1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn đánh giá chất lượng nước suối tây thiên độ cao từ 28cm đến 90m thuộc xã đại đình, huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc (2017)

72 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu bằng hệ thống điểm BMWPVIET và chỉ số ASPT.. Nhưng phương pháp này có một số hạn chế là chỉphản ánh tình trạng thủy vực ngay tạ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

=== ===

NGUYỄN THỊ THỊNH

SỬ DỤNG ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG CỠ LỚN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SUỐI TÂY THIÊN ĐỘ CAO TỪ 28M ĐẾN 90M THUỘC XÃ ĐẠI ĐÌNH, HUYỆN

TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Môi trường

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ

NỘI 2

=== ===

NGUYỄN THỊ THỊNH

SỬ DỤNG ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG CỠ LỚN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SUỐI TÂY THIÊN ĐỘ CAO TỪ 28M ĐẾN 90M THUỘC XÃ ĐẠI ĐÌNH, HUYỆN

TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Môi trường

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN VĂN HIẾU

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Hiếu

- cán bộ giảng dạy Tổ động vật, Khoa Sinh – Kỹ thuật Nông nghiệp, TrườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2 Thầy là người đã định hướng và tận tình chỉ bảo,giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiệnluận văn tốt nghiệp của mình

Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Chủ nhiệmcùng các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sinh – Kỹ thuật Nông nghiệp, TrườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã truyền đạt kiến thức và tạo điềukiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệpcủa mình

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã độngviên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứukhoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Thịnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kếtquả nghiên cứu, các số liệu trình bày trong luận văn là do nghiên cứu, thựctiễn đảm bảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trìnhkhoa học, trong các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sáchchuyên khảo,… nào khác

Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Thịnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

4 Điểm mới của đề tài 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Khái quát tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước trên thế giới 4

1.2 Khái quát về tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước ở Việt Nam 7

1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 11

1.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 11

1.3.1.1 Vị trí địa lí 11

1.3.1.2 Đặc điểm khí hậu 11

1.3.1.3.Mạng lưới thủy văn 12

1.3.2 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội 13

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Đối tượng nghiên cứu 14

2.2 Địa điểm nghiên cứu 14

2.3 Thời gian nghiên cứu 16

2.4 Nội dung nghiên cứu 16

2.5 Phương pháp nghiên cứu 16

Trang 6

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 16

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nhiệm 17

2.5.3 Phương pháp xác định hệ thống tính điểm BMWPVIET và chỉ số sinh học ASPT 18

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20

3.1 Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu 20

3.2 Đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu 26

3.2.1 Các chỉ số thủy lý, hóa học của nước tại khu vực nghiên cứu 26

3.2.1.1 Giá trị DO (Oxy hòa tan) 28

3.2.1.2 Giá trị pH 28

3.2.1.3 Độ dẫn 29

3.2.1.4 Độ đục 30

3.2.1.5 Nhiệt độ 30

3.2.2 Đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu bằng hệ thống điểm BMWPVIET và chỉ số ASPT 30

3.2.3 Mối tương quan giữa ASPT và một số chỉ số hóa học của nước 32

3.3 Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước và giải pháp sử dụng nước hợp lý 33

3.3.1 Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước 33

3.3.1.1 Hoạt động sinh hoạt của người dân 34

3.3.1.2 Hoạt động du lịch 34

3.3.1.3 Hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân 34

3.3.2 Một số giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước tại khu vực nghiên cứu 35

3.3.2.1 Giải pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân 35

3.3.2.2 Giải pháp tăng cường quản lý và bảo vệ rừng 35

Trang 7

3.3.2.3 Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững 36

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38

1 Kết luận 38

2 Kiến nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 PHỤ LỤC

BÀI BÁO KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASPT : Average Srores Per Taxon

Điểm số trung bình cho các đơn vị phân loại.BMWP : Biological Monitoring Working Party

Tổ chức nghiên cứu về quan trắc sinh học

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu tại suối Tây Thiên 14Hình 3.1 Tỷ lệ % các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu 25Hình 3.2 Phương trình hồi quy tuyến tính giữa chỉ số ASPT với các thông số của nước 33

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Mối liên quan giữa chỉ số sinh học ASPT và mức độ ô nhiễm 19Bảng 3.1 Thành phần và phân bố các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vựcnghiên cứu 20Bảng 3.2 Số lượng họ và tỉ lệ (%) các họ thuộc nhóm ĐVKXS cỡ lớntại khu vực nghiên cứu 25Bảng 3.3 Một số đặc điểm sinh cảnh và các chỉ số thủy lý, hóa học củanước tại các điểm nghiên cứu 27Bảng 3.4 Mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước tại các điểm nghiên cứu 31

Trang 11

Quan trọng là vậy nhưng nguồn nước nói chung và nước ngọt ở các thủyvực trên thế giới nói riêng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng mà nguyên nhân gây

ô nhiễm là do chất thải từ các hoạt động: công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạtcủa chính con người chúng ta….chúng tác động theo nhiều chiều hướng khácnhau gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người cũng như mọi sinh vậttrên trái đất Từ đó, công tác đánh giá và dự báo ô nhiễm môi trường trở thànhmột nhu cầu cấp thiết, không còn chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia hay khuvực riêng lẻ nào

Hiện nay, trong công tác đánh giá và dự báo giám sát môi trường,phương pháp sử dụng nhiều nhất là đánh giá chất lượng nước thông qua phântích các chỉ tiêu lý hóa Nhưng phương pháp này có một số hạn chế là chỉphản ánh tình trạng thủy vực ngay tại thời điểm lấy mẫu, khó có thể dự báođược chính xác về các tác động lâu dài của môi trường nước đến hệ sinh vậtdưới nước, đồng thời phương pháp này phải được thực hiện liên tục với tần sốlớn gây tốn kém về mặt kinh tế

Bên cạnh đó phương pháp trắc quan sinh học, có thể khắc phục đượcmột số hạn chế của phương pháp trên như cung cấp được các dẫn liệu về thờigian, tiện lợi cho sử dụng và cho kết quả nhanh, nó trực tiếp ảnh hưởng củanguồn nước bị ô nhiễm đến sự phát triển của hệ thống thủy sinh vật sống ởthủy vực đó Do đó phương pháp trắc quan sinh học ngày càng được sử dụng

Trang 12

rộng rãi Phương pháp quan trắc đánh giá chất lượng nước trên các nguồnnước sông, hồ hầu hết đều sử ĐVKXS cỡ lớn ít tốn kém, cho kết quả nhanh,phản ánh chính xác chất lượng nước lại ít được sử dụng.

Xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc là một xã có tốc độ pháttriển về kinh tế cao, nhưng lại tồn tại khá nhiều bất cập về môi trường, sựxuống cấp về chất lượng môi trường, đặc biệt là môi trường nước vì đó lànguồn tiếp nhận chất thải, nước thải của các hoạt động của con người Vì vậymột số thủy vực thuộc xã Đại Đình có dấu hiệu ô nhiễm, trong đó có suối TâyThiên Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đánh giá chất lượng nước ở khuvực suối này, đặc biệt là vùng suối có độ cao thấp so với mực nước biển

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn trên chúng tôi quyết định chọn đề tài:

“Sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn đánh giá chất lượng nước

suối Tây Thiên độ cao từ 28m đến 90m thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”, để tìm hiểu thực trạng chất lượng nước tại khu vực

này

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định được thành phần ĐVKXS cỡ lớn trên một số thủy vực thuộcsuối Tây Thiên độ cao từ 28m đến 90m, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnhVĩnh Phúc

cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu sau này

Bước đầu tìm hiểu chất lượng nước suối Tây Thiên độ cao từ 28m đến90m bằng cách sử dụng nhóm ĐVKXS cỡ lớn

Trang 13

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để đánh giá thực trạng môitrường nước tại suối Tây Thiên độ cao từ 28 - 90m thuộc địa phận xã ĐạiĐình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, đề tài tìm hiểu nguyên nhân ảnhhưởng đến chất lượng nước từ đó đề xuất một số giải pháp khắc phục ô nhiễmmôi trường nước và sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý nhất

4 Điểm mới của đề tài

Đề tài là công trình nghiên cứu đầu tiên về ĐVKXS cỡ lớn thuộc xãĐại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc và đánh giá chất lượng môi trườngnước trên địa bàn dựa vào nhóm sinh vật này

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước trên thế giới.

Quan trắc sinh học nước ngọt đã được nêu ra bởi nhiều tác giả nhưHellawell (1978, 1986), Calow và Maltby (1989), Roscnberg và Resh (1993),Cains và Pratt (1993) Trong đó Cains và Pratt đã định nghĩa quan trắc sinhhọc nước ngọt như là sự giám sát bằng việc sử dụng những phản ứng của cơthể sống để xây dựng môi trường có hợp lý hay không đối với cơ thể sống

Quan niệm hiện đại về sử dụng quan trắc sinh học để đánh giá chấtlượng nước sông, suối đã được khởi sướng ở Châu Âu với sự phát triển củatác giả Kolkwitz và Marsson (1908, 1909) Các nhà khoa học này chia mức

độ nhiễm bẩn của sông, suối thành 4 loại: bẩn ít, bẩn vừa α, bẩn vừa β và rấtbẩn, mức độ được xác định vào chỉ số độ nhiễm bẩn (Saprobic index) Dựavào danh sách các loài chỉ thị nhười ta chia thành các giá chị nhiễm bẩn phùhợp với sự chống chịu ô nhiễm của từng loài Mặc dù hệ thống này được chấpnhận rộng rãi ở các nước Châu Âu nhưng nó cũng gặp những chỉ trích nhưphương pháp dựa trên sự nhiễm bẩn chỉ thiên về chỉ số sinh học và hệ thốngđiểm số đơn giản [27], [28]

Ở Anh

Ở Anh, việc quan trắc sinh học tiếp tục mở rộng với các chỉ số đánh giámức độ ô nhiễm dựa trên nguyên tắc các nhóm sinh vật chống chịu ô nhiễmkhác nhau Hai chỉ số được đánh giá cao là chỉ số định lượng “Chỉ số Trent”(TBI) của Woodiwis (1964) và chỉ số bán định lượng “Điểm số Chandler(CBS) của Chandler (1970)

Việc sử dụng chỉ số TBI và điểm số CBS chỉ phù hợp đánh giá chấtlượng nước sông trong phạm vi nhỏ mà không phù hợp áp dụng cho diệnrộng Vì thế năm 1976, một tổ chức nghiên cứu quan trắc sinh học

Trang 15

“Biological Monitoring Woring Party” ra đời đã đưa ra hệ thống điểm sốBMWP, sự phân loại mức độ ô nhiễm nước dựa vào số loài và phân bố củaĐVKXS cỡ lớn [24].

Ở Tây Ban Nha

Năm 1988, Alba - Tercedor và Sanchoz – Ortega đã áp dụng phươngpháp sử dụng chỉ số BMWP tại khu vực bán đảo Iberia (ở Tây Ban Nha) Kếtquả nghiên cứu cho thấy xuất hiện một số họ mới và điểm số của một số họcũng có sự biến đổi Sau đó Carmen Zamora cùng một số người tiến hành mộtnghiên cứu để giải thích sự biến thiên của chỉ số BMWP và chỉ số ASPT theonhiệt độ và xác định sự phụ thuộc của các chỉ số này theo mùa Cuộc nghiêncứu trong vòng 2 năm đã cho kết quả: đối với thủy vực không ô nhiễm sựtương quan giữa chỉ số BMWP và nhiệt độ là không đáng kể, các thủy vực bị

ô nhiễm thì chỉ số BMWP phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, còn đối với chỉ sốASPT thì không phụ thuộc vào nhiệt độ ngay cả khu vực ô nhiễm hay không

ô nhiễm Qua đây các nhà nghiên cứu khảng định chỉ số BMWP phụ thuộcvào mùa vụ còn chỉ số ASPT thì không, do vậy mà chỉ số ASPT được đánhgiá là ưu việt hơn [17]

Ở New Zeland

Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy những hiệu quả trong việc sử dụng

hệ thống điểm số BMWP trong việc đánh giá chất lượng nước sông nhất làloại ô nhiễm hữu cơ Do đó họ đã tiếp nhận hệ thống điểm số này và pháttriển chúng Cho phù hợp với đất nước mình, chỉ số đó được gọi là MCI(Macroinvertebrate Community Index) tương tự như điểm trung bình bậcphân loại ASPT của Anh (Dẫn theo R.S.Wilson and J.D.McGill, 1977) [29]

Ngoài ra, hệ thống điểm số BMWP còn được ứng dụng và đạt hiệu quảcao trong việc đánh giá chất lượng nước sông ở một số các nước như ThụyĐiển, Bồ Đào Nha, Braxin, Italia, Pháp …

Trang 16

Ở Ấn Độ

Ở Ấn Độ, năm 1994 De Zwart và Trivedi đã chuyển đổi điểm sốBMWP cho phù hợp với Ấn Độ là loại ra một số họ không có và thêm vàomột số họ có ở Ấn Độ Một vài điểm số đã được phân phối trong điểm gốccũng được thay thế để phản ánh các mức độ khác nhau về sự chống chịu củacác họ nhất định đã tìm thấy tại các cửa sông của Ấn Độ Hai họ được cho làchống chịu tốt hơn so với điểm BMWP gốc đã được giảm điểm xuống đó làDugesidae từ 5 giảm xuống còn 4 điểm và Agriidae từ 8 giảm xuống còn 6điểm Còn hai họ được cho là ít chống chịu thì điểm số được tăng lên đó làHydrobiidae tăng từ 3 lên 6 điểm và Platycnemidiidae tăng từ 6 lên 8 điểm

Một nghiên cứu sử dụng điểm số BMWP khác do Bihar nghiên cứu ởsông Ramjan nhận thấy các thông số lý hóa biến động theo mùa, nó sẽ ảnhhưởng đến độ phong phú của ĐVKXS cỡ lớn và cũng nhận thấy kích thướcquần thể ĐVKXS cỡ lớn cũng tương quan nghịch với thông số pH và DO Tác giả Maruthaynayagan và các cộng sự nghiên cứu ở hồ Thirukulam quanghiên cứu của mình thì khảng định kích thước ĐVKXS phụ thuộc vào mùa,cao nhất vào mùa mưa và thấp nhất vào mùa hè (dẫn theo Lê Văn Khoa vàcộng sự, 2007) [7], (dẫn theo Mustow, 1998) [30]

Ở Thái Lan

Năm 1977, Mustow đã nghiên cứu quần xã ĐVKXS cỡ lớn ở 23 điểmthuộc sông MaePing và đưa ra một số thay đổi phù hợp với điều kiện ở BắcThái Lan Kết quả nghiên cứu cho thấy có những họ ở Thái Lan thì không cótrong bảng gốc của Anh, cũng có họ vừa có ở cả Thái Lan và Anh Từ đó ông

đã đề nghị sửa đổi 10 họ cần điều chỉnh, Mustow nhận thấy BMWP cho điểm

họ Odonata là cao sẽ không phản ánh chính xác mối liên hệ với sự chống ônhiễm ở Thái Lan nên đã hạ điểm của họ này từ 8 điểm xuống 6 điểm, còn họThiaridae chống chịu ô nhiễm tốt nên cho 3 điểm Hệ thống BMWP được sửa

Trang 17

đổi ở Thái Lan được gọi là hệ thống BMWPTHAI (dẫn theo Nguyễn Vũ Thanh

và Tạ Huy Thịnh, 2001) [13]

cứu, ứng dụng và phát triển thêm để đánh giá chất lượng nước nhằm quản lí

và bảo tồn các lưu vực sông ở Thái Lan Một trong những nghiên cứu đó là

“Nghiên cứu sự tương quan giữa ĐVKXS cỡ lớn ở nước ngọt và các yếu tốchất lượng môi trường trong lưu vực sông Nam Pong Thái Lan” được thựchiện bởi Khoa Sinh học của Đại Học Khon Kaen năm 1998, với 27 địa điểmthu mẫu trong lưu vực sông Nam Pong gần sông Pong, sông Cheon, sông Chi.Mục đích nhằm nghiên cứu những ảnh hưởng của chất lượng môi trườngnước đến cộng đồng ĐVKXS cỡ lớn sống trong đó (dẫn theo Mustow SE,1993) [20], và (dẫn theo Supatra Pamrong, 2002) [31]

Ở Malaysia

Một cuộc nghiên cứu ở Malaysia vào năm 1999 do Bộ Môi trườngMalaysia thực hiện trên sông Linggi nhằm đánh giá tiềm năng của việc sửdụng ĐVKXS cỡ lớn trong việc đánh giá, giám sát chất lượng nước

Cùng thời điểm này, Khoa Sinh học Trường Đại học Putra cũng tiếnhành nghiên cứu sử dụng hệ thống BMWP để đánh giá chất lượng sôngLangat với 4 khu vực lấy mẫu ở thượng nguồn và 4 khu vực lấy mẫu ở hạnguồn Kết quản ghiên cứu cho thấy ở thượng nguồn thu được 54 loài còn ở

hạ nguồn thu được 49 loài, chất lượng nước sông cũng giảm dần khi chảy đến

hạ nguồn do chịu ảnh hưởng của nguồn ô nhiễm từ khu dân cư (dẫn theoAdam JH, 2002) [15]

1.2 Khái quát về tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước ở Việt Nam.

Việc nghiên cứu, đánh giá mức độ ô nhiễm các thủy vực ở Việt Nam đãđược quan tâm từ lâu nhưng đến năm 1995 vẫn chưa có hệ thống phân loại độ

Trang 18

nhiễm bẩn các thủy vực Các hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn cùng vớinhững chỉ tiêu trong các thang bậc phân loại đều là những dẫn liệu nghiên cứu

ở vùng ôn đới, hoàn toàn khác với điều kiện tự nhiên cũng như đặc tính sinhhọc của các thủy vực ở nước ta

Trên cơ sở nghiên cứu trong 10 năm (1985 - 1995) cùng với dẫn liệu đãbiết trước đây về các thủy vực có nước thải vùng Hà Nội, Nguyễn XuânQuýnh (1995) đã đề xuất một hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn các thủy vực

có nước thải ở Hà Nội dựa trên một số chỉ tiêu cơ bản về sinh học

Từ năm 1997 đến năm 1999, với sự tài trợ của quỹ Darwin của chínhphủ Anh, hội nghiên cứu thực địa và sinh thái nước ngọt Anh Quốc đã phốihợp với Khoa Sinh học trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia

Hà Nội thực hiện chương trình nghiên cứu “Bảo tồn đa dạng sinh học thông

qua việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm vi sinh vật chỉ thị quan trắc và đánh giá chất lượng nước ở Việt Nam’’ [10].

Từ năm 1999 đến năm 2000, Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự nghiêncứu dữ liệu ban đầu và xây dựng quy trình quan trắc, điều chỉnh hệ thống tínhđiểm BMWP cho phù hợp với Việt Nam và hệ thống đó được gọi làBMWPVIET [10]

Những nghiên cứu đầu tiên được các nhà sinh học Khoa Sinh họctrường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện ở cáckhu vực phía Bắc và khu vực phía Nam Việt Nam Phía Bắc, các địa điểm lấymẫu từ con suối chảy ra từ núi Tam Đảo ra khu vực đồng bằng và cuối cùng

đổ ra sông Cầu tiếp nơi tiếp nhận các nguồn thải từ các thành phố, thị trấn Ởphía Nam, các địa điểm lấy mẫu nằm trong và xung quanh thành phố Đà Lạt,các điểm thuộc suối Đac Ta Jun và các điểm thuộc sông Đa Nhim

Năm 2001 - 2002, Nguyễn Vũ Thanh và Tạ Huy Thịnh thuộc ViệnSinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã thực hiện nghiên cứu tại 28 điểm quan

Trang 19

trắc thuộc lưu vực sông Cầu tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, TháiNguyên Qua nghiên cứu nước tại 28 điểm quan trắc đều thuộc loại ô nhiễmvừa đến ô nhiễm nặng, những loài đại diện cho môi trường nước sạch như bộcánh úp đã không được tìm thấy ở đây khẳng định môi trường nước ở đâyđang bị tác động nghiêm trọng Ngoài kết quả nghiên cứu tác giả còn bổ sung

Ecdyonuridae, Polymitarcyidae, Sciomyzidae, Muscidae và 2 họ thân mềmStenothyridae và Hyalidae [13]

Năm 2003, Nguyễn Thị Mai thuộc bộ môn Sinh học, Khoa Khoa học,Trường Đại Học Nông Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nghiêncứu nhằm đánh giá sự đa dạng về thành phần loài ĐVKXS cỡ lớn và sử dụngchúng để đánh giá chất lượng nước sông Sài Gòn thuộc quận 2, Thành phố

Hồ Chí Minh Nghiên cứu được thực hiện trên 3 điểm và kết quả thu đượctrong 2 đợt lấy mẫu lấy đợt 1 gồm 23 họ và đợt 2 là 25 họ, qua xác định chỉ sốASPT cho thấy nước khúc sông này thuộc loại bẩn vừa α, cùng với đó kết quảnày còn cho thấy chất lượng nước và thành phần loài liên quan đến nhau.Điều này càng khảng định việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để đánh giá chấtlượng nước là có cơ sở [8]

Trương Thanh Cảnh và Ngô Thị Trâm Anh ( 2006) thuộc Trường Đạihọc Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia - Hồ Chí Minh tiến hành khảo sátthành phần ĐVKXS cỡ lớn của 4 hệ thống kênh chính của Thành phố Hồ ChíMinh (Tham Lương - Vàm Thuật, Nhiêu Lộc - Thị Nghè, kênh Đôi - Tẻ - Tàu

Hủ - Bến Nghé, hệ thống sông khu vực Nam Sài Gòn [2]

Ngô Xuân Quảng (2008) công bố kết quả nghiên cứu về đa dạng sinhhọc quần xã Động vật không xương sống và đánh giá chất lượng môitrường nước hệ thống các con suối ở Vườn Quốc Gia Núi Chúa, tỉnh NinhThuận Tại khu vực miền Trung vào năm 2010, Nguyễn Văn Khánh và Trần

Trang 20

Ngọc Sơn đã ứng dụng hệ thống quan trắc sinh học BMWPVIET giám sát chấtlượng môi trường nước sông ở Thành phố Đà Nẵng Các chỉ số sinh học đãphản ánh được hiện trạng chất lượng môi trường nước sông và cho chúng tacái nhìn toàn diện hơn về những tác động tổng hợp của chất ô nhiễm đến hệsinh thái và đời sống sinh vật [6].

Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu chỉ tập trung ở miền Bắc và miền Nam

mà chưa quan tâm đến khu vực miền Trung Nhiều năm gần đây phương phápnày được nghiên cứu ở khu vực miền Trung tiêu biểu như tác giả Nguyễn VănKhánh và các cộng sự thuộc Khoa Sinh - Môi trường, Trường Đại học SưPhạm, Đại học Đà Nẵng đã thực hiện những nghiên cứu dùng ĐVKXS cỡ lớn

để đánh giá chất lượng nước ở các khu vực trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.Các nghiên cứu được thực hiện tại sông Phú Lộc, sông Cu Đê, hệ thống sôngCầu Đỏ - Tuý Loan, cánh đồng Xuân Thiều Qua xác định chỉ số BMWP vàASPT cho thấy trên hầu hết các khu vực chất lượng nước đều thuộc loại bẩnvừa α đến rất bẩn, các kết quả này hoàn toàn phù hợp với những kết quả phântích lí hoá đi kèm càng khẳng định việc sử dụng ĐVKXS trong đánh giá chấtlượng nước là có hiệu quả.Ngoài ra còn có nghiên cứu của Hoàng Đình Trung

và Mai Phú Quý (2014) [14] Điều đó góp phần làm đa dạng các phương phápđánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực miền Trung [4], [5], [6]

Các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy phương pháp quan trắc sinhhọc thông qua ĐVKXS cỡ lớn là tối ưu, đã phần nào phát triển và đangngày càng được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam Việc sử dụng hệ thống

giá chất lượng nước, phục vụ cho việc công tác quản lý môi trường nước hiệuquả hơn

Hiện nay, ở khu vực xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúcchưa có công trình nghiên cứu nào về việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để đánhgiá chất lượng môi trường nước

Trang 21

1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

1.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên

1.3.1.1 Vị trí địa lí

Vị trí: khu vực nghiên cứu chính thuộc địa bàn xã Đại Đình, là xã miềnnúi nằm ở phía Bắc của huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Phía Đông Bắc ĐạiĐình là dãy núi T am Đ ảo hù ng vĩ nằm án ngữ tạo nên gianh giới tự nhiên

T

hạch, phía Nam giáp các xã Đ ồ n g T ĩ n h , H o à n g H o a , T am qua n Xã có tuyếnđường tỉnh lộ 302 chạy qua, tạo thuận lợi cho Đại Đình trong quá trình giaolưu kinh tế, văn hóa - xã hội Nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 65km về phíaTây Bắc Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 3452 ha, trong đó diện tích trồngtrọt là 512ha, còn lại là đất đồi rừng, thổ cư và ao hồ

1.3.1.2 Đặc điểm khí hậu.

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới mưa mùa(mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 nămsau), chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Đông - Bắc và gióĐông - Nam

đều trong năm

Tam Đảo nằm trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc nên chịu ảnhhưởng của nhiệt đới gió mùa ẩm Mưa bão có sự tác động tiêu cực đến sảnxuất và đời sống Chế độ gió theo mùa, mùa hè chủ đạo là gió Đông Nam,mùa đông chủ đạo là gió mùa Đông Bắc

Trang 22

1.3.1.3.Mạng lưới thủy văn

Đại Đình có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây(Tuyên Quang, Vĩnh Phúc) và sông Công ở phía Đông (Thái Nguyên) Đườngphân thủy rõ rệt nhất của hai hệ thống sông này là các đường dòng nối cácđỉnh núi suốt từ Mỹ Khê ở cực Nam đến Đèo Khế ở điểm cực Bắc

đáy nhiều ghềnh thác, độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước kém Do đặc điểmkhí hậu mưa lớn, mùa mưa kéo dài, lượng bốc hơi ít nên cán cân nước dưthừa Đó là nguyên nhân làm các dòng chảy từ đỉnh Tây Thiên xuống có nướcquanh năm

Chế độ thủy văn được chia thành 2 mùa khá rõ rệt: mùa lũ và mùa khô.Mùa lũ trùng với mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), mùa khô từ tháng 11đến tháng 3 năm sau Lũ lớn thường xảy ra vào tháng 8, lũ tập trung nhanh vàrút cũng nhanh

Dòng chảy trong mùa khô do không có mưa to nên nguồn nước cung cấpcho sông chủ yếu là do nước ngầm (phụ thuộc vào lớp vỏ phong hóa địa chất

và lượng mưa phùn mùa đông) Do đó, cả hai sông: Phó Đáy và sông Côngđều có dòng chảy rất nhỏ Như vậy, khả năng cung cấp nước cho mùa đông làrất hạn chế Hệ thống suối chính ở Tây Thiên là suối Tây Thiên Suối có nhiệt

độ nước tương đối thấp, ít khi tăng cao và có xu hướng ổn định Do đặc điểmđịa hình chảy từ độ dốc lớn nên có tốc độ nước chảy mạnh, cuốn theo các chấtmùn bã Vì vậy suối ở đây khá trong, hầu như không có hiện tượng lắng đọng.Nền đáy suối chủ yếu là đá tảng, ít chất mùn Vào mùa mưa lưu lượng dòngnước khá lớn thường cuốn theo mùn bã thực vật, xác động vật, lá khô…Do đómùa này, nước suối thường vẩn đục Trong khi đó vào mùa khô dòng nướcchảy từ các mạch nước ngầm với tốc độ chậm hơn nhiều

Trang 23

1.3.2 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14 - 15%/năm, lương thựcbình quân đầu người đạt 350 kg/người/năm, thu nhập bình quân đầu người11,2 triệu đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến rõ rệt, nhờ cótiềm năng, lợi thế về du lịch tâm linh, tín ngưỡng, sinh thái mà ngành dịch vụ

- du lịch ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu ngành kinh tế Năm 2011, dulịch - dịch vụ chiếm 34%, nông lâm thủy sản chiếm 42% và công nghiệp - xâydựng chiếm 24% Giá trị sản xuất nông nghiệp 5 năm qua của xã đạt 70,7 tỷđồng, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vận tải đạt 40,657 tỷđồng Tổng thu nhập từ hoạt động du lịch năm năm trở lại đây đạt 60 tỷ đồng

An ninh, trật tự an toàn xã hội luôn đảm bảo Hàng năm xã thực hiệntốt công tác dân vận, hoàn thành tốt việc quyển chọn và gọi công dân nhậpngũ và công tác huấn luyện dân quân tự vệ, nhiều năm ban Chỉ huy Quân sự

xã được cấp trên khen thưởng và tặng nhiều bằng khen

Xã Đại Đình được tỉnh, huyện đầu tư nhiều công trình trọng điểm như:Khu trung tâm Văn hóa lễ hội Tây Thiên, Bảo Tháp, chùa Thiên Ân, làng vănhóa du lịch cộng đồng (thôn Đồng Thỏng), quy hoạch, trùng tu tôn tạo lại cácnhà đền thuộc Khu danh thắng Tây Thiên…Hiện nay, các hạng mục côngtrình đang được triển khai xây dựng và hoàn thiện Khi đi vào hoạt động đây

sẽ là những điểm du lịch tâm linh, tín ngưỡng thăm quan thắng cảnh lý tưởngthu hút du khách thập phương trong và ngoài nước Dự kiến trước năm 2020Tây Thiên sẽ trở thành thị trấn và là Trung tâm lễ hội của tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Động vật không xương sống cỡ lớn tại suối Tây Thiên độ cao từ 28 90m, thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

-2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành ở 5 điểm khác nhau, được kí hiệu từ TT1đến TT5 Các điểm nghiên cứu được sắp xếp theo độ cao tăng dần so với mựcnước biển (Hình 2.1)

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu tại suối Tây Thiên

Trang 25

Trước khi tiến hành thu mẫu, chúng tôi tiến hành xác định tọa độ và độcao của các điểm nghiên cứu bằng thiết bị định vị GPS 78 và ghi lại một sốđặc điểm sinh cảnh chính của các điểm thu mẫu:

Điểm 1 (Ký hiệu TT1): tọa độ, vĩ độ bắc (N): 21026,486‟, kinh độ

vào khu Tây Thiên Hai bên là ruộng canh tác, chịu tác động mạnh của con người,có độ che phủ 0 - 5% Suối chủ yếu là vùng nước tĩnh lớn, nền đáy chủ yếu là sỏi và đá trung bình không có đá tảng

Điểm 2 (Ký hiệu TT2): tọa độ N: 21027,173‟, E: 105035,077‟, độ cao82m, điểm thu mẫu nằm giữa một bên núi là rừng, một bên là đường đi lêncáp treo, Suối bị tác động mạnh do con người khai thác đá làm vật liệu xây dựng, giữa suối có nhiều cây bụi sinh sống Nước suối chảy bình thường, độsâu khoảng: 25cm, có độ che phủ: 0 - 5%

Điểm 3 (Ký hiệu TT3): tọa độ N: 21028,035‟, E: 105034.887‟, độ cao84m, điểm thu mẫu suối có nhiều rêu, nền đáy có nhiều đá nhỏ và trung bình, hai bên suối có nhiều cây bụi nhỏ, giữa suối có nhiều loài thực vật sinhsống, bị tác động mạnh của con người: khai thác đá, ngăn dòng làm thủy điện nhỏ Nước suối chảy bình thường độ sâu khoảng 25cm, độ che phủ 5 - 10%

Điểm 4 (Ký hiệu TT4): tọa độ N: 21028,236‟, E: 105035,261‟, độ cao88m điểm thu mẫu có độ sâu từ 10 - 40cm, có nơi đến 50cm Trong suối có rất nhiều cây từ 1,5 - 3m Một số hộ dân ngăn đập làm thủy điện nhỏ Suối tương đối nhiều rác thải hữu cơ Nền đáy chủ yếu là đá tảng, thỉnh thoảng

có đá nhỏ và trung bình, đôi khi có cát và sỏi nhỏ

Độ che phủ 10 - 30%

Điểm 5 (Ký hiệu TT5): tọa độ N: 21028,232‟, E: 105035,477‟, độ cao

Trang 26

90m điểm thu mẫu là suối nằm ngay trạm cáp treo lên đền Thượng Tây Thiên, có độ sâu 20 - 40cm, có chỗ 50 - 70cm Suối là điểm du lịch của khu di tích,

Trang 27

chịu tác động của con người Trong suối có nhiều cây cao khoảng 2 - 2,2m, cónhiều đá tảng lớn thình thoảng có cát và sỏi nhỏ, tuy nhiên trong suối còn có nhiều rác thải Một số hộ dân ngăn dòng làm thủy điện nhỏ Nước suối chảy bình thường Độ che phủ thấp 2 - 10%.

2.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian tiến hành nghiên cứu được thực hiện từ tháng 08/2016đến tháng 4/2017 Trong đó thời gian thu mẫu ngoài thực địa được thựchiện từ ngày 25/8/2016 đến ngày 28/8/2016

2.4 Nội dung nghiên cứu

Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại một số thuỷ vực nước ngọt thuộcđịa phận suối Tây Thiên độ cao từ 28 - 90m, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo,tỉnh Vĩnh Phúc

Đánh giá chất lượng nước bằng sinh vật chỉ thị là các ĐVKXS cỡ lớn thông qua điểm số BMWP và chỉ số ASPT

Xác định một số chỉ số thuỷ lý, hoá học của nước

Phân tích mối quan hệ giữa chỉ số ASPT và các chỉ số thủy lý, hóa học của nước

Tìm hiểu một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước và đề xuất giải pháp sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý thuộc địa phận

suối Tây Thiên độ cao từ 28m đến 90m thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

Trang 28

khoảng 30 - 40cm, kích thước mắt lưới thường có đường kính 1mm, khung đỡlưới được nối với một cán dài 1,6m Nó thường dùng để thu những độngvật ven bờ.

Phương pháp thu mẫu:

Trước khi thu mẫu, chúng tôi tiến hành đo một số chỉ số thủy lý, hóahọc của nước tại khu vực nghiên cứu bằng máy đo WQC - 24A, TOA, NhậtBản và khảo sát, điều tra đặc điểm sinh cảnh ở địa điểm cần thu mẫu

Mẫu vật được thu theo phương pháp của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng

sự (2004) [10]

Vật mẫu được thu bằng vợt ao (Pond net) và vợt tay (Hand net)bằng cách sục vợt vào các đám cỏ, cây bụi thủy sinh ven bờ hoặc các đámcây thủy sinh sống nổi trên mặt nước Các loại côn trùng sống trên mặt thủyvực được thu bằng cách đưa nhanh vợt trên mặt nước Đối với các loàisống bám vào các tảng đá, dùng phương pháp đạp nước ở nền suối hoặcnhấc các tảng đá lên tìm kiếm và dung panh mềm để nhặt mẫu Ở nhữngvùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp thì việc thu mẫu được thực hiện bằng vợtcầm tay

Phương pháp xử lý mẫu:

Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất Nhặt qua mẫungay tại thực địa Sử dụng panh, thìa và khay nhôm để nhặt vật mẫu Mẫu

về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại phòng thí nghiệm Độngvật học, Khoa Sinh - Kỹ thuật Nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội2

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nhiệm

Phương pháp nhặt mẫu: mẫu vật được rửa sạch cho ra khay Sau đó

dùng panh nhặt các đại diện của nhóm ĐVKXS cỡ lớn, mẫu sau khi nhặt cho

Trang 29

Phương pháp phân tích mẫu vật: dụng cụ phân tích bao gồm: kính

lúp 2 mắt, kính hiển vi, đĩa petri, panh mềm, kim phân tích,…Phân loại mẫu

Trang 30

vật: mẫu vật được phân loại dựa trên đặc điểm hình dạng ngoài của đốitượng nghiên cứu theo các khoá định loại được công bố trong và ngoàinước của Nguyễn Văn Vịnh (2003) [23], Cao Thi Kim Thu (2002) [16], HoangDuc Huy(2005) [19], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) [9], John C.

M, Yang L & Tian L (1994) [25], Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980) [11],Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2001) [12]

Phương pháp xử lý số liệu: Tất cả các kết quả nghiên cứu được xử lý

trên máy vi tính bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2007

2.5.3 Phương pháp xác định hệ thống tính điểm BMWP VIET và chỉ số sinh học ASPT

Để đi đến những phương pháp chuẩn, một tổ chức nghiên cứu về quantrắc sinh học “Biological Monitoring Working Party” (BMWP), được thànhlập ở Anh vào năm 1976, đã đưa ra một hệ thống mới đó là hệ thốngtính điểm số BMWP Trừ lớp giun ít tơ, hệ thống này sử dụng số liệu ởmức độ họ, mỗi họ được quy cho một điểm số phù hợp với tính nhạy cảmcủa nó với sự ô nhiễm hữu cơ Những điểm số riêng được cộng lại để chođiểm số tổng của mẫu Có thể nhận được sự biến thiên của điểm số BMWPbằng cách chia điểm tổng số cho số họ có mặt, ta được một điểm số trungbình cho các đơn vị phân loại (ASPT: Average Score Per Taxon)

Chỉ số ASPT được tính theo công thức: ASPT = (∑BMWP)/N

Trong đó: N: tổng số họ tham gia tính điểm

BMWP: tổng điểm số BMWPASPT: điểm số trung bình trên một đơn vị phân loạiNhược điểm của điểm số BMWP là ở chỗ căn cứ vào phạm vi của các

họ thì có loài chống chịu, có loài ưa thích với điều kiện sinh thái hẹp Ví dụ:đại diện của họ Chironomidae tìm thấy trong hầu hết những nơi sống lànước ngọt đã được biết đến, trong họ bao gồm những loài và giống cókhả năng

Trang 31

chống chịu cao, đôi khi trong một biên độ rộng của sự ô nhiễm, nhưng

nó gồm cả những loài và giống khác rất nhạy cảm và đặc hiệu trong sự ưathích và chịu đựng sinh thái Tuy vậy, toàn bộ họ được phân loại như làmức độ chống chịu với ô nhiễm bằng điểm số BMWP Nhận xét tương tựcũng được áp dụng trong trường hợp này, chúng hoàn toàn được xếp vàoloại có khả năng chống chịu cao

Hệ thống tính điểm số BMWP rất có hiệu lực trong thực tiễn và tươngđối dễ dàng áp dụng khi đòi hỏi của nó về mức độ kỹ năng phân loạitương đối bình thường Kết quả là nó được chấp nhận một cách rộng rãi

ở nhiều nước khác nhau

ASPT, chúng ta có thể đánh giá được mức độ ô nhiễm môi trường nước tạimỗi điểm nghiên cứu hay so sánh mức độ ô nhiễm giữa các điểm nghiên cứuvới nhau dựa vào bảng 2.1 Điểm chống chịu tương ứng với các họ đượcthể hiện ở phụ lục 2

Bảng 2.1 Mối liên quan giữa chỉ số sinh học ASPT và mức độ ô nhiễm.

Nguồn: Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự, 2004 [10].

Trang 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu.

Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại khu vực nghiên cứu đã xácđịnh được 40 họ thuộc 13 bộ của 6 lớp, 3 ngành: Chân khớp (Arthropoda),Thân mềm (Mollusca) và Giun đốt (Annelida) thuộc nhóm ĐVKXS cỡ lớn.Ngành Chân khớp (Arthropoda) thu được 36 họ của 9 bộ thuộc 2 lớp là lớpGiáp xác (Crutacea) và lớp Côn trùng (Insecta) Ngành Thân mềm (Mollusca)thu được

2 họ của 2 bộ thuộc 2 lớp là lớp Chân bụng (Gastropoda) và lớp Hai mảnh vỏ(Bivalvia) Ngành Giun đốt (Annelida) có 2 họ thuộc 2 bộ của lớp Đỉa(Hirudinea) và các đại diện thuộc lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) thu được 2 cáthể (các cá thể này qua phân tích chúng tôi thấy có hình dạng ngoài rất giốngnhau), như vậy có thể khẳng định lớp Giun ít tơ thu được 1 họ thuộc 1 bộduy nhất Danh lục các họ được trình bày ở bảng 3.1

Bảng 3.1 Thành phần và phân bố các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực

Trang 35

Ở bộ Chuồn chuồn, họ Cordulegastridae xuất hiện ở tất cả cácđiểm thu mẫu, họ Amphipterygidae và họ Libellulidae xuất hiện ở hầu hếtcác điểm thu mẫu trừ điểm TT5, họ Gomphidae xuất hiện ở các điểm trừđiểm TT3, họ Calopterygidae và Petaluridae chỉ xuất hiện ở điểm TT5; HọLestidae xuất hiện tại điểm TT4; Họ Platycnemiidae xuất hiện ở điểm TT1.

Bộ Phù du, họ Baetidae, họ heptageniidae và họ Leptophebiidae rất

đa dạng xuất hiện ở tất cả các điểm thu mẫu, họ Caenidae xuất hiện ở hầuhết các điểm thu mẫu trừ điểm TT2, còn họ Ephemerellidae chỉ xuất hiện

ở điểm

TT2

Bộ Cánh nửa, họ Gerridae chiếm ưu thế xuất hiện hầu hết các điểm trừđiểm TT1, họ Mesoveliidae chỉ có mặt tại điểm TT4 và họ Pelidae chỉ xuấthiện ở điểm TT5

Bộ Cánh cứng, họ Helodidae có mặt ở các điểm TT2, TT3, TT4, họCurculionidae, họ Elmidae chỉ thấy xuất hiện tại điểm TT2

Bộ Cánh rộng chỉ có một họ Corydalidae và họ này có mặt tại 2 điểmthu mẫu là TT2 và TT3

Bộ Cánh lông, họ Hydropsychidae, họ Brachycentridae, họ Goeridae

Trang 36

chiếm ưu thế hơn và có mặt ở tất cả các điểm thu mẫu, họ Hydroptilidae

có mặt tại các điểm TT2, TT3, TT4, họ Leptoceridae xuất hiện tại điểmTT1, TT2, TT5, họ Psychomyiidae chỉ xuất hiện tại điểm TT2

Bộ Hai cánh, họ Tipulidae chiếm ưu thế và xuất hiện ở hầu hết cácđiểm thu mẫu chỉ trừ điểm TT1 và TT5 là không có mặt, họ Athericidae, họCulicidae đều chỉ có mặt tại điểm TT2, họ Chironomidae, họ Simulidae cũngđều chỉ xuất hiện ở điểm TT1, riêng họ Tabanidae chỉ xuất hiện ở điểm TT4

Bộ Cánh úp chỉ xuất hiện một họ duy nhất tại điểm TT1 làPachychilidae

Bộ Mười chân, họ Parathelphusidae chiếm ưu thế, xuất hiện tại tất

cả các điểm trừ TT5, họ Atyidae xuất hiện tại điểm TT1 và TT2, họ Potamidaechỉ xuất hiện tại điểm TT5

Bộ Mang tấm có họ Pisidiidae xuất hiện duy nhất tại điểm TT1

Bộ Đỉa không vòi, họ Hirudinidae chỉ có ở điểm TT1

Giun ít tơ có duy nhất một họ tại điểm TT1 thuộc lớp Oligochaeta.Kết quả phân tích số liệu về số lượng và tỷ lệ (%) các họ thuộc nhómĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.2 và hình3.1

Ngày đăng: 16/01/2020, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w