1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng nước tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc (2017)

61 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 4,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Đánh giá chất lượng môi trường nước tại Trạm ĐDSH Mê Linh bằngSVCT là nhóm ĐVKXS cỡ lớn sử dụng hệ thống điểm BMWPVIET và chỉ sốASPT.. Một số hạn chế của phươngpháp B

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐA DẠNG SINH HỌC MÊ LINH, TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Môi trường

Người hướng dẫn khoa học

TS NGÔ XUÂN NAM

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Ngô Xuân Nam Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình - Viện Khoa học Thủy Lợi Việt Nam.Thầy là người đã định hướng và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quátrình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp

-Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo cùngcác thầy giáo, cô giáo tổ Động vật, Khoa Sinh - Kĩ thuật Nông nghiệp,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã truyền đạt kiến thức vàtạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khoá luậntốt nghiệp của mình

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã độngviên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứukhoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Trần Thị Diệu Linh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnghiên cứu, các số liệu trình bày trong luận văn là do nghiên cứu, thực tiễnđảm bảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoahọc, trong các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sách chuyênkhảo,… nào khác

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Trần Thị Diệu Linh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình hình nghiên cứu về giám sát sinh học trên thế giới và Việt Nam 4

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 9

1.2 Khái quát điều kiện tự nhiên ở trạm ĐDSH Mê Linh, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 12

1.2.1 Vị trí địa lý 12

1.2.2 Địa hình 13

1.2.3 Địa chất- thổ nhưỡng 14

1.2.3.1 Địa chất 14

1.2.3.2 Thổ nhưỡng 15

1.2.4 Khí hậu - thuỷ văn 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 17

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 17

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 18

2.1.4 Nội dung nghiên cứu 18

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 19

Trang 5

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 20

2.2.3 Phương pháp xử lí số liệu 20

2.2.4 Phương pháp xác định hệ thống tính điểm BMWPVIET và chỉ số sinh học ASPT 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

3.1 Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu 23

3.2 Đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu bằng hệ thống điểm BMWPVIET và chỉ số ASPT 30

3.3 Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước và giải pháp bảo vệ tài nguyên nước ở khu vực nghiên cứu 31

3.3.1 Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước 31

3.3.1.1 Ảnh hưởng từ hoạt động du lịch 31

3.3.1.2 Hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân 31

3.3.2 Một số đề xuất để bảo vệ tài nguyên nước ở khu vực nghiên cứu 32

3.3.2.1 Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững 32

3.3.2.2 Giải pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân 33 3.3.2.3 Giải pháp tăng cường quản lý và bảo vệ rừng 34

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35

1 KẾT LUẬN 35

2 KIẾN NGHỊ 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASPT : Average Srores Per Taxon

(điểm số trung bình mỗi đơn vị phân loại)

BMWP : Biological Monitoring Working Party

(tổ chức nghiên cứu về quan trắc sinh học)ĐDSH : Đa dạng sinh học

ĐVKXS : Động vật không xương sống

SVCT : Sinh vật chỉ thị

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ địa hình Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc 14Hình 3.1 Tỷ lệ % các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu 29

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiên cứu 23Bảng 3.2 Số lượng và tỷ lệ (%) các họ ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực nghiêncứu 28Bảng 3.3 Điểm số BMWPVIET, chỉ số ASPT và chất lượng nước tại các điểmnghiên cứu thuộc Trạm ĐDSH Mê Linh 30

Trang 9

Có thể nói, sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vàonước.

Tuy nhiên, các thủy vực nước ngọt ở nhiều nơi trên thế giới đang bị ônhiễm ngày càng nghiêm trọng bởi nhiều loại chất thải khác nhau Sự tácđộng của những chất này theo nhiều cách thức phức tạp Trong công tác quản

lý, giám sát và quan trắc môi trường nước hiện nay, việc đánh giá chất lượngnước thông qua phương pháp phân tích các chỉ tiêu lý hóa đang được sử dụngrộng rãi, người ta có thể giám sát chất lượng nước bằng cách phân tích hóahọc, nhưng việc dự báo một cách chắc chắn về các tác động của các hợp chấthóa học đến hệ sinh thái, đến đời sống của sinh vật cũng như sức khỏe conngười trong nhiều trường hợp còn gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, cácphương pháp này có một số hạn chế nhất định Đây là phương pháp gián tiếpchỉ có thể phản ánh tình trạng thủy vực ngay tại thời điểm lấy mẫu, khó có thể

dự báo chính xác về các tác động lâu dài của chúng đến khu hệ sinh vật nước.Bên cạnh đó, việc phân tích hoá lý phải được thực hiện liên tục với tần suấtlớn sẽ gây nhiều tốn kém về kinh tế Trong khi đó, tác động của hóa chất lên

cơ thể sinh vật thường biểu hiện ở khả năng tồn tại, sức sống của mỗi sinh vậttiếp xúc với chúng và ở mức độ cao có thể dẫn đến hủy diệt cuộc sống của

Trang 10

sinh vật Trái lại, phương pháp quan trắc sinh học khắc phục được một số hạnchế của phương pháp trên như cung cấp các dẫn liệu về thời gian, tiện lợitrong sử dụng và cho kết quả nhanh, trực tiếp về ảnh hưởng của hiện trạng ônhiễm đến sự phát triển của hệ thống thủy sinh vật Vì thế, quan trắc sinh họcnước ngọt ngày càng trở nên quan trọng như là một phân bổ sung hoặc thậmchí thay thế cho những phân tích hóa học.

Việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn ở nước làm SVCT để đánh giá chất lượngnước và giám sát sinh học bằng SVCT có rất nhiều ưu điểm nên từ lâu đãđược sử dụng rộng rãi ở Châu Âu Những năm gần đây, việc áp dụng quantrắc sinh học đã được chú ý tại Thái Lan và các nước Đông Nam Á, trong đó

có Việt Nam

Trạm ĐDSH Mê Linh thuộc địa phận xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên,tỉnh Vĩnh Phúc được coi là một “bảo tàng sinh học” của Việt Nam TrongTrạm có nhiều hệ thống suối lớn Các suối này là nơi sinh sống và tồn tại củanhiều nhóm động vật thủy sinh, trong đó có nhóm ĐVKXS cỡ lớn Cácnghiên cứu về sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị ở khu vực này mớitập trung ở suối Quân Boong mà chưa mở rộng ra các suối khác

Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm SVCT đánh giá chất lượng nước tại

Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc” để tìm hiểu đầy đủ hơn thực trạng

chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá chất lượng môi trường nước tại Trạm ĐDSH Mê Linh bằngSVCT là nhóm ĐVKXS cỡ lớn sử dụng hệ thống điểm BMWPVIET và chỉ sốASPT

Tìm hiểu một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước, góp phần

đa dạng hóa phương pháp đánh giá ô nhiễm nguồn nước mặt, giúp cho công

Trang 11

tác quản lí ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước ở địa phương.

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài cung cấp danh lục các họ ĐVKXS cỡ lớn tại Trạm ĐDSH MêLinh, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc là cơ sở cho cácnghiên cứu chuyên sâu sau này

Bước đầu tìm hiểu chất lượng nước tại Trạm ĐDSH Mê Linh bằng cách

sử dụng sinh vật chỉ thị là nhóm ĐVKXS cỡ lớn

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để đánh giá thực trạng môitrường nước, tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước từ đó đưa ragiải pháp khắc phục và sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý nhất

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu về giám sát sinh học trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Quan trắc sinh học nước ngọt đã được nêu ra bởi nhiều tác giả nhưHellawell (1978, 1986), Calow và Maltby (1989), Rosenberg và Resh (1993),Cains và Pratt (1993) Trong đó Cains và Pratt đã định nghĩa quan trắc sinhhọc nước ngọt như là sự giám sát bằng việc sử dụng những phản ứng của cơthể sống để xây dựng môi trường có hợp hay không đối với cơ thể sống Quanniệm hiện đại về sử dụng quan trắc sinh học để đánh giá chất lượng nướcsông, suối đã được khởi xướng ở Châu Âu với sự phát triển của tác giảKolkwitz và Marsson (1908, 1909) Các nhà khoa học này chia mức độ nhiễmbẩn của sông, suối ra làm 4 loại bẩn ít, bẩn vừa α, bẩn vừa β và rất bẩn, mức

độ được xác định dựa vào chỉ số độ nhiễm bẩn (Saprobic index) Dựa vàodanh sách các loài chỉ thị người ta chia thành các giá trị nhiễm bẩn phù hợpvới sự chống chịu ô nhiễm của từng loài Mặc dù hệ thống này được chấpnhận rộng rãi ở Châu Âu nhưng nó cũng gặp những chỉ trích như phươngpháp dựa trên sự nhiễm bẩn chỉ thiên về chỉ số sinh học và những hệ thốngđiểm số thì quá đơn giản [28], [29]

Sau đó, những chỉ số khác dựa trên nguyên tắc các nhóm sinh vật chốngchịu khác nhau với sự ô nhiễm vẫn tiếp tục phát triển để sử dụng ở Anh.Trong đó, có hai chỉ số được đánh giá khá cao là chỉ số định lượng “Chỉ sốTrent” (TBI) của Woodiwis(1964), chỉ số này được phát triển ở vương quốcAnh và Bắc Mỹ, nó sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giáchất lượng nước ở sông Trent (Anh) và chỉ số bán định lượng “Điểm sốChandler” (CBS) của Chandler (1970) Do việc sử dụng các chỉ số Trent vàđiểm số Chandler chỉ được xây dựng để đánh giá chất lượng nước sông ởnhững vùng đặc biệt của nước Anh nên khi áp dụng ở các con sông khác thì

Trang 13

không thích hợp nữa Vì vậy, để có phương pháp chuẩn, một tổ chức nghiêncứu về quan trắc sinh học “Biological Monitoring Woring Party” được thànhlập ở Anh vào năm 1976 đã đưa ra hệ thống điểm số BMWP, đây là hệ thốngdựa vào số loài và phân bố của ĐVKXS cỡ lớn để phân loại mức độ ô nhiễmnuớc Hệ thống này sử dụng số liệu ở mức độ họ, mỗi họ quy cho một điểm

số phù hợp với tính nhạy cảm của nó với sự ô nhiễm hữu cơ của môi trườngnuớc Những điểm số riêng được cộng lại để cho điểm số tổng của mẫu, cóthể nhận được sự biến thiên của điểm số BMWP bằng cách chia tổng số điểmcho số họ có mặt ta được một điểm trung bình cho các đơn vị phân loại làASPT Hệ thống điểm BMWP rất có hiệu lực trong thực tiễn và tương đối dễdàng áp dụng khi đòi hỏi của nó về mức độ kĩ năng phân loại tương đối bìnhthường Vì vậy, nó không chỉ được áp dụng rộng rãi Anh mà còn được cảitiến để áp dụng ở nhiều nước trên thế giới như Tây Ban Nha (Alba - Tercedor

và Sanchoz - Ortega, 1988), Ấn Độ (De Zwart và Trivedi, 1994), Úc(Chessman, 1995), Thái Lan (Mustow, 1997) Một số hạn chế của phươngpháp BMWP đã được Pinder và đồng nghiệp chỉ ra năm 1997 là hệ thống tínhđiểm BMWP và điểm số trung bình cho các đơn vị phân loại ASPT có thểkhác nhau một cách đáng kể ở các con sông kề nhau có chất lượng nước nhưnhau nhưng khác nhau về những đặc điểm vật lí Những yếu tố có thể tácđộng đến sự thay đổi quần xã ĐVKXS cỡ lớn ở sông như vĩ độ, kinh độ, độcao, chiều rộng, chiều sâu, nền đáy, độ kiềm vì vậy mà mặc dù sông bị ônhiễm hay không thì quần xã ĐVKXS cũng khác nhau Để khắc phục hạn chếnày, năm 1977, các nhà sinh học viện sinh thái nước ngọt Anh quốc đã pháttriển, cải tiến và xây dựng mô hình RIVPACS (River Invertebrate PredectionAnd Classification System) nó dự báo khu hệ ĐVKXS cỡ lớn ở một địa điểm

có những đặc điểm riêng biệt, không ô nhiễm RIVPACS được ứng dụng để

so sánh điểm số BMWP và ASPT ở một địa điểm với điểm số được dự báo

Trang 14

Đó là chỉ số về chất lượng môi trường, tỉ số giữa điểm số quan sát được trênđiểm số dự báo [30].

Nhờ có nhiều ưu điểm nên phương pháp quan trắc sử dụng hệ thống tínhđiểm BMWP đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thếgiới như:

Ở Tây Ban Nha

Năm1988, phương pháp sử dụng chỉ số BMWP đã được Alba - Tercedor

và Sanchoz - Ortega chuyển đổi để sử dụng ở Tây Ban Nha nhất là khu vựcbán đảo Iberia, trong hệ thống này ngoài việc xuất hiện một số họ mới thì cácđiểm số của một số họ cũng có sự biến đổi Sau đó, Carmen Zamora cùng cáccộng sự tiếp tục thực hiện một nghiên cứu để giải thích sự biến thiên của chỉ

số BMWP và chỉ số ASPT theo nhiệt độ từ đó xác định sự phụ thuộc của cácchỉ số này theo mùa Nghiên cứu được thực hiện ở sông Genii nằm phía Namcủa Tây Ban Nha Lưu vực sông có 26 nhánh dọc theo đó các nhà nghiên cứuthu mẫu ở 60 địa điểm trong vòng hai năm và kết quả cho thấy đối với thủyvực không bị ô nhiễm sự tương quan giữa chỉ số BMWP và nhiệt độ là khôngđáng kể còn các thủy vực bị ô nhiễm thì chỉ số BMWP lại phụ thuộc nhiềuvào nhiệt độ Còn đối với chỉ số ASPT cho dù tại khu vực ô nhiễm hay không

ô nhiễm đều không phụ thuộc vào nhiệt độ Qua đây các nhà nghiên cứukhẳng định chỉ số BMWP phụ thuộc vào mùa vụ còn chỉ số ASPT thì không,

do vậy mà chỉ số ASPT được đánh giá là ưu việt hơn

Ở New Zeland

Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy những hiệu quả trong việc sử dụng hệthống điểm số BMWP trong việc đánh giá chất lượng nước sông nhất là loại ônhiễm hữu cơ Do vậy họ đã tiếp nhận hệ thống điểm sốnày và phát triểnchúng cho phù hợp với đất nước mình, chỉ số được biến đổi gọi là MCI(Macroinvertebrate Community Index) chỉ số này tương tự như điểm trung

Trang 15

bình bậc phân loại ASPT của Anh [30].

Ngoài ra, ở một số nước khác như Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Braxin,Italya, Pháp hệ thống điểm số BMWP cũng được ứng dụng và đạt hiệu quảcao trong việc đánh giá tình trạng chất lượng nước sông

Các nghiên cứu đều khẳng định động vật không xương sống cỡ lớn rất

có tiềm năng trong quan trắc sinh học Các nghiên cứu sử dụng động vậtkhông xương sống nhằm đánh giá chất lượng nước được xây dựng và pháttriển ở các nước ôn đới nên khi đưa vào ứng dụng tại các khu vực nhiệt đớithì gặp một số khó khăn, do vậy việc nghiên cứu để điều chỉnh hệ thống điểm

số BMWP cho phù hợp với khu vực của từng nước là rất cần thiết Chính vìvậy, nhiều nước ở Châu Á như Ấn Độ, Thái Lan, Malaixia và cả Việt Nam đãthực hiện nhiều nghiên cứu nhằm điều chỉnh hệ thống này cho phù hợp vớiđiều kiện nước mình

Ở Ấn Độ

Năm 1994, De Zwart và Trivedi đã chuyển đổi điểm số BMWP cho phùhợp với Ấn Độ bằng cách loại ra một số họ không có ở Ấn Độ và thêm vàomột số họ khác có ở Ấn Độ Một vài điểm số đã được phân phối trong điểmgốc cũng được thay thế để phản ánh các mức độ khác nhau về sự chống chịucủa các họ nhất định đã được tìm thấy tại các sông của Ấn Độ Hai họ đượccho là chống chịu tốt hơn so với điểm BMWP gốc đã được giảm điểm xuống

đó là Dugesiidae từ 5 giảm xuống còn 4 điểm và Agriidae từ 8 giảm xuốngcòn 6 điểm Còn hai họ được cho là ít chống chịu thì điểm số được tăng lên

đó là Hydrophilidae tăng từ 3 lên 6 điểm và Platycnemidae tăng từ 6 lên 8điểm Sau đó đã có thêm nhiều nghiên cứu sử dụng điểm số BMWP ở Ấn Độnhư tác giả Bihar nghiên cứu ở sông Ramjan đã nhận thấy các thông số hóa lýbiến động theo mùa và do đó nó sẽ ảnh hưởng đến độ phong phú của ĐVKXS

cỡ lớn và nghiên cứu này cũng cho thấy kích thước quần thể ĐVKXS cỡ lớn

Trang 16

cũng tương quan nghịch với thông số pH va DO Tác giảSabib nghiên cứu ởsông Shendumi nhận định rằng dựa vào kích thước cộng đồng ĐVKXS cỡ lớn

có thể xác định được tình trạng chất lượng nước sông, hồ Maruthaynayagan

và các cộng sự nghiên cứu ở hồ Thirukulam qua nghiên cứu của mình thìkhẳng định kích thước cộng đồng ĐVKXS cỡ lớn phụ thuộc vào mùa, caonhất vào mùa mưa và thấp nhất vào mùa hè (Dẫn theo Lê Văn Khoa và cộng

sự, 2007) [9], (Dẫn theo Mustow, 1998) [22]

Ở Thái Lan

Năm 1997, Mustow đã nghiên cứu quần xã ĐVKXS cỡ lớn ở 23 điểmthuộc sông MaePing Đồng thời với việc chấp nhận một số thay đổi như đềxuất của De Zwart và Trivedi (1994), tác giả còn đưa ra một số thay đổi chophù hợp với điều kiện ở Bắc Thái Lan Theo Mustow thì có những họ ở TháiLan mà không có trong bảng gốc của Anh, cũng có những họ vừa có ở cảThái Lan và Anh nhưng cần phải thay đổi lại điểm số của chúng cho phù hợpvới điều kiện ở Thái Lan Qua đó, tác giả đã đề nghị sửa đổi 10 họ cần điềuchỉnh bổ sung, trong đó Mustow nhận thấy BMWP cho điểm một số họ của

Bộ Odonata là cao sẽ không phản ánh chính xác mối liên hệ với sự chống ônhiễm ở Thái Lan do vậy đã hạ điểm của họ này từ 8 điểm xuống còn 6 điểm,còn họ Thiaridae chống chịu với ô nhiễm tốt nên tác giả cho 3 điểm Hệ thốngBMWP được sửa đổi ở Thái Lan được gọi là hệ thống BMWPTHAI[21]

Sau khi có hệ thống BMWPTHAI thì phương pháp này đã được nghiêncứu, ứng dụng và phát triển thêm để đánh giá chất lượng nước nhằm mục đíchquản lí và bảo tồn các lưu vực sông ở Thái Lan Một trong những nghiên cứu

đó là “Nghiên cứu sự tương quan giữa ĐVKXS cỡ lớn ở nước ngọt và các yếu

tố chất lượng môi trường trong lưu vực sông Nam Pong, Thái Lan” được thựchiện bởi Khoa Sinh học của Đại học Khon Kaen năm 1998, với 27 địa điểmlấy mẫu trong lưu vực sông Nam Pong gần sông Pong, sông Cheon, sông Chi

Trang 17

Mục đích nhằm nghiên cứu những ảnh hưởng của chất lượng môi trườngnước đến cộng đồng ĐVKXS cỡ lớn sống trong đó(Dẫn theo MustowSE,1993) [20], và (Dẫn theo Supatra Pamrong, 2002) [31].

Ở Malaysia

Năm 1999, một nghiên cứu của Bộ Môi trường Malaysia được thực hiện trênsông Linggi trong tỉnh Negeri Sembilan để đánh giá tiềm năng của việc sửdụng ĐVKXS cỡ lớn trong việc đánh giá, giám sát chất lượng nước

Cùng thời điểm này, Khoa Sinh học, Trường Đại học Putra cũng tiếnhành nghiên cứu sử dụng hệ thống BMWP để đánh giá chất lượng sôngLangat với 4 khu vực lấy mẫu ở thượng nguồn và 4 khu vực lấy mẫu ở hạnguồn Kết quả nghiên cứu cho thấy ở thượng nguồn thu được 54 loài còn ở

hạ nguồn thu được 49 loài, chất lượng nước sông cũng giảm dần khi chảy đến

hạ nguồn do chịu ảnh hưởng của nguồn ô nhiễm từ khu dân cư [16]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Việc nghiên cứu, đánh giá mức độ ô nhiễm các thuỷ vực được quan tâm

từ lâu nhưng tới năm 1995 hầu như vẫn chưa có hệ thống phân loại độ nhiễmbẩn các thuỷ vực Các hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn cùng với những chỉtiêu trong các thang bậc phân loại trước đó đều là những dẫn liệu được nghiêncứu ở các thuỷ vực vùng ôn đới, hoàn toàn khác với điều kiện tự nhiên cũngnhư đặc tính sinh học của các thuỷ vực ở nước ta

Trên cơ sở nghiên cứu trong 10 năm (1985-1995) cùng với dẫn liệu đãbiết trước đây về các thuỷ vực có nước thải vùng Hà Nội, Nguyễn XuânQuýnh (1995) đã đề xuất một hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn các thuỷ vực

có nước thải ở Hà Nội dựa trên một số chỉ tiêu cơ bản về sinh học Kèm theo

nó là các chỉ tiêu lí hoá học quy định sự có mặt hay vắng mặt của một số loàihay nhóm loài ĐVKXS cỡ lớn được coi như sinh vật chỉ thị, quy định sự pháttriển về sốlượng và khối lượng của chúng ở mức độ khác nhau từ những kết

Trang 18

quả thu được, tác giả đã nhận định rằng ĐVKXS cỡ lớn (thông qua các giá trị

về sinh vật lượng, sự khác nhau về tính đa dạng, mức độ phong phú về thànhphần loài…) chỉ thị tốt cho mức độ ô nhiễm các thuỷ vực Thông qua đây tácgiả cũng đưa ra nhận xét về mối liên quan giữa mức độ ô nhiễm thủy vực vàcác chỉ tiêu lí hóa, sinh học như: Mức độ nhiễm bẩn thủy vực tăng thì giá trị

về BOD5, COD tăng, hàm lượng DO giảm, thành phần loài và số lượngĐVKXS giảm Mức độ nhiễm bẩn thủy vực ít thì hàm lượng DO cao, COD,BOD5 thấp, thủy vực có lượng dinh dưỡng vừa phải tạo điều kiện choĐVKXS phát triển tốt

Từ năm 1997-1999, với sự tài trợ của quỹ Darwin của chính phủ Anh,hội nghiên cứu thực địa và sinh thái nước ngọt Anh Quốc đã phối hợp vớiKhoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia HàNội thực hiện chương trình nghiên cứu “Bảo tồn đa dạng sinh học thông quaviệc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị quan trắc và đánh giá chấtlượng nước ở Việt Nam”

Từ năm 1999 - 2000, Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự nghiên cứu dữliệu ban đầu và xây dựng quy trình quan trắc, điều chỉnh hệ thống tính điểmBMWP cho phù hợp với Việt Nam và hệ thống đó được gọi là BMWPVIET[11]

Từ sau khi có hệ thống đánh giá phù hợp thì đã có rất nhiều nghiên cứunhằm đánh giá tính hiệu quả của hệ thống này Những nghiên cứu đầu tiênđược các nhà khoa học của Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tựnhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện ở các con sông, suối thuộc cả khuvực phía Bắc và phía Nam với 14 địa điểm thu mẫu ở phía Bắc và 15 địa điểmthu mẫu ở phía Nam Ở phía Bắc, các địa điểm thu mẫu được bắt đầu từnhững con suối nhỏ chảy từ núi Tam Đảo ra khu vực đồng bằng xung quanh

là đồng lúa và cuối cùng là khu vực sông Cầu nơi tiếp nhận nguồn thải từ

Trang 19

nhiều hoạtđộng của con người Ở phía Nam, các địa điểm lấy mẫu thuộc khuvực nằm trong và xung quanh thành phố Đà Lạt, các điểm thuộc suối Đac TaJun và các điểm thuộc sông Đa Nhim Sau này, nhiều nghiên cứu được tiếptục thực hiện phần nào làm rõ tính hiệu quả của phương pháp sử dụngĐVKXS cỡ lớn trong đánh giá chất lượng nước như trong hai năm (2001 -2002), tác giả Nguyễn Vũ Thanh và Tạ Huy Thịnh thuộc Viện Sinh thái vàTài nguyên Sinh vật đã thực hiện nghiên cứu tại 28 điểm quan trắc thuộc lưuvực sông Cầu tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Thái Nguyên Quanghiên cứu, nước tại 28 điểm quan trắc đều thuộc loại ô nhiễm vừa đến ônhiễm nặng, những loài đại diện cho môi trường nước sạch như Bộ Cánh úp

đã không được tìm thấy ở đây càng khẳng định môi trường nước ở đây đang

bị tác động nghiêm trọng Ngoài ra, qua nghiên cứu này tác giả còn bổ sung 7

họ mới vào bảng điểm BMWPVIET bao gồm 5 họ côn trùng thủy sinhEcdyonuridae, Polymitarcyidae, Sciomyzidae, Empidiae, Muscidae và 2 họthân mềm Stenothyridae và Hyalidae [14]

Nguyễn Thị Mai (2004) đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá sự đadạng về thành phần loài ĐVKXS cỡ lớn và sử dụng chúng để đánh giá chấtlượng nước sông Sài Gòn đoạn thuộc quận 2, thành phố Hồ Chí Minh Nghiêncứu được thực hiện trên ba địa điểm và kết quả thu nhận được qua hai đợt lấymẫu là đợt 1 gồm 23 họ và đợt 2 gồm 25 họ, qua xác định chỉ số ASPT chothấy nước khúc sông này thuộc loại bẩn vừa α, cùng với đó kết quả này còncho thấy chất lượng nước và thành phần loài có liên quan đến nhau Điều nàycàng khẳng định việc sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giáchất lượng nước là có cơ sở [10]

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở khu vực phía Bắc

và phía Nam mà chưa quan tâm đến khu vực miền Trung Nhiều năm gần đâyphương pháp này mới được nghiên cứu ở khu vực miền Trung tiêu biểu như

Trang 20

tác giả Nguyễn Văn Khánh cùng các cộng sự thuộc Khoa Sinh - Môi trường,Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng đã thực hiện những nghiên cứudùng động vật không xương sống để đánh giá chất lượng nước ở các khu vựctrên địa bàn thành phố Đà Nẵng Các nghiên cứu được thực hiện tại sông PhúLộc, sông Cu Đê, hệ thống sông Cầu Đỏ - Túy Loan, cánh đồng Xuân Thiều.Qua xác định chỉ số BMWP và ASPT cho thấy trên hầu hết các khu vực chấtlượng nước đều thuộc loại bẩn vừa α đến rất bẩn, các kết quả này hoàn toànphù hợp với những kết quả phân tích hóa lý đi kèm càng khẳng định việc sửdụng động vật không xương sống trong đánh giá chất lượng nước là có hiệuquả Ngoài ra, còn có nghiên cứu của Hoàng Đình Trung và Mai Phú Quý(2014) tại suối Truồi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế [15] Điều nàygóp phần làm đa dạng các phương pháp đánh giá chất lượng môi trường nước

ở khu vực miền Trung [6], [7], [8]

Các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy phương pháp quan trắc sinhhọc thông qua ĐVKXS cỡ lớn là tối ưu, đã phần nào phát triển và đang ngàycàng được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam Việc sử dụng hệ thống điểmBMWPVIET và chỉ số ASPT đã nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá chấtlượng nước, phục vụ cho việc công tác quản lý môi trường nước hiệu quảhơn

Tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước ở TrạmĐDSH Mê Linh, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc: Cácnghiên cứu về sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị ở khu vực này mớitập trung ở suối Quân Boong mà chưa mở rộng ra các suối khác

1.2 Khái quát điều kiện tự nhiên ở trạm ĐDSH Mê Linh, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

1.2.1 Vị trí địa lý

Trạm ĐDSH Mê Linh - Vĩnh Phúc nằm trong địa phận của xã Ngọc

Trang 21

Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (trước thuộc huyện Mê Linh, tỉnhVĩnh Phúc) Trạm ĐDSH cách trung tâm thị xã Phúc Yên khoảng 35km vềphía Bắc Với diện tích 170,3 ha trong đó chiều dài khoảng 3.000m, chiềurộng trung bìnhkhoảng 550m (chỗ rộng nhất khoảng 800m, chỗ hẹp nhấtkhoảng 300m).

Khu vực Trạm có tọa độ:

21o23’57’’ - 21o23’35’’vĩ độ Bắc

105o42’40’’ - 105o42’40’’ kinh độ Đông

Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Phía Đông và phía Nam giáp hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh, thị

Địa hình khu vực nghiên cứu phần lớn là đất dốc, độ chia cắt sâu vớinhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính, độ dốc trung bình từ 15 –

30o, nhiều nơi dốc đến 30 – 35o, điểm cao nhất là 520m (điểm cực đông thuộcđỉnh núi Đá trắng) Ở khu vực Trạm các bãi bằng rất ít nằm rải rác dọc theoven suối phía Tây

Trang 22

Hình 1.1 Bản đồ địa hình Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc

Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thanh, 2014

1.2.3 Địa chất- thổ nhưỡng

1.2.3.1 Địa chất

Đất gồm 2 loại chủ yếu:

Trang 23

+ Ở độ cao 400m đất feralitic màu vàng phát triển trên đá sa thạch cuộihoặc dăm kết.

+ Ở độ cao dưới 400m đất feralitic màu vàng đỏ phát triển trên sa phiếnthạch

Ngoài ra, còn có đất dốc tụ phù sa ở ven các suối lớn ở độ cao dưới100m Đất thuộc loại chua có pH = 5,0 - 5,5, thành phần cơ giới trung bình,

độ dày tầng đất khoảng 30 - 40cm [4]

1.2.3.2 Thổ nhưỡng

Nhìn chung các loại đá mẹ khá cứng, thành phần khoáng có nhiều Thạchanh, Muscovit, khó phong hóa, hình thành nên các loại đất có thành phần cơgiới nhẹ, cấp hạt thô, dễ bị rửa trôi và xói mòn, nhất là những nơi dốc cao bịxói mòn mạnh để trơ lại phần đá rất cứng (điển hình là khu vực từ độ cao300

- 400m)

Theo nguồn gốc phát sinh trong vùng có hai loại đất chính sau:

- Ở độ cao trên 300m là đất Feralitic mùn đỏ vàng Đất có màu vàng ưuthế do độ ẩm cao, hàm lượng sắt di động và nhôm tích luỹ cao Do đất pháttriển trên đá Mácma axit kết tinh chua nên tầng đất mỏng, thành phần cơgiới nhẹ, tầng mùn mỏng, không có tầng thảm mục, đá lộ đầu nhiều trên75%

- Ở độ cao dưới 300m là đất Feralitic vàng đỏ phát triển trên nhiềuloại đá khác nhau, đất có khả năng hấp phụ không cao do có nhiều khoángsét phổ biến là Kaolinit

Ngoài ra còn có đất dốc tụ phù sa ven suối ở độ cao dưới 100m.Thành phần cơ giới của loại đất này là trung bình, tầng đất dày, độ ẩm cao,màu mỡ, đã được khai phá để trồng lúa và hoa màu

Đất thuộc loại chua với độ pH = 3,5 5,5 độ dày tầng đất trung bình 30 40cm [4]

Trang 24

-1.2.4 Khí hậu - thuỷ văn

Đây là vùng nhiệt đới gió mùa, nằm trong vùng khí hậu chung của đồngbằng BắcBộ, nhiệt độ trung bình hàng năm là 22 - 23oC, tập trung không đều,tháng có nhiệt độ cao là tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Còn mùa lạnh vào cáctháng 12, tháng 1 và tháng 2 Nhiệt độ cao điểm trong các tháng nóng nhấtlên đến 40oC, nhiệt độ lạnh nhất tới 4oC Nhìn chung nhiệt độ trung bình vàomùa hè từ 27 - 29oC, trung bình vào mùa đông là 16 - 17oC

Lượng mưa từ 1.100 - 1.600 mm/năm, phân bố không đều, tập trung vàomùa hè từ tháng 6 - 8 hàng năm, ở đây có 2 mùa gió thổi rõ rệt là gió mùaĐông Bắc (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) và gió mùa Đông Nam (từ tháng

4 đến tháng 9) Độ ẩm trung bình là 80% Là khu vực đầu nguồn của nhiềusuối nhỏ đổ vào hồ Đại Lải [4]

Trang 25

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các nhóm ĐVKXS cỡ lớn thu được tại Trạm ĐDSH Mê Linh

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại 10 điểm thu mẫu thuộc các suối khácnhau thuộc địa phận Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc Các điểm nghiêncứu được ký hiệu từ D1 đến D10

Trước khi tiến hành thu mẫu, chúng tôi ghi lại một số đặc điểm, hình ảnhchính của các điểm nghiên cứu:

Điểm 1 (ký hiệu D1): Điểm thu mẫu ở khu vực suối rất rộng và nông,

ngay sát một trong các tuyến đường đi rừng của Trạm Suối có chiều rộng 7-8

m, sâu 10-30cm Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, cũng có lẫn ít đá to, sỏi và bùn.Xung quanh là cỏ dại, độ che phủ khoảng 70-85%

Điểm 2 (ký hiệu D2): Điểm thu mẫu là khu vực suối hẹp, có chiều rộng

2-3m, độ sâu khoảng 15-30cm Độ che phủ 25-30% Xung quanh suối là rừngcây, nước chảy tương đối mạnh

Điểm 3 (ký hiệu D3): Khu vực suối nông, có diện tích rộng khoảng 5-6

m Ven suối có nhiều cây rừng, độ che phủ 90-95% Do độ che phủ cao nêntrên suối có lá cây rừng hoai mục nhiều Dòng nước chảy mạnh, nền đáy chủyếu là đá nhỏ, có lẫn ít đá to, sỏi

Điểm 4 (ký hiệu D4): Điểm thu mẫu là khu vực suối ngay gần trung tâm

trạm Chiều rộng của suối khoảng 2-3m Xung quanh suối có rừng cây bóngmát và cây cỏ Dòng nước chảy bình thường, chịu ít tác động của con người

Độ che phủ khoảng 60%

Điểm 5 (ký hiệu D5): Điểm thu mẫu là khu vực suối rộng Suối có độ

rộng 6-7m, độ sâu trung bình 50-60cm Nền đáy chủ yếu là các tảng đá lớn

Trang 26

nhỏ xen lẫn, ven bờ có nhiều cỏ và bùn Xung quanh cây bóng mát, độ chephủ là 60-70%.

Điểm 6 (ký hiệu D6): Điểm thu mẫu cách trung tâm trạm 2km Suối

hẹp, có chiều rộng 1-1,5m, sâu khoảng 15-30cm Xung quanh suối là câyrừng, độ che phủ 25-30% Nước chảy tương đối mạnh, vì diện tích hẹp nênrác và lá cây rừng cũng làm ngăn cản dòng chảy

Điểm 7 (ký hiệu D7): Điểm thu mẫu là khu vực suối có độ rộng 2-3m,

độ sâu 10-30cm, nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, sỏi và bùn Nước chảy tương đốimạnh, ven bờ nhiều cây cỏ, xung quanh suối là cây rừng

Điểm 8 (ký hiệu D8): Khu vực suối có độ rộng 4-5m, sâu từ 15-30cm có

chỗ 30-40cm Nền đáy chủ yếu là đá sỏi nhỏ, nước chảy bình thường, ven bờnhiều cây cỏ, xung quanh là cây rừng

Điểm 9 (ký hiệu D9): Điểm thu mẫu là khu vực suối trước cổng trạm, có

độ rộng 3-4m, sâu từ 10-30cm Suối có độ dốc khoảng 20-30o Độ che phủ từ0-5% Nền đáy chủ yếu là đá sỏi nhỏ

Điểm 10 (ký hiệu D10): Điểm thu mẫu là khu vực suối cách cổng trạm

600-700m Độ sâu 50-60cm, chiều rộng của suối 5-6m Độ che phủ 0-5% Suối có dòng nước chảy mạnh, nền đáy chủ yếu là bùn, cát

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ tháng 8/2016 đến tháng 4/2017Trong đó thời gian thu mẫu ngoài thực địa được thực hiện: Từ ngày17/9/2016 đến ngày 21/9/2016

2.1.4 Nội dung nghiên cứu

+ Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại một số thủy vực nước ngọtthuộc địa phận Trạm ĐDSH Mê Linh

+ Đánh giá chất lượng nước bằng SVCT là các ĐVKXS cỡ lớn thôngqua điểm số BMWP và chỉ số ASPT

Trang 27

+ Tìm hiểu một số nguyên nhân hưởng đến chất lượng nước và giải pháp

để sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý tại Trạm ĐDSH Mê Linh

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

- Dụng cụ thu mẫu:

Các dụng cụ cần thiết để lấy mẫu ĐVKXS gồm: vợt ao (Pond net), vợttay (Hand net); vợt Pond net là một khung hình chữ nhật đỡ một túi lưới vớichiều sâu khoảng 30-40cm, kích thước mắt lưới thường có đường kính 1mm,khung đỡ lưới được nối với một cán dài 1,6m Dụng cụ này thường dùng đểthu những động vật ven bờ

- Phương pháp thu mẫu:

Quá trình thu mẫu được thực hiện theo phương pháp của Nguyễn XuânQuýnh và cộng sự (2004) [25]

Vật mẫu được thu bằng vợt ao (Pond net) và vợt tay (Hand net) bằngcách sục vợt vào các đám cỏ, cây bụi thủy sinh ven bờ hoặc các đám cây thủysinh sống nổi trên mặt nước Các loại côn trùng sống trên mặt thủy vực đượcthu bằng cách đưa nhanh vợt trên mặt nước Đối với các loài sống bám vàocác tảng đá, dùng phương pháp đạp nước ở nền suối hoặc nhấc các tảng đálên tìm kiếm và dùng panh mềm để nhặt mẫu Ở những vùng nước nhỏ hoặcdòng chảy hẹp thì việc thu mẫu được thực hiện bằng vợt cầm tay

- Phương pháp xử lý mẫu: mẫu sau khi thu được loại rác, làm sạch bùn

đất Nhặt qua mẫu ngay tại thực địa Sử dụng panh, thìa và khay nhôm đểnhặt vật mẫu Mẫu thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 80o, ghietiket đầy đủ và đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại phòngthí nghiệm Động vật học, khoa Sinh - Kĩ thuật Nông nghiệp, trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2

Trang 28

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Phương pháp phân tích mẫu vật: dụng cụ phân tích bao gồm: kính lúp

2 mắt, kính hiển vi, đĩa petri, panh mềm, kim phân tích Định loại vật mẫu:dựa trên đặc điểm hình thái ngoài của đối tượng nghiên cứu theo cáckhóa định loại được công bố trong và ngoài nước của Nguyễn Văn Vịnh(2003) [24], Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (2001) [12], Đặng NgọcThanh và cộng sự (1980) [13], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) [11],John C M, Yang L & Tian L (1994) [27]

2.2.3 Phương pháp xử lí số liệu

Các số liệu thu được tổng hợp và xử lý theo phương pháp thống kê, xácđịnh sự sai khác của các số trung bình bằng phương pháp phân tíchphương sai, sử dụng bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2010 [2]

2.2.4 Phương pháp xác định hệ thống tính điểm BMWP VIET và chỉ số sinh học ASPT

Quan trắc sinh học thông qua ĐVKXS cỡ lớn đã được nghiên cứu thửnghiệm áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới từ những năm 1970 trên cơ sở sửdụng hệ thống tính điểm số sinh học BMWP của Anh Ở Anh, năm 1976, một

tổ chức nghiên cứu về quan trắc sinh học “Biological Monitoring WorkingParty” đã được thành lập và đã đưa ra một hệ thống mới đó là hệ thống

số điểm BMWP Trừ lớp Giun ít tơ, hệ thống này sử dụng số liệu ở mức độ

họ, mỗi họ được quy cho điểm số phù hợp với tính nhạy cảm của nó với

sự ô nhiễm hữu cơ Những điểm số riêng cộng lại để cho điểm số tổng củamẫu Có thể nhận được sự biến thiên của điểm số BMWP bằng cách chia tổngđiểm số cho số họ có mặt, ta được một số điểm số trung bình cho các đơn vịphân loại (ASPT: Average Score Per Taxon)

Xác định điểm số BMWP của mỗi họ dựa trên bảng điểm BMWPVIET.Tính chỉ số ASPT theo công thức:

Trang 29

ASPT = (∑BMWP)/N

Trong đó: N: tổng số họ tham gia tính điểm

BMWP: tổng điểm số BMWPASPT: điểm số trung bình trên một đơn vị phân loạiNhược điểm của điểm số BMWP là ở chỗ căn cứ vào phạm vi của các họthì có loài chống chịu, có loài ưa thích với điều kiện sinh thái hẹp Ví dụ: đạidiện của họ Chironomidae tìm thấy trong hầu hết những nơi sống lànước ngọt đã được biết đến, trong họ bao gồm những loài và giống có khảnăng chống chịu cao, đôi khi trong một biên độ rộng của sự ô nhiễm,nhưng nó gồm cả những loài và giống khác rất nhạy cảm và đặc hiệu trong

sự ưa thích và chịu đựng sinh thái Tuy vậy, toàn bộ họ được phân loại như

là mức độ chống chịu với ô nhiễm bằng điểm số BMWP Nhận xét tương tựcũng được áp dụng trong trường hợp này, chúng hoàn toàn được xếp vàoloại có khả năng chống chịu cao

Hệ thống tính điểm số BMWP rất có hiệu lực trong thực tiễn và tươngđối dễ dàng áp dụng khi đòi hỏi của nó về mức độ kỹ năng phân loại tươngđối bình thường Kết quả là nó được chấp nhận một cách rộng rãi ởnhiều nước khác nhau

Từ kết quả tính điểm theo hệ thống tính điểm BMWPVIET và điểm sốASPT, chúng ta có thể đánh giá được mức độ ô nhiễm môi trường nước tạimỗi điểm nghiên cứu hay so sánh mức độ ô nhiễm giữa các điểm nghiên cứuvới nhau dựa vào bảng 2.1 Điểm chống chịu tương ứng với các họ được thểhiện ở phụ lục 1

Trang 30

Bảng 2.1: Mối liên quan giữa chỉ số Sinh học ASPT và mức độ ô nhiễm

Điểm 6 - 7,9 Nước bẩn ít (Oligosaprobe), hay tương đối sạch

Nguồn: Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự, 2004 [25]

Ngày đăng: 16/01/2020, 13:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Thanh Cảnh, Ngô Thị Trâm Anh (2006), “Nghiên cứu sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước trên 4 hệ thống kênh chính tại thành phố Hồ Chí Minh’’, Tạp chí phát triển Khoa học và Công nghệ, 10(1), tr. 25-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụngĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước trên 4 hệ thống kênh chính tạithành phố Hồ Chí Minh’’, "Tạp chí phát triển Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Trương Thanh Cảnh, Ngô Thị Trâm Anh
Năm: 2006
2. Đặng Văn Giáp (1997), Phân tch dữ liệu khoa học bằng chương trình Excell, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tch dữ liệu khoa học bằng chương trìnhExcell
Tác giả: Đặng Văn Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1997
3. Lê Thu Hà (2003), Thành phần các taxon động vật không xương sống cỡ lớn và sử dụng chúng làm sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng nước từ suối Tam Đảo đến sông Cà Lồ, Luận án tiến sĩ Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 199 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần các taxon động vật không xương sống cỡlớn và sử dụng chúng làm sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng nước từsuối Tam Đảo đến sông Cà Lồ
Tác giả: Lê Thu Hà
Năm: 2003
4. Trần Nam Hải (2013), Nghiên cứu thành phần loài bướm ngày (Lepidoptera: Rhopalocera) và vai trò chỉ thị của một số loài ở Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sỹ sinh học, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần loài bướm ngày(Lepidoptera: Rhopalocera) và vai trò chỉ thị của một số loài ở Trạm Đadạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Trần Nam Hải
Năm: 2013
5. Nguyễn Quang Huy (2010), Nghiên cứu tính đa dạng sinh học động vật không xương sống ở sông Đáy, sông Nhuệ thuộc địa phận tỉnh Hà Nam và sự biến đổi của nó dưới ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế, xã hội, Luận án tiến sĩ Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 150 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính đa dạng sinh học động vậtkhông xương sống ở sông Đáy, sông Nhuệ thuộc địa phận tỉnh Hà Namvà sự biến đổi của nó dưới ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế, xã hội
Tác giả: Nguyễn Quang Huy
Năm: 2010
6. Nguyễn Văn Khánh (2008), Sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượng môi trường nước tại một số thuỷ vực nước ngọt ở thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng động vật không xương sống cỡ lớnđể đánh giá chất lượng môi trường nước tại một số thuỷ vực nước ngọtở thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh
Năm: 2008
8. Nguyễn Văn Khánh, Trần Duy Vinh, Dương Công Vinh, Ưng Văn Thạch (2010). “Sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượng môi trường nước sông Phú Lộc, thành phố Đà Nẵng”, Tạp chí khoa học công nghệ, số 2(37), tr. 111-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chấtlượng môi trường nước sông Phú Lộc, thành phố Đà Nẵng”, "Tạp chíkhoa học công nghệ, số
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh, Trần Duy Vinh, Dương Công Vinh, Ưng Văn Thạch
Năm: 2010
9. Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Quýnh, Vũ Quốc Việt (2007), Chỉ thị sinh học môi trường, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị sinhhọc môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Quýnh, Vũ Quốc Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
10. Nguyễn Thị Mai (2004), “Đa dạng thành phần động vật không xương sống cỡ lớn và sử dụng chúng đánh giá chất lượng môi trường nước khúc sông Sài Gòn thuộc quận 2, thành phố Hồ Chí Minh’’, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp số 3/2004, tr. 103-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng thành phần động vật không xươngsống cỡ lớn và sử dụng chúng đánh giá chất lượng môi trường nướckhúc sông Sài Gòn thuộc quận 2, thành phố Hồ Chí Minh’’, "Tạp chíKhoa học kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Mai
Năm: 2004
11. Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001)‚ Khóa định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 66 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa định loại cácnhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở ViệtNam
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (2001), Động vật chí Việt Nam, tập 5, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật chí Việt Nam
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
Năm: 2001
13. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (1980), Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định loạiđộng vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên
Nhà XB: Nhà xuấtbản Khoa học kỹ thuật
Năm: 1980
14. Nguyễn Vũ Thanh, Tạ Huy Thịnh (2001). “Sử dụng chỉ số sinh học ASPT đánh giá nhanh chất lượng sinh học nước ở lưu vực sông Cầu’’, Tạp chí sinh học, số 25, tr. 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chỉ số sinh học ASPTđánh giá nhanh chất lượng sinh học nước ở lưu vực sông Cầu’’, "Tạp chísinh học
Tác giả: Nguyễn Vũ Thanh, Tạ Huy Thịnh
Năm: 2001
15. Hoàng Đình Trung, Mai Phú Quý (2014), “Sử dụng côn trùng nước và một số nhóm động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượng nước mặt sông Truồi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế”, Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học quốc gia lần thứ 8, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr. 285-293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng côn trùng nước vàmột số nhóm động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượngnước mặt sông Truồi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế”, "Báo cáokhoa học Hội nghị Côn trùng học quốc gia lần thứ 8
Tác giả: Hoàng Đình Trung, Mai Phú Quý
Nhà XB: Nhà xuất bản Nôngnghiệp
Năm: 2014
16. Adam J.H. (2002), “The potential of local benthic macroinvertebrates as a biological monitoring tool for river water quality’’, Proceedings of the regional symposium on environment and natural Resources, vol 1, pp.464-471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The potential of local benthic macroinvertebrates as abiological monitoring tool for river water quality’’", Proceedings of theregional symposium on environment and natural Resources
Tác giả: Adam J.H
Năm: 2002
17. Bishop J. E. (1973), “Observations on the vertical distribution of the benthos in a Malaysial stream” Freshwater Biology 3, pp. 147-156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Observations on the vertical distribution of thebenthos in a Malaysial stream” "Freshwater Biology
Tác giả: Bishop J. E
Năm: 1973
18. Carmen Zamora-Muroz, Carmen E. Sainz-Cantero, Antonino Sanchez- Ortega, Javier Alba Tercedor (1992), “Areview biological indices BMWP and ASPT and their significance regarding water quality seasonally depndent? Factors explaining their variations’’, Universidad de Granada, Spain Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Areview biological indicesBMWP and ASPT and their significance regarding water qualityseasonally depndent? Factors explaining their variations’’
Tác giả: Carmen Zamora-Muroz, Carmen E. Sainz-Cantero, Antonino Sanchez- Ortega, Javier Alba Tercedor
Năm: 1992
19. Duddgeon D. (1987), “The ecology of a forest stream in Hong Kong”, Archi. Hydrobiol. Beih. Ergebn. Limnol. 28, pp. 449-454 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The ecology of a forest stream in Hong Kong”,"Archi. Hydrobiol. Beih. Ergebn. Limnol
Tác giả: Duddgeon D
Năm: 1987
20. Mustow S. E. (1993), “Biological monitoring of river and integerated catchment management in England and wales’’, Scientific and legalaspeets of biological monitoring in fresh water, pp.25-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biological monitoring of river and integeratedcatchment management in England and wales’’, "Scientific andlegalaspeets of biological monitoring in fresh water
Tác giả: Mustow S. E
Năm: 1993
21. Mustow S. E. (1997), Aquatc macroinvertebrates and environmental quality of river in northern Thailand, Unpublished PhD thesis, University of London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aquatc macroinvertebrates and environmentalquality of river in northern Thailand
Tác giả: Mustow S. E
Năm: 1997

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w