Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu .... Số lượng cá thể của các bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu trên đơn vị diện tích 1,5m2....
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN HIẾU
HÀ NỘI, 2017
Trang 2Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, côgiáo, các anh chị và các bạn đồng môn trong tổ Động vật, Khoa Sinh - Kỹthuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đãtruyền đạt kiến thức và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiệnkhóa luận.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã độngviên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứukhoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Dương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kếtquả nghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận là do nghiên cứu, thựctiễn đảm bảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trìnhkhoa học, trong các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sáchchuyên khảo,… nào khác
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Dương
Trang 4CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU 172.1 Thời gian nghiên cứu 172.2 Địa điểm nghiên cứu 172.3 Đối tượng và phương phápnghiên cứu
Trang 53.1.1 Thành phần loài Phù du (Ephemeroptera) 30 3.1.2 Thành phần loài Chuồn chuồn (Odonata) 31
Trang 63.1.3 Thành phần loài Cánh úp
(Plecoptera) 32
3.1.4 Thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera) 32
3.1.5 Thành phần loài Cánh cứng (Coleoptera) 32
3.1.6 Thành phần loài Cánh rộng (Megaloptera) 33
3.1.7 Thành phần loài Hai cánh (Diptera) 33
3.1.8 Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera) 33
3.1.9 Thành phần loài Cánh vảy (Lepidoptera) 34
3.2 So sánh số lượng và mức độ tương đồng thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 34
3.2.1 So sánh số lượng loài giữa các điểm nghiên cứu 34
3.2.2 Mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 37
3.3 Một số đặc điểm quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 40
3.3.1 Mật độ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 40
3.3.2 Loài ưu thế và chỉ số đa dạng 42
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
A1: Điểm thu mẫu 1A2: Điểm thu mẫu 2A3: Điểm thu mẫu 3A4: Điểm thu mẫu 4A5: Điểm thu mẫu 5
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng
nước tại khu vực nghiên cứu 23Bảng 3.2 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 25Bảng 3.3 Số loài thu được của các bộ côn trùng nướcở các điểm nghiên
cứu 35Bảng 3.4 Chỉ số Jacca - Sorensen giữa các điểm nghiên cứu 38Bảng 3.5 Số lượng cá thể của các bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên
cứu (trên đơn vị diện tích 1,5m2) 40Bảng 3.6 Loài ưu thế, chỉ số loài ưu thế (DI) và chỉ số đa dạng sinh học
Shannon - Weiner (H’) 42
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu tại suối Tây Thiên 17
Hình 3.1 Tỷ lệ % số loài theo bộ tại khu vực nghiên cứu 24
Hình 3.2 Số loài của mỗi bộ côn trùng nước ở các điểm nghiên cứu 35
Hình 3.3 Sơ đồ tương đồng thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 38
Hình 3.4 Sơ đồ MDS về mức độ tương đồng tại khu vực nghiên cứu 39
Hình 3.5 Số cá thể của mỗi bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 41
Trang 101
Trang 111 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Côn trùng ở nước giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nước ngọt và
có mặt hầu hết trong các thủy vực nội địa, đặc biệt rất phổ biến ở các hệ thốngsông, suối thuộc vùng trung du, núi cao Mỗi một môi trường thủy vực, nhómsinh vật này đều có những đặc tính thích nghi phù hợp So với nhiều nhómsinh vật khác, côn trùng nước có nhiều đặc tính nổi trội như số lượng loài, sốlượng cá thể lớn… Đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếu trongchuỗi và lưới thức ăn: vừa là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 vừa lànguồn thức ăn của của cá và nhiều loài động vật có xương sống khác Vì vậychúng tham gia tích cực trong vai trò cân bằng mối quan hệ dinh dưỡng ở hệsinh thái thủy vực
Nhiều loài côn trùng nước có quan hệ mật thiết đối với con người Một
số loài côn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh Đáng chú ý là những nhóm giữ vai trò quan trọng trong dịch tễ học như các
loài thuộc giống Anopheles, Aedes thuộc bộ Hai cánh (Diptera)… Giai đoạn
trưởng thành của các chúng là những vector truyền bệnh sốt rét, sốt vàng dacho người Khác với nhóm côn trùng trên cạn, phần lớn các loài thuộc côntrùng nước tồn tại cả trong môi trường nước và trong môi trường cạn Do vậy,chúng là đối tượng lý tưởng dùng trong các nghiên cứu về sinh thái học vàsinh học tiến hóa Đa phần các loài Côn trùng nước đều nhạy cảm với cácbiến đổi của môi trường nước Vì vậy hiện nay, một trong những hướngnghiên cứu quan trọng về nhóm côn trùng nước là dùng đối tượng này làm chỉthị chất lượng môi trường
Trên thế giới đã có rất nhiều thành tựu nghiên cứu trên đối tượng côntrùng nước, từ việc phân loại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái,sinh sản, di truyền, tiến hóa … Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn
Trang 12trùng nước cũng đã được quan tâm nghiên cứu Xã Đại Đình, huyện TamĐảo, tỉnh Vĩnh Phúc là nơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đadạng côn trùng nước cao Tuy nhiên, việc nghiên cứu về nhóm sinh vật nàyvẫn chưa được quan tâm nhiều Để góp phần tìm hiểu nhóm sinh vật có ý
nghĩa này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Một số dẫn liệu về côn
trùng nước tại suối Tây Thiên độ cao từ 178 - 351m thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”.
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới
Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới,đặc biệt ở những nước phát triển Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liênquan đến từng bộ của nhóm côn trùng này, từ những nghiên cứu về phân loạihọc (Eaton, 1871, 1883 - 1888; Lepneva, 1970, 1971; McCafferty, 1973,1975; Kawai, 1961, 1963), sinh thái học (Brittain, 1982), tiến hoá (Edmunds,1972; McCafferty, 1991) đến những nghiên cứu về ứng dụng (Morse, 1984)[16] Đặc biệt đã có nhiều nghiên cứu về các nhóm côn trùng nước gắn bóchặt chẽ với đời sống con người mà đa phần là tác nhân gây bệnh hoặc tácnhân truyền bệnh cho người và động vật như: ruồi, muỗi,… Điển hình là cácnghiên cứu của Resh và Rosenberg, 1979; Merritt và Cummins, 1984; Merritt
và Newson, 1978; Kim và Merritt, 1987 [16]
Việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị chất lượngnước đã được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX qua các công trìnhnghiên cứu của Kuehne (1962), Bartsch và Ingram (1966), Wilhm và Dorris(1968) Sang những năm 1970, 1980 côn trùng nước trở thành vấn đề trungtâm trong các nghiên cứu về sinh thái học ở các thủy vực nước ngọt (Barnes
và Minshall, 1983) [16] Đã từ lâu, các nhà khoa học sớm nhận ra vai trò quantrọng của côn trùng nước trong các hệ sinh thái, do đó phạm vi nghiên cứucôn trùng nước ngày càng được mở rộng, các hướng nghiên cứu không chỉdừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như:biến động quần thể côn trùng, các mối quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầucủa sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984; Cummins, 1994) [16]
Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bốhàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty W.P.,
Trang 141983; Kawai T., 1985; John C.M., Yang Lianfang và Tian Lixin, 1994; Yoon,I.B., 1995; Merritt R W và Cummins K W., 1996; … Các nghiên cứu này
đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về côn trùng nước bao gồm cả phânloại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng
Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộcnhóm Côn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata),Cánh lông (Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánhcứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy(Lepidoptera)
* Nghiên cứu về Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậmchí còn được xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Dựa vào nhữngbằng chứng hóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷCacbon và đầu kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm[11] Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ rất sớm Công trình nghiên cứuđầu tiên về phân loại học Phù du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus(1758) Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng vào một
nhóm là Ephemera [19].
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điểnhình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933),Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự(1935) [6]
Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42
họ và hơn 400 giống của bộ Phù du Các nghiên cứu về Phù du, đặc biệt làphân loại học vẫn đang phát triển, vẫn còn nhiều loài chưa được mô tả, nhất là
ở các khu vực nhiệt đới [11]
Trang 15Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du đượcthực hiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925),Lestage (1921, 1924) [21].
Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù
du là sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù
du rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình củaLanda và Soldan (1991), Bufagni (1997) [21]
* Nghiên cứu về Chuồn chuồn (Odonata)
Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếutrùng sống trong nước cho đến giai đoạn trưởng thành Vòng đời của chúngtrải qua 3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành Thiếu trùng thườngsống trong nước, chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởngthành sống trên cạn Bộ Chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộAnisozygoptera, phân bộ Zygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộAnisoptera (Chuồn chuồn ngô) Phân bộ Anisozygoptera chỉ có 1 giống là
Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố ở độ cao khoảng 2.000m ở
những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao Himalaya (Tani & Miyatake,1979; Kumar & Khanna, 1983) Hai phân bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơinước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùng phong phú [17]
Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những côngtrình nghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học của Corbet(1999), Silsby (2001) [4] Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giaiđoạn trưởng thành Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida & Ishida (1985) đãxây dựng khóa định loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á[2]
* Nghiên cứu về Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp được biết khoảng 2.000 loài và làmột trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có
Trang 16cánh hiện nay Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi,
nó có những đặc điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ởphần ngực (Hynes, 1976) [13]
Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có
3 đốt bàn nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy nhưmột số loài thuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu) Chúng có ăng ten dàidạng chỉ, tơ đuôi khá dài đặc biệt là các thiếu trùng ở nước Hầu hết, cánh củacác loài thuộc bộ Cánh úp rất phát triển nhưng đôi khi lại ngắn Các đặc điểm
đó dùng để phân biệt chúng với bộ Cánh màng Ấu trùng bộ Cánh úp trải quathời gian dài sống ở nước Các thiếu trùng Cánh úp giống con trưởng thành ởnhiều đặc điểm Thiếu trùng luôn có tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ởgiữa Mang nếu có, chỉ tìm thấy ở phần ngực và phần bụng được tạo thànhgiữa các tơ đuôi Thiếu trùng sống chủ yếu ở nước, có một vài loài sống trongđất ẩm (Harpers và Stewart, 1996) [13]
Morse J C., Yang Lianfang & Tian Lixin (1994); Merritt & Cummins(1996) khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả
đã xây dựng khóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở choviệc định loại các loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này[17]
* Nghiên cứu về Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú Nhữngnghiên cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiệnbởi Ross (1956, 1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởiMorse (1997) [15]
Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer(1911, 1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930,1932), đặc biệt là Ulmer khi nghiên cứu khu hệ động vật ở Indonesia (1951,
1955, 1957) Ông đã cung cấp những thông tin cơ bản về Cánh lông ở khu
Trang 17vực nghiên cứu này Cánh lông ở Borneo đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lầnđầu bởi Kimmins (1955) Ở Philippin, Banks (1937) là người đầu tiên nghiêncứu khu hệ Cánh lông ở khu vực này Tiếp đến là Ulmer (1955, 1957) nghiêncứu dựa vào giai đoạn ấu trùng Trong khi đó các hướng nghiên cứu khác lạidựa vào giai đoạn trưởng thành Đặc biệt trong giai đoạn gần đây việc nghiêncứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càng được quan tâm như: Kimmis(1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989), Chantaramongkol (1986,
1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 - 1998, 2002-2004),Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000), Mey (1989,
1990, 1995 - 1999, 2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992, 1994),Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong(2003) [15] Ismail (1993, 1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấutrùng Cánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á [17]
Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệCánh lông cũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ,Srilanka được nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc(Martynov, 1931; Wang, 1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987) Tronggiai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa trên đốitượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này được nhiều nhà khoa học quantâm tìm hiểu Do đó, các công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiệnngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins (1996) [15] Ở khu vực Bắc
Mỹ, Merritt R W & Cummins K W (1996), đã xây dựng khóa định loại tớigiống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành [16]
* Nghiên cứu về Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhómcôn trùng biến thái hoàn toàn Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loàiđược biết trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae Giai
Trang 18đoạn trưởng thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm Tuynhiên, giai đoạn ấu trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [17].
Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nướcngọt như: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ.Chúng trải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời củamình Ấu trùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng Các loài thuộc
họ này lại phân bố rất hẹp Ở châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đớithuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [17]
* Nghiên cứu về Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng là bộ lớn nhất trong giới Động vật Hiện nay, số loàithuộc bộ côn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và khoảng10.000 thuộc nhóm côn trùng nước [17] Theo các kết quả nghiên cứu nhómsống dưới nước được xem là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới Hiệnnay, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học,sinh thái học, tiến hóa như: các nghiên cứu của Feng (1932, 1933),Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969), Nertrand (1973), Jach(1984) Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji (1995, 1998,2003) [18] đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộCánh cứng ở châu Á
Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đãđịnh loại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng
510 loài và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc
bộ Cánh cứng [17]
* Nghiên cứu về Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa họccông bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer(1934), Zwich & Hortle (1989) Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy
Trang 19(1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loàicủa bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã Lai Khóa định loại tới họ và giống hiệnnay chủ yếu thực hiện theo khóa định loại được xây dựng bởi Harris (1990)[17].
* Nghiên cứu về Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánhnửa sống ở nước (Dudgeon, 1999) Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loàichiếm ưu thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân
họ đặc hữu ở khu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994) [18]
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khásớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury(1972, 1973) [17] Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như:Nepidae được nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ởvùng nhiệt đới châu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser
& Chen (1991, 1992), Sites và cộng sự (1997) [18] Merritt & Cummins(1996), Morse & cộng sự (1994) đã xây dựng khóa định loại tới giống của các
họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc Mỹ và Trung Quốc [16] [17]
Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha vàLeptopodomorpha Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côntrùng sống trên bề mặt của nước Trong phân bộ này, có hai họ lớn làVelliidae (trên thế giới có khoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài)(Chen và cộng sự, 2005) Theo Bendell (1988), Damgaard & Andersen (1996)các loài trong họ Gerridae được xem như những sinh vật chỉ thị cho chấtlượng môi trường nước [27]
* Nghiên cứu về Cánh vảy (Lepidoptera)
Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae
và Crambidae sống ở nước Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu
là về phân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987),
Trang 20Habeck & Solis (1994) và Munroe (1995) [16] Trong các nghiên cứu này,các tác giả cũng đã thành lập khóa định loại cụ thể tới loài.
1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam
* Nghiên cứu về Phù du (Ephemeroptera)
Ở Việt Nam, trong những năm đầu của thế kỷ 20, các mô tả vềEphemeroptera cũng được đề cập và quan tâm nghiên cứu Mở đầu cho nhữngnghiên cứu về Ephemeroptera ở Việt Nam, nhà côn trùng học Lestage (1921,1924), đã mô tả một loài mới của bộ Phù du cho khoa học, dựa vào mẫu vật
được lưu giữ ở bảo tàng Paris Ông đặt tên loài là Ephemeraduporti, do các
loài thuộc giống Ephemera có kích thước lớn, phân bố khá rộng và dễ thuthập nên nó được tiếp tục nghiên cứu ở giai đoạn này Sau đó, Navas (1922,
1925) đã công bố hai loài Ephemera longiventris và Ephemera innotata, cũng
dựa trên các mẫu vật thu được ở miền Bắc Việt Nam Cho đến nay, hai loàinày cũng chưa tìm thấy ở các khu vực phân bố khác, nên có thể xem chúngnhư là loài đặc hữu cho khu hệ Ephemeroptera ở Việt Nam
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loạicác nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đãđưa ra khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du [5]
Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2001, 2003, 2004, 2005, 2006,
2007, 2008) ở một số Vườn Quốc gia của Việt Nam Những nghiên cứu này,
đã công bố hàng loạt các kết quả về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và
đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng như xây dựngcác khóa định loại tới loài [19] [20] [22] [23] [24] [25] [26]
Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và
14 họ Phù du ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóađịnh loại và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở
Trang 21Việt Nam, nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếptheo về bộ Phù du ở nước ta [20].
Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc giaTam Đảo đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ Trong đó, có 10loài lần đầu tiên ghi nhận cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, đó là:
Platybaetis edmundsi Muller - Liebenau, 1980; Baetiellatrispinata Tong and Dudgeon, 2000; Serratella albostriata Tong and Dudgeon, 2000; Torleya arenosa Tong and Dudgeon, 2000; Cincticostella boja Allen, 1975; Ephemera serica Eaton, 1871; Choroterpes trifrucata Ulmer, 1939; Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939; Caenis cornigera Kang and Yang, 1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [7] Ngoài việc phân loại các loài
thuộc bộ côn trùng này, tác giả còn nhận xét về sự phân bố của chúng theo độcao của suối Thác Bạc
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia
Ba Vì, Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ Trong đó có một
loài ghi nhận lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858)
[8] Trong khoảng thời gian này, tác giả cũng tiến hành điều tra thành phầnloài Phù du ở một số Vườn Quốc gia khác ở Việt Nam [9] [10]
* Nghiên cứu về Chuồn chuồn (Odonata)
Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tảnmạn và chưa thành hệ thống Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạntrưởng thành Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vàonhững năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một sốnhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo được công bố năm 1902khi điều tra khu hệ động vật Đông Dương Trong báo cáo này, ông công bố
139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae và Agrionidae Trong 139 loài,
Martin đã mô tả 9 loài mới và một giống mới là Merogomphus [2].
Trang 22Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loạicác nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đãxây dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [5].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côntrùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họcủa bộ Chuồn chuồn ở khu vực này Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phânloại thiếu trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít Do đó, những mẫu vật thuđược mới chỉ phân loại đến bậc giống [1]
* Nghiên cứu về Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâmnghiên cứu trong thơi gian gần đây Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai(1968, 1969), Zwick (1988), Stark và cộng sự (1999) [13], nhưng tất cả cácmẫu vật đều ở giai đoạn trưởng thành Mục đích của những nghiên cứu lànhằm xác định lại và mô tả một số loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên nhữngnghiên cứu trước đó và những điều tra về sau của cả giai đoạn trưởng thành
và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam Thêm vào đó là việc xác định khóađịnh loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng ởViệt Nam cũng như sinh thái, nơi ở của chúng Cao Thị Kim Thu (2002), đãxây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam Công trình là cơ sởkhoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [13]
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côntrùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộCánh úp Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 12loài thuộc 3 họ [7]
* Nghiên cứu về Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Những tài liệu
về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước
Trang 23châu Âu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913) Sau những
nghiên cứu đầu tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và Paraphlegopteryx tonkinensis, ông đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về
Cánh lông ở Việt Nam Tiếp theo, Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930,
1932, 1933) đã mô tả một số loài thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae,Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae vàRhyacophiloidae Banks (1931) và Mosely (1934) [12] nghiên cứu vềHydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae Oláh (1987 - 1989)
mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae[15]
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựngkhóa định loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta Hoàng ĐứcHuy (2005) mô tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ởViệt Nam dựa vào giai đoạn ấu trùng [5]
* Nghiên cứu về Cánh cứng, Hai cánh, Cánh nửa, Cánh vảy và Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera),Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng(Megaloptera) còn tản mạn Các nghiên cứu thường không tập trung vào một
bộ cụ thể mà thường đi cùng với các công trình nghiên cứu về khu hệ côntrùng nước nói chung như: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở VườnQuốc gia Tam Đảo [19]; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon JaeBae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã [14], Nguyễn Xuân Quýnh
và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật không xương sống nướcngọt thường gặp ở Việt Nam [5]
Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắtđầu vào những năm đầu của thế kỷ XX Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae
(Hemiptera) được mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903
Trang 24thuộc Bắc Việt Nam Tiếp theo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được
mô tả bởi Andersen (1975, 1980, 1993); Andersen & Cheng (2004);Polhemus (2001); Chen & Zettel (1999), Polhemus & Andersen (1994);Polhemus & Karunaratne (1993) [27]
Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài củacác loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học cho các nghiêncứu về bộ Cánh nửa ở nước ta [27]
1.3 Một số đặc điểm tự nhiên của xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
tế, văn hóa - xã hội
1.3.2 Khí hậu
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới mưa mùa(mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 nămsau), chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Đông - Bắc và gióĐông - Nam
bình khoảng 85 - 860C, lượng mưa trung bình quân năm 2570mm, phân bốkhông đều trong năm
Tam Đảo nằm trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc nên chịu ảnhhưởng của chế độ nhiệt đới gió mùa ẩm Mưa bão có sự tác động tiêu cực đến
Trang 25sản xuất và đời sống Chế độ gió theo mùa, mùa hè chủ đạo là gió Đông Nam,mùa đông chủ đạo là gió mùa Đông Bắc.
1.3.3 Mạng lưới thủy
văn
Đại Đình có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây (TuyênQuang, Vĩnh Phúc) và sông Công ở phía Đông (Thái Nguyên) Đường phânthủy rõ rệt nhất của hai hệ thống sông này là các đường dông nối các đỉnhnúi suốt từ Mỹ Khê ở cực Nam đến Đèo Khế ở điểm cực Bắc
đáy nhiều ghềnh thác, độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước kém Do đặc điểmkhí hậu mưa lớn, mùa mưa kéo dài, lượng bốc hơi ít nên cán cân nước dưthừa Đó là nguyên nhân làm các dòng chảy từ đỉnh Tây Thiên xuống có nướcquanh năm
Chế độ thủy văn được chia thành 2 mùa khá rõ rệt: mùa lũ và mùa khô.Mùa lũ trùng với mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), mùa khô từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau Lũ lớn thường xảy ra vào tháng 8, lũ tập trungnhanh và rút cũng nhanh
Dòng chảy trong mùa khô do không có mưa to nên nguồn nước cung cấpcho sông chủ yếu là do nước ngầm (phụ thuộc vào lớp vỏ phong hóa địa chất
và lượng mưa phùn mùa đông) Do đó, cả hai sông: Phó Đáy và sông Côngđều có dòng chảy rất nhỏ Như vậy, khả năng cung cấp nước cho mùa đông làrất hạn chế Trong vùng cũng có những hồ chứa cỡ lớn như: hồ Núi Cốc, hồĐại Lải; các hồ cỡ trung bình hoặc nhỏ như: hồ Xạ Hương, Khôi Kỳ, PhúXuyên, Linh Lai… Đó là nguồn dự trữ nước khá phong phú phục vụ nhu cầudân sinh và sản xuất của nhân dân trong vùng Hệ thống suối chính ở TâyThiên là suối Tây Thiên Suối có nhiệt độ nước tương đối thấp, ít khi tăng cao
và có xu hướng ổn định Do đặc điểm địa hình chảy từ độ dốc trên 35m
Trang 26nên có tốc độ nước chảy mạnh, cuốn theo các chất mùn bã Vì vậy suối ở đâykhá
Trang 27trong, hầu như không có hiện tượng lắng đọng Nền đáy suối chủ yếu là đátảng, ít chất mùn Vào mùa mưa lưu lượng dòng nước khá lớn thường cuốntheo mùn bã thực vật, xác động vật, lá khô… Do đó mùa này, nước suốithường vẩn đục Trong khi đó vào mùa khô dòng nước chảy từ các mạch nướcngầm với tốc độ chậm hơn nhiều.
Trang 28CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2016 đến tháng 4/2017 Mẫu vật sửdụng trong nghiên cứu được thực hiện từ ngày 25 - 28/8/2016 Các điểmđiều tra thuộc khu vực suối Tây Thiên, tỉnh Vĩnh Phúc
Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tạiphòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ở 5 điểm khác nhau, được ký hiệu từ A1đến A5 Các điểm nghiên cứu được sắp xếp theo độ cao tăng dần so với mựcnước biển (Hình 2.1)
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu tại suối Tây Thiên
Trang 29Trước khi tiến hành thu mẫu, chúng tôi ghi lại một số đặc điểm sinhcảnh chính của các điểm thu mẫu:
Điểm 1 (ký hiệu A1): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21023,403’, kinh độ Đông
Thiên Hai bên suối có nhiều nứa và các loài thực vật khác Trong suối đôi khi
có những cây bụi nhỏ Nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng lớn, nước chảymạnh đôi khi tạo thành những vùng nước tĩnh.Trong suối thình thoảng cóđá
và sỏi nhỏ Thời tiết âm u thình thoảng có nắng to Độ che phủ 0 - 10%
Điểm 2 (ký hiệu A2): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21028,437’, kinh độ Đông
nứa Nền đáy của suối chủ yếu là đá trung bình, đôi khi có cát và sỏi nhỏ,thỉnh thoảng có những đá tảng nhiều rêu bám vào đá Độ sâu của suối: 10-
30cm
Điểm 3 (ký hiệu A3): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21028,437’, kinh độ Đông
địa phương, nước suối chảy tương đối mạnh Độ sâu của suối 10 - 50cm Nềnđáy của suối chủ yếu là đá tảng, suối ít mùn bã thực vật Thỉnh thoảng cóđá
nhỏ Độ che phủ của suối khoảng 40 - 60% Sinh cảnh hai bên suối là rừngnguyên sinh
Điểm 4 (ký hiệu A4): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21028,510’, kinh độ Đông
đá trung bình Hai bên suối là rừng nguyên sinh Độ sâu của suối tương đốilớn Suối là điểm du lịch của địa phương Độ che phủ 5 - 10%
Điểm 5 (ký hiệu A5): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21028,595’, kinh độ Đông
Trang 30(E): 105036,483’, độ cao 351m, nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng lớn, thỉnhthoảng có cát và sỏi nhỏ Nước chảy chậm, nước suối tương đối trong Trongsuối có nhiều mùn bã thực vật Cuối điểm thu mẫu là đường đi lênđền
Trang 31Thượng Hai bên suối là rừng nguyên sinh Độ che phủ lớn: 70 - 80% Tronglòng suối đôi khi có một số loài thực vật sinh sống.
2.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mẫu côn trùng nước thu đượctại suối Tây Thiên, mẫu này được bảo quản và lưu trữ tại phòng Động vật,Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên
Theo phương pháp của Merritt và Cummins [16], Morse và cộng sự[17], Nguyen [21], quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợtcầm tay (Hand net) Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber(50cm x 50cm, kích thước mắt lưới 0,2mm) Chúng tôi tiến hành thu mẫubằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng chân đạp phía trướcvợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước) Ở nơi có nhiều bụi cây dùng vợttay để thu mẫu Ở những nơi đáy có đá lớn không thu mẫu đạp nướcđược thì nhấc đá và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để tránh làm nátmẫu Thu mẫu định tính được thực hiện ở cả nơi nước chảy và nước đứng Ởnhiều nơi có cây bụi thủy sinh dùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễcây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp việc thumẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay
Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber lấy 2 mẫu: 1 mẫu ở nơinước đứng và 1 mẫu ở nơi nước chảy Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làmsạch bùn đất Do các cá thể côn trùng nước có cơ thể mềm, dễ nát nênthu mẫu phải nhẹ nhàng và nhặt qua mẫu ngay tại thực địa Mẫu thu ngoàithực địa được bảo quản trong cồn 800, ghi etiket đầy đủ và đem về lưutrữ, bảo quản, phân tích và định loại tại phòng thí nghiệm Động vật, KhoaSinh - Kỹ thuật nông nghiệp,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trang 32* Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm:
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay Dùngpanh nhặt các đại diện của ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước ở trong
Phương pháp phân tích:
- Dụng cụ phân tích gồm: kính soi nổi, đĩa petri, kim nhọn, panh
- Phân loại mẫu vật: mẫu vật được phân loại theo các khóa định loạiđược công bố trong và ngoài nước của Nguyễn Văn Vịnh (2003) [21], CaoThị Kim Thu (2002) [13], Hoàng Đức Huy (2005) [15], Nguyễn Xuân Quýnh vàcộng sự (2001) [8], Meritt R W và Cummins K W (1996) [16], Morse J C.,Yang L & Tian L (1994) [17]
2.3.3 Chỉ số đa dạng sinh học và chỉ số tương đồng
Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) nhằm xác định lượng thông tin hay
tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Chỉ số Shannon
- Weiner được tính bằng cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị phân loạichia cho tổng số cá thể trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số đó Tổng
các đơn vị phân loại cho chỉ số đa dạng Công thức để tính chỉ số này là:
Trang 33N: số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu
ni: số lượng cá thể của loài iHai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon -Weiner là số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa cácloài Do vậy, số lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các
cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạngloài được xác định thông qua hàm số Shannon - Weiner
Trang 34Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau đây [1]:
Chỉ số tương đồng (chỉ số Jacca - Sorensen) được chúng tôi sử dụng để
đánh giá mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu Chỉ
số này được tính theo công thức:
K a b 2 c
Trong đó:a: số loài trong điểm thu mẫu thứ
nhấtb: số loài trong điểm thu mẫu thứ haic: số loài chung cho cả hai điểm thu mẫu
K nhận giá trị từ 0 đến 1 Giá trị K càng gần 1 thì mức độ giống nhau
về thành phần loài của các điểm nghiên cứu càng lớn Các giá trị của K tươngứng với mức tương đồng như sau [5]:
0,00 - 0,20: gần nhau rất ít0,21 - 0,40: gần nhau ít0,41 - 0,60: gần nhau0,61 - 0,80: gần nhau nhiều0,81 - 1,00: rất gần nhau
Trang 352.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft office exel 2007 và phần mềm Primer 6
Trang 36STT Bộ
Số lƣợng
Tỷ lệ
%
Số lƣợng
Tỷ lệ
%
Số lƣợng Tỷ lệ %
Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại khu vực nghiên cứu đã xác địnhđược 89 loài thuộc 78 giống của 43 họ của 9 bộ côn trùng nước Kết quảnghiên cứu được trình bày trong bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước tại
khu vực nghiên cứu
Trang 38Hình 3.1 Tỷ lệ % số loài theo bộ tại khu vực nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng loài thu được tại khu vực nghiêncứu giữa các bộ khác nhau rõ rệt Trong 9 bộ côn trùng nước thu được, bộPhù du thu được số lượng loài nhiều nhất với 27 loài (chiếm 30,4% tổng sốloài), tiếp theo là bộ Chuồn chuồn thu được 20 loài (22,5%), bộ Cánh lông thuđược 18 loài (20,2%), bộ Cánh cứng thu được 8 loài (9%), bộ Cánh nửa với 6loài (6,7%), bộ Hai cánh với 5 loài (5,6%), bộ Cánh úp với 3 loài (3,4%), cuốicùng là bộ Cánh rộng và bộ Cánh vảy chỉ thu được duy nhất 1 loài (1,1%).Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đâycủa Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), Jung S W (2006), Jung S W vàcộng sự (2008) cho rằng ở các thủy vực dạng suối số lượng loài của các bộPhù du, bộ Chuồn chuồn luôn chiếm ưu thế Cũng so với những kết quảnghiên cứu trên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt ở số loàithuộc bộ Cánh lông, bộ này có số lượng loài khá lớn so với các loài khác (18loài), trong khi đó các bộ Cánh rộng, bộ Cánh vảy lại có số lượng loài còn hạnchế Sự khác biệt có thể do thời gian thu mẫu của chúng tôi tại khuvực
Trang 39nghiên cứu ngắn nên chưa bắt gặp nhiều loài thuộc các bộ này Để làm rõhơn tính đa dạng của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi tiếnhành phân tích thành phần loài của từng bộ côn trùng nước Kết quả thểhiện ở bảng 3.2.
Bảng 3.2 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
Trang 4017 Epeorus tiberius Braasch & Soldán, 1984 + +
(5) Họ Leptophlebiidae