Với đặc thù chăn nuôi của nước ta chủ yếuphân tán trong khu dân cư, trong các nông hộ; cộng thêm nhận thức và ý thứctrách nhiệm bảo vệ môi trường của người chăn nuôi còn hạn chế; quản lý
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh học ứng dụng
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn ThS Lưu Thị Uyên và ThS Vũ ThịThương, đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài Khóa luận tốt nghiệp!Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Sinh – KTNN, trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2, những người đã truyền cho tôi kiến thức và niềm say mê từgiảng đường trong suốt khóa học!
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu của các cá nhân, hộgia đình, chính quyền xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp
đỡ tôi trong quá trình triển khai đề tài tại địa phương!
Mặc dù đã rất cố gắng và làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, nhưng
do năng lực trong nghiên cứu còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏinhững thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến phê bình, góp ý của thầy cô vàbạn bè!
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Quản Thị Trang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận do tôi trực tiếp thực hiện, các số liệuđược sử dụng trong khóa luận là trung thực, chính xác và chưa được công bốtrong bất kỳ tài liệu nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Quản Thị Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi ở Việt Nam 4
1.2 Chất thải chăn nuôi và ô nhiễm do chăn nuôi 5
1.2.1 Chất thải chăn nuôi 5
1.2.2 Ô nhiễm do chăn nuôi 6
1.3 Chăn nuôi nông hộ và quản lí môi trường chăn nuôi 7
1.4 Một số nghiên cứu về ô nhiễm và quản lí chất thải chăn nuôi 10
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 15
2.2 Nội dung nghiên cứu 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu 15
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17
3.1 Tình hình phát triển chăn nuôi của xã Cao Minh 17
3.1.1 Quy mô đầu gia súc, gia cầm của xã Cao Minh 2015, 2016 17
3.1.2 Chăn nuôi hộ gia đình ở Cao Minh 18
3.2 Quản lí môi trường trong chăn nuôi hộ gia đình tại Cao Minh 21
3.2.1 Khảo sát quy hoạch, thiết kế chuồng trại chăn nuôi 21
3.2.2 Phương thức thu gom chất thải chăn nuôi 24
3.2.3 Hình thức xử lý và sử dụng chất thải chăn nuôi 26
3.3 Lựa chọn và triển khai giải pháp quản lí môi trường trong chăn nuôi 29
3.3.1 Vấn đề ô nhiễm mùi hôi từ chăn nuôi 30
Trang 53.3.2 Một số giải pháp khả thi để xử lý ô nhiễm mùi hôi từ chăn nuôi 30
3.3.3 Đánh giá hiệu quả của nhóm giải pháp đã triển khai 33
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
1 Kết luận 36
1.1 Về tình hình phát triển chăn nuôi tại xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 36
1.2 Quản lí môi trường trong chăn nuôi hộ gia đình tại Cao Minh 36
1.3 Lựa chọn và triển khai giải pháp quản lí môi trường trong chăn nuôi 36
1.4 Hiệu quả của nhóm giải pháp đã triển khai 37
Kiến nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 41
Phụ lục 1 GIẢM THIỂU Ô NHIỄM VÀ QUẢN LÍ MÔI TRƯỜNG CHĂN NUÔI QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH 41
Phụ lục 2 CHẾ PHẨM SINH HỌC ĐỂ GIẢM Ô NHIỄM TRONG CHĂN NUÔI 42
Error! Bookmark not defined.
Trang 62020, ngành chăn nuôi sẽ phát triển thành ngành sản xuất hàng hóa, từngbước đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.[11]Mặc dù vậy, một trong những hạn chế lớn của ngành chăn nuôi là gây ônhiễm môi trường do phân, nước tiểu và một lượng lớn nước, rác thải từ vệsinh chuồng trại Chất thải, nước thải từ các hoạt động chăn nuôi đã gây ônhiễm nghiêm trọng môi trường không khí và ảnh hưởng nặng nề tới nguồnnước, tài nguyên đất, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người và góp phần đáng
kể làm gia tăng hiệu ứng nhà kính Với đặc thù chăn nuôi của nước ta chủ yếuphân tán trong khu dân cư, trong các nông hộ; cộng thêm nhận thức và ý thứctrách nhiệm bảo vệ môi trường của người chăn nuôi còn hạn chế; quản lý Nhànước về bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi chưa được quan tâmđúng mức; lực lượng cán bộ chuyên quản lý về môi trường còn mỏng, thiếukinh nghiệm vì vậy tình trạng ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi ngày càngtrở nên trầm trọng [3]
Vĩnh Phúc là địa phương có tiềm năng và lợi thế để phát triển chăn nuôimột cách toàn diện Tỉnh phấn đấu đạt mức tăng trưởng ngành chăn nuôi là8,2% [12] Chăn nuôi phát triển tạo ra lượng chất thải khổng lồ Sở Tàinguyên & Môi trường Vĩnh Phúc cho biết, tính riêng năm 2013 [10] mỗi ngàyđàn gia súc, gia cầm trong toàn tỉnh có thể thải ra môi trường trên 3.000 tấnchất thải, đa số lượng phân và nước thải này không được xử lý trước khi thải ramôi trường vì vậy đã làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sống, môi trường
Trang 7chăn nuôi Trong điều kiện mật độ dân cư lớn, chăn nuôi hộ gia đình trongkhu dân cư nếu không có các giải pháp hữu hiệu để quản lí và xử lí chất thảichăn nuôi cũng như quản lí môi trường thì ô nhiễm do hoạt động chăn nuôigia súc gia cầm gây ra sẽ vô cùng nặng nề.
Từ thực tế đó chúng tôi tiến hành đề tài: Khảo sát thực trạng và triển
khai giải pháp phù hợp để quản lý môi trường trong chăn nuôi hộ gia đình tại
xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm kiếm những giải pháp phù hợp cho vấn đề ônhiễm môi trường trong chăn nuôi hộ gia đình tại xã Cao Minh, thị xãPhúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
1.3 Phạm vi nghiên cứu
- Công tác quản lý môi trường trong chăn nuôi hộ gia đình tại xã CaoMinh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; trong thời gian từ tháng 10 năm 2016đến tháng 04 năm 2017
- Giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lí môi trườngtrong chăn nuôi hộ gia đình, giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại xã Cao Minh,thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trang 8+ Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường trong chănnuôi của người chăn nuôi.
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi ở Việt Nam
Sản lượng lương thực tăng nhanh đã đưa Việt Nam từ một nước thiếulương thực trong thập kỷ 80, thế kỉ 20 trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ
2 - 3 Thế giới Sản xuất lương thực đạt sản lượng cao đã tạo điều kiện tốt cho
sự phát triển công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, gia cầm và đưa chăn nuôiphát triển nhanh và ổn định
Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 [11], cho biết: với khoảng73% dân số sống ở vùng nông thôn, phát triển kinh tế nông nghiệp và nôngthôn là một trong những mục tiêu được Đảng và Nhà nước hết sức chú trọng,trong đó có phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt động phát triểnchăn nuôi Năm 2014, đàn lợn nước ta có khoảng 26,76 triệu con, đàn trâu bòkhoảng 7,75 triệu con, đàn gia cầm khoảng 327,69 triệu con, trong đó chănnuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 65-70% về số lượng và sản lượng.Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã đề ra một số mục củaphát triển chăn nuôi đến năm 2020 như sau:
- Đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất phươngthức trang trại, công nghiệp, đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảochất lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu
- Đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm, khống chế
có hiệu quả cácbệnh nguy hiểm trong chăn nuôi
- Các cơ sở chăn nuôi, nhất là chăn nuôi theo phương thức trang trại,công nghiệp và cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm phải có hệ thống
xử lý chất thải, bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường
Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 cũng nhấn mạnh đến giảipháp quy hoạch trong chăn nuôi để vừa đảm bảo phát triển sản xuất vừa bảo
vệ môi trường:
Trang 10- Quy hoạch chăn nuôi phải phù hợp với đặc điểm và lợi thế của từngvùng sinh thái, nhằm khai thác tối đa tiềm năng của từng loại vật nuôi trongtừng vùng sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững, an toàn sinh học và bảo vệmôi trường.
1.2 Chất thải chăn nuôi và ô nhiễm do chăn nuôi
1.2.1 Chất thải chăn nuôi [4]
- Hàng ngày, gia súc, gia cầm thải ra một lượng phân và nước tiểu rấtlớn Khối lượng phân và nước tiểu được thải ra có thể chiếm từ 1,5 – 6% khốilượng cơ thể gia súc Thống kê cho thấy trung bình bò thải ra 15 kg chấtthải/con/ngày; lợn thải 1,5 - 2,5 kg chất thải/con/ngày và gia cầm thải 100-
120 g chất thải/con/ngày
- Khối lượng chất thải chăn nuôi tùy thuộc vào giống, độ tuổi, giai đoạnphát triển, khẩu phần thức ăn và thể trọng gia súc và gia cầm Riêng đối vớigia súc, lượng phân và nước tiểu tăng nhanh theo quá trình tăng thể trọng,nhất là đối với gia súc cao sản
- Ngoài phân và nước tiểu, lượng thức ăn thừa, ổ lót, xác súc vật chết,các vật dụng chăm sóc, nước tắm gia súc và vệ sinh chuồng nuôi cũng đónggóp đáng kể làm tăng khối lượng chất thải Nước thải chăn nuôi là hỗn hợpbao gồm cả nước tiểu, nước tắm gia súc, rửa chuồng Nước thải chăn nuôi còn
có thể chứa một phần hay toàn bộ lượng phân được gia súc, gia cầm thải ra.Nước thải là dạng chất thải chiếm khối lượng lớn nhất trong chăn nuôi Thànhphần của nước thải rất phong phú, bao gồm các chất rắn ở dạng lơ lửng, cácchất hòa tan hữu cơ hay vô cơ, trong đó nhiều nhất là các hợp chất chứa nitơ
và photpho Nước thải chăn nuôi còn chứa rất nhiều vi sinh vật, ký sinh trùng,nấm, nấm men và các yếu tố gây bệnh sinh học khác Do ở dạng lỏng và giàuchất hữu cơ nên khả năng bị phân hủy vi sinh vật rất cao, có thể tạo ra các sảnphẩm có khả năng gây ô nhiễm cho cả môi trường đất, nước và không khí
Trang 11- Bên cạnh phân, nước tiểu và nước thải, chăn nuôi còn tạo ra nhiều loạikhí thải Có tới trên 170 chất khí có thể sinh ra từ chăn nuôi, điển hình là cáckhí CO2, CH4, NH3, NO2, N2O, NO, H2S, …và hàng loạt các khí gây mùikhác Hầu hết các khí thải chăn nuôi có thể gây độc cho gia súc, cho conngười và môi trường Ở những khu vực chăn nuôi có chuồng trại thôngthoáng kém thường dễ tạo ra các khí độc ảnh hưởng trực tiếp, gây các bệnhnghề nghiệp cho người chăn nuôi và ảnh hưởng tới sức khỏe của người dânxung quanh khu vực chăn nuôi Nếu không được thu gom sớm, lữu trữ và xử
lý hợp quy cách, ở điều kiện bình thường, các chất bài tiết từ gia súc, gia cầmnhanh chóng bị phân giải tạo ra hàng lọat chất khí có khả năng gây độc chongười và vật nuôi nhất là các bệnh về đường hô hấp, bệnh về mắt, tổn thươngcác niêm mạc, gây ngạt thở, xẩy thai và ở trường hợp nặng có thể gây tửvong.[3]
1.2.2 Ô nhiễm do chăn nuôi
- Năm 2007, cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT đã đưa ra con số đáng longại khi tổng khối lượng chất thải chăn nuôi từ gia súc, gia cầm thải ra môitrường hàng năm khoảng 73 triệu tấn; 90% khối lượng chất thải rắn chưađược xử lý, xả ra môi trường [1]
- Năm 2013, theo số liệu của Cục chăn nuôi, lượng chất thải rắn (phân,chất độn chuồng, ) hàng năm từ chăn nuôi gia súc, gia cầm khoảng trên 76triệu tấn và khoảng trên 30 triệu khối chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửachuồng,…) [17]
- Hầu hết các nghiên cứu về ô nhiễm môi trường do chăn nuôi tại các địaphương khác nhau, trên các mô hình chăn nuôi khác nhau và đối tượng vậtnuôi khác nhau [1],[5],[6] đều có chung một số nhận xét:
+ Việc phát triển chăn nuôi đã kéo theo sự gia tăng về mức độ ô nhiễmmôi trường ở các vùng nông thôn Phát triển chăn nuôi với qui mô ngày càng
Trang 12lớn, mật độ nuôi cao có thể gây ô nhiễm từ bên trong chuồng trại, ô nhiễm từ
hệ thống lưu trữ chất thải và ô nhiễm từ nguồn nước thải sinh ra trong việc dộichuồng và tắm rửa gia súc
+ Trang trại, gia trại và hàng vạn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đã trở thành tâmđiểm về tình trạng ô nhiễm môi trường
+ Sự ô nhiễm đất, không khí và nguồn nước do các chất thải chăn nuôi
đã ảnh hưởng đáng kể tới hệ sinh thái và sức khoẻ con người
+ Đặc biệt nguy hiểm, ô nhiễm môi trường về vi sinh vật (các mầm bệnhtruyền nhiễm) làm phát sinh các loại dịch bệnh như dịch tả, lở mồm longmóng, tai xanh, cúm gia cầm H5N1
+ Chăn nuôi là một trong những nguồn phát thải lớn nhất khí nhà kínhtrên toàn cầu cùng với sử dụng năng lương hóa thạch, sản xuất công nghiệp -công nghiệp lạnh Chăn nuôi sản sinh ra tới 18% tổng số khí nhà kính của Thếgiới tính quy đổi theo CO2, trong khi đó ngành giao thông chỉ chiếm 13,5%.Chăn nuôi sinh ra 65% tổng lượng NO, 37% tổng lượng CH4 hay 64% tổnglượng NH3 do họat động của loài người tạo nên Như vậy có thể nói chăn nuôiđóng góp đáng kể đến việc làm tăng nhiệt độ trái đất gây hậu quả nghiêmtrọng cho sản xuất, sinh hoạt và biến đổi khí hậu toàn cầu
1.3 Chăn nuôi nông hộ và quản lí môi trường chăn nuôi
Theo kết quả thống kê năm 2010, cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ cóchuồng trại chăn nuôi quy mô hộ gia đình Chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷtrọng khoảng 65-70% về số lượng và sản lượng Mặc dù có lượng phát sinhchất thải lớn nhưng mới chỉ có 8,7% hộ chăn nuôi có sử dụng hầm khí sinhhọc, tổng lượng chất thải rắn chăn nuôi được xử lý chiếm chưa đến 10%, chỉ
có 10% chuồng trại chăn nuôi đạt yêu cầu về vệ sinh và 0,6% số hộ chăn nuôi
có cam kết bảo vệ môi trường; ước tính trên 40% hộ chăn nuôi không áp dụngbất kỳ hình thức hoặc phương pháp xử lý chất thải nào trong chăn nuôi [1]
Trang 13Phương thức chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ lệ lớn dẫn đến việc xử lý
và quản lý chất thải vật nuôi ở nước ta gặp nhiều khó khăn Có 3 hình thức xử
lí chất thải chăn nuôi chủ yếu mà các hộ gia đình áp dụng:
- Thải trực tiếp ra kênh mương và trực tiếp xuống ao, hồ;
- Ủ làm phân bón cho cây trồng;
- Xử lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas)
Thực tế hiện nay có nhiều phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi tốtnhưng chưa được nhân rộng như chăn nuôi trên nền đệm lót sinh thái, xử lýchất thải bằng chế phẩm sinh học, xử lý bằng công nghệ ép tách phân…
Đã có một số chương trình/dự án hợp tác Quốc tế về xử lý chất thải chănnuôi (với FAO, Hà Lan, Đan Mạch, Pháp, Bỉ…), nhiều doanh nghiệp cũng đãcung cấp các dịch vụ xử lý chất thải chăn nuôi Tuy vậy cho đến nay, chấtthải vật nuôi ở nước ta vẫn chưa được xử lý nhiều, hoặc có xử lý nhưng côngnghệ xử lý chưa triệt để, tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước, khôngkhí do chất thải chăn nuôi vẫn diễn ra nghiêm trọng
Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi gây ra, nhiềuchuyên gia cho biết cần đẩy nhanh tiến độ qui hoạch các vùng chăn nuôi tậptrung gắn với bảo vệ môi trường Cùng với đó, tăng cường quản lý nhà nước
về môi trường chăn nuôi, thực hiện thanh kiểm tra theo pháp luật về cam kếtbảo vệ môi trường của các cơ sở chăn nuôi Qua đó, xử lý dứt điểm các cơ sởchăn nuôi gia súc, gia cầm gây ô nhiễm môi trường [1]
Để giúp nông dân vừa phát triển sản xuất chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tếcao nhưng cũng vừa đảm bảo về vệ sinh môi trường, ngăn ngừa những tácđộng tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe con người, các nhàkhoa học của Viện Môi trường Nông nghiệp khuyến cáo:
Trang 14- Về lựa chọn vị trí xây dựng chuồng trại hợp lý:
Chuồng trại chăn nuôi cần cần đảm bảo mỹ quan hài hòa với các côngtrình khác, cách càng xa khu sinh hoạt với gia đình càng tốt, không bị gió lùahoặc đầu gió; mát mẻ vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông, thuận tiện chochăm sóc, thuận tiện về nguồn nước, thuận lợi cho việc thu gom xử lý chấtthải Nếu có thể nên xây chuồng trại xa đường giao thông chính, tránh đượctiếng ồn và những hoạt động qua lại của con người nhằm ngăn chặn lây landịch bệnh và dễ cách ly khi dịch bệnh xảy ra
- Mật độ và diện tích chuồng nuôi
Mật độ nuôi là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năngsuất và sức đề kháng bệnh của vật nuôi, song hầu như ít được nông dân tuânthủ nên đã làm cho môi trường chuồng trại kém thông thoáng, dễ phát sinhdịch bệnh và khả năng lây nhiễm bệnh cao Đối với từng loại gia súc, gia cầmđều có những khuyến cáo quy định về mật độ chăn nuôi và diện tích tối thiểu
để đảm bảo cho sản xuất đạt hiệu quả tối ưu Đối với đại gia súc mật độ nuôi
bà con nên đảm bảo từ 3 -5m2/con, tiểu gia súc từ 0,5 -2m2/con, gia cầm 10con/m2 đối với gà thịt và 4-5con/m2 đối với gà giống
9 Xây dựng công trình xử lý chất thải chăn nuôi
Đối với chăn nuôi quy mô nông hộ nhỏ lẻ thì trong quy hoạch chuồngnuôi phải xây dựng bể chứa chất thải lỏng và ủ phân có nắp đậy Hàng ngàytiến hành thu gom phân, rác trước khi xịt nước rửa chuồng để đưa vào hố ủhoai mục làm phân bón Phân ủ hoai mục rất tốt vừa không có mùi, hàmlượng hữu cơ và đạm cao lại vừa không tồn tại mầm bệnh
- Công tác vệ sinh, khử trùng chuồng trại
Ngoài việc hàng ngày tiến hành dọn vệ sinh phân rác và nước tiêu vậtnuôi, cần định kỳ hàng tuần quy định 1 ngày thực hiện tổng vệ sinh chuồngtrại và khu vực chăn nuôi, thu gom rác về nơi quy định để đốt và phun khử
Trang 15trùng khu vực chăn nuôi bằng thuốc sát trùng để tiêu diệt nguồn mầm bệnh cưtrú hoặc tiềm ẩn trong môi trường.
- Trồng cây xanh
Xung quanh khu vực chăn nuôi tiến hành trồng cây xanh nếu có diệntích để tạo bóng mát và chắn được gió lạnh, gió nóng, ngoài ra cây xanhcòn quang hợp hút khí CO2 và thải khí O2 rất tốt cho môi trường chăn nuôi.Nên trồng các loại cây như: nhãn, vải, keo dậu, muồng…
1.4 Một số nghiên cứu về ô nhiễm và quản lí chất thải chăn nuôi
Quản lý chất thải chăn nuôi không chỉ đơn thuần là áp dụng cáccông nghệ để xử lý những chất thải sau khi vật nuôi đã thải ra để hạn chế ônhiễm môi trường Một mặt, nó phải bắt đầu từ việc thiết kế khẩu phần ăn,đến việc xem xét (và có thể điều khiển) các quá trình tiêu hoá, hấp thu và traođổi chất để cho con vật có thể sử dụng được tối đa các chất dinh dưỡng ăn vào
và thải ra môi trường ít chất thải nhất, đặc biệt là những chất thải gây ônhiễm Mặt khác, quản lý chất thải chăn nuôi còn bao hàm cả việc sử dụngcác chất thải (kể cả được xử lý và không xử lý) vào các mục đích có ích nhưlàm phân bón cho cây trồng, làm thức ăn nuôi trồng thuỷ sản, làm chất đốt,sản xuất biogas, điện v.v… nhằm vừa hạn chế được việc sử dụng tài nguyênđồng thời hạn chế được ô nhiễm môi trường
Hầu hết những nghiên cứu của các cá nhân, đơn vị trong nhiều năm trởlại đây đều phản ánh thực trạng quản lí, xử lí chất thải chăn nuôi trong nông
hộ còn nhiều bất cập dẫn đến những hậu quả ảnh hưởng đến môi trường sinhthái, hệ sinh vật, đời sống và sức khỏe của người chăn nuôi, của cộng đồngdân cư
Các nghiên cứu cũng triển khai giải pháp để cải thiện ô nhiễm môitrường, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người chăn nuôi, của chính
Trang 16quyền địa phương và các cơ quan hữu quan về bảo vệ môi trường trong chănnuôi, hướng tới chăn nuôi bền vững.
Nguyễn Phú Ngọc, Nguyễn Huy Khiết, Nguyễn Ngọc Sơn (2007), [6]trong kết quả điều tra Thực trạng chăn nuôi lợn và vệ sinh môi trường, thú ycác nông hộ thuộc ngoại thành Hà Nội, Hà Tây cho thấy chỉ có 29,7% cơ sởchăn nuôi tiến hành xử lí chất thải
Vũ Thị Thanh Hương và cs (2013) [8], trong báo cáo kết quả điều trahiện trạng quản lý môi trường trong chăn nuôi tại 6 tỉnh Thái Nguyên, HàNội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương và Hà Nam cho biết: tỷ lệ chất thảichăn nuôi được xử lý ước tính đối với phân gia súc là 52%, nước thải giasúc
61,1%, phân gia cầm khoảng 23,3% Một số tồn tại trong quản lý môitrường chăn nuôi ở các tỉnh điều tra như: chưa có các qui chế, biện pháp chếtài để huy động và bắt buộc người chăn nuôi thực hiện Nhận thức củangười dân về trách nhiệm trong bảo vệ môi trường chăn nuôi còn hạn chế.Việc sử dụng chế phẩm vi sinh để khử mùi hôi, xử lý chất thải chăn nuôilàm phân bón nông nghiệp chưa được chú trọng…
Báo cáo “Điều tra lượng thải và đánh giá mức độ ô nhiễm môi trườngtại các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” từ năm 2009 - 2011 chobiết trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 110.131 hộ chăn nuôi gia súc; số hộ cóchuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh là 43.000 hộ chiếm 39%, trong đó cókhoảng 20.000 hộ có hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm Biogas,còn lại không có hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi, đây là một trong cácnguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn tạo nên bức xúc ở các khuvực dân cư (Trích theo tài liệu [10])
Kết quả điều tra môi trường nông thôn năm 2014, tỉnh Vĩnh Phúc cóhơn 90.000 hộ dân nông thôn chăn nuôi gia súc, gia cầm trong đó: Đàn lợn
550 nghìn con; đàn trâu 30 nghìn con; đàn bò 145 nghìn con; đàn gia cầm:
Trang 177.500 nghìn con Mặc dù tỉnh đã có chính sách quy hoạch các khu chăn nuôitập trung, tuy nhiên vẫn còn nhiều hộ chăn nuôi tại gia đình, xen kẽ trong khudân cư như nên không tránh khỏi tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn dolượng chất thải từ đàn vật nuôi chưa được xử lý gây ra Ước tính, lượng chấtthải từ chăn nuôi hàng năm khoảng 1.700 nghìn tấn, lượng chất thải này nếukhông được xử lý sẽ là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trườngsống, nguồn nước [10]
Tại Vĩnh Phúc, để ngành chăn nuôi trên địa bàn phát triển theo hướngbền vững, những năm qua, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã có nhiều cơ chế, chínhsách, giải pháp trong việc hỗ trợ xử lý chất thải tại nhiều địa phương Đây làyếu tố quan trọng góp phần cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường và từngbước nâng cao chất lượng sống của người dân và các hộ chăn nuôi trên địabàn tỉnh [13][14]
- Triển khai các mô hình điểm nhân rộng xử lý chất thải chăn nuôi bằng các chế phẩm sinh học như: TB - E2 5%; thảm sinh học cho hơn 10.000
hộ chăn nuôi có quy mô vừa và nhỏ tham gia; đặc biệt là xử lý chất thải chănnuôi bằng hầm biogas đến nay đã có hơn 30.000 hộ đã ứng dụng lắp đặt hầmbiogas xử lý chất thải chăn nuôi đạt hiệu quả đã hạn chế ô nhiễm môi trường,nguồn nước đặt biệt là nước sinh hoạt Phấn đấu hết năm 2015 đạt 40.000 hộ chăn nuôi lắp đặt hầm biogas để xử lý chất thải chăn nuôi Mỗi hộ lắp đặtđược hỗ trợ 2.000.000 đồng/ hầm từ dự án Đồng thời tạo khí đốt góp phần nâng cao và cải thiện đời sống cho các hộ dân ở khu vực nông thôn [13],[14]
- Trung tâm Nước SH&VSMT nông thôn đã và đang triển khai dự án xử
lý chất thải chăn nuôi bằng hầm biogas Composite giai đoạn 2012 - 2016 chokhoảng 4.000 hộ chăn nuôi, đây là công nghệ có nhiều ưu điểm: Thi công, lắpđặt đơn giản, độ bền cao, mức độ sinh khí nhanh, sản lượng khí gas cao, ổn
Trang 18định, có thể lắp đặt trong mọi địa hình Có khả năng tự điều hóa áp suất tronghầm, tự phá váng, di chuyển thay đổi vị trí thuận lợi [13]
- Năm 2015, đề tài “Ứng dụng công nghệ tách rắn, lỏng để xử lý chấtthải chăn nuôi” được Sở KH&CN Vĩnh Phúc nghiên cứu, thử nghiệm môhình tại 2 trang trại: xã Hoàng Lâu, huyện Tam Dương – Hộ ông Nguyễn VănThu và xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên – Công ty TNHH Phát Đạt cho kết quảrất tích cực [14]
UBND tỉnh Vĩnh Phúc, quyết định Số: 04/2014/QĐ-UBND, ngày 23tháng 01 năm 2014 [12], trong quy định Bảo vệ môi trường trong hoạt độngchăn nuôi trong khu dân cư đã nêu rõ: hộ gia đình, cá nhân có hoạt động chănnuôi gia súc, gia cầm và các vật nuôi khác trong khu dân cư phải thực hiệnđầy đủ các yêu cầu về vệ sinh thú y, phòng, chống dịch bệnh theo quy địnhcủa pháp luật về thú ý và những yêu cầu sau:
- Không được chăn nuôi quá 20 đầu lợn quy đổi trở lên đối với các xã ởđồng bằng; không quá 50 đầu lợn trở lên đối với các xã trung du và miền núi(1 lợn nái bằng 1,5 đầu lợn thịt; 1 con trâu, bò, ngựa bằng 3 đầu lợn thịt quyđổi; 50 con gia cầm bằng một đầu lợn quy đổi )
- Trường hợp chăn nuôi vượt quá số đầu lợn quy đổi nêu trên hộ giađình, cá nhân phải xây dựng chuồng trại, xử lý chất thải theo quy định nhưhoạt động chăn nuôi quy mô kinh tế trang trại theo quy định tại Thông tư
số 27/2011 / T T - B N N P T NT n gày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn
- Phải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia điều kiện chăn nuôi lợn antoàn sinh học theo QCVN 01-14:2010/BNNPTNT Quy chuẩn Quốc gia điềukiện trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học theo QCVN 01-15:2010/BNNPTNT và các quy định của pháp luật có liên quan
- Chuồng trại chăn nuôi phải xây dựng đạt yêu cầu sau:
Trang 19a) Chuồng được làm bằng nguyên vật liệu bền chắc Nền chuồng phải được lát gạch, đá, hoặc xi măng đảm bảo không để chất thải thẩm thấu xuốngđất.
b) Phải có rãnh thoát chất thải thải lỏng có độ dốc phù hợp, từ Rãnh(cống) thu gom chất thải lỏng từ chuồng nuôi đến khu xử lý chất thải phảikín, dễ tiêu, thoát nước và không trùng với đường thoát nước khác
c) Khoảng cách cách ly giữa chuồng trại chăn nuôi của hộ gia đình, cánhân đến ranh giới khu đất xây dựng các các công trình công cộng như: Trụ
sở cơ quan, Trường học, Trạm Y tế, Đình, Chùa, Nhà văn hóa và nơi sinhhoạt công cộng khác ít nhất mười (10) mét
- Về xử lý chất thải:
a) Chuồng trại chăn nuôi phải có hệ thống xử lý chất thải bằng các biệnpháp xử lý thích hợp để không có mùi hôi, thối làm ảnh hưởng đến môitrường xung quanh Hộ chăn nuôi với quy mô từ 6 đầu lợn quy đổi trở lên bắtbuộc phải có công trình xử lý chất thải bằng hầm Biogas hoặc công nghệ khác
có hiệu quả tương đương
b) Chất thải lỏng phải được xử lý bằng hoá chất hoặc bằng phương pháp
xử lý sinh học phù hợp trước khi xả thải ra môi trường
c) Chất thải rắn phải được thu gom về khu xử lý và xử lý bằng nhiệt, hóachất hoặc bằng chế phẩm sinh học phù hợp Không tập kết chất thải rắn (phângia súc, gia cầm) chưa qua xử lý trên các đường làng, ngõ xóm và các khuvực công cộng
d) Không sử dụng chất thải rắn, chất thải lỏng chưa qua xử lý (phân tươi)
để tưới, bón cho cây trồng, làm thức ăn nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng trựctiếp cho các mục đích khác
e) Nghiêm cấm việc vứt xác gia súc, gia cầm làm ô nhiễm môi trường,gây nguy cơ lây lan, phát tán dịch bệnh
Trang 20Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lí môi trường trong chăn nuôiquy mô hộ gia đình
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Hoạt động quản lí môi trường trong chăn nuôi quy mô hộ gia đình tại
xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian từ tháng 10năm 2016 đến tháng 4 năm 2017
+ Một số nhóm giải pháp quản lí môi trường trong chăn nuôi phùhợp với thực tế khu vực nghiên cứu
2.2 Nội dung nghiên cứu
1) Tình hình phát triển chăn nuôi hộ gia đình tại xã Cao Minh, thị xãPhúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2) Quản lí môi trường trong chăn nuôi hộ gia đình tại xã Cao Minh, thị
xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
3) Triển khai giải pháp phù hợp để quản lí môi trường trong chăn nuôi
hộ gia đình tại xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Lựa chọn những giải pháp phù hợp, có khả năng thực thi trongđiều kiện thực tế tại khu vực nghiên cứu
- Triển khai thực hiện giải pháp
- Đánh giá hiệu quả của nhóm giải pháp đã triển khai
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: áp dụng để thu thập và nghiêncứu tài liệu
- Phương pháp phỏng vấn, điều tra: áp dụng để thu thập số liệu,bao gồm:
Trang 21+ Điều tra bằng bảng hỏi, được thực hiện cùng một lúc với nhiều ngườitheo một bảng hỏi in sẵn.
+ Phỏng vấn trực tiếp đối tượng tham gia trong nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm: áp dụng triển khai giải pháp
Trang 22CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tình hình phát triển chăn nuôi của xã Cao Minh
3.1.1 Quy mô đầu gia súc, gia cầm của xã Cao Minh 2015, 2016
Cao Minh là một xã trung du miền núi của thị xã Phúc Yên, là xã thuầnnông, thu nhập từ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn (59%) Nghề chănnuôi ở Cao Minh mấy năm gần đây đang từng bước chuyển dịch từ chănnuôi nhỏ lẻ sang quy mô trang trại
Tổng số đầu gia súc, gia cầm trong toàn xã qua 2 năm 2015, 2016 nhưsau:
Bảng 3.1 Quy mô chăn nuôi của xã Cao Minh 2 năm 2015, 2016
Xã
Trâu, bò (con)
Lợn (con)
Gà (con)
Vịt (con) Lợn thịt Lợn nái Tổng
Năm 2015
Cao Minh 510 1.750 2.147 3.897 2.000 6.000Ngọc Thanh 1.988 3.927 458 4.385 53.100 3.100Nam Viêm 530 264 53 317 2.325 480Tiền Châu 352 814 183 997 1.615 260
Năm 2016
Cao Minh 510 2.400 2.430 4.830 1.000 6.000Ngọc Thanh 2.100 3.700 550 4.250 110.000 2.000Nam Viêm 650 870 80 950 3.000 2.500Tiền Châu 340 2.200 300 2.500 4.900 1.300
Nguồn: Trạm Thú y – Chăn nuôi thị xã Phúc Yên, 2016
So sánh quy mô đàn trong 2 năm 2015, 2016 của 4 xã trên địa bàn thị xãPhúc Yên do Trạm Chăn nuôi – Thú y thị xã Phúc Yên cung cấp thì có thể
Trang 23thấy chăn nuôi của Cao Minh phát triển mạnh, là 1 trong 2 xã dẫn đầu về quy mô đàn, đặc biệt là lợn nái và lợn thịt.
Mặc dù vậy gần ½ số đầu lợn nái đang được nuôi trong các trang trại,trong đó nhiều nhất thuộc về trang trại của công ty TNHH MTV sản xuất vàthương mại Phát Đạt, với trên 1000 con lợn nái, lợn thịt, trạng trại này
đã được cấp giấy chứng nhận sản phẩm sản xuất phù hợp quy trình thựchành sản xuất nông nghiệp tốt - VietGAP Ngoài trang trại Phát Đạt, CaoMinh cũng là địa bàn tập trung nhiều hộ chăn nuôi lớn của thị xã Phúc Yên
Cả xã hiện có
16 hộ chăn nuôi theo mô hình trang trại, trong đó có 4 trang trại quy mô lớn, có trang trại nuôi hàng ngàn lợn nái, lợn thịt
3.1.2 Chăn nuôi hộ gia đình ở Cao Minh
“Chăn nuôi hộ gia đình là chăn nuôi ở qui mô chưa đạt tiêu chí của kinh
tế trang trại theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” [13]
Chăn nuôi gia súc, gia cầm ở ngay trong khuôn viên nhà, xen trong khudân cư không phải là hiếm gặp vì chăn nuôi hộ gia đình là một phương thứchiệu quả, tận dụng được các sản phẩm dư thừa hàng ngày, giúp các hộtăng thu nhập Hiện nay quy mô chăn nuôi hộ gia đình vẫn đang được coi
là cơ bản, đặc biệt là chăn nuôi lợn Nhà nước cũng có chính sách khuyếnkhích việc chăn nuôi ở hộ gia đình nhằm mục đích giải quyết lao độngnhàn rỗi ở địa phương, giải quyết được tính thời vụ của nền sản xuất nôngnghiệp
Theo số liệu Ban Chăn nuôi – Thú y xã Cao Minh cung cấp thì năm
2016 toàn xã có 302 cơ sở chăn nuôi, trong đó bao gồm 16 trang trại và 286
hộ chăn nuôi
So với tổng số hộ trong toàn xã (2.197 hộ) thì tỷ lệ hộ gia đình có chănnuôi gia súc, gia cầm rất thấp, chỉ có 13,0% dù Cao Minh là một xã thuần
Trang 24nông, thu nhập từ nông nghiệp vẫn chiếm 59% Theo chúng tôi, thựctrạng này một phần là do ảnh hưởng xu hướng chăn nuôi tập trung; mộtphần là do tác động của CNH -ĐTH, mở ra những cơ hội kiếm việc có thunhập tốt hơn,
Trang 251 Chăn nuôi tận dụng 85 29,8 - Truyền thống/hữu cơ
2 Chăn nuôi hàng hóa
2.1 Nuôi hỗn hợp (lợn,
gà, trâu bò)
57 19,9 - Bán thâm
canh/Thâm canh2.2 Lợn nái 46 16,1 5 – 20 Thâm canh
2.3 Lợn thịt 41 14,3 30 -100 Thâm canh
2.4 Bò (thịt, sinh sản) 32 11,2 5- 20 Bán thâm canh
2.5 Gà thịt thương phẩm 04 1,4 100 – 200 Thâm canh
2.6 Vịt 21 7,3 200 – 1000 Bán thâm canh
đặc biệt ở một số thôn của xã Cao Minh kề cận phường Xuân Hòa, một phần
do chăn nuôi trong khu dân cư rất khó kiểm soát ô nhiễm, ảnh hưởng đếnsức khỏe của người chăn nuôi, hộ gia đình và cộng đồng dẫn đến người nôngdân cũng không mặn mà với chăn nuôi
Tuy vậy, gần ½ số đầu gia súc gia cầm của xã Cao Minh vẫn đang đượcnuôi theo mô hình hộ gia đình, gia trại, trong đó tập trung nhiều nhất ởthôn Cao Quang, tiếp theo là thôn Đức Cung, các thôn còn lại rải rác một
số hộ nuôi quy mô rất nhỏ, chủ yếu là nuôi thả truyền thống hoặc chăn nuôihữu cơ để tự túc thực phẩm an toàn Chỉ tính riêng thôn Cao Quang có đếnhơn ½ số hộ chăn nuôi và tổng số đầu gia súc, gia cầm của toàn xã
Bảng 3.2 Đặc điểm chăn nuôi hộ gia đình tại Cao Minh năm 2016
chăn nuôi
Nguồn: Ban Thú y xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc, 2016
Trang 26- Như vậy tại Cao Minh, không những chăn nuôi trong khuôn viên nhàkhông phổ biến như đã phân tích ở trên mà còn có thể thấy gần 30% số
hộ nuôi theo hình thức tận dụng, mục đích là tự cung tự cấp nguồn thựcphẩm an toàn Mỗi gia đình nuôi 1-2 con lợn theo phương thức truyền thốnghoặc vài chục con gà thả vườn hoặc thả 1 cặp bò
- Đối với chăn nuôi hàng hóa thì mô hình nuôi hỗn hợp nhiều loại giasúc, gia cầm chiếm gần 20% tổng số hộ chăn nuôi, người ta cùng lúc chănnuôi lợn nái, lợn thịt, nuôi gà, vịt, hoặc nuôi cả trâu bò Thường với lợn và gàthì nuôi thâm canh; trâu bò và vịt nuôi bán thâm canh để tận dụng điều kiệnruộng, vườn, ao
- Có 46 hộ nuôi lợn nái với quy mô từ 5 -20 con, chiếm 16,1% và 41 hộnuôi lợn thịt với quy mô 30 – 100 con, chiếm 14,3%
- Toàn xã có 32 hộ chăn nuôi trâu bò với quy mô từ 5 – 20 con, hầuhết là bò thịt Cao Minh, mấy năm trước là địa phương được triển khaithử nghiệm Dự án nuôi bò thịt BBB
- Mô hình nuôi gà thâm canh không nhiều, chỉ có 4 hộ nuôi với quy môkhông lớn, từ 200 -300 gà thịt, nuôi trong vài tháng, xuất bán rồi mới lạinuôi
tiếp
Theo quyết định Số: 04/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Vĩnh Phúc rangày 23 tháng 01 năm 2014 [13]: hộ gia đình, cá nhân có hoạt động chănnuôi gia súc, gia cầm và các vật nuôi khác trong khu dân cư không được chănnuôi quá 20 đầu lợn quy đổi trở lên đối với các xã ở đồng bằng; không quá
50 đầu lợn trở lên đối với các xã trung du và miền núi Như vậy, một số hộgia đình đã nuôi số đầu con vượt quy định Trong trường hợp này hộ chănnuôi phải xây dựng chuồng trại, xử lý chất thải theo quy định như hoạt động
Trang 27chăn nuôi quy mô kinh tế trang trại theo quy định tại Thông tư số
27/201 1 / T T - B N N P T N T n gày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn
Trang 283.2 Quản lí môi trường trong chăn nuôi hộ gia đình tại Cao Minh
Chọn mẫu nghiên cứu: Xuất phát từ thực tế, chúng tôi tiến hành chọn
mẫu nghiên cứu theo các nhóm theo đối tượng nuôi, có xem xét đến khảnăng gây ô nhiễm từ đặc điểm đối tượng nuôi và phương thức nuôi;trong mỗi nhóm chúng tôi chọn ngẫu nhiên Cụ thể như sau:
Chọn mẫu nghiên cứu
3.2.1 Khảo sát quy hoạch, thiết kế chuồng trại chăn nuôi
Căn cứ vào những điều khoản Quy định về bảo vệ môi trường nông
thôn tỉnh Vĩnh Phúc (Quyết định Số: 04/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Vĩnh
Phúc, ngày 23 tháng 01 năm 2014)[13], chúng tôi khảo sát một số tiêu chíliên quan đến bảo vệ môi trường chăn nuôi hộ gia đình Kết quả như sau:
Trang 29Bảng 3.3 Kết quả khảo sát một số tiêu chí bảo vệ môi trường
(về thiết kế và xây dựng chuồng trại)
- Không nằm đầu hướng gió 19 63,3
2 Thiết kế chuồng trại
- Nền chuồng lát gạch hoặc xi măng đảm bảo không
để chất thải thẩm thấu xuống đất
30 100
- Đảm bảo diện tích bình quân trên 1 đầu gia súc 18 56,3
- Có bể chứa chất thải lỏng và hố chứa phân 21 70,0
- Đường dẫn nước thải kín, hố chứa phân có nắp đậy 0 0
- Có hầm Biogas xử lý chất thải 10 33,3
- Theo quy định chuồng trại và các khu chứa phân, chất thải cần giữkhoảng cách với khu nhà ở của gia đình và hàng xóm, các khu sinh hoạt côngcộng… từ 10m trở lên [13] Khảo sát của chúng tôi cho thấy 100% hộ chănnuôi đảm bảo được tiêu chí này
- Cao Minh có bình quân đất canh tác cũng như đất ở trên hộ giađình khá cao [14]; lợi thế về đất đai là điều kiện thuận lợi để các hộ gia đìnhxây dựng chuồng trại chăn nuôi cách xa nhà ở, nơi sinh hoạt của gia đình, vìvậy nếu có điều kiện thì nên xây dựng chuồng trại chăn nuôi đảm bảo mỹquan, hài hòa với các công trình khác và cách càng xa khu sinh hoạt của gia
Trang 30đình, khu dân cư càng tốt Tại Cao Minh và đặc biệt là thôn Cao Quang,hầu hết
Trang 31khu chuồng trại đều nằm cách xa khu nhà ở của chủ hộ, nằm ở rìa làng hoặc dọc bờ sông khu vực ấp Quảng Tự, Gò Già…
- Với tiêu chí chuồng trại không nằm đầu hướng gió chỉ có 63,3 % đạtyêu cầu Đảm bảo được tiêu chí này là rất khó đối với chăn nuôi trong khudân cư do việc lựa chọn vị trí xây chuồng trại còn phụ thuộc vào vị trí thửađất, công trình nhà ở mà gia đình sở hữu và nhà ở của hàng xóm…
- Về kết cấu chuồng trại, 100% hộ chăn nuôi đều xây dựng chắc chắn,nền chuồng lát xi măng, thuận tiện cho vệ sinh chuồng trại
- Mặc dù hầm Biogas rất phù hợp với những hộ chăn nuôi 5-7 đầulợn, tuy vậy ở Cao Minh chỉ những hộ nuôi nhiều mới xây và sử dụng hầmBiogas xử lí chất thải; Trong 30 hộ chăn nuôi được khảo sát có 10 hộ có hầmBiogas cỡ nhỏ và vừa - Con số này còn thấp so với chỉ tiêu 40% số hộ chănnuôi được lắp đặt hầm biogas vào năm 2015 để xử lý chất thải chăn nuôinhằm cải thiện môi trường; góp phần hoàn thành mục tiêu xây dựng nôngthôn mới trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc[10] Đây là một vấn đề cần sự quantâm của chính quyền và cơ quan chuyên môn Người chăn nuôi có khó khăn
gì khi áp dụng hình thức xử lí chất thải bằng hầm Biogas, lý do chủ quan haykhách quan?
- 70% hộ chăn nuôi xây bể chứa nước thải, hố ủ phân song với tiêu chíđường dẫn nước thải kín, hố chứa phân có nắp đậy thì 100% không đảmbảo yêu cầu Có hộ không xây từ ngày đầu, có hộ thì bị hỏng không sửachữa, có hộ thì hố ủ phân hay đường dẫn nước thải đều quá tải v.v Đâychính là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm môi trường
- Về tiêu chí đảm bảo diện tích bình quân trên 1 đầu gia súc chỉ có56,3% đạt yêu cầu, đó là những hộ nuôi lợn nái, nuôi bò, còn lại hầu hết các
hộ đều nuôi với mật độ cao do diện tích chuồng trại hẹp Nhìn chung người