pháp …
Ở Ấn Độ
Ở Ấn Độ, năm 1994 De Zwart và Trivedi đã chuyển đổi điểm sốBMWP cho phù hợp với Ấn Độ là loại ra một số họ không có và thêm vàomột số họ có ở Ấn Độ Một vài điểm số đã được phân phối trong điểm gốccũng được thay thế để phản ánh các mức độ khác nhau về sự chống chịucủa các họ nhất định đã tìm thấy tại các cửa sông của Ấn Độ Hai họ đượccho là chống chịu tốt hơn so với điểm BMWP gốc đã được giảm điểm
Trang 16xuống đó là Dugesidae từ 5 giảm xuống còn 4 điểm và Agriidae từ 8 giảmxuống còn 6 điểm Còn hai họ được cho là ít chống chịu thì điểm số đượctăng lên đó là Hydrobiidae tăng từ 3 lên 6 điểm và Platycnemidiidae tăng từ
6 lên 8 điểm
Một nghiên cứu sử dụng điểm số BMWP khác do Bihar nghiên cứu ởsông Ramjan nhận thấy các thông số lý hóa biến động theo mùa, nó sẽ ảnhhưởng đến độ phong phú của ĐVKXS cỡ lớn và cũng nhận thấy kích thướcquần thể ĐVKXS cỡ lớn cũng tương quan nghịch với thông số pH và DO Tác giả Sabib nghiên cứu ở sông Shendumi nhận định rằng dựa vào kíchthước cộng đồng ĐVKXS cỡ lớn có thể xác định được tình trạng chấtlượng nước sông, hồ Tác giảMaruthaynayagan và các cộng sự nghiên cứu
ở hồ Thirukulam qua nghiên cứu của mình thì khảng định kích thướcĐVKXS phụ thuộc vào mùa, cao nhất vào mùa mưa và thấp nhất vào mùa
hè (dẫn theo Lê Văn Khoa và cộng sự(2007) [7], và Mustow (1998) [31])
Ở Thái Lan
Năm 1977, Mustow đã nghiên cứu quần xã ĐVKXS cỡ lớn ở 23 điểmthuộc sông MaePing và đưa ra một số thay đổi phù hợp với điều kiện ở BắcThái Lan Kết quả nghiên cứu cho thấy có những họ ở Thái Lan thì không
có trong bảng gốc của Anh, cũng có họ vừa có ở cả Thái Lan và Anh Từ
đó ông đã đề nghị sửa đổi 10 họ cần điều chỉnh, Mustow nhận thấy BMWPcho điểm họ Odonata là cao sẽ không phản ánh chính xác mối liên hệ với
sự chống ô nhiễm ở Thái Lan nên đã hạ điểm của họ này từ 8 điểm xuống 6điểm, còn họ Thiaridae chống chịu ô nhiễm tốt nên cho 3 điểm Hệ thống
theo Nguyễn Vũ Thanh và Tạ Huy Thịnh (2001) [14])
cứu, ứng dụng và phát triển thêm để đánh giá chất lượng nước nhằm quản
lí và bảo tồn các lưu vực sông ở Thái Lan Một trong những nghiên cứu đó
Trang 17là “Nghiên cứu sự tương quan giữa ĐVKXS cỡ lớn ở nước ngọt và các yếu
tố chất lượng môi trường trong lưu vực sông Nam Pong Thái Lan” đượcthực hiện bởi Khoa Sinh học của Đại học Khon Kaen năm 1998, với 27 địađiểm thu mẫu trong lưu vực sông Nam Pong gần sông Pong, sông Cheon,sông Chi Mục đích nhằm nghiên cứu những ảnh hưởng của chất lượng môitrường nước đến cộng đồng ĐVKXS cỡ lớn sống trong đó [22], [32]
Ở Malaysia
Một cuộc nghiên cứu ở Malaysia vào năm 1999 do Bộ Môi trườngMalaysia thực hiện trên sông Linggi nhằm đánh giá tiềm năng của việc sửdụng ĐVKXS cỡ lớn trong việc đánh giá, giám sát chất lượng nước
Cùng thời điểm này, Khoa Sinh học, Trường Đại học Putra cũng tiếnhành nghiên cứu sử dụng hệ thống BMWP để đánh giá chất lượng sôngLangat với 4 khu vực lấy mẫu ở thượng nguồn và 4 khu vực lấy mẫu ở hạnguồn Kết quả nghiên cứu cho thấy ở thượng nguồn thu được 54 loài còn
ở hạ nguồn thu được 49 loài, chất lượng nước sông cũng giảm dần khi chảyđến hạ nguồn do chịu ảnh hưởng của nguồn ô nhiễm từ khu dân cư [16]
1.2 Khái quát về tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước ở Việt Nam.
Việc nghiên cứu, đánh giá mức độ ô nhiễm các thủy vực ở Việt Nam
đã được quan tâm từ lâu nhưng đến năm 1995 vẫn chưa có hệ thống phânloại độ nhiễm bẩn các thủy vực Các hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn cùngvới những chỉ tiêu trong các thang bậc phân loại đều là những dẫn liệunghiên cứu ở vùng ôn đới, hoàn toàn khác với điều kiện tự nhiên cũng nhưđặc tính sinh học của các thủy vực ở nước ta
Trên cơ sở nghiên cứu trong 10 năm (1985 - 1995) cùng với dẫn liệu
đã biết trước đây về các thủy vực có nước thải vùng Hà Nội, Nguyễn XuânQuýnh (1995) đã đề xuất một hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn các thủyvực có nước thải ở Hà Nội dựa trên một số chỉ tiêu cơ bản về sinh học
Trang 18Từ năm 1997 đến năm 1999, với sự tài trợ của quỹ Darwin của chínhphủ Anh, hội nghiên cứu thực địa và sinh thái nước ngọt Anh Quốc đã phốihợp với Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc
gia Hà Nội thực hiện chương trình nghiên cứu “Bảo tồn đa dạng sinh học
thông qua việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm vi sinh vật chỉ thị quan trắc và đánh giá chất lượng nước ở Việt Nam” [11].
Năm 2000, Nguyễn Xuân Quýnh và các cộng sự đã đưa ra khoá địnhloại đến họ các nhóm ĐVKXS ở nước ngọt phục vụ cho việc nghiên cứuđánh giá chất lượng nước bằng SVCT Cũng trong năm này quy trình quantrắc và đánh giá chất lượng nước ngọt bằng việc sử dụng SVCT là ĐVKXS
cỡ lớn của Nguyễn Xuân Quýnh và các cộng sự cũng đã được công bố.Năm 2004, Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự trên cơ sở các công trìnhnghiên cứu về giám sát sinh học nước ngọt bằng SVCT, mà đặc biệt là kếtquả từ năm 1998 - 2000, đã thiết lập một quy trình lấy mẫu và một hệ thốngtính điểm sử dụng trong quan trắc sinh học đối với các thuỷ vực nước ngọt
tại Việt Nam Đã xuất bản cuốn sách “Giám sát sinh học môi trường nước
ngọt bằng động vật không xương sống cỡ lớn” Đây là tài liệu đầu tiên của
Việt Nam được xuất bản làm cơ sở nghiên cứu đánh giá chất lượng nướcthông qua SVCT là ĐVKXS cỡ lớn [11]
Những nghiên cứu đầu tiên được các nhà sinh học Khoa Sinh học,Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện ởcác khu vực phía Bắc và khu vực phía Nam Việt Nam Phía Bắc, các địađiểm lấy mẫu từ con suối chảy ra từ núi Tam Đảo ra khu vực đồng bằng vàcuối cùng đổ ra sông Cầu tiếp nơi tiếp nhận các nguồn thải từ các thànhphố, thị trấn Ở phía Nam, các địa điểm lấy mẫu nằm trong và xung quanhthành phố Đà Lạt, các điểm thuộc suối Đac Ta Jun và các điểm thuộc sông
Đa Nhim [11]
Trang 19Năm 2001 - 2002, Nguyễn Vũ Thanh và Tạ Huy Thịnh thuộc ViệnSinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã thực hiện nghiên cứu tại 28 điểm quantrắc thuộc lưu vực sông Cầu tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh,Thái Nguyên Qua nghiên cứu nước tại 28 điểm quan trắc đều thuộc loại ônhiễm vừa đến ô nhiễm nặng, những loài đại diện cho môi trường nướcsạch như bộ cánh úp đã không được tìm thấy ở đây khẳng định môi trườngnước ở đây đang bị tác động nghiêm trọng Ngoài kết quả nghiên cứu tác
côn trùng thủy sinh Ecdyonuridae, Polymitarcyidae, Sicomyzidae,Muscidaevà 2 họ thân mềm Stenothyridae và Hyalidae [14]
Năm 2003, tác giả Nguyễn Thị Mai thuộc bộ môn Sinh học, KhoaKhoa học, Trường Đại học Nông Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh đã thựchiện nghiên cứu nhằm đánh giá sự đa dạng về thành phần loài ĐVKXS cỡlớn và sử dụng chúng để đánh giá chất lượng nước sông Sài Gòn thuộcquận 2, Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu được thực hiện trên 3 điểm
và kết quả thu được trong 2 đợt lấy mẫu lấy đợt 1 gồm 23 họ và đợt 2 là 25
họ, qua xác định chỉ số ASPT cho thấy nước khúc sông này thuộc loại bẩnvừa α, cùng với đó kết quả này còn cho thấy chất lượng nước và thành phầnloài liên quan đến nhau Điều này càng khảng định việc sử dụng ĐVKXS
cỡ lớn để đánh giá chất lượng nước là có cơ sở [9]
Năm 2006, tác giả Trương Thanh Cảnh và Ngô Thị Trâm Anh thuộcTrường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đai học Hồ Chí Minh tiến hành khảosát thành phần ĐVKXS cỡ lớn của 4 hệ thống kênh chính của Thành phố
Hồ Chí Minh (Tham Lương - Vàm Thuật, Nhiêu Lộc - Thị Nghè, kênh Đôi
- Tẻ - Tàu Hủ - Bến Nghé, hệ thống sông khu vực Nam Sài Gòn) [2]
Năm 2008, tác giả Ngô Xuân Quảng công bố kết quả nghiên cứu về đadạng sinh học quần xã Động vật không xương sống và đánh giá chất lượngmôi trường nước hệ thống các con suối ở Vườn Quốc Gia Núi Chúa, tỉnh
Trang 20NinhThuận Tại khu vực miền Trung vào năm 2010, Nguyễn Văn Khánh
và Trần Ngọc Sơn đã ứng dụng hệ thống quan trắc sinh học
Nẵng Các chỉ số sinh học đã phản ánh được hiện trạng chất lượng môitrường nước sông và cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về những tácđộng tổng hợp của chất ô nhiễm đến hệ sinh thái và đời sống sinhvật [6].Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu chỉ tập trung ở miền Bắc và miềnNam mà chưa quan tâm đến khu vực miền Trung Nhiều năm gần đâyphương pháp này được nghiên cứu ở khu vực miền Trung tiêu biểu như tácgiả Nguyễn Văn Khánh và các cộng sự thuộc Khoa Sinh - Môi trường,Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã thực hiện những nghiên cứudùng ĐVKXS cỡ lớn để đánh giá chất lượng nước ở các khu vực trên địabàn Thành phố Đà Nẵng Các nghiên cứu được thực hiện tại sông Phú Lộc,sông Cu Đê, hệ thống sông Cầu Đỏ - Tuý Loan, cánh đồng Xuân Thiều.Qua xác định chỉ số BMWP và ASPT cho thấy trên hầu hết các khu vựcchất lượng nước đều thuộc loại bẩn vừa α đến rất bẩn, các kết quả này hoàntoàn phù hợp với những kết quả phân tích lí hoá đi kèm càng khẳng địnhviệc sử dụng ĐVKXS trong đánh giá chất lượng nước là có hiệu quả [4],[5], [6] Ngoài ra còn có nghiên cứu của Hoàng Đình Trung và Mai PhúQuý (2014) tại suối Truồi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế [15].Điều đó góp phần làm đa dạng các phương pháp đánh giá chất lượng môitrường nước tại khu vực miền Trung
Các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy phương pháp quan trắcsinh học thông qua ĐVKXS cỡ lớn là tối ưu, đã phần nào phát triển và đangngày càng được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam Việc sử dụng hệ thống điểmBMWPVIET và chỉ số ASPT đã nâng cao độ chính xác trong việc đánh giáchất lượng nước, phục vụ cho việc công tác quản lý môi trường nước hiệuquả hơn
Trang 21Tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước ở suốiTây Thiên thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc: ở khu vựcnày hiện chưa có công trình nghiên cứu nào sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đểđánh giá chất lượng môi trường nước.
1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
1.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lí
Đại Đình là xã miền núi nằm ở phía Bắc của huyện Tam Đảo, tỉnhVĩnh Phúc, tổng diện tích tự nhiên của xã là 3452 ha Trong đó diện tíchtrồng trọt là 512ha, còn lại là đất đồi rừng, thổ cư và ao hồ Phía Đông Bắc
nhiên giữa tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Thái Nguyên, phía Tây Đại Đình giáphuyện L ập T h ạ c h , phía Nam giáp các xã n g Đồ T ĩ n h , H o à n g H o a , T am
q u a n Xã có tuyến đường tỉnh lộ 302 chạy qua, tạo thuận lợi cho Đại Đìnhtrong quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội
1.3.1.2 Đặc điểm khí hậu.
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới mưa mùa(mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4năm sau), chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Đông - Bắc
và gió Đông - Nam
phân bố không đều trong năm
Tam Đảo nằm trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc nên chịuảnh hưởng của chế độ nhiệt đới gió mùa ẩm Mưa bão có sự tác động tiêucực đến sản xuất và đời sống Chế độ gió theo mùa, mùa hè chủ đạo là gió
Trang 221.3.1.3 Mạng lưới thủy văn
Đại Đình có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây(Tuyên Quang, Vĩnh Phúc) và sông Công ở phía Đông (Thái Nguyên).Đường phân thủy rõ rệt nhất của hai hệ thống sông này là các đường dôngnối các đỉnh núi suốt từ Mỹ Khê ở cực Nam đến Đèo Khế ở điểm cực Bắc
hẹp, đáy nhiều ghềnh thác, độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước kém Dođặc điểm khí hậu mưa lớn, mùa mưa kéo dài, lượng bốc hơi ít nên cán cânnước dư thừa Đó là nguyên nhân làm các dòng chảy từ đỉnh Tây Thiênxuống có nước quanh năm
Chế độ thủy văn được chia thành 2 mùa khá rõ rệt: mùa lũ và mùakhô Mùa lũ trùng với mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), mùa khô từtháng 11 đến tháng 3 năm sau Lũ lớn thường xảy ra vào tháng 8, lũ tậptrung nhanh và rút cũng nhanh
Dòng chảy trong mùa khô do không có mưa to nên nguồn nước cungcấp cho sông chủ yếu là do nước ngầm (phụ thuộc vào lớp vỏ phong hóađịa chất và lượng mưa phùn mùa đông) Do đó, cả hai sông: Phó Đáy vàsông Công đều có dòng chảy rất nhỏ Như vậy, khả năng cung cấp nướccho mùa đông là rất hạn chế Hệ thống suối chính ở Tây Thiên là suối TâyThiên Suối có nhiệt độ nước tương đối thấp, ít khi tăng cao và có xuhướng ổn định Do đặc điểm địa hình chảy từ độ dốc trên lớn nên có tốc độnước chảy mạnh, cuốn theo các chất mùn bã Vì vậy suối ở đây khá trong,hầu như không có hiện tượng lắng đọng Nền đáy suối chủ yếu là đá tảng, ítchất mùn Vào mùa mưa lưu lượng dòng nước khá lớn thường cuốn theomùn bã thực vật, xác động vật, lá khô…Do đó mùa này, nước suối thườngvẩn đục Trong khi đó vào mùa khô dòng nước chảy từ các mạch nướcngầm với tốc độ chậm hơn nhiều
Trang 231.3.2 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14 - 15%/năm, lương thựcbình quân đầu người đạt 350 kg/người/năm, thu nhập bình quân đầu người11,2 triệu đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến rõ rệt, nhờ cótiềm năng, lợi thế về du lịch t âm lin h , t í n n g ư ỡ n g , sinh thái mà ngành dịch
vụ - du lịch ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu ngành kinh tế Năm
2011, du lịch - dịch vụ chiếm 34%, nông lâm thủy sản chiếm 42% và côngnghiệp - xây dựng chiếm 24% Giá trị sản xuất nông nghiệp 5 năm qua của
xã đạt 70,7 tỷ đồng, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vậntải đạt 40,657 tỷ đồng Tổng thu nhập từ hoạt động du lịch năm năm trở lạiđây đạt 60 tỷ đồng
An ninh, trật tự an toàn xã hội luôn đảm bảo Hàng năm xã thực hiệntốt công tác dân vận, hoàn thành tốt việc quyển chọn và gọi công dân nhậpngũ và công tác huấn luyện dân quân tự vệ, nhiều năm ban Chỉ huy quân sự
xã được cấp trên khen thưởng và tặng nhiều bằng khen
Xã Đại Đình được tỉnh, huyện đầu tư nhiều công trình trọng điểm như: Khu trung tâm Văn hóa lễ hội Tây Thiên, Bảo Tháp, chùa Thiên Ân, làng văn hóa du lịch cộng đồng (thôn Đồng Thỏng), quy hoạch, trùng tu tôn tạo lại các nhà đền thuộc Khu danh thắng Tây Thiên…hiện nay, các hạng mục công trình đang được triển khai xây dựng và hoàn thiện Khi đi vào hoạt động đây sẽ là những điểm du lịch tâm linh, tín ngưỡng thăm quan thắng cảnh lý tưởng thu hút du khách thập phương trong và ngoài nước Dự kiến trước năm 2020 Tây Thiên sẽ trở thành thị trấn và là Trung tâm lễ hội của
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Động vật không xương sống cỡ lớn tại suối Tây Thiên thuộc xã ĐạiĐình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu được thực hiện từ tháng 08/2016 đếntháng 4/2017 Trong đó thời gian thu mẫu nghiên cứu thực địa được thựchiện từ ngày 25/8/2016 đến ngày 28/8/2016
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ở 5 điểm khác nhau, được ký hiệu từ A1đến A5 Các điểm nghiên cứu được sắp xếp theo độ cao tăng dần so vớimực nước biển (Hình 2.1)
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu tại suối Tây Thiên
Trang 25Trước khi tiến hành thu mẫu, chúng tôi tiến hành xác định tọa độ
và độ cao của các điểm nghiên cứu bằng thiết bị định vị GPS 78 và ghi lạimột số đặc điểm sinh cảnh chính của các điểm thu mẫu:
Điểm 1 (ký hiệu A1): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21023,403‟, kinh độ Đông
Tây Thiên Hai bên suối có nhiều nứa và các loài thực vật khác Trong suốiđôi khi có những cây bụi nhỏ Nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng lớn,nước chảy mạnh đôi khi tạo thành những vùng nước tĩnh.Trong suốithỉnh thoảng có đá và sỏi nhỏ Thời tiết âm u thỉnh thoảng có nắng to
Độ che phủ 0 - 10%
Điểm 2 (ký hiệu A2): tọa độ N: 21028,437‟, E: 105036,625‟, độ cao190m, suối có kích thước nhỏ, hai bên suối là rừng nứa.Nền đáy của suốichủ yếu là đá trung bình, đôi khi có cát và sỏi nhỏ, thỉnh thoảng cónhững đá tảng nhiều rêu bám vào đá.Độ sâu của suối 10 - 30cm Độ chephủ 80-
90%
Điểm 3 (ký hiệu A3): tọa độ N: 21028,522‟, E: 105036,236‟, độ cao215m, điểm thu mẫu là Thác Bạc là điểm du lịch của địa phương, nướcsuối chảy tương đối mạnh Độ sâu của suối 10 - 50cm Nền đáy của suốichủ yếu là đá tảng, suối ít mùn bã thực vật Thỉnh thoảng có đá nhỏ Độche phủ của suối khoảng 40 - 60% Sinh cảnh hai bên suối là rừng nguyênsinh
Điểm 4 (ký hiệu A4): tọa độ N: 21028,510‟, E: 105036,212‟, độ cao257m,nền đáy là đá tảng lớn đôi khi có sỏi nhỏ và đá trung bình Hai bênsuối là rừng nguyên sinh Độ sâu của suối tương đối lớn Suối là điểm dulịch của đị phương Độ che phủ 5 -10%
Điểm 5 (ký hiệu A5):tọa độ N: 21028,595‟, E: 105036,483‟, độ cao
Trang 26351m, nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng lớn, thỉnh thoảng có cát và sỏinhỏ Nước chảy chậm, nước suối tương đối trong Trong suối có nhiều mùn
bã thực vật Cuối điểm thu mẫu là đường đi lên đền Thượng Hai bên suối
Trang 27là rừng nguyên sinh Độ che phủ lớn: 70 - 80% Trong lòng suối đôi khi cómột số loài thực vật sinh sống.
2.4 Nội dung nghiên cứu
Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại suối Tây Thiên, xã Đại Đình,huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Đánh giá chất lượng nước bằng sinh vật chỉ thị là các ĐVKXS cỡ lớnthông qua điểm số BMWP và chỉ số ASPT
Xác định một số chỉ số thuỷ lý, hoá học của nước
Phân tích mối quan hệ giữa chỉ số ASPT và các chỉ số thủy lý, hóa họccủa nước
Tìm hiểu một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước và đềxuất một số giải pháp để sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý ở khuvực nghiên cứu
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Dụng cụ thu mẫu:
Các dụng cụ cần thiết để lấy mẫu ĐVKXS gồm: vợt ao (Pond net),vợt tay (Hand net); vợt Pond net là một khung hình chữ nhật đỡ mộttúi lưới với chiều sâu khoảng 30 - 40cm, kích thước mắt lưới thường cóđường kính 1mm, khung đỡ lưới được nối với một cán dài 1,6m Dụng
cụ này thường dùng để thu những động vật ven bờ
Phương pháp thu mẫu:
Trước khi thu mẫu, chúng tôi tiến hành đo tọa độ và độ cao bằngthiết bị định vị GPS78 và một số chỉ số thủy lý, hóa học của nước tại khuvực nghiên cứu bằng máy đo WQC - 24A, TOA, Nhật Bản và đi khảo sát,điều tra đặc điểm sinh cảnh ở địa điểm cần thu mẫu
Trang 28Mẫu vật được thu theo phương pháp của Nguyễn Xuân Quýnh vàcộng sự, 2004 [11] Vật mẫu được thu bằng vợt ao (Pond net) và vợttay
Trang 29(Hand net) bằng cách sục vợt vào các đám cỏ, cây bụi thủy sinh ven bờhoặc các đám cây thủy sinh sống nổi trên mặt nước Các loại côn trùngsống trên mặt thủy vực được thu bằng cách đưa nhanh vợt trên mặt nước.Đối với các loài sống bám vào các tảng đá, dung phương pháp đạp nước ởnền suối hoặc nhấc các tảng đá lên tìm kiếm và dung panh mềm để nhặtmẫu Ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp thì việc thu mẫu đượcthực hiện bằng vợt cầm tay.
Phương pháp xử lý mẫu:
Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất Nhặt qua mẫu ngaytại thực địa.Sử dụng panh, thìa và khay nhôm để nhặt vật mẫu.Mẫu thu
lưutrữ, bảo quản, phân tích và định loại tại Phòng thí nghiệm Động vật học,Khoa Sinh - Kỹ thuật Nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nhiệm
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay (đãi mẫu).
Dùng panh nhặt các đại diện của ĐVKXS cỡ lớn, mẫu sau khi nhặt cho vào
Phương pháp phân tích mẫu vật: dụng cụ phân tích bao gồm: kính
lúp 2 mắt, kính hiển vi, đĩa petri, panh mềm, kim phân tích Phân loại mẫuvật: mẫu vật được phân loại dựa trên đặc điểm hình dạng ngoài của đốitượng nghiên cứu theo các khoá định loại được công bố trong và ngoàinước của : Đặng Ngọc Thanh và nnk (1980) [12], Đặng Thanh, Hồ Thanh
Hải (2001) [13], Nguyễn Văn Vịnh (2003) [25], Cao Thi Kim Thu et al (2002) [17], Hoang Duc Huy et al (2005) [20], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự
(2001) [10], Meritt R.W và Cummins K.W (1996) [21],…
Phương pháp xử lý số liệu: tất cả các số liệu được xử lý trên máy vi
tính bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2010
Trang 302.5.3 Phương pháp xác định hệ thống tính điểm BMWP VIET và chỉ số sinh học ASPT
Để đi đến những phương pháp chuẩn, một tổ chức nghiên cứu vềquan trắc sinh học “Biological Monitoring Working Party” (BMWP), đượcthành lập ở Anh vào năm 1976, đã đưa ra một hệ thống mới đó là hệthống tính điểm số BMWP Trừ lớp giun ít tơ, hệ thống này sử dụng số liệu
ở mức độ họ, mỗi họ được quy cho một điểm số phù hợp với tính nhạycảm của nó với sự ô nhiễm hữu cơ Những điểm số riêng được cộng lại đểcho điểm số tổng của mẫu Có thể nhận được sự biến thiên của điểm sốBMWP bằng cách chia điểm tổng số cho số họ có mặt, ta được một điểm
số trung bình cho các đơn vị phân loại (ASPT: Average Score Per Taxon).Chỉ số ASPT được tính theo công thức: ASPT = (∑BMWP)/N
Trong đó: N: tổng số họ tham gia tính điểm
BMWP: tổng điểm số BMWPASPT: điểm số trung bình trên một đơn vị phân loạiNhược điểm của điểm số BMWP là ở chỗ căn cứ vào phạm vi của các
họ thì có loài chống chịu, có loài ưa thích với điều kiện sinh thái hẹp Vídụ: đại diện của họ Chironomidae tìm thấy trong hầu hết những nơi sống
là nước ngọt đã được biết đến, trong họ bao gồm những loài và giống cókhả năng chống chịu cao, đôi khi trong một biên độ rộng của sự ônhiễm, nhưng nó gồm cả những loài và giống khác rất nhạy cảm và đặchiệu trong sự ưa thích và chịu đựng sinh thái Tuy vậy, toàn bộ họ đượcphân loại như là mức độ chống chịu với ô nhiễm bằng điểm số BMWP.Nhận xét tương tự cũng được áp dụng trong trường hợp này, chúng hoàntoàn được xếp vào loại có khả năng chống chịu cao
Hệ thống tính điểm số BMWP rất có hiệu lực trong thực tiễn và tươngđối dễ dàng áp dụng khi đòi hỏi của nó về mức độ kỹ năng phân loại tương
Trang 31đối bình thường Kết quả là nó được chấp nhận một cách rộng rãi ởnhiều
Trang 32nước khác nhau.
ASPT, chúng ta có thể đánh giá được mức độ ô nhiễm môi trường nước tạimỗi điểm nghiên cứu hay so sánh mức độ ô nhiễm giữa các điểmnghiên cứu với nhau dựa vào (bảng 2.1) Điểm chống chịu tương ứng vớicác họ được thể hiện ở phụ lục 2
Bảng 2.1 Mối liên quan giữa chỉ số sinh học ASPT và mức độ ô nhiễm
Nguồn: Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự, 2004 [11].
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1.Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu
Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại khu vực nghiên cứu đã xácđịnh được 52 họ thuộc 11 bộ của 3 lớp, 2 ngành: Chân khớp (Arthropoda)
và Giun đốt (Annelida) thuộc nhóm ĐVKXS cỡ lớn Ngành Chân khớp(Arthropoda) thu được 51 họ của 9 bộ thuộc 2 lớp là lớp Giáp xác(Crutacea) và lớp Côn trùng (Insecta) Ngành Giun đốt (Annelida) có 1 họthuộc 1 bộ của lớp Đỉa (Hirudinea) Danh lục các họ được trình bày trong(bảng 3.1)
Bảng 3.1 Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu
Trang 36một số sông suối vùng Bắc Thái Lan đã xác định được 116 họ (Mustow,1997) [23].
Tuy nhiên, so với các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam, tổng số họĐVKXS cỡ lớn về thành phần các họ ở suối Tây Thiên 178m đến 351m,thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc có xu hướng nhiềuhơn Cụ thể, nghiên cứu của Lê Thu Hà (2003) đã xác định được 50 họĐVKXS cỡ lớn từ suối Tam Đảo đến sông Cà Lồ [3], nghiên cứu củaHoàng Đình Trung và Mai Phú Quý (2014) đã xác định được 43 họĐVKXS cỡ lớn tại suối Truồi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế) [15].Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.1 cho thấy số họ có mặt thu được tạikhu vực nghiên cứu giữa các điểm là khác nhau rõ rệt Ở điểm thu mẫuA1 có
27 họ, A2 có 20 họ, A3 có 31 họ, A4 có 21 họ, A5 có 29 họ Như vậy, A5
là điểm đa dạng về các họ hơn các điểm khác
Sự khác nhau còn thể hiện ở bậc phân loại cấp bộ, cụ thể như
sau:
Bộ Chuồn chuồn, họ Gomphidae xuất hiện nhiều nhất có mặt ở tất cảcác điểm thu mẫu, họ Cordulegastridae xuất hiện ở hầu hết các điểm thumẫu trừ điểm A3, họ Libellulidae xuất hiện ở điểm A1, A2, A3, họAeshnidae chỉ xuất hiện ở điểm A1 và A5, họ Platycnemiidae xuất hiện ởđiểm A2 và A3, họ Lestidae chỉ xuất hiện ở điểm A5, họ Petaluridae chỉxuất hiện ở điểm A3
Bộ Phù du, họ Baetidae, họ Heptageniidae, họ Leptophebiidae xuấthiện ở tất cả các điểm thu mẫu, họ Caenidae chỉ xuất hiện ở các điểmA1 và A5, họ Ephemeridae xuất hiện ở các điểm A1, A3, A5
Bộ Cánh nửa, họ Aphelocheiridae và họ Pleidae xuất hiện ở các điểmA1 và A5, họ Gerridae xuất hiện tại điểm A1 và A3, họ Hebridae xuất hiện
ở điểm A3 và A4,họ Mesoveliidae xuất hiện tại điểm A3 và A5,họ
Trang 37Notenectidae xuất hiện tại điểm A2 và A5,họ Belostomatidaechỉ có mặt tạiđiểm A3.
Trang 38Bộ Cánh cứng, có họ Helodidae và họ Psephenidae xuất hiện tại hầuhết các điểm thu mẫu, họ Dytiscidae, Gyrinidae, Hydrophilidae chỉ có mặt
ở điểm A3, họ Ptilodactylidae chỉ có mặt ở điểm A2,họ Elmidae có mặt ởđiểm A1, A3, A4, họ Curculionidae có mặt ở điểm A3 và A4
Bộ Cánh rộng, chỉ có một họ Corydalidae và họ này có mặt tại hầu hếtcác điểm thu mẫu trừ điểm A2
Bộ Cánh lông, họ Hydropsychidae có mặt ở tất cả các điểm thu mẫu,
họ Goeridae xuất hiện ở điểm A1, A2, A5, trong khi đó họLepidostomatidae và họ Leptoceridae chỉ xuất hiện ở điểm A3, họGlossomatidae chỉ xuất hiện ở điểm A4, họ Molannidae xuất hiện ở điểmA2, …
Bộ Hai cánh, họ Simulidae chiếm ưu thế và xuất hiện ở tất cả cácđiểm thu mẫu, sau đó là họ Chironomidae xuất hiện ở hầu hết các điểmthu mẫu trừ điểm A5, họ Sciomyzidae có mặt ở điểm A1, A3 và A4, họAthericidae xuất hiện ở điểm A3 và A5, họ Tabanidae chỉ có mặt ở điểmA2
Bộ Cánh úp, chỉ có một họ Perlidae có mặt ở hầu hết các điểm thu mẫu trừ điểm A2
Bộ Cánh vảy, họ Pyralidae chỉ có mặt ở điểm A3
Bộ Mười chân, họ Potamidae có mặt ở hầu hết các điểm thu mẫu trừ điểm A4
Lớp Đỉa chỉ có duy nhất 1 họ Hirudinidae có mặt ở điểm A4
Kết quả nghiên cứu được thể hiện cụ thể ở bảng 3.2 và hình
3.1
Trang 39Bảng 3.2 Số lượng họ và tỉ lệ % các họ thuộc nhóm ĐVKXS cỡ lớn tại
khu vực nghiên cứu
Cánh lông Mười chân Đỉa không vòi
Hình 3.1.Tỉ lệ % các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu
Trang 40Kết quả nghiên cứu cho thấy, bộ Cánh lông (Trichoptera) có sốlượng họ lớn nhất với 13 họ (chiếm 25% tổng số họ) Sau đó là bộ Cánhcứng (Coleoptera) thu được 8 họ (chiếm 15,4% tổng số họ) Bộ Chuồnchuồn (Odonata), bộ Hai cánh (Diptera) và bộ Cánh nửa (Hemiptera) đềuthu được 7 họ (chiếm 13,5% tổng số họ) Bộ Phù du (Ephemeroptera) thuđược 5 họ (chiếm 9,6% tổng số họ) Bộ Cánh vảy (Lepidoptera), bộ Cánh
úp (Plecoptera) và Cánh rộng (Megaloptera) có số lượng họ ít nhất, cả
ba bộ đều thu được 1 họ (cùng chiếm 1,9% tổng số họ) Ngoài ra còn có
sự hiện diện của lớp Giáp xác (họ Potamidae) và lớp Đỉa (họ Hirudinidae)(cùng chiếm 1,9% tổng số họ)
Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự như các kết quả nghiên cứu củaDudgeon (1999), khi cho rằng ở các thủy vực dạng suối số lượng các họcủa các bộ: Cánh lông, Chuồn chuồn và Cánh cứng thuộc lớp Côn trùngluôn chiếm ưu thế, trong khi đó số lượng các họ của bộ: Cánh vảy, Cánhrộng và Cánh úp thường rất ít
3.2 Phân bố của các họ ĐVKXS cỡ lớn theo á đai tại khu vực nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành thu mẫu ngoài thựcđịa với 5 điểm nghiên cứu có độ cao từ 178m đến 351m Theo nghiên cứucủa Vũ Tự Lập [8], khoảng độ cao này thuộc 2 á đai là á đai 1 có độcao từ
178m đến dưới 300m và á đai 2 có độ cao từ 300m đến 351m
Á đai 1: thuộc đai khí hậu nội chí tuyến gió mùa từ khô đến ẩm chânnúi Tại đới khí hậu chí tuyến gió mùa, một số nơi đã có mùa đông rét, vớicường độ lạnh XI - XIII Tại đới khí hậu á xích đạo gió mùa, nhiều nơi mùarất nóng đã giảm xuống còn 6 tháng