Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu.... Một số loàicôn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh, tác nhân pháhoại sả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
=== ===
NGUYỄN THÙY LINH
MỘT SỐ DẪN LIỆU VỀ CÔN TRÙNG NƯỚC TẠI SUỐI TÂY THIÊN ĐỘ CAO TỪ 28 - 90M THUỘC XÃ ĐẠI ĐÌNH, HUYỆN TAM ĐẢO,
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
=== ===
NGUYỄN THÙY LINH
MỘT SỐ DẪN LIỆU VỀ CÔN TRÙNG NƯỚC TẠI SUỐI TÂY THIÊN ĐỘ CAO TỪ 28 - 90M THUỘC XÃ ĐẠI ĐÌNH, HUYỆN TAM ĐẢO,
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN HIẾU
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Hiếu, cán bộ giảngdạy tổ Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư Phạm HàNội 2, đã tận tình hướng dẫn và đưa ra những ý kiến quý báu trong suốt thời gian tôithực hiện đề tài này
Đồng thời qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệmKhoa cùng các thầy, cô giáo Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học
Sư Phạm Hà Nội 2, những người đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợigiúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, thầy cô nhữngngười đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Trang 4y 15 thán
g 4 năm 201 7
S i n h v i ê n
N g u y ễ n T h ù y L i n h
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khóa luận này là công trình nghiên cứu thực sự của cánhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Hiếu
Các số liệu, những nghiên cứu được trình bày trong khóa luận này trung thực
và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của
mình Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thùy Linh
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
1 Lído chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới
3 1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam
9 1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 12
1.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 12
1.3.2 Khái quát kinh tế xã hội 14
Chương 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Thời gian nghiên cứu 16
2.3 Địa điểm nghiên cứu 16
2.4 Nội dung nghiên cứu 19
2.5 Phương pháp nghiên cứu 19
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên 19
Trang 72.5.3 Một số chỉ số đa dạng sinh học 21
2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 23
3.1.1 Thành phần loài Phùdu (Ephemeroptera) 28
3.1.2 Thành phần loài Chuồn chuồn (Odonata) 28
3.1.3 Thành phần loài Cánh úp (Plecoptera) 29
3.1.4 Thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera) 29
3.1.5 Thành phần loài Cánh cứng (Coleoptera) 29
3.1.6 Thành phần loài Cánh rộng(Megaloptera) 29
3.1.7 Thành phần loài Hai cánh (Diptera) 30
3.1.8 Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera) 30
3.2 So sánh số lượng và mức độ tương đồng thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 30
3.2.1 So sánh số lượng loài giữa các điểm nghiên cứu 30
3.2.2 Mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu32 3.3 Một số đặc điểm quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 34
3.3.1 Mật độ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 34
3.3.2 Loài ưu thế và một số chỉ số đa dạng 36
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT1 : Điểm thu mẫu 1
TT2 : Điểm thu mẫu 2
TT3 : Điểm thu mẫu 3
TT4 : Điểm thu mẫu 4
TT5 : Điểm thu mẫu 5
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Một số đặc điểm sinh cảnh tại các điểm thu mẫu ở suối Tây
Thiên thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 18 Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng
nước tại khu vực nghiên cứu 23 Bảng 3.2 Thành phần loài côn trùng nước thu được ở các điểm nghiên
cứu 25 Bảng 3.3 Số loài thu được của các bộ côn trùng nước ở các điểm khảo
sát 31 Bảng 3.4 Chỉ số Jacca - Sorensen giữa các điểm nghiên cứu 33 Bảng 3.5 Số lượng cá thể của các bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên
cứu (trên đơn vị diện tích 2,5m2) 35 Bảng 3.6 Loài ưu thế, chỉ số loài ưu thế (DI) và chỉ số đa dạng sinh học
Shannon - Weiner (H’) 37
Trang 10DANH LỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ vị trícác điểm thu mẫu tại suối Tây Thiên
17 Hình 3.1 Tỷ lệ % số loài theo bộ tại khu vực nghiên cứu
24 Hình 3.2 Số loài thu được của mỗi bộ côn trùng nước ở các điểm khảo sát 31 Hình 3.3 Sơ đồ tương đồng thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 33 Hình 3.4 Sơ đồ MDS về mức độ tương đồng thành phần loài tại khu vực
nghiên cứu 34 Hình 3.5 Số cá thể của mỗi bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
36
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Côn trùng nước là một trong những sinh vật quan trọng trong hệ sinh thái cácthủy vực cả nước đứng cũng như nước chảy, có mặt hầu hết trong các thủy vực nộiđịa, đặc biệt rất phổ biến ở các hệ thống sông suối thuộc vùng trung du núi cao Mỗimột môi trường thủy vực, nhóm sinh vật này đều có những đặc tính thích nghi phùhợp So với nhiều nhóm sinh vật khác, côn trùng nước có nhiều đặc tính nổi trộinhư số lượng loài, số lượng cá thể lớn… đặc biệt chúng là những mắt xích khôngthể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn Các loài côn trùng nước là những sinh vật tiêuthụ bậc 1, bậc 2 đồng thời lại là nguồn thức ăn của nhiều loài động vật có xươngsống Nhiều loài côn trùng nước có quan hệ mật thiết đối với con người Một số loàicôn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh, tác nhân pháhoại sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp… Đáng chú ý trong nhóm này là những
loài giữ vai trò quan trọng trong dịch tễ học như các loài thuộc giống Anopheles,
Aedes thuộc bộ Hai cánh (Diptera)… Giai đoạn trưởng thành của các loài côn trùng
này là những vector truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da cho người Khác với nhóm côntrùng trên cạn, phần lớn các loài thuộc côn trùng nước tồn tại cả trong môi trườngnước và trong môi trường cạn Do vậy, chúng là đối tượng lý tưởng dùng trong cácnghiên cứu về sinh thái học và sinh học tiến hóa Trong giai đoạn hiện nay, hướngnghiên cứu về nhóm côn trùng nước là dùng đối tượng này để chỉ thị chất lượngmôi trường do có nhiều loài rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường nước.Trên thế giới đã có rất nhiều thành tựu to lớn khi nghiên cứu trên đối tượng côntrùng nước, từ việc phân loại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinhsản, di truyền, tiến hóa….Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nướccũng đã được quan tâm nghiên cứu Xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúcnơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước, tuynhiên việc nghiên cứu về nhóm sinh vật này vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu
Để góp phần tìm hiểu nhóm sinh vật có ý nghĩa này, tôi tiến hành thực hiện đề tài
Trang 12“Một số dẫn liệu về côn trùng nước tại suối Tây Thiên độ cao từ 28 - 90m thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tư liệu phục vụ cho việc nghiêncứu về côn trùng nước sau này tại địa phận xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnhphúc nói riêng
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn, xâydựng quy hoạch, khai thác hợp lý, sử dụng bền vững tài nguyên côn trùng tạikhu vực nghiên cứu
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế
giới
Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt
ở những nước phát triển Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến từng
bộ của nhóm côn trùng này, từ những nghiên cứu về phân loại học (Eaton, 1871,
1883 - 1888; Lepneva, 1970, 1971; McCafferty, 1973, 1975; Kawai, 1961, 1963),sinh thái học (Brittain, 1982), tiến hoá (Edmunds, 1972; McCafferty, 1991) đếnnhững nghiên cứu về ứng dụng (Morse, 1984) [16] Đặc biệt đã có nhiều nghiên cứu
về các nhóm côn trùng nước gắn bó chặt chẽ với đời sống con người mà đa phần làtác nhân gây bệnh hoặc tác nhân truyền bệnh cho người và động vật như: ruồi,muỗi,… Điển hình là các nghiên cứu của Resh và Rosenberg, 1979; Merritt vàCummins, 1984; Merritt và Newson, 1978; Kim và Merritt, 1987 [16]
Việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị chất lượng nước
đã được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX qua các công trình nghiên cứu củaKuehne (1962), Bartsch và Ingram (1966), Wilhm và Dorris (1968) Sang nhữngnăm 1970, 1980 côn trùng nước trở thành vấn đề trung tâm trong các nghiên cứu vềsinh thái học ở các thủy vực nước ngọt (Barnes và Minshall, 1983) [16] Đã từ lâu,các nhà khoa học sớm nhận ra vai trò quan trọng của côn trùng nước trong các hệsinh thái, do đó phạm vi nghiên cứu côn trùng nước ngày càng được mở rộng, cáchướng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn đi sâu vào các
cơ chế bên trong như: biến động quần thể côn trùng, các mối quan hệ dinh dưỡng,đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984; Cummins, 1994) [16].Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố hàngloạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty W.P., 1983;Kawai T., 1985; John C.M., Yang Lianfang và Tian Lixin, 1994; Yoon, I.B., 1995;Merritt R W và Cummins K W., 1996;… Các nghiên cứu này đã bổ sung và cungcấp nhiều kiến thức về côn trùng nước bao gồm cả phân loại học, sinh thái học, tiến
Trang 14Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc nhóm Côntrùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh lông(Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng (Coleoptera),Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy (Lepidoptera).
* Nghiên cứu về Phùdu (Ephemeroptera)
Bộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậm chí cònđược xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Dựa vào những bằng chứnghóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷPecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm [11] Các loài thuộc bộPhù du được mô tả từ rất sớm Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Phù
du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758) Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìmthấy ở châu Âu và xếp chúng vào một nhóm là Ephemera [19]
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình làcác công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás (1920,1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự (1935) [6]
Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42 họ vàhơn 400 giống của bộ Phù du Các nghiên cứu về Phù du, đặc biệt là phân loại họcvẫn đang phát triển, vẫn còn nhiều loài chưa được mô tả, nhất là ở các khu vực nhiệtđới [11]
Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du được thực hiệnbởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925), Lestage (1921,1924) [21]
Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù du làsinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù du rất nhạycảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình của Landa và Soldan(1991), Bufagni (1997) [21]
* Nghiên cứu về Chuồn chuồn (Odonata)
Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếu trùng sốngtrong nước cho đến giai đoạn trưởng thành Vòng đời của chúng trải qua 3 giai
Trang 15đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành Thiếu trùng thường sống trong nước,chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn BộChuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộ Anisozygoptera, phân bộZygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô) Phân bộAnisozygoptera chỉ có 1 giống là Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố
ở độ cao khoảng 2.000m ở những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi caoHimalaya (Tani & Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983) Hai phân bộ còn lạiphân bố rộng cả ở nơi nước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùngphong phú [17]
Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công trìnhnghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học của Corbet (1999),Silsby (2001) [4] Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởngthành Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa địnhloại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á [2]
* Nghiên cứu về Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp được biết khoảng 2.000 loài và là một trongnhững nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có cánh hiện nay.Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi, nó có những đặc điểmkhác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phần ngực (Hynes, 1976)[13]
Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có 3 đốtbàn nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy như một số loàithuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu) Chúng có ăng ten dài dạng chỉ, tơ đuôikhá dài đặc biệt là các thiếu trùng ở nước Hầu hết, cánh của các loài thuộc bộ Cánh
úp rất phát triển nhưng đôi khi lại ngắn Các đặc điểm đó dùng để phân biệt chúngvới bộ Cánh màng Ấu trùng bộ Cánh úp trải qua thời gian dài sống ở nước Cácthiếu trùng Cánh úp giống con trưởng thành ở nhiều đặc điểm Thiếu trùng luôn có
tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ở giữa Mang nếu có, chỉ tìm thấy ở phầnngực và phần bụng được tạo thành giữa các tơ đuôi Thiếu trùng sống chủ yếu ở
Trang 16Morse J C., Yang Lianfang & Tian Lixin (1994); Merritt & Cummins (1996)khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả đã xây dựngkhóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định loại cácloài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này [17].
* Nghiên cứu về Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú Những nghiêncứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi Ross (1956,1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997) [15]
Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911,
1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932), đặc biệt
là Ulmer khi nghiên cứu khu hệ động vật ở Indonesia (1951, 1955, 1957) Ông đãcung cấp những thông tin cơ bản về Cánh lông ở khu vực nghiên cứu này Cánhlông ở Borneo đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lần đầu bởi Kimmins (1955) ỞPhilippin, Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở khu vựcnày Tiếp đến là Ulmer (1955, 1957) nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng Trongkhi đó các hướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai đoạn trưởng thành Đặc biệttrong giai đoạn gần đây việc nghiên cứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càngđược quan tâm như: Kimmis (1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989),Chantaramongkol (1986, 1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 -
1998, 2002-2004), Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000),Mey (1989, 1990, 1995 - 1999, 2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992,1994), Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong(2003) [15] Ismail (1993, 1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấu trùngCánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á [17]
Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh lôngcũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ, Srilanka đượcnghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang,1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987) Trong giai đoạn hiện nay, hướngnghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn
Trang 17trùng này được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu Do đó, các công trình liênquan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiện ngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins(1996) [15] Ở khu vực Bắc Mỹ, Merritt R W & Cummins K W (1996), đã xâydựng khóa định loại tới giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởngthành [16].
* Nghiên cứu về Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côn trùngbiến thái hoàn toàn Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài được biết trên thếgiới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae Giai đoạn trưởng thành ở cạn
và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm Tuy nhiên, giai đoạn ấu trùng lại sốngdưới nước và ăn thịt các loài động vật [17]
Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọt như:sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ Chúng trải qua 5lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình Ấu trùng rời khỏicác thủy vực nước ngọt và hóa nhộng Các loài thuộc họ này lại phân bố rất hẹp Ởchâu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một
số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [17]
* Nghiên cứu về Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng là bộ lớn nhất trong giới Động vật Hiện nay, số loài thuộc bộcôn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và khoảng 10.000 thuộc nhómcôn trùng nước [17] Theo các kết quả nghiên cứu nhóm sống dưới nước được xem là
đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới Hiện nay, các công trình nghiên cứu về
bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học, sinh thái học, tiến hóa như: cácnghiên cứu của Feng (1932, 1933), Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969),Nertrand (1973), Jach (1984) Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji(1995, 1998, 2003) [18] đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại họccủa bộ Cánh cứng ở châu Á
Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đã địnhloại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng 510 loài
Trang 18và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc bộ Cánhcứng [17].
* Nghiên cứu về Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công bố,đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich
& Hortle (1989) Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977)
đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ở miền Ấn
Độ - Mã Lai Khóa định loại tới họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiện theo khóađịnh loại được xây dựng bởi Harris (1990) [17]
* Nghiên cứu về Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh nửasống ở nước (Dudgeon, 1999) Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loài chiếm ưuthế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân họ đặc hữu ởkhu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994) [18]
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá sớmbằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972,1973) [17] Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidaeđược nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đớichâu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser & Chen (1991,1992), Sites và cộng sự (1997) [18] Merritt & Cummins (1996), Morse & cộng sự(1994) đã xây dựng khóa định loại tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khuvực Bắc Mỹ và Trung Quốc [16] [17]
Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha vàLeptopodomorpha Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côn trùng sốngtrên bề mặt của nước Trong phân bộ này, có hai họ lớn là Velliidae (trên thế giới cókhoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài) (Chen và cộng sự, 2005) TheoBendell (1988), Damgaard & Andersen (1996) các loài trong họ Gerridae được xemnhư những sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước [27]
Trang 19* Nghiên cứu về Cánh vảy (Lepidoptera)
Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae vàCrambidae sống ở nước Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu là vềphân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck & Solis(1994) và Munroe (1995) [16] Trong các nghiên cứu này, các tác giả cũng đã thànhlập khóa định loại cụ thể tới loài
1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam
* Nghiên cứu về Phùdu (Ephemeroptera)
Ở Việt Nam, trong những năm đầu của thế kỷ 20, các mô tả về Ephemeropteracũng được đề cập và quan tâm nghiên cứu Mở đầu cho những nghiên cứu vềEphemeroptera ở Việt Nam, nhà côn trùng học Lestage (1921, 1924), đã mô tả mộtloài mới của bộ Phù du cho khoa học, dựa vào mẫu vật được lưu giữ ở bảo tàng Paris.Ông đặt tên loài là Ephemeraduporti, do các loài thuộc giống Ephemera có kíchthước lớn, phân bố khá rộng và dễ thu thập nên nó được tiếp tục nghiên cứu ở giaiđoạn này Sau đó, Navas (1922, 1925) đã công bố hai loài Ephemera longiventris vàEphemera innotata, cũng dựa trên các mẫu vật thu được ở miền Bắc Việt Nam Chođến nay, hai loài này cũng chưa tìm thấy ở các khu vực phân bố khác, nên có thểxem chúng như là loài đặc hữu cho khu hệ Ephemeroptera ở Việt Nam
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loại cácnhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã đưa rakhoá định loại tới họ ấu trùng Phù du [5]
Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2001, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007,2008) ở một số Vườn Quốc gia của Việt Nam Những nghiên cứu này, đã công bốhàng loạt các kết quả về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và đã bổ sung danhsách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng như xây dựng các khóa định loại tớiloài [19] [20] [22] [23] [24] [25] [26]
Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và 14 họPhù du ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóa định loại và
mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam, nghiên
Trang 20cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù du ở nước ta [20].
Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia TamĐảo đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ Trong đó, có 10 loài lần đầutiên ghi nhận cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, đó là: Platybaetis edmundsiMuller - Liebenau, 1980; Baetiellatrispinata Tong and Dudgeon, 2000; Serratellaalbostriata Tong and Dudgeon, 2000; Torleya arenosa Tong and Dudgeon, 2000;Cincticostella boja Allen, 1975; Ephemera serica Eaton, 1871; Choroterpestrifrucata Ulmer, 1939; Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939; Caenis cornigeraKang and Yang, 1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [7] Ngoài việc phân loạicác loài thuộc bộ côn trùng này, tác giả còn nhận xét về sự phân bố của chúng theo
độ cao của suối Thác Bạc
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia Ba Vì,
Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ Trong đó có một loài ghi nhậnlần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858) [8] Trong khoảngthời gian này, tác giả cũng tiến hành điều tra thành phần loài Phù du ở một số VườnQuốc gia khác ở Việt Nam [9] [10]
* Nghiên cứu về Chuồn chuồn (Odonata)
Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tản mạn vàchưa thành hệ thống Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn trưởng thành
Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những năm đầu thậpniên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà nghiên cứu người Pháp:Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động vật ĐôngDương Trong báo cáo này, ông công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae,Aeshnidae và Agrionidae Trong 139 loài, Martin đã mô tả 9 loài mới và một giốngmới là Merogomphus [2]
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại cácnhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây dựngkhóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [5]
Trang 21Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước
ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ của bộ Chuồnchuồn ở khu vực này Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại thiếu trùngchuồn chuồn ở Việt Nam còn ít Do đó, những mẫu vật thu được mới chỉ phân loạiđến bậc giống [3]
* Nghiên cứu về Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứutrong thơi gian gần đây Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick(1988), Stark và cộng sự (1999) [13], nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạntrưởng thành Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một sốloài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước đó và những điều tra vềsau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam Thêm vào
đó là việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởngthành và ấu trùng ở Việt Nam cũng như sinh thái, nơi ở của chúng Cao Thị KimThu (2002), đã xây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam Công trình là
cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [13]
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước
ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp Kết quả chothấy số loài Cánh úp ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ [7]
* Nghiên cứu về Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Những tài liệu vềCánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu Âunhư: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913) Sau những nghiên cứu đầutiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và Paraphlegopteryx tonkinensis,ông đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về Cánh lông ở Việt Nam Tiếp theo,Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930, 1932, 1933) đã mô tả một số loài thuộc cáctổng họ của Hydropsychoidae, Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae,Limnephiloidae và Rhyacophiloidae Banks (1931) và Mosely (1934) [12] nghiêncứu về Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae Oláh (1987 - 1989)
mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae [15]
Trang 22Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng khóađịnh loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta Hoàng Đức Huy (2005) mô
tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở Việt Nam dựa vàogiai đoạn ấu trùng [5]
* Nghiên cứu về Cánh cứng, Hai cánh, Cánh nửa, Cánh vảy và Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh(Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản mạn.Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường đi cùng vớicác công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn VănVịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo [19]; Cao Thị Kim Thu,Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã[14], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vậtkhông xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam [5]
Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt đầu vàonhững năm đầu của thế kỷ XX Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae (Hemiptera) được
mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903 thuộc Bắc Việt Nam Tiếptheo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được mô tả bởi Andersen (1975, 1980,1993); Andersen & Cheng (2004); Polhemus (2001); Chen & Zettel (1999), Polhemus & Andersen (1994); Polhemus & Karunaratne (1993) [27]
Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của cácloài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộCánh nửa ở nước ta [27]
1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
1.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lí
Vị trí: Khu vực nghiên cứu chính thuộc địa bàn xã Đại Đình, là xã miền núinằm ở phía Bắc của huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Phía Đông Bắc Đại Đình làdãy núi Tam Đảo hùng vĩ nằm án ngữ tạo nên gianh giới tự nhiên giữa tỉnh Vĩnh
Trang 23Phúc và tỉnh Thái Nguyên, phía Tây Đại Đình giáp huyện Lập Thạch, phíaNam giáp các xã Đồng Tĩnh, Hoàng Hoa, Tam quan Xã có tuyến đường tỉnh lộ 302chạy qua, tạo thuận lợi cho Đại Đình trong quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa – xãhội Nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 65 km về phía Tây Bắc Tổng diện tích tựnhiên toàn xã là 3452 ha, Trong đó diện tích trồng trọt là 512 ha, còn lại là đất đồirừng, thổ cư và ao hồ.
1.3.1.2 Đặc điểm khíhậu.
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khíhậu nhiệt đới mưa mùa (mùa mưa từtháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), chịu ảnh hưởngcủa hai loại gió chính là gió mùa Đông - Bắc và gió Đông - Nam
Nhiệt độ không khí trung bình năm là 22 - 230C Độ ẩm tương đối khoảng 80
-860C Lượng mưa trung bình quân năm 2570 mm, phân bố không đều trong năm.Tam Đảo nằm trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc nên chịu ảnhhưởng của nhiệt đới gió mùa ẩm Mưa bão có sự tác động tiêu cực đến sản xuất
và đời sống Chế độ gió theo mùa, mùa hè chủ đạo là gió Đông Nam, mùa đôngchủ đạo là gió mùa Đông Bắc
1.3.1.3 Mạng lưới thủy văn
Đại Đình có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây (TuyênQuang, Vĩnh Phúc) và sông Công ở phía Đông (Thái Nguyên) Đường phân thủy rõrệt nhất của hai hệ thống sông này là các đường dông nối các đỉnh núi suốt từ MỹKhê ở cực Nam đến Đèo Khế ở điểm cực Bắc
Mật độ sông suối khá dày (trên 2 km/km2), các suối có thung lũng hẹp, đáynhiều ghềnh thác, độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước kém Do đặc điểm khíhậumưa lớn, mùa mưa kéo dài, lượng bốc hơi ít nên cán cân nước dư thừa Đó lànguyên nhân làm các dòng chảy từ đỉnh Tây Thiên xuống có nước quanh năm.Chế độ thủy văn được chia thành 2 mùa khá rõ rệt: mùa lũ và mùa khô Mùa lũtrùng với mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3năm sau Lũ lớn thường xảy ra vào tháng 8, lũ tập trung nhanh và rút cũng nhanh
Trang 24Dòng chảy trong mùa khô do không có mưa to nên nguồn nước cung cấp chosông chủ yếu là do nước ngầm (phụ thuộc vào lớp vỏ phong hóa địa chất và lượngmưa phùn mùa đông) Do đó, cả hai sông: Phó Đáy và sông Công đều có dòng chảyrất nhỏ Như vậy, khả năng cung cấp nước cho mùa đông là rất hạn chế Trong vùngcũng có những hồ chứa cỡ lớn như: hồ Núi Cốc, hồ Đại Lải; các hồ cỡ trung bìnhhoặc nhỏ như: hồ Xạ Hương, Khôi Kỳ, Phú Xuyên, Linh Lai…Đó là nguồn dự trữnước khá phong phú phục vụ nhu cầu dân sinh và sản xuất của nhân dân trong vùng.
Hệ thống suối chính ở Tây Thiên là suối Tây Thiên Suối có nhiệt độ nước tươngđối thấp, ít khi tăng cao và có xu hướng ổn định Do đặc điểm địa hình chảy từ độdốc trên 35m nên có tốc độ nước chảy mạnh, cuốn theo các chất mùn bã Vìvậysuối ở đây khá trong, hầu như không có hiện tượng lắng đọng Nền đáy suối chủyếu là đá tảng, ít chất mùn Vào mùa mưa lưu lượng dòng nước khá lớn thườngcuốn theo mùn bã thực vật, xác động vật, lá khô… Do đó mùa này, nước suốithường vẩn đục Trong khi đó vào mùa khô dòng nước chảy từ các mạch nướcngầm với tốc độ chậm hơn nhiều
1.3.2 Khái quát kinh tế xã hội
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14 – 15%/năm, lương thực bình quânđầu người đạt 350 kg/người/năm, thu nhập bình quân đầu người 11,2 triệuđồng/người/năm Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến rõ rệt, nhờ có tiềm năng, lợi thế
về du lịch tâm linh, tín ngưỡng, sinh thái mà ngành dịch vụ - du lịch ngày càngchiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu ngành kinh tế Năm 2011, du lịch – dịch vụ chiếm34%, nông lâm thủy sản chiếm 42% và công nghiệp – xây dựng chiếm 24% Giá trịsản xuất nông nghiệp 5 năm qua của xã đạt 70,7 tỷ đồng, giá trị sản xuất côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vận tải đạt 40,657 tỷ đồng Tổng thu nhập từ hoạtđộng du lịch năm năm trở lại đây đạt 60 tỷ đồng
An ninh, trật tự an toàn xã hội luôn đảm bảo Hàng năm xã thực hiện tốt côngtác dân vận, hoàn thành tốt việc quyển chọn và gọi công dân nhập ngũ và công táchuấn luyện dân quân tự vệ, nhiều năm ban Chỉ Huy Quân Sự xã được cấp trên khenthưởng và tặng nhiều bằng khen
Trang 25Xã Đại Đình được tỉnh, huyện đầu tư nhiều công trình trọng điểm như: Khutrung tâm Văn hóa lễ hội Tây Thiên, Bảo Tháp, chùa Thiên Ân, làng văn hóa dulịch cộng đồng (thôn Đồng Thỏng), quy hoạch, trùng tu tôn tạo lại các nhàđền thuộc Khu danh thắng Tây Thiên… Hiện nay, các hạng mục công trình đangđược triển khai xây dựng và hoàn thiện Khi đi vào hoạt động đây sẽ là nhữngđiểm du lịch tâm linh, tín ngưỡng thăm quan thắng cảnh lý tưởng thu hút dukhách thập phương trong và ngoài nước Dự kiến trước năm 2020 Tây Thiên sẽtrở thành thị trấn và là Trung tâm lễ hội của tỉnh Vĩnh Phúc.
Trang 26Chương 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mẫu vật là các loài côn trùng nướcthu được ở suối Tây Thiên độ cao 28 - 90 m tại xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnhVĩnh Phúc
2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu được thực hiện từ tháng 08/2016 đến tháng
04/2017 Mẫu vật sử dụng trong nghiên cứu được thực hiện từ ngày 25/08/2016 đến ngày 28/08/2016
Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại phòng thínghiệm Động vật học, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu tại 5 điểm nghiên cứu thuộc hệ thống suối TâyThiên, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc ở độ cao 28 - 90m Và cácđiểm thu mẫu được đánh số thứ tự từ TT1 đến TT5 theo độ cao tăng dần so vớimực nước biển (Hình 2.1)
Trang 27Hình 2.1 Sơ đồ vị trícác điểm thu mẫu tại suối Tây Thiên
Trong quá trình thu mẫu các thông số về sinh cảnh tại mỗi điểm thu mẫu đều được ghi đầy đủ (Bảng 2.1)
Trang 28Bảng 2.1 Một số đặc điểm sinh cảnh tại các điểm thu mẫu ở suối Tây Thiên
thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Kí hiệu Điểm thu mẫu Độ cao Khái quát đặc điểm sinh cảnh
(m)/Tọa độTT5 Điểm 5 90 Suối nằm ngay trạm cáp treo lên
đềnThượng Tây Thiên Suối là điểm dulịch của khu di tích, chịu tác độngcủa con người Trong suối có nhiềucây cao khoảng 2 - 2,2m Trong suối
có nhiều rác thải Nước suối chảybình thường
Trong suối có nhiều đá tảng lớnthình thoảng có cát và sỏi nhỏ
Độ sâu : 20 40cm, có chỗ 50 70cm Một số hộ dân ngăn dòng làmthủy điện nhỏ Độ che phủ thấp : 2 -
-(210 28,232’;
1050 35,477’)
TT4 Điểm 4 88 Trong suối có rất nhiều cây từ 1,5
-3m Một số hộ dân ngăn đập làmthủy điện nhỏ Suối tương đối nhiềurác thải hữu cơ Nền đáy của suốichủ yếu là đá tảng, thỉnh thoảng có
đá nhỏ và trung bình, đôi khi có cát
và sỏi nhỏ Độ sâu từ : 10 - 40cm, cónơi đến 50cm Độ che phủ : 10 -30%
(21028,236’ ;
105035,261’)
TT3 Điểm 3 84 Hai bên suối có nhiều cây bụi nhỏ,
giữa suối có nhiều loài thực vật sinhsống Suối bị tác động mạnh của conngười: khai thác đá, ngăn dòng làm(21028, 053’ ;
105034, 887’)
Trang 29thủy điện nhỏ Suối có nhiều rêu,nền đáy có nhiều đá nhỏ và trungbình Nước suối chẩy bình thường
đọ sâu khoảng 25cm Độ che phủ : 5
- 10%
TT2 Điểm 2 82 Một bên núi là rừng , một bên là
(210 28,173’ ; đường đi lên cáp treo Suối bị tác
105035,077’ ) động mạnh do con người khai thác
đá làm vật liệu xây dựng Giữa suối
có nhiều cây bụi sinh sống Nướcsuối chảy bình thường, độ sâukhoảng: 25cm Độ che phủ: 0 - 5%.TT1 Điểm 1 28 Hai bên suối là ruộng canh tác Suối
chảy qua đường vào khu Tây Thiên.Suối chủ yếu là vùng nước tĩnh lớn,nền đáy chủ yếu là sỏi và đá trungbình không có đá tảng Suối chịu tácđộng mạnh của con người Độ chephủ : 0 - 5%
(210 26,486’ ;
105034,320’ )
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Đa dạng về thành phần loài của côn trùng tại suối Tây Thiên độ cao 28 - 90m
- Mức độ tương đồng về thành phần loài côn trùng nước giữa các điểmnghiên cứu
- Một số đặc điểm quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên
Trang 30Tiến trình thu mẫu được thực hiện theo phương pháp của Merritt vàCummins(1996)[16], Morse và cộng sự (1994)[17], Nguyen (2003)[21].
Quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Handnet) Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber (50cm x 50cm, kích thướcmắt lưới 0,2mm) Tôi tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòngnước, dùng chân đạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước) Ở nơi
có nhiều bụi cây dùng vợt tay để thu mẫu Ở những nơi đáy có đá lớn không thumẫu đạp nước được thì nhấc đá và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để tránhlàm nát mẫu Thu mẫu định tính được thực hiện ở cả nơi nước chảy và nước đứng
Ở nhiều nơi có cây bụi thủy sinh dùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễ cây ven
bờ suối, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp việc thu mẫu được tiến hànhbằng vợt cầm tay
Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber lấy 2 mẫu: 1 mẫu ở nơi nướcđứng và 1 mẫu ở nơi nước chảy Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùnđất Do các cá thể côn trùng nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phảinhẹ nhàng và nhặt qua mẫu ngay tại thực địa Mẫu thu ngoài thực địa được bảoquản trong cồn 800, ghi etiket đầy đủ và đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích vàđịnh loại tại phòng thí nghiệm Động vật học, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.5.2 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm:
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay Dùng panh nhặt cácđại diện của ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước ở trong đó, mẫu sau khinhặt cho vào lọ và bảo quản trong cồn 800
Phương pháp phân tích:
+ Dụng cụ phân tích gồm: kính soi nổi, đĩa petri, kim nhọn, panh
+ Phân loại mẫu vật: mẫu vật được phân loại theo các khóa định loại đượccông bố trong và ngoài nước của Nguyễn Văn Vịnh (2003) [21], Cao Thị Kim Thu(2002) [13], Hoàng Đức Huy (2005) [15], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001)
Trang 31[8], Meritt R W và Cummins K W (1996) [16], Morse J C., Yang L & Tian L (1994) [17].
2.5.3 Một số chỉ số đa dạng sinh học
Chỉ số đa dạng sinh học (ĐDSH) được sử dụng trong đề tài là chỉ số Shannon
- Weiner (chỉ số H’)
Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) nhằm xác định lượng thông tin hay
tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Chỉ số Shannon Weiner được tính bằng cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị phân loại chia chotổng số cá thể trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số đó Tổng các đơn vịphân loại
-cho chỉ số đa dạng Công thức để tính chỉ số này là:
Trang 32N: số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu
ni: số lượng cá thể của loài i
Hai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon - Weiner
là số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy,
số lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các cá thể giữa cácloài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài được xác địnhthông qua hàm số Shannon - Weiner
Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau đây [1]:
Trang 33n2: số lượng cá thể của loài ưu thế thứ hai N: tổng số cá thể trong điểm thu mẫu
Chỉ số tương đồng (chỉ số Jacca - Sorensen): được chúng tôi sử dụng để
đánh giá mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu
Chỉ số này được tính theo công thức:
K 2 c
a b
Trong đó: a: số loài trong điểm thu mẫu thứ
nhất b: số loài trong điểm thu mẫu thứ hai
c: số loài chung cho cả hai điểm thu mẫu
K nhận giá trị từ 0 đến 1 Giá trị K càng gần 1 thì mức độ giống nhau về thànhphần loài của các điểm nghiên cứu càng lớn Các giá trị của K tương ứng với mứctương đồng như sau:
Số liệu thu thập được xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị Các số liệu được xử
lý bằng phần mềm Microsoft office exel 2010 và phần mềm Primer 6
Trang 34Số lƣợng Tỉ lệ (%)
Số lƣợng Tỉ lệ (%)
Số lƣợng Tỉ lệ (%)
3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại khu vực nghiên cứu đã xác định được
54 loài của 45 giống thuộc 26 họ của 8 bộ côn trùng nước Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước tại
khu vực nghiên cứu