1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học môn tự nhiên và xã hội lớp 1 (2017)

72 286 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục đích trên, cần tìm kiếm những phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học hiệuquả.Việc tìm kiếm và vận dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạyhọc các mô

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO GIÁO DỤC TIỂU HỌC

**********

NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Quang Tiệp

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô giáotrong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quátrình thực hiện khóa luận Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớithầy giáo: T.s Phạm Quang Tiệp đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trongsuốt quá trình nghiên cứu này

Trong quá trình thực hiện khóa luận do điều kiện, năng lực và thời giancòn nhiều hạn chế đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Vìvậy, em rất mong nhận được sự góp ý và bổ sung của thầy cô và các bạn để

đề tài thêm hoàn thiện

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Biện pháp vận dụng phương phápbàn tay nặn bột trong dạy học môn tự nhiên và xã hội lớp 1” là kết quả mà tôi

đã trực tiếp tìm tòi, nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu tôi có sử dụng tàiliệu của một số tác giả để tham khảo Đó chỉ là cơ sở để tôi rút ra được nhữngvấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Tôi xin cam đoan đây là kết quả của cánhân tôi hoàn toàn không trùng khớp với kết quả của các tác giả

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 20157

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PPDH : Phương pháp dạy học

PPBTNB : Phương pháp bàn tay nặn bột SGK : Sách giáo khoa

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Giả thuyết khoa học 3

7 Cấu trúc luận văn 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC 4

TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 1 4

1.1 Khái quát về phương pháp bàn tay nặn bột 4

1.1.1 Khái niệm về PPBTNB 4

1.1.2 Nghiên cứu và vận dụng phương pháp BTNB trên thế giới 4

1.1.3.Nghiên cứu và vận dụng phương pháp BTNB ở Việt Nam 5

1.1.3 Đặc điểm của phương pháp bàn tay nặn bột 7

1.1.5 Vai trò của phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học tự nhiên và xã hội lớp 1 14

1.2 Vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học ở tiểu học 15

1.2.1 Mục tiêu của môn tự nhiên và xã hội lớp 1 15

1.2.2 Nội dung cơ bản môn Tự nhiên và xã hội lớp 1 16

1.2.3 Đặc điểm của môn Tự nhiên và xã hội lớp 1 18

1.3 Đặc điểm của học sinh lớp 1 19

1.4 Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 1 21

1.5 Thực trạng dạy học phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học tự nhiên và xã hội lớp 1 23

Trang 6

1.5.1 Mục đích khảo sát thực trạng 23

1.5.2 Đối tượng khảo sát thực trạng 23

1.5.3 Nội dung khảo sát thực trạng 23

CHƯƠNG 2 30

BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT 30

TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ HỘI LỚP 1 30

2.3.1 Lựa chọn các bài học phù hợp trong chương trình tự nhiên và xã hội lớp 1 để dạy học theo PPBTNB 30

2.3.3 Vận dụng quy trình bàn tay nặn bột để thiết kế bài dạy 38

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52

1 Kết luận 52

2 Kiến nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 7

Sự đổi mới phải bắt đầu từ cấp tiểu học- nền móng của ngôi nhà tri thức Đổimới giáo dục phải được hiểu là đổi mới toàn diện, đổi mới từ mục tiêu, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Để đạt được mục đích trên, cần tìm kiếm những phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học hiệuquả.

Việc tìm kiếm và vận dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạyhọc các môn học ở Tiểu học nói chung và môn tự nhiên vã hội nói riêng làvấn đề quan trọng nhằm hình thành cho học sinh phương pháp học tập độclập, sáng tạo Một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, đáp ứng đượcmục tiêu yêu cầu đổi mới và vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn tự nhiên

và xã hội học ở tiểu học hiện nay đó là phương pháp “Bàn tay nặn bột” Trongquá trình tiếp xúc với phương pháp này học sinh luôn được động nào, tìm tòi,thảo luận với các học sinh khác trong nhóm trong lớp, hoạt động tích cực đểtìm ra kiến thức Hoạt động của giáo viên cũng không kém phần quan trọng,giáo viên phải xác định được kiến thức khoa học sao cho phù hợp với lứa tuổi

Trang 8

của các em, trong mỗi bài học áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột thì giáoviên phải đặt ra những câu hỏi cần thiết , phù hợp với từng nội dung thờiđiểm và mức độ để từ đó đề ra cho học sinh những vấn đề cần giải đáp trongnội dung bài học giúp các em tiếp cận với kiến thức thông qua con đường tựnhận thức, tìm tòi và kết luận.Trên thực tế việc vận dụng các PPDH trongdạy học ở Tiểu học và dạy học môn Tự nhiên và xã hội còn gặp nhiều khókhăn, chưa thực sự đem lại hiệu quả

Những lí do trên là căn cứ để tôi lựa chọn đề tài: “Vận dụng phương

pháp bàn tay nặn bột trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 1”.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học tự nhiên và xã hội lớp 1

- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp BTNB trongdạy học Tự nhiên và xã hội lớp 1

- Tìm ra các cách vận dụng PPBTNB trong dạy học Tự nhiên và xã hộilớp1

- Minh họa một số bài học cụ thể vận dụng PPBTNB trong dạy học Tựnhiên và xã hội lớp 1

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Tìm tòi, phân tích các tài liệu có liên quan đến phạm vi, nội dungnghiên

Trang 9

cứu để thu thập thông tin, tổng hợp các vấn đề nhằm xây dụng cơ sở lí luậncho đề tài.

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

5.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở trường tiểu học

để thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài

5.2.2 Phương pháp điều tra

Tiến hành điều tra theo các mẫu phiếu hỏi để thu thập những thông tinthực tiễn của vấn đề

5.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Tiến hành trò chuyện, phỏng vấn những đối tượng có liên quan nhằm có đượcnhững thông tin cần thiết, có độ tin cậy cao để xây dựng cơ sở thực tiễn cho

đề tài

5.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các hàm thống kê toán học để phân tích, tổng hợp kết quảđiều tra, thực nghiệm nhằm cung cấp cơ sở cho các kết luận, kiến nghị

6 Giả thuyết khoa học

Nếu phương pháp dạy học bàn tay nặn bột được vận dụng trong dạyhọc môn Tự nhiên và xã hội lớp 1 phù hợp với đặc trưng môn học thì hiệuquả dạy học sẽ được nâng cao

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm 2chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp BTNBtrong dạy học môn tự nhiên và xã hội lớp 1

Chương 2: Biện pháp vận dụng PPBTNB trong dạy học môn tự nhiên và xã hội lớp 1

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC

TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 1 1.1 Khái quát về phương pháp bàn tay nặn bột

1.1.1 Khái niệm về PPBTNB

Phương pháp dạy học "Bàn tay nặn bột" (BTNB , là phương pháp dạyhọc khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạyhọc các môn khoa học tự nhiên Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo

sư Georges Charpak (Giải Nobel Vật lý năm 1992) Theo phương phápBTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời chocác vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quansát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.Đứng trước một sự vật hiện tượng, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, cácgiả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực nghiệm nghiên cứu đểkiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh,phân tích, tổng hợp kiến thức

Mục tiêu của phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốnkhám phá và say mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiếnthức khoa học, phương pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹnăng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh

1.1.2 Nghiên cứu và vận dụng phương pháp BTNB trên thế giới

Ngay từ khi mới ra đời, phương pháp BTNB đã được tiếp nhận vàtruyền bá rộng rãi Nhiều quốc gia trên thế giới đã hợp tác với Viện Hàn lâmKhoa học Pháp trong việc phát triển phương pháp này như Brazil, Bỉ,Campuchia, Chilê, Trung Quốc, Thái Lan, Colombia, Hy lạp,Malaysia, Marốc, Serbi, Thụy Sĩ, Đức…, trong đó có Việt Nam thông qua

Trang 11

Hội Gặp gỡ Việt Nam Tính đến năm 2009, có khoảng hơn 30 nước tham giatrực tiếp vào chương trình BTNB.

Nhờ sự bảo trợ của Vụ Công nghệ - Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp, trangweb quốc tế dành cho 9 quốc gia được thành lập năm 2003 nhằm đăng tải tàiliệu cung cấp bởi các giáo viên, giảng viên theo ngôn ngữ của mỗi nướcthành viên tham gia

Hệ thống các trang web tương đồng (site miroir) với trang web BTNBcủa Pháp được nhiều nước thực hiện, biên dịch theo ngôn ngữ bản địa củacác quốc gia như Trung Quốc, Hy lạp, Đức, Serbi, Colombia…Tháng 7 năm 2004, trường hè Quốc tế về BTNB với chủ đề "Bàn taynặn bột trên thế giới: trao đổi, chia sẻ, đào tạo" đã được tổ chức ở Erice – Ýdành cho các chuyên gia Pháp và các nước

Hội đồng Khoa học Quốc tế (International Council for Science - ICS)

và Hội các Viện Hàn lâm Quốc tế (International Academy Panel - IPA) phốihợp tài trợ để thành lập cổng thông tin điện tử về giáo dục khoa học, trong đónội dung phương pháp BTNB được đưa vào Cổng thông tin đa ngôn ngữ nàyđược thành lập vào tháng 4/2004

Nhiều dự án theo vùng lãnh thổ, châu lục được hình thành để giúp đỡ,

hỗ trợ cho việc phát triển phương pháp BTNB tại các quốc gia Có thể kể đến

6 dự án Pollen (Hạt phấn) của Châu Âu, dự án phát triển phương pháp BTNBtrong hệ thống các lớp song ngữ tại Đông Nam Á của VALOFRASE(Valofrase du Francais en Asie du Sud-Est - Chương trình phát triển tiếngPháp ở Đông Nam Á), dự án giảng dạy khoa học cho các nước nói tiếng Ảrập

1.1.3 Nghiên cứu và vận dụng phương pháp BTNB ở Việt Nam

Hội Gặp gỡ Việt Nam (tên tiếng Pháp là "Recontres du Vietnam")được thành lập vào năm 1993 theo luật Hội Đoàn 1901 của Cộng hòa Pháp dogiáo sư Jean Trần Thanh Vân - Việt kiều tại Pháp làm chủ tịch Hội tập hợp

Trang 12

các nhà khoa học ở Pháp với mục đích hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam trong cáclĩnh vực khoa học, giáo dục, trong các hội thảo khoa học, trường hè về Vật lý;trao học bổng khuyến học, khuyến tài cho học sinh và sinh viên Việt Nam.Với sự cố gắng đem lại cho giáo viên tiểu học tại Việt Nam một phươngpháp dạy học mới, tích cực nhằm thực hiện đổi mới phương pháp dạy họctrên tinh thần của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội Gặp gỡ Việt Nam đã trực tiếplàm việc với các trường đại học, các Sở Giáo dục và Đào tạo tại các địaphương để tổ chức các lớp tập huấn.

Tháng 6/2000, Hội Gặp gỡ Việt Nam cùng nhóm phóng viên của kênhtruyền hình VTV1 của Việt Nam thực hiện một phóng sự về phương phápBTNB phát trên truyền hình Việt Nam

Từ năm 2000 đến 2002, phương pháp BTNB đã được phổ biến chosinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội, được áp dụng thử nghiệm tại trường Tiểuhọc Đoàn Thị Điểm, trường Herman Gmeiner Hà Nội và trường thực hànhNguyễn Tất Thành (thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội) Chủ đề giảng dạy là:nước, không khí và âm thanh

Năm 2002, nhóm nghiên cứu tăng thêm các lớp tiểu học áp dụngphương pháp BTNB tại Hà Nội và mở thêm các lớp tại Huế và tại Thành phố

Hồ Chí Minh Lớp tập huấn về phương pháp BTNB cho giáo viên được tổchức vào tháng 9/2002 tại Hà Nôi

Từ 2002 đến nay, dưới sự giúp đỡ của Hội Gặp gỡ Việt Nam cáclớp tập huấn về phương pháp BTNB đã được triển khai cho các giáo viên cốtcán và các cán bộ quản lý tại nhiều địa phương trong toàn quốc.Tháng 12/2009, Giáo sư Trần Thanh Vân đã gặp gỡ và trao đổi vềchương trình BTNB tại Việt Nam với Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển và Vụtrưởng Vụ Tiểu học Lê Tiến Thành

Trang 13

Tháng 8/2010, GS Trần Thanh Vân có cuộc gặp gỡ, trao đổi với Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận và thứ trưởng Nguyễn VinhHiển, trong đó có nội dung về định hướng phát triển phương pháp BTNB tạiViệt Nam.

1.1.4 Đặc điểm của phương pháp bàn tay nặn bột

- Coi trọng vốn kiến thức và kĩ năng sẵn có của người học, phươngpháp này xuất phát từ những kinh nghiệm sẵn có của học sinh, học sinh đượcbộc lộ những hiểu biết ban đầu của bản thân, chính các em là người được thựcnghiệm, được tự tay làm các thí nghiệm và tự tìm ra kiến thức mới

- Học sinh được học qua trải nghiệm, thông qua các hoạt động nhóm, tựtực hành, tự phán đoán, suy nghĩ và thực hành các em sẽ tự tìm được tri thứckhoa học Tri thức khoa học mà ban đầu các em tự tìm ra cho dù chưa chínhxác hoàn toàn, chưa tròn trịa nhưng đó là cơ sở ban đầu em tìm được tri thứckhoa học cần thiết Các em được làm thật, hiểu thật đây là điểm khác so vớiphương pháp dạy học truyền thống giáo viên truyền đạt và học sinh tiếp thu

- Học sinh học được kiến thức qua những sai lầm Qua việc đề xuất giảipháp để giải quyết vấn đề, học sinh tiếp tục được thực hiện theo giải pháp màmình đã lựa chọn Trong nhiều tình huống, giáo viên chấp nhận những sailầm của học sinh và coi đây là các cơ hội để học tập

- Học sinh học tập theo các chiến lược hợp tác, nếu như phương phápdạy học truyền thống giáo viên truyền đạt và học sinh tiếp thu thì ở PPBTNBcác em được hợp tác trong một nhóm, được trao đổi, được bày tỏ ý kiến củamình với các vấn đề đưa ra Các em sẽ giải quyết các nhiệm vụ theo nhóm,cùng nhau trao đổi, thảo luận từ đó phát triển được năng lực hợp tác, năng lựcgiải quyết vấn đề

Trang 14

1.1.5 Nguyên tắc vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học Tự nhiên và xã hội

a, Học sinh cần phải hiểu rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề trọng tâm của bài học

Để học sinh có thể tiếp thụ thực sự với tìm tòi nghiên cứu và cố gắng để hiểukiến thức, học sinh cần thiết phải hiểu rõ câu hỏi hay vấn đề dặt ra càn giảiquyết trong bài học Để đạt yêu cầu này, bắt buộc học sinh phải tham gia vàobước hình thành các câu hỏi Có nghĩa là học sinh cần phải có thời gian để khám phá chủ đề của bài học, thảo luận các vấn đề và các câu hỏi có thể đặt ra

để từ đó suy nghĩ về những gì cần được nghiên cứu, phương án thực hiện như thế nào

Vấn đề câu hỏi xuất phát phù hợp là câu hỏi tương thích với trình độnhận thức của học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức học sinh , kích thích nhucầu tìm tòi- nghiên cứu học sinh

b, Tự làm thí nghiệm là cốt lõi của việc tiếp thu kiến thức

Học sinh cần thiết phải tự thực hiện và tự điều chỉnh thí nghiệm củamình cho phù hợp với hiện tượng , kiến thực mà học sinh quan tâm, nghiêncứu, Sở dĩ học sinh tự làm thí nghiệm trực tiếp là cơ sở cho việc hiểu bản chấtcốt lõi của các khái niệm và thông qua các thí nghiệm học sinh có thể hìnhthành kiến thức xung quanh mình

Trước khi học được kiến thức, học sinh đến với những suy nghĩ banđầu của mình về các kiến thức, sự vật , hiện tượng theo cách suy nghĩ vàquan niệm của các em Những suy nghĩ và quan niệm ban đầu này, là nhữngquan niệm riêng của các em thông qua vốn sống và vốn kiến thức đã thu thậpđược ngoài trường học Các quan niệm này có thể đúng hoặc sai Trong quantrình làm thí nghiệm trực tiếp, học sinh sẽ tự đặt câu hỏi, tự thử nghiệm cácthí nghiệm để để tìm ra câu trả lời và tự rút ra các kết luận mới về kiến thức

Trang 15

Các thí nghiệm trong PPBTNB là những thí nghiệm đơn giản, khôngquá phúc tập, các vật liệu dụng cũ dễ kiếm, gần gũi với học sinh Học sinh sẽnhớ lâu, sâu sắc các thí nghiệm do mình tự làm Mặt khác học sinh có ý tưởng

về một số hiện tượng từ rất sớm, sẽ là không đủ nếu giáo viên dành thời gianlớn để giảng giải cho học sinh những thí nghiệm này có kết quả như thế nào(không làm thí nghiệm chỉ mô tả hoặc làm mẫu đơn giản các thí nghiệm)hoặc nói với học sinh những điều các em nghĩ là sai, mà giáo viên phải có ýthức về sự cần thiết để học sinh tự làm thí nghiệm và tự tìm ra kiến thức

c, Tìm tòi nghiên cứu khoa học đòi hỏi học sinh nhiều kĩ năng Một trongnhững kĩ năng cơ bản đó là thực hiên một quan sát có chủ đích

Tìm tòi- nghiên nghiên cứu yêu cầu học sinh nhiều kĩ năng như : kĩnăng đặt câu hỏi, đề xuất các dự đoán, giả thiết, phương án thí nghiệm, phântích dữ liệu, giải thích và bảo vệ kết quả của mình Một trong những kĩ năngquan trọng là học sinh phải biết xác định và quan sát một sự vật , hiện tượngnghiên cứu

Như chúng ta đã biết mọi sự vật và hiện tượng đều có các tính chất vàđặc trưng cơ bản Để hiểu rõ và phân biệt được các sự vật hiện tượng vớinhau bắt buộc người học phải rút ra được các đặc trưng đó Nếu không quansát có chủ đích, quan sát chung chung và thông tin ghi nhận một cách tổngquát thì sẽ không thể giúp học sinh sử dụng để tìm ra câu trả lời cho các câuhỏi cụ thể

d, Học khoa học không chỉ hành động với các đồ vật, dụng cụ thí nghiệm màhọc sinh cần phải biết lập luận , trao đổi với các học sinh khác, biết viết chomình và cho người khác hiểu

Một số trường hợp dạy học theo PPBTNB là những hoạt động thựchành đơn giản Để các thí nghiệm được thực hiện đúng và thành công, đưa lạiđược lí luận và kiến thức, học sinh phải suy nghĩ và hiểu những gì mình đang

Trang 16

làm, đang thảo luận với học sinh khác Các ý tưởng, dự đoán, các khái niệm,kết luận cần được phát biểu rõ ràng bằng lời hay viết ra giấy để chia sẻ thảoluận với các học sinh khác.

Việc trình bày ý tưởng, dự đoán kết luận của học sinh có thể kết hợp cảviệc trình bày lời và viết, vẽ ra giấy Đôi khi trình bày, biểu đạt ý kiến củahọc sinh có thể giúp các em hiểu ra mình đã hiểu đúng hay chưa Phần lớncác em học sinh thích trình bày bằng lời hơn là việc viết ra giấy Việc trìnhbày bằng lời hay viết ra giấy thì đều cần sự linh hoạt , phù hợp với từng hoạtđộng , thời gian Đây cũng là yếu tố quan trọng để giáo viên rèn luyện ngônngữ nói và viết cho học sinh trong quá trình dạy học

e, Dùng tài liệu khoa học để kết thúc quá trình tìm tòi – nghiên

cứu

Mặc dù rằng là thí nghiệm là điều quan trọng nhưng không thể qua việcnghiên cứu tài liệu khoa học Với các thí nghiệm đơn giản, không thể đáp ứnghết nhu cầu về kiến thức cần tìm hiểu của học sinh cũng không truyền tải hếtnội dung bài học

Có nhiều nguồn khoa học như sách khoa học, thông tin trên internet,báo chí chuyên ngành, tranh ảnh, phim khoa học, mà giáo viên chuẩn bị đểhọc sinh nghiên cứu tìm ra kiến thức, tuy nhiên nguồn tài liệu quan trọng, phùhợp và gần gũi nhất với học sinh là sách giáo khoa Đối với một số thông tin

có thể khai thác thông qua tài liệu, giáo viên có thể cho học sinh đọc sáchgiáo khoa và tìm thông tin để trả lời câu hỏi liên quan

f, Khoa học là một công việc cần sự hợp tác

Tìm tòi- nghiên cứu là một công việc cần sự hợp tác trong công việc,Trong nghiên cứu khoa học thực sự cũng vậy, có thể đưa ra những ví dụ vềnghiên cứu khoa học một mình như một nhà động vật học tự mình quan sát,nghiên cứu về tập tính của một loài động vật nào đó… Nhưng phải nói lạirằng, sau khi có kết quả nghiên cứu , nhà nghiên cứu phải công bố kết quảcủa

Trang 17

mình với thảo luận, so sánh với những nghiên cứu khác trong bài báo khoahọc của mình để chứng tỏ kết quả nghiên cứu của mình là mới là chính xác.Hoạt động nhóm của học sinh và kĩ thuật tổ chức hoạt động nhóm cũng làmtương tự như các nhà khoa học, chia se ý tưởng, tranh luận, suy nghĩ vềnhững gì cần làm và phương pháp để giải quyết vấn đề đặt ra.

1.1.4 Quy trình

PPBTNB đề xuất một tiến trình sư phạm ưu tiên xây dựng những trithức bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận Học sinh tự mình thực hiệncác thí nghiệm, tự suy nghĩ và thảo luận để hiểu được các kiến thức cho mình.Học sinh học tập nhờ hành động , cuốn mình trong hành động, học sinh họctập tiến bộ bằng cách tự nghi vấn, hỏi đáp các bạn cùng lớp, bằng cách trìnhbày quan điểm các nhân của mình Để áp dụng PPBTNB một cách hiệu quảcần thực hiện theo quy trình sau:

- Dự kiến thời gian, địa điểm và các tình huống có thể xảy ra và cácphương án giải quyết

Phần 2:Tiến hành:

Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm, bản chất của PPBTNB cũng như đặcđiểm môn Tự nhiên và xã hội 1, người nghiên cứu đã xây dựng quy trình dạyhọc môn Tự nhiên và xã hội 1 bằng PPBTNB theo các bước: (1) Đưa tìnhhuống xuất phát và nêu câu hỏi vấn đề,(2) Nêu ý kiến và xây dựng thành giảthuyết khoa học, (3) Bước 3: Đề xuất các câu hỏi và phương án tìm tòi

Trang 18

(4)Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – kiểm tra giả thuyết, (5) Trình bày, báocáo, nêu kết luận về giải thuyết.

Bước 1: Đưa ra tình huống và câu hỏi có vấn đề : Thực chất đây là

bước kích thích tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS Tình huống xuấtphát là tình huống có vấn đề cần giải quyết do GV chủ động đưa ra sau khigây được sự tò mò thích thú với HS là một cách dẫn nhập vào bài học Tìnhhuống xuất phát phải ngắn gọn, dễ hiểu đối với HS và có lồng ghép các câuhỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câuhỏi nêu vấn đề càng dễ GV phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùngcác câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề

Tuy nhiên, trong trường hợp tình huống xuất phát có thể chính là câuhỏi nêu vấn đề

Bước 2: Nêu ý kiến và xây dựng thành giả thuyết khoa học:

Hình thành biểu tượng ban đầu là bước quan trọng, đặc trưng của phươngpháp BTNB Bước này khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhậnthức ban đầu của mình trước khi được học kiến thức Hình thành biểu tượngban đầu, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học cóliên quan đến kiến thức mới của bài học Khi yêu cầu học sinh trình bàybiểu tượng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện củahọc sinh, có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viếthay vẽ để biểu hiện suy nghĩ Xem thêm phần trình bày về biểu tượng ban đầu

để rõ hơn phần lý luận của biểu tượng ban đầu

Bước 3: Đề xuất các câu hỏi và phương án tìm tòi:

Làm cho HS bộc lộ, nêu được ý kiến về vấn đề mà GV vừa đưa ra (ởbước 1) để từ đó hình thành các giả thuyết của HS là bước quan trọng, đặctrưng của PPBTNB Từ những khác biệt và phong phú về ý kiến ban đầu của

HS, GV khuyến khích, gợi mở để HS đề xuất câu hỏi, nêu ý kiến về vấn đề

Trang 19

đặt ra Chú ý xoáy sâu vào những khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâmcủa bài học Đây là một bước khá khó khăn vì GV cần phải chọn lựa các biểutượng ban đầu tiêu biểu trong hàng chục biểu tượng của HS một cách nhanhchóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạt định hướng thảo luận của

HS nhằm giúp các em đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ dạyhọc

- GV khuyến khích, yêu cầu HS/nhóm thảo luận, nêu các ý kiến, thắcmắc, câu hỏi; từ đó đưa ra giả thuyết cho vấn đề cần tìm hiểu GV cùng HSlựa chọn những giả thuyết phù hợp

- Khi yêu cầu HS trình bày ý kiến, GV có thể yêu cầu bằng nhiều hìnhthức biểu hiện của HS như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cánhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm, kiểm tra giả thuyết

- Yêu cầu HS/nhóm thảo luận về các phương án kiểm tra giả thuyết; đềxuất các phương án và lựa chọn những phương án khả thi, có thể tiến hành.ởphần này GV có thể thông báo trước cho HS những vật liệu có của lớp học đểcác em dựa vào đó mà đề xuất phương án thí nghiệm

- Từ các phương án kiểm tra giả thuyết học sinh đã nêu; GV yêu cầu vàđịnh hướng HS/nhóm tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm (theo phương án đãlựa chọn) để kiểm tra giả thuyết

Trước khi HS tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu vàmục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu HS cho biết mục đích của thí nghiệmchuẩn bị tiến hành Sau đó GV mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệmtương ứng với hoạt động Trong quá trình thí nghiệm, GV sẽ quan sát HS làm,

HS vừa làm vừa quan sát kết quả thí nghiệm sau đó GV sẽ lại nêu câu hỏi chokết quả đó, tạo tình huống có vấn đề cần HS giải quyết Đây là cách làm củamột nhà nghiên cứu thực thụ, đặc trưng cho PPBTNB Trong quá trình HS

Trang 20

thực hiện thí nghiệm, thực nghiệm; GV cần chú ý theo dõi và giúp đỡ HS(nếucần).

Bước 5: Trình bày, báo cáo, nêu kết luận về giả thuyết: sau khi hiện

thực thí nghiệm, thực nghiệm nghiên cứu-kiểm chứng (bước 3); các câu trảlời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức đượchình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cáchkhoa học GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi lại vào

vở, coi như kiến thức của bài học GV khắc sâu lại kiến thức cho HS bằngcách cho HS đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu Như vậy từ những quanniệm ban đầu (có thể khác biệt với kết luận khoa học), sau quá trình thựcnghiệm tìm tòi-nghiên cứu-kiểm chứng; chính HS tự phát hiện ra mình saihay đúng mà không phải do GV nhận xét một cách áp đặt, từ đó mà các emthay đổi hoặc điều chỉnh một cách chủ động Những thay đổi này sẽ giúp HSghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức

- Yêu cầu HS/nhóm HS thuyết trình, báo cáo kết quả thí nghiệm, thựcnghiệm tìm tòi , kiểm chứng đã thực hiện (bước 3)

- HS rút ra kết luận về giả thuyết khoa học; chủ động điều chỉnh nhậnthức của bản thân; GV giúp HS chính xác hóa và kết luận chung về vấn đềtìm hiểu

1.1.6 Vai trò của phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học tự nhiên và xã hội lớp 1

Chương trình tự nhiên và xã hội lớp 1 được xây dựng theo quan điểmdạy học tích cực Đây là một môn mang tính đa ngành, tính thực tiễn cao.Những hiểu biết mà các em có được là thực tiễn đang xảy ra xung quanh các

em Là những điều mà các em có thể áp dụng ngay với bản thân, những ngườixung quanh và môi trường tự nhiên Các em có thể tự đưa ra các vẫn đề vàtrở thành nhà nghiên cứu tìm ra cách giải quyết vẫn đề đó

Trang 21

PPBTNB tạo điều kiện cho học sinh được tự nghiên cứu để tm ra cáchgiải quyết các vấn đề trong học tập cũng như trong thực tiễn Qua đó các

em sẽ nắm được các kiến thức và kĩ năng cần thiết và con người, thiên nhiên

và các hiện tượng trong đời sống Những đặc điểm về cấu trúc chương trình,nội dung ôn học cho thấy môn tự nhiên và xã hội lớp 1 có nhiều ưu thế choviệc vận dụng PPBTNB Đây cũng là tín hiệu cho hướng nghiên cứu đề tài làphù hợp

1.2 Vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học ở tiểu học

Ý thức được vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong trườngtiểu học và tầm quan trọng của phương pháp BTNB trong việc hình thành ýthức khoa học, niềm say mê khoa học cho học sinh ngay từ lứa tuổi tiểuhọc, các giáo viên, cán bộ quản lý sau khi tham dự các lớp tập huấn đã triểnkhai tập huấn lại cho đồng nghiệp tại đơn vị Nhờ đó phương pháp BTNB

đã được nhân rộng hơn, triển khai được nhiều hơn cho các giáo viên tại cáctrường tiểu

học

Thời gian qua phương pháp BTNB được áp dụng và đạt được nhữngkết quả nhất định tại một số trường tiểu học Việt Nam Trên cơ sở kết quả

ấy, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ đạo nghiên cứu phương pháp BTNB để

áp dụng và mở rộng từng bước ở tiểu học và tiến tới triển khai mở rộng rãitrên cả nước

1.2.1 Mục tiêu của môn tự nhiên và xã hội lớp 1

Môn tự nhiên và xã hội lớp 1 có vai trò quan trọng trong việc cung cấpnhững, kiến thức và kĩ năng thái độ cần thiết cho học sinh lớp 1 khi các

em bắt đầu học ở cấp tiểu học

- Kiến thức: có một số kiến thức cơ bản về:

Trang 22

+ Con người và sức khỏe ( cơ thể người, cách giữa vệ sinh cơ thể vàphòng tránh tai nạn, bệnh tật và vui chơi an toàn)

Trang 23

+ Các thành viên trong gia đình, lớp học, một số sự vật hiện tượng đơngiản trong tự nhiên và xã hội.

- Kĩ năng: Bước đầu hình thành phát triển các kĩ năng:

+ Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, ứng sử hợp lí trong đời sống đểphòng tránh một số bệnh tật và tai nạn

+ Quan sát , nhận xét , nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, biết cách diễn đạtnhững hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội

- Thái độ: hình thành và phát triển các thái độ và hành vi:

+ Có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, giađình và cộng đồng

+ Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương

1.2.2 Nội dung cơ bản môn Tự nhiên và xã hội lớp 1

Nội dung môn tự nhiên và xã hội lớp 1 bao gồm 3 chủ đề:

- Chủ đề: Con người và sức khỏe

+ Cơ thể người và các giác quan ( các bộ phận chính, vai trò nhận biếtthế giới xung quanh của các giác quan,vệ sinh cơ thể và các giác quan, vệsinh răng miệng) Ăn đủ no uống đủ nước

- Chủ đề: Xã hội

+ Gia đình: Các thành viên trong gia đình ( ông , bà, cha mẹ, anh chị

em ruột), Nhà ở và đồ dùng trong nhà ( địa chỉ nhà ở, chỗ ăn, ngủ, là việc, tiếp khách…và các đồ dùng cần thiết trong nhà Giữ nhà ở sạch sẽ An toànkhi ở nhà( phòng tránh đứt tay, chân, điện giật, bỏng…)

Bảng phân phối nội dung môn Tự nhiên và xã hội lớp 1

Trang 24

Con người và sức khỏe

3 Nhận biết các vật xung quanh 3

20 An toàn trên đường đi học 20

Trang 25

29 Nhận biết cây cối và con vật 29

31 Thực hành: quan sát bầu trời 31

1.2.3 Đặc điểm của môn Tự nhiên và xã hội lớp 1

Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp

- Chương trình môn hoc tích hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực khoahọc khác nhau như: Vật lý, Hoá học, Sinh học, Sức khoẻ, Môi trường, Kỹnăng sống

+ Chương trình môn tự nhiên và xã hội được cấu trúc thành 3 chủ đềlớn: Con người và sức khoẻ, Xã hội, Tự nhiên Chương trình được cấu trúcđồng tâm, được mở rộng và nâng cao dần qua các lớp Lớp 1 là giao đoạnđầu của cấu trúc đồng tâm đó

Trong chương trình môn tự nhiên vã xã hội lớp 1, kiến thức được trìnhbày từ gần đến xa, từ dễ đến khó nhằm phù hợp đặc điểm nhận thức củahọc sinh Đầu tiên các em sẽ học chủ đề sức khỏe, từ những gì gần gũi nhất,tìm hiểu các bộ phận trên cơ thể chúng ta, sau là cách bảo vệ sức khỏe đơngiản Tiếp theo là học về chủ đề xã hội để các em có hiểu biết sơ giản về

xã hội xung quang các em Cuối cùng là chủ đề tự nhiên sẽ khó hơn, trên

cơ sở đó các em sẽ biết thêm về thế giới tự nhiên và các hiện tượng trong tựnhiên

Chương trình các môn về môn tự nhiên và xã hội lớp 1 được cấu trúclinh hoạt, mềm dẻo, thực tiễn, thiết thực, tạo điều kiện cho giáo viên có

Trang 26

19thể vận dụng các phương pháp mới vào quá trình dạy học theo hướngtích cực

Trang 27

hoá hoạt động nhận thức của học sinh Đồng thời, giúp học sinh có thể vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống hàng ngày

1.3 Đặc điểm của học sinh lớp 1

Lớp 1 là lớp đầu tiên trong giai đoạn giáo dục đầu đời của trẻ Trẻ lớp

1 có những đặc điểm khác biệt so với các lớp khác:

- Chú ý có chủ định (tức chú ý có ý thức, chú ý vào việc học tập) củatrẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạnnày chú ý không chủ định (chú ý tự do) chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định

Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, dễ bị phân tánbởi những âm thanh, sự kiện khác ngoài nội dung học tập Trẻ thường quantâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động,hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi ,…

- Tri giác các em mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tínhkhông ổn định, tri giác thường gắn với hình ảnh trực quan Vì vậy, chúng tacần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặcbiệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giáctích cực và chính xác

- Tưởng tượng của học sinh lớp 1 đã phát triển phong phú hơn so vớitrẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng nhiều.Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn còn đơn giản, chưa bền vững và dễthay đổi

Qua đây, các nhà giáo dục và cha mẹ cần phát triển tư duy và trí tưởngtượng của các em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành nhữnghình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở,thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơhội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

Trang 28

- Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp

1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ cókhả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khámphá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thứccảm tính và lí tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy,tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông quangôn ngữ nói và viết của trẻ Thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thểđánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

Trong giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt vàchiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chứcviệc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biếtcách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quáthóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quantrọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phảiđơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các

em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

- Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiềuvào yêu cầu của người lớn Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thựchiện hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiệnđến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn

Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Nhu cầunhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thúkhám phá Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyểnthành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập.Tất cả những điều

Trang 29

đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những thửthách đó thì phải cần

Trang 30

1.4 Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 1

Thuận lợi

Phương pháp BTNB là một phương pháp có tiến trình dạy học rõràng, dễ hiểu, có thể áp dụng được ở điều kiện các trường Tiểu học hiện nay.Qua một số tiết áp dụng phương pháp BTNB trong dạy tự nhiên và xã hội, cóthể nhận thấy sự ham thích, hứng thú của học sinh với những hoạt động tmhiểu kiến thức mới Điều này chứng tỏ học sinh luôn ham thích được họctập, hăng say tìm tòi và sáng tạo

Phương pháp BTNB coi trọng sự trải nghiệm, có nhiều liên quan đến môn tựnhiên và xã hội lớp 1 Những kiến thức của môn tự nhiên xã hội không trừutượng mà rất thực tế nên cần sự trải nghiệm thực tế của các em Các emhọc sinh lớp 1 có óc mày mò, ưa khám phá nếu được vận dụng một cách phùhợp sẽ mang lại hiểu quả cao

Khó khăn

Trang 31

- Học sinh lớp 1 còn nhỏ nên các em vẫn không tự làm thí nghiệm vàcần phải có sự hỗ trợ của giáo viên, giáo viên rất khó để có thể bao quát

cả lớp và sát sao với từng học sinh

- Học sinh thường lệ thuộc vào nội dung có sẵn trong sách giáo khoa,hạn chế đến việc tm tòi, tự bộc lộ quan điểm, ý kiến cá nhân, khó khăntrong việc đề xuất các giải pháp.Với phương pháp BTNB, để có thể cung cấpnhững kiến thức toàn diện và kỹ năng thực hành mới cho học sinh sẽ mấtrất nhiều thời gian, đòi hỏi giáo viên cần phải có sự chuẩn bị kỹ càng, chuđáo, dự kiến nhiều tình huống cần giải quyết… Nếu không sẽ ảnh hưởngđến thời lượng của toàn tiết học và các môn học khác Áp dụng phươngpháp BTNB, nếu kiến thức khoa học, năng lực giáo viên hạn chế sẽ bỡ ngỡ,lúng túng khi xử lý tình huống giảng dạy (nhất là tình huống mở đầu), trongviệc trả lời, giải đáp các câu hỏi, thắc mắc của học sinh

Hiện nay, bàn ghế lớp học được bố trí theo dãy, nối tiếp nhau,không thuận lợi cho việc tổ chức học theo nhóm; phòng học học bộ môn

và phòng thí nghiệm chưa đủ chuẩn để thuận lợi cho việc giảng dạy các bộmôn khoa học Trang thiết bị chưa đầy đủ, còn thiếu các phương tiện hỗ trợhoạt động báo cáo, thảo luận của học sinh như máy tính, máy chiếu vậtthể, máy chiếu bản trong…; tài liệu bổ trợ cho hoạt động tìm tòi - khám phá Dụng cụ thí nghiệm còn chưa đồng bộ và độ chính xác không cao nên rấtkhó khi học sinh tự làm thí nghiệm Hiện nay, cấu trúc, chương trình sáchgiáo khoa bố trí theo bài, không theo chủ đề có tính hệ thống; một số kiếnthức của bài dạy còn dài dòng và có nhiều phần chưa phù hợp dạy theophương pháp BTNB

nêu ra …

Số học sinh trên một lớp quá đông nên việc tổ chức học tập theonhóm rất khó khăn Điều này cũng gây khó khăn trong tổ chức các hoạt động

Trang 32

25thực tế cho học sinh Trình độ của học sinh không đồng đều, khó tiếp cận vớiphương

Trang 33

pháp giảng dạy mới Nếu lớp học thụ động, kiến thức yếu thì tình huốngđưa ra các em sẽ không tìm được vấn đề cần đặt ra, không đề xuất đượcthực nghiệm, sẽ không dự báo được kết quả thực nghiệm … và tiết dạytheo phương pháp này không hiệu quả

1.5 Thực trạng dạy học phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học tự nhiên và xã hội lớp 1

1.5.1 Mục đích khảo sát thực trạng

Điều tra, tìm hiểu thực tiễn dạy học Tự nhiên và xã hội lớp 1 và việcvận dụng PPBTNB trong dạy học tự nhiên và xã hội, trên cơ sở đó tm ra cácbiện pháp vận dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

1.5.2 Đối tượng khảo sát thực trạng

Tiến hành thu thập thông tin chủ yếu qua giáo viên và học sinh trườngTiểu học Xuân Hòa - thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc., trường Tiểu họcĐồng Xuân – Thị xã Phúc yên - tỉnh Vĩnh Phúc, trường tiểu học Cao Minh-thị xã phúc Yên- tỉnh Vĩnh Phúc

1.5.3 Nội dung khảo sát thực trạng

Những thông tin cần thu thập qua điều tra có liên quan đến môn tựnhiên và xã hội lớp 1 và việc vận dụng PPBTNB trong dạy học môn tự nhiên

và xã hội lớp 1 bao gồm:

- Thực trạng việc tổ chức dạy học môn tự nhiên và xã hội hiện nay, cáchoạt động dạy học, phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động

- Việc vận dụng PPBTNB trong dạy học môn tự nhiên và xã hội lớp 1

Bảng tổng hợp nội dung điều tra thực

trạng

Trang 34

Nội dung điều tra

Cách thức điều traNghiên Phiếu Quan Phỏngcứu tài điều sát, dự vấn

Thực trạng dạy môn tự nhiên và xã hội

hiện nay

- Tiến trình tổ chức dạy học môn tự

nhiên và xã hội, các phương pháp và

hình thức tổ chức dạy môn tự nhiên và

xã hội

- Vấn đề đổi mới daỵ học tự nhiên và

xã hội hiện nay theo quan điểm dạy học

tích cực

Việc vận dụng PPBTNB trong dạy học

môn tự nhiên và xã hội lớp 1

- Nhận thức của giáo viên về vai trò ,

đặc trưng của PPBTNB trong dạy học

* Thực trạng tổ chức dạy môn tự nhiên và xã hội hiện nay.

Nhận xét qua phiếu điều tra:

Về PPDH môn tự nhiên và xã hội.

Bảng mức độ sử dụng các trong dạy môn tự nhiên và xã hội lớp 1

Trang 35

40%) cũng được giáo viên sử dụng thường xuyên Phương pháp dạy học dự

án ( 12%) và bàn tay nặn bột (1%) giáo viên thường xuyên sử dụng

Giáo viên sử dụng chủ yếu các phương pháp dạy học truyềnthuyền thống như quán sát, thuyết trình, đàm thoại mà ít sử dụng cácphương pháp như dạy học dự án, thí nghiệm, bàn tay nặn bột cũng có thể do

cở sở vật chất, thiết bị dạy học còn hạn chế

Trang 36

Hình thức tổ chức dạy học giáo viên thường xuyên sử dụng là dạy học

cả lớp và ở trong lớp chiếm 100% , sau đó là dạy học cá nhân ( 96%) Hìnhthức dạy học ngoài trời rất hạn chế sử dụng thường xuyên ( 5%) thamquan học tập thì rất hiếm khi Như vậy việc học vẫn là sự truyền đạt củagiao viên cho học sinh, dạy học tự nhiên và xã hội không đơn giản là sựtruyền đạt mà còn cần sự tư duy năng lực suy nghĩ và giải quyết vấn đề.Thực tế giáo viên thấy rằng càn phải thay đổi, đổi mới hình thức tổ chứcdạy học sao cho tiết học hiệu quả và sáng tạo nhưng việc thay đổi vẫn là mộtvấn đề lớn

* Nhận xét qua nghiên cứu tài

liệu:

Nghiên cứu giáo án giảng dạy cho thấy việc xác định mục tiêu, cácphương pháp và hình thức tổ chức dạy học thường phụ thuộc vào hướng dẫntrong sách giáo khoa và sách giáo viên và sách thiết kế bài giảng.Tổng hợpnghiên cứu các tài liệu cho thấy đa số giáo viên nhận thấy cần phải đổi mớiPPDH nhưng do hạn chế trong việc tiếp cận các PPDHTC dẫn tới giáo viên

Ngày đăng: 16/01/2020, 13:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Thị Thấn (Chủ biên), “Phương pháp dạy học các môn học về Tự nhiên và Xã hội”, NXB ĐHSP, 20095 . Bùi Phương Nga (Chủ biên). “Tự nhiên – Xã hội và phương pháp dạy học Tự nhiên – Xã hội”, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học các môn học về Tựnhiên và Xã hội”, NXB ĐHSP, 20095 . Bùi Phương Nga (Chủ biên). “Tự nhiên – Xã hội và phương pháp dạy họcTự nhiên – Xã hội
Nhà XB: NXB ĐHSP
6. Lê Văn Trưởng (Chủ biên) ( 2007) “Tự nhiên – Xã hội và phương pháp dạy học Tự nhiên – Xã hội”. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự nhiên – Xã hội và phương pháp dạy học Tự nhiên – Xã hội
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Nguyễn Thương Giao. “Phương pháp dạy học Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học
1. Hội gặp gỡ Việt Nam, Giảng dạy các môn Khoa học ở bậc tiểu học theo phương pháp Bàn tay nặn bột, La main à la paate, Huế, 2011 Khác
2. Gorger Charpak, Bàn tay nặn bột – Khoa học ở trường tiểu học, NXB Giáo dục, 1999 Khác
3. Vụ GD Tiểu học – Hội Gặp gỡ Việt Nam – Phương pháp Bàn tay nặn bột ứng dụng vào dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học Việt Nam Khác
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006) chương trình Tự nhiên và xã hội ở Tiểu học, NXB Giáo dục Khác
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2010) Tự nhiên và xã hội ( sách giáo khoa), NXB Giáo dục Khác
11.Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2010) Tự nhiên và xã hội ( sách giáo viên ), NXB Giáo dục Khác
12. h t t p : / / g i a o d u c . n e t . vn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w