Luận văn Thạc sĩ Lịch sử: Vấn đề Campuchia trong quan hệ Thái Lan - Việt Nam 1979 - 1991 bao gồm những nội dung khái quát quan hệ Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1967 – 1979; vấn đề Campuchia trong quan hệ Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1979 – 1986 và 1986 - 1991.
Trang 1_
ĐINH ĐỨC DUY
VẤN ĐỀ CAMPUCHIA TRONG QUAN
HỆ THÁI LAN VIỆT NAM 1979-1991
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn xin cam đoan với Hội đồng khoa học cùng đọc giả, đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các chứng cứ và số liệu làm cơ sở được trình bày trong luận văn là do chính bản thân sưu tầm, sắp xếp, đánh giá mang tính trung thực và chưa được công bố đầy đủ như thế trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Các nội dung trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc cụ thể, mang tính khoa học Các tài liệu tham khảo để hoàn thành luận văn đều được vinh diện trong công trình này
Với danh dự của người nghiên cứu, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước
sự cam đoan của mình
Tác giả luận văn ĐINH ĐỨC DUY
Trang 3
Để có thể hoàn thành được luận văn với đề tài Vấn đề Campuchia trong
quan hệ Thái Lan - Việt Nam (1979 – 1991), tôi chân thành cám ơn TS Lê Phụng
Hoàng đã trực tiếp hướng dẫn nhiệt tình để tôi hoàn thành luận văn này Cám ơn PGS TS Ngô Minh Oanh và các giảng viên đã truyền thụ kiến thức và có những gợi
ý quý báu cho tôi trong cả quá trình học tập
Cám ơn sự giúp đỡ nhiệt thành của Thượng tá Nguyễn Đình Khán, cám ơn đơn vị công tác Trường THPT Bình Phú và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Trang 4ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
(Association of Southeast Asian Nations)
CGDK : Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ
(Coalition Government of Democratic Kampuchea)
IMC : Cuộc gặp gỡ không chính thức về Campuchia
(Informal Meeting on Cambodia)
JIM : Cuộc gặp gỡ không chính thức ở Jakarta
(Jakarta Informal Meeting)
PICC : Hội nghị quốc tế Paris giải quyết vấn đề Campuchia
(Paris International Conference on Cambodia)
SNC : Hội đồng dân tộc tối cao Campuchia
(Supereme National Council)
UNHCR: Cao ủy Liên Hợp Quốc về vấn đề người tị nạn
(United Nations High Commissioner for Refugees)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước láng giềng của Thái Lan, hai nước cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đều chịu ảnh hưởng lớn của Phật giáo đồng thời có một nền văn minh nông nghiệp lâu đời và rất phong phú Lịch sử của mối quan hệ lâu đời giữa hai nước Thái Lan – Việt Nam đã chứng kiến rất nhiều giai đoạn thăng trầm, phức tạp và chịu sự chi phối của nhiều nhân tố Hai nước đã từng xảy ra xung đột với nhau, vào thế kỉ XVIII Thái Lan từng đem quân xâm lược Việt Nam và thất bại dưới tay Nguyễn Huệ Trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, do tranh giành phạm vi ảnh hưởng trong khu vực, cụ thể là ở Cao Miên và Ai Lao dẫn đến mối quan hệ hai nước nhiều lúc trở nên rất căng thẳng và thậm chí nhiều lần xung đột với nhau
Lịch sử đã minh chứng, trong mối quan hệ giữa Thái Lan – Việt Nam có nhiều vấn đề mâu thuẫn và sự hiểu lầm gây ảnh hưởng xấu không chỉ đến quan hệ giữa hai nước mà còn ảnh hưởng đến cả khu vực Trong những năm 60 và 70 của thế kỉ
XX, Thái Lan trở thành đồng minh thân cận của Mĩ trong cuộc chiến tại Việt Nam, không chỉ cho Mĩ xây dựng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ mình, Thái Lan còn trực tiếp đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam Giai đoạn 1979 - 1991 mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam trở nên rất căng thẳng xung quanh vấn đề Campuchia Chính vấn đề này dẫn đến những mâu thuan, hiểu lầm, ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ hai nước, tác động không tốt đến sự phát triển của hai nước nói riêng cũng như sự ổn định và phát triển của cả khu vực Đông Nam Á nói chung
Lịch sử luôn tôn trọng hiện thực khách quan, tuy không phải hiện thực khách quan nào cũng phải nói, nhưng khi đã nói cần phải nói đúng hiện thực khách quan Nghiên cứu lịch sử là nghiên cứu quá khứ để hiểu thực tại và có cái nhìn viễn minh cho tương lai Do vậy, chúng tôi cố gắng tái hiện lại lịch sử sao cho tiệm cận với hiện thực khách quan để công trình nghiên cứu có giá trị cho thực tiễn
Hiện nay, hai nước Thái Lan và Việt Nam là thành viên của tổ chức ASEAN cùng nhau hợp tác để thúc đẩy đất nước phát triển, xây dựng một Đông Nam Á hòa
Trang 6bình, ổn định và thịnh vượng Nghiên cứu mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam xung quanh vấn đề Campuchia sẽ giúp chúng ta rút ra được nhiều bài học bổ ích, tránh những yeu tố tiêu cực và sai lầm Phát huy hơn nữa những yếu tố tích cực nhằm thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước trong xu thế phát triển chung của khu vực
và thế giới Vì lợi ích của hai dân tộc, vì ổn định và phát triển trong khu vực Đặc biệt, trong hoàn cảnh thế giới và khu vực đang có xu thế hội nhập ngày càng diễn ra mạnh mẽ, trong đó khối ASEAN đang có những bước tiến nhằm tiến tới hội nhập sâu rộng hơn
Riêng bản thân tôi nhận thấy, đây là một nội dung thú vị mà tôi rất quan tâm Để
có một đất nước Campuchia hòa bình, ổn định và phát triển như ngày nay có sự đóng góp không ít xương máu của người thân tôi nói riêng và các chiến sĩ Việt Nam nói chung
Qua nghiên cứu đề tài này, giúp tôi hiểu biết thêm về vấn đề Campuchia, về đất nước, văn hoá, con người và lịch sử của Thái Lan và mối quan hệ đầy thăng trầm của Việt Nam với người láng giềng Thái Lan Đặc biệt giúp tôi hiểu biết thêm những vấn đề phức tạp trong các mối quan hệ quốc tế Qua đó giúp cho quá trình học tập, nghiên cứu và giảng dạy của tôi đạt kết quả tốt hơn
2 Lịch sử vấn đề
Luận văn cao học Vấn đề Campuchia trong quan hệ Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1979 – 1991 được nghiên cứu và viết dựa trên cơ sở chính là các tài liệu gốc của cả hai phía Thái Lan và Việt Nam
Các tài liệu gốc phía Việt Nam phản ánh đầy đủ quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Campuchia cũng như đối với Thái Lan được thể hiện qua các thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước Việt Nam, Lào và Campuchia họp luân phiên hàng năm bắt đầu từ tháng 1/1980 – 8/1986 được đăng tải đầy đủ trên Báo Nhân dân Các thông cáo chung đã thể hiện khá rõ lập trường của Việt Nam về vấn đề Campuchia liên quan đến quan hệ Việt Nam và Thái Lan như vấn đề người tị nạn, đòi Thái Lan chấm dứt hợp tác với Trung Quốc trong việc
Trang 7tiếp tay cho Khmer đỏ, xung đột tại biên giới Campuchia – Thái Lan, kêu gọi Thái Lan chấm dứt hành động dung túng cho thế lực Khmer đỏ và việc tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia
Vấn đề Campuchia trong quan hệ Thái Lan – Việt Nam cũng được đề cập một phần trong các công trình nghiên cứu của một số tác giả khi nghiên cứu các công trình khoa học nhưng có ít nhiều liên quan đến vấn đề này Có thể kể đến, Nguyễn
Tương Lai (2001) với Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90, NXB Khoa học Xã hội – Hà Nội, tác giả đứng trên lập trường của Việt Nam có đề cập
đến vấn đề Campuchia gây tác động không tốt đến quan hệ Việt Nam – Thái Lan nhưng để hiểu sự tác động do những yếu tố cụ thể nào cần phải nghiên cứu thêm để
làm rõ; Trịnh Diêu Thìn – Thanyathit Sripana (2006) với Việt kiều Thái Lan trong mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam NXB Khoa học Xã hội – Hà Nội cũng có đề cập
đến vấn đề Campuchia gây ảnh hưởng không tốt đến chính sách của chính phủ Thái Lan đối với Việt kiều tại Thái Lan, tuy nhiên đây chỉ là một trong những nhân tố ảnh hưởng xấu đến quan hệ Thái Lan – Việt Nam, còn rất nhiều nhân tố khác liên
quan cần phải nghiên cứu Trong luận văn thạc sĩ đề tài Quan hệ Campuchia – Việt Nam từ 1985 đến 2006 của Nguyễn Quang Thuần (2007) đứng trên lập trường của
Việt Nam tác giả có đề cập đến vấn đề Campuchia với lập luận không có vấn đề Campuchia nên chưa thấy được bản chất phức tạp của vấn đề này Luận án tiến sĩ
Quan hệ Việt Nam – Thái Lan (1976 - 2004) của tác giả người Thái Lan Thananan
Boonwana, đứng trên lập trường của Thái Lan, tác giả có dành một phần nội dung nói đến vấn đề này Trong đó tác giả xem việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia
là vấn đề chính ảnh hưởng đến quan hệ Thái Lan – Việt Nam Thực tế cần phải nghiên cứu trên nhiều mặt có cái nhìn đa diện mới hiểu hết tính chất phức tạp của
vấn đề Campuchia cũng như sự tác động cụ thể đến quan hệ Thái Lan – Việt Nam
TS Lê Phụng Hoàng với Lịch sử quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối chiến tranh lạnh, tác giả dành trọn chương X để nói về vấn
đề Campuchia trong đó có đề cập đến lập trường, quan điểm của Thái Lan và Việt Nam xung quanh vấn đề này Tuy nhiên để làm rõ tác động của vấn đề Campuchia
Trang 8đến quan hệ Thái Lan – Việt Nam cần phải nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ thêm nhiều vấn đề liên quan đến mối quan hệ hai nước Bên cạnh đó còn có một số công
trình khác có đề cập một phần đến vấn đề này như Clack D Neher and Politic in Southeast Asia, Rochester; Frederic A Moritz and The refugee people of VietNam,
Chiritian Science Monitor…
Ngoài ra các thông tin về vấn đề Campuchia trong đó thỉnh thoảng có đề cập đến tác động của vấn đề này trong quan hệ Thái Lan - Việt Nam có thể tìm thấy qua báo chí và các phương tiện thông tin như: Bưu điện Bangkok (Bangkok Post), Đài BBC, The Times, Reuter, Le Matin, Le Figaro, Christian Science Monitor, NewsYork Times, Newsweek, USIS, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, Báo
Nhân dân và các bản dịch của TTXVN trong các tập tài liệu Tham khảo Đặc biệt Phần tài liệu gốc phía Thái Lan có thể kể đến Association of Southeast, Joint Press Release of The first Asean, Ministerial Meeting, Bangkok, 8 August 1967; Joint Communique of The Second Asean, Ministerial Meeting Jakarta, 6 – 7 August 1968; Joint Communique of The Third Asean, Ministerial Meeting Cameron Highlands, 16 – 17 December 1969; Joint Communique of The Fourth Asean, Ministerial Meeting Manila, 12 – 13 March 1971; Joint Communique of The Fifth Asean, Ministerial Meeting Singapore, 13 – 14 March 1972; Joint Communique of The Sixth Asean, Ministerial Meeting Pattaya, 16 – 18 April 1973; Joint Communique of The Seventh Asean, Ministerial Meeting Jakarta, 7 – 9 May 1974; Joint Communique of The Eighth Asean, Ministerial Meeting Kuala Lumpur, 13 –
15 March 1975; Joint Communique of The Ninth Asean, Ministerial Meeting Manila, 24 – 26 June 1976; Joint Communique of The Tenth Asean, Ministerial Meeting Singapore, 5 – 8 July 1977; Joint Press Release of The Eleventh Asean, Ministerial Meeting Pattaya, 14 – 16 June 1978; Joint Communique of The Twelfth Asean, Ministerial Meeting Bali, 28 – 30 June 1979; Joint Communique of The Thirteenth Asean, Ministerial Meeting Kuala Lumpur, 25 – 26 June 1980; Joint Communique of The Fourteenth Asean, Ministerial Meeting Manila, 17 – 18 June 1981; Joint Communique of The Fifteenrth Asean, Ministerial Meeting Singapore,
Trang 914 – 16 June 1982; Joint Communique of The Sixteeth Asean, Ministerial Meeting Bangkok, 24 – 25 June 1983; Joint Communique of The Seventeenrth Asean, Ministerial Meeting Jakarta, 9 – 10 July 1984; Joint Communique of The Eiteenrth Asean, Ministerial Meeting Kuala Lumpur, 9 July 1985; Joint Communique of The Ninteenrth Asean, Ministerial Meeting Manila, 23 –28 June 1986; Joint Communique of The Twentienth Asean, Ministerial Meeting Singapore, 15 – 16 June 1987; Joint Communique of The 21st Asean, Ministerial Meeting Bangkok, 4 –
5 July 1988; Joint Communique of The 22nd Asean, Ministerial Meeting Bandar Seri Begawan, 3 – 4 July 1989; Joint Communique of The 23rd Asean, Ministerial Meeting Jakarta, 24 – 25 July 1990; Joint Communique of The twenty-fourth Asean,
Ministerial Meeting kuala Lumpur, 19 – 20 July 1991: http://www.aseansec.org Đây là các thông cáo chung của Hội nghị cấp Bộ trưởng các nước ASEAN họp luân phiên diễn ra hàng năm từ 1967 đến 1991 và được xem là loại tài liệu gốc bằng tiếng Anh hết sức quý giá cho quá trình nghiên cứu Trong đó có những thông cáo chung từ năm 1979 – 1991 thể hiện rõ quan điểm, lập trường của Thái Lan nói riêng, các nước ASEAN nói chung về vấn đề Campuchia cũng như đối với Việt Nam xung quanh vấn đề này Các thông cáo cũng đề cập đến những nội dung cụ thể xung quanh vấn đề Campuchia có tác động đến quan hệ Thái Lan – Việt Nam như: Vấn đề người tị nạn, xung đột tại biên giới Campuchia – Thái Lan, Thái Lan lên án Việt Nam xâm phạm lãnh thổ Thái Lan, đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia
Do đó việc tập hợp, đánh giá để hiểu vấn đề là nhiệm vụ cần thiết của người nghiên cứu Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả cố gắng sưu tầm tất cả những tài liệu liên quan trong phạm vi có thể rồi sắp xếp, nghiên cứu nhằm làm rõ hơn vấn đề Campuchia trong quan hệ Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1979 – 1991 đồng thời cũng mong có thể rút ra được những giá trị khoa học phục vụ cho thực tiễn
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm kiểm chứng khả năng học tập và nghiên cưu của chính tác giả, đây cũng là bài thu hoạch bổ ích kết thúc chương trình đào
Trang 10tạo sau đại học Thông qua đây, bản thân tác giả muốn phát huy khả năng nghiên cứu, tìm tòi và sáng tạo trong nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của mình, thể hiện việc học và hành gắn liền với nhau Qua đó giúp tác giả biết thêm được nhiều kiếm thức bổ ích cho bản thân để phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy của mình Đề tài cũng góp phần tìm hiểu và làm sáng tỏ thêm những nội dung liên quan đến vấn
đề Campuchia ảnh hưởng đến mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam trong giai đoạn
1979 – 1991 để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm giúp mối quan hệ Thái Lan
và Việt Nam ngày càng phát triển
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là tác động của vấn đề Campuchia đến mối quan
hệ Thái Lan – Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1979 – 1991 Trong đó luận văn
cố gắng làm rõ được những vấn đề mấu chốt để làm nổi bật bản chất của những vấn
đề cần nghiên cứu
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở lấy những tài liệu gốc làm cơ sở chính để nghiên cứu và tham khảo một số công trình khác của các nhà nghiên cứu có liên quan cũng như phỏng vấn một số nhân chứng từng sống và chiến đấu tại Campuchia Tác giả muốn nghiên cứu một cách đa chiều, cố gắng đi sâu vào tìm hiểu bản chất của vấn đề Campuchia và những tác động đến mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam từ 1979 -
1991
6 Giới hạn đề tài
Để người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về quan hệ Thái Lan – Việt Nam, tác giả dành Chương 1 để giới thiệu về quan hệ Thái Lan – Việt Nam từ 1967 – 1979 trong đó có giới thiệu khái quát về quan hệ Thái Lan – Việt Nam trong lịch sử và mối quan hệ Thái Lan –Việt Nam kể từ khi Thái Lan là thành viên của tổ chức ASEAN (1967) cho đến khi diễn ra vấn đề Campuchia (1979)
Chương 2: Vấn đề Campuchia trong quan hệ Thái Lan – Việt Nam giai đoạn
1979 – 1986 và Chương 3: Vấn đề Campuchia trong quan hệ Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1986 – 1991 Sở dĩ tác giả chọn mốc 1986 để kết thúc Chương 2 và mở
Trang 11đầu cho Chương 3 bởi chính lúc này thái độ của Thái Lan đối với Việt Nam bắt đầu
thay đổi Ngược lại, Việt Nam cũng bắt đầu thay đổi thái độ của mình đó là chấp
nhận một giải pháp chính trị cho việc giải quyết toàn diện cuộc xung đột tại
Campuchia Mốc 1991 là lúc vấn đề Campuchia được giải quyết bằng biện pháp
chính trị với vai trò của Liên Hợp Quốc
7 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở tài liệu gốc cùng các loại tài liệu
liên quan và các chứng cứ khoa học để tiếp cận đối tượng với mục đích tiệm cận với
hiện thực Áp dụng phương pháp logic, phương pháp sử học so sánh, phương pháp
định lượng, phương pháp liên ngành, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp
nghiên cứu quan hệ quốc tế…Với các kĩ thuật cơ bản như tìm, đọc, phân loại,
nghiên cứu, đánh giá, phân tích và tổng hợp để từ đó rút ra những luận cứ khoa học
có giá trị cho thực tiễn và giáo dục Việc nghiên cứu chắc hẳn không tránh khỏi
thiếu sót, mong quý thầy cô và các đọc giả đóng góp ý kiến để việc nghiên cứu các
đề tài lần sau đạt kết quả tốt hơn
8 Bố cục của luận văn
Chương 1 : Khái quát quan hệ Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1967 – 1979
Chương 2 : Vấn đề Campuchia trong quan hệ Thái Lan – Việt Nam giai
1.1 Quan hệ Thái Lan – Việt Nam trong lịch sử cho đến năm 1967
Để hiểu mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam được sâu sắc hơn chúng tôi xin
điểm qua một vài nét về mối quan hệ hai nước trong lịch sử để thấy được sự thăng
Trang 12trầm và phức tạp trong quan hệ của hai nước láng giềng này Thái Lan và Việt Nam xét về yếu tố địa lý là rất gần gũi nhau, cả hai nước đều có những nét ảnh hưởng chung của thời tiết, khí hậu và cũng chính từ đó tạo nên những yếu tố văn hoá rất tương đồng Hơn nữa xét về nguồn gốc, cư dân hai nước có mối quan hệ rất gần gũi (nguồn gốc Mônggôlôít Phương Nam) trên lãnh thổ Việt Nam cũng có người Thái sinh sống và ngược lại Nói đến quan hệ Thái Lan – Việt Nam là nói đến một khoảng thời gian dài với biet bao sự kiện, biến cố thăng trầm trong mối quan hệ này
Quan hệ giữa hai nước Thái Lan (lúc đó gọi là Xiêm) – Việt Nam đã có từ rất
lâu đời, theo sách Đại Việt sử kí toàn thư, ở thế kỉ XI dưới thời nhà Lý đã có các
thuyền buôn người Thái đến Vân Đồn dâng phẩm vật để được buôn bán Trãi qua nhiều thế kỷ, lịch sử đã chứng kiến mối quan hệ hai nước xảy không ít biến cố Trong khoảng thời gian nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, quan hệ giữa Thái Lan với các chúa Nguyễn ở Đàng trong không ít lần xảy ra xung đột và đụng
độ với nhau Sau khi nền thống trị của chúa Nguyễn bị phong trào Tây Sơn lật đổ, nhân cơ hội đó Thái Lan đem quân sang xâm lược Việt Nam nhưng đã bị Nguyễn Huệ đánh bại trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785) Sau khi Nguyễn Anh đánh bại phong trào Tây Sơn và lập nên triều Nguyễn (1802) mối quan hệ hai nước Thái – Việt nhìn chung là hòa hiếu nhưng đến cuối thời Minh Mạng và Thiệt Trị hai nước Thái – Việt thường hay xảy ra xung đột với nhau Trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột, rất nhiều lần xuất phát từ việc hai bên tranh giành ảnh hưởng với nhau ở Cao Miên (Campuchia)
Nửa cuối thế kỷ XIX khi Việt Nam bị Pháp xâm lược và áp đặt ách đô hộ thì mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam về mặt nhà nước xem như tạm thời gián đoạn, nhưng mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam vẫn diễn ra với nhiều hình thức khác nhau Trong khi Thái Lan ra sức học hỏi phương Tây để canh tân đất nước và thực
hiện chính sách ngoại giao rất khôn khéo là lấy nước lớn kiềm chế nước lớn, ngả theo chiều gió giúp Thái Lan trở thành nước duy nhất ở Đông Nam Á cơ bản vẫn
Trang 13giữ vững được nền độc lập của mình Ngược lại, Việt Nam phải ra sức chống lại ách
đô hộ của thực dân Pháp
Năm 1910 Trại Cày ở Thái Lan chính thức đón nhận hơn 50 thanh niên Việt Nam du học trong phong trào Đông du bị Nhật trục xuất trở về, ngoài ra còn tiếp nhận thêm một số thanh niên là dân lao động từ Thượng Hải theo Phan Bội Châu vào để gây dựng cơ sở Hoạt động của Phan Bội Châu tại Thái Lan đã được Bộ trưởng Quốc phòng Komphagia của Thái Lan giúp đỡ khi ông sống ở bản Đông Phichit trong thung lũng Chaophonaya ở phía bắc Bangkok Tuy nhiên, năm 1915 Thái Lan kí với Pháp bản cam kết trao trả cho Pháp một số chiến sĩ Việt Nam hoạt động trong phong trào vận động yêu nước của Việt kiều tại Thái Lan trong đó có Trần Hữu Lục, Hoàng Trọng Mậu mà sau đó đã bị Pháp giết hại Phong trào hoạt động yêu nước của Việt kiều Thái Lan với chi hội Việt Nam Quang phục hội làm trung tâm rơi vào tình thế hết sức khó khăn tuy vẫn tồn tại nhưng tạm thời lắng xuống
Năm 1921 Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Phạm Hồng Thái cũng từ Thái Lan sang Trung Quốc cùng những người của phong trào Duy Tân ở đây thành lập tổ
chức Tâm Tâm xã Đến 1925 Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã phái người về Thái Lan tổ chức hội Thân ái nhằm tập hợp kiều bào đoàn kết để giác ngộ cách mạng Từ 1926 trở đi, hội Thân ái lần lượt được tổ chức ở Udon là trung tâm của
cuộc vận động Việt Kiều ở Thái Lan, ngoài ra còn có Sakon, Nakhon Phanom Mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam ở đầu thế kỉ XX còn được thể hiện thông qua những hoạt động cách mạng của Nguyễn Ai Quốc ở Thái Lan được sự đồng tình ủng hộ của người Việt Nam ở Thái Lan và một bộ phận nhân dân Thái Lan
Thực tế trên đất Thái Lan những năm đầu của thế kỉ XX đã có nhiều người Việt là binh lính của Nguyễn Anh cư ngụ tiếp đó là đồng bào ở các tỉnh Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Trị do không chịu hợp tác với chính quyền Pháp, một số lo ngại
bị bắt sau các phong trào cách mạng yêu nước cũng vượt biên giới sang Lào rồi đến Thái Lan Đồng bào Việt kiều ở Thái Lan lúc đó có khoảng 2 vạn người gồm người lương nhưng cũng có một số người theo đạo Kito, phần lớn họ có tinh thần yêu
Trang 14nước và ủng hộ các phong trào như Cần Vương, Duy Tân hoặc Đông Du Sau khi các phong trào này thất bại, một số nhà hoạt động yêu nước đã tạm lánh sang Thái Lan như Ngô Quảng, Thần Sơn, Đặng Tử Kính, Phan Bội Châu mang tư tưởng trú ngụ ở Thái Lan để chiêu binh rồi về nước đánh Pháp nên chưa có các hoạt động tuyên truyền và tổ chức kiều bào quy mô như Nguyễn Ai Quốc sau này Chỉ khi tổ
chức Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ai Quốc thành lập (6/1925) mới
có chủ trương tuyên truyền và tổ chức kiều bào để làm cơ sở nối liền phong trào cách mạng trong và ngoài nước Khi còn hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ai Quốc
đã sớm có kế hoạch sang Thái Lan hoạt động nên cử Hồ Tùng Mậu qua đó nắm tình hình để gây dựng cơ sở ở vùng Đông Bắc Thái Lan mà bản Mạy thuộc tỉnh Nakhon Phanom (cách Băng Cốc khoảng 600 km về phía Đông Bắc) là căn cứ tiêu biểu Khoảng 1928 – 1929 ở Thái Lan, Nguyễn Ai Quốc có tên là Thầu Chín hoạt động
bí mật, giữ kín tung tích đồng thời được bà con Việt Kiều, sư sãi và một bộ phận nhân dân Thái Lan đùm bọc Tại Thái Lan, Nguyễn Ai Quốc cho xuất bản tờ báo
Thân ái (trên cơ sở tiền thân là tờ báo Đồng thanh do Đặng Thúc Hứa sáng lập)
nhằm thức tỉnh và kêu gọi tinh thần yêu nước của các kiều bào Việt Nam ở Thái Lan
Nguyễn Ai Quốc chủ trương mở rộng tổ chức, củng cố cơ sở cần thiết, tuyên truyền giáo dục kiều bào, tôn trọng phong tục tập quán và giữ luật pháp của người Thái, đồng thời làm cho quần chúng Thái Lan có cảm tình với cách mạng Việt Nam Ông chủ trương xin chính phủ Thái Lan lập trường học cho con em Việt kiều, khuyến khích mọi người học tiếng Thái và chữ quốc ngữ Nhà trường ở Uđon là trường đầu tiên do chính phủ Thái Lan cho phép xây dựng và sau đó các trường Việt kiều ở Sakon, Nakhon Phanom cũng lần lượt được xây dựng Buổi sáng trẻ em Việt kiều học chữ Thái theo chương trình của của nhà nước Thái và buổi chiều học chữ quốc ngữ Các trường học không chỉ thu hút con em người Việt học mà còn thu hút con em của người Thái vào học ngày càng đông, ông cũng kêu gọi những người trong cơ quan hợp tác cùng học chữ Thái Nguyễn Ai Quốc cho rằng, Việt Nam là thuộc địa bị Pháp cai trị còn Thái Lan là nửa thuộc địa bị Pháp bắt kí nhiều điều ước
Trang 15bất bình đẳng Với điều ước bất bình đẳng Lomiađovin mà Pháp bắt chính phủ Thái Lan kí trong đó có điều khoản quy định người và hàng hoá của Pháp được đưa vào khoảng 25 km trong đất Thái Lan một cách tự do mà không phải nộp thuế rồi từ đó
họ đi sâu vào nội địa Thái Lan tự do đi lại và cư trú với tiền nộp mỗi năm chỉ có 4
bạt thuế thân Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng khi mới thành lập (6/1925) đã
xác định vai trò và vị trí quan trọng của Thái Lan và Việt kiều ở Thái Lan đối với
cách mạng Việt Nam Từ 1926 – 1929 các chi bộ của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên được tổ chức ở những nơi có Việt kiều tập trung tại các tỉnh Đông bắc
Thái Lan với 5 chi bộ
Trong chiến tranh thế giới thứ II, tiếp tục đường lối ngoại giao ngả theo chiều gió, luôn thực hiện chính sách đối ngoại mềm dẻo có lợi cho mình Thái Lan trở
thành đồng minh của phát xít Nhật, lãnh thổ Thái Lan trở thành căn cứ quân sự của Nhật nhằm tiếp tay cho mưu đồ bá chủ châu Á của Nhật Để phục vụ cho mục đích chiến lược của mình, phát xít Nhật xây dựng con đường sắt nối Mianma với Thái Lan băng qua những vùng rưng núi hiểm trở Ngày 16/9/1942 con đường được khởi công và hoàn thành ngày 17/10/1943 tại Konkuita (Kanchanbury – Thái Lan) với chiều rộng khoảng 1m và dài khoảng 415km Để xây dựng con đường này, phát xít
Nhật với sự ủng hộ của chính phủ Thái Lan đã “sử dụng các tù binh bắt được của phe Đồng Minh khoảng 68.000 người và khoảng 200.000 dân phu châu Á Họ phải lao động vất vã với điều kiện sinh hoạt vô cùng khó khăn, bị đối xử tàn bạo và thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt, nên khi xây dựng xong con đường có khoảng 16.000 tù binh bị chết và khoảng hơn 100.000 dân phu châu Á bỏ xác ở đây” [86, tr.12]
Đáng chú ý trong đó có rất nhiều người Việt bị bắt sang đây làm phu và không có ngày trở lại Để tưởng nhớ những người đã ngã xuống khi xây dựng con đường này, hiện nay tại Kanchanabury có nhiều tên đường mang tên nước có người ngã xuống trong đó có tên VietNam Road
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc tạo nên cục diện mới cho Thái Lan và Việt Nam Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời phải đương đầu với nhiều khó khăn để bao vệ thành quả cách mạng bởi sau đó thực dân Pháp trở lại xâm lược và
Trang 16nhân dân Việt Nam phải tiến hành cuộc kháng chiến trường kì (1946 - 1954) Trong khi đó vì là đồng minh của Nhật trong chiến tranh thế giới thứ hai, Thái Lan rất hoang mang khi nghe tin Nhật đầu hàng Đồng Minh Điều làm Thái Lan lo lắng là phải rút khỏi cuộc chiến như thế nào để khỏi chịu sự trừng phạt của các nước Đồng Minh Trước tình hình đó, chính phủ thân Nhật Phibun Xongkhram bị lật đổ (9/1945) và một chính phủ mới do Seni Pramot, người từ Mĩ trở về đứng đầu
“Phong trào Thái tự do” thành lập Đây là một chính phủ thân Mĩ nên lợi dụng cơ
hội này Mĩ tiến hành gạt dần sự ảnh hưởng của Anh, Pháp để dần chi phối Thái Lan Động thái tạo thiện chí đồng minh của Mĩ là công nhận Thái Lan không phải là nước đồng minh của phát xít mà là nước bị phát xít Nhật chiếm đóng và cần được giải phóng
Tháng 3/1946 phái dân chủ tiến bộ giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử ở Thái Lan và chính phủ Thủ tướng Priđi Phanomyong được thành lập Chính phủ mới đã có những động thái tích cực trong mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam Chính sách ngoại giao tích cực của chính phủ Thái Lan là ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á và đặc biệt có rất nhiều thiện cảm với cách mạng Việt Nam Ngày 7/7/1946 quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng kí thư giới thiệu đại diện chính phủ Việt Nam tại Thái Lan sau đó Cơ quan đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã hoạt động tại Băng Cốc (từ tháng 8/1946 đến tháng 6/1951) Chính phủ Thái Lan đã cho Việt Nam đặt cơ quan đại diện tại Băng Cốc và được hưởng quy chế ngoại giao Thái Lan còn cho Việt Nam được phép lập phòng thông tin tại Băng Cốc tạo cho Việt Nam có thêm một con đường liên hệ với thế giới điều
đó có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam Tháng 1/1948 phái đoàn chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Phạm Ngọc Thạch dẫn đầu sang thăm Thái Lan nhằm thúc đẩy hơn nữa trong moi quan hệ hai nước Tháng 2/1948 Việt Nam cử 10 cán bộ vượt Trường Sơn sang Băng Cốc để tăng cường cho
cơ quan đại diện và tăng cường mối quan hệ với các đoàn thể quốc tế tại Thái Lan Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai nước Thái Lan – Việt Nam trở nên xấu đi khi Phibun Xongkhram lật đổ chính phủ của Thủ tướng Priđi Phanomyong Chính phủ
Trang 17Phibun Xongkhram trở lại nắm quyền và công khai lập trường chống cộng sản, công nhận chính quyền Bảo Đại do Pháp lập nên và đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ Bảo Đại ở cấp Đại sứ Nghiêm trọng hơn, Bộ nội vụ Thái Lan còn cử đại diện đến gặp đại diện của phụ trách cơ quan phái viên của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Thái Lan là ông Nguyễn Đức Quỳ để yêu cầu chấm dứt các hoạt động tuyên truyền chống Pháp trên lãnh thổ Thái Lan Tháng 12/1951 cơ quan đại diện của Thông tấn xã Việt Nam ở Băng Cốc phải chấm dứt mọi hoạt động và phải chuyển sang Rangun (Mianma), sự kiện này nhắc nhở mọi người nhớ lại phong trào Đông Du khi trước ở Nhật, đây chính là âm mưu về ngoại giao của kẻ thù nhằm cô
lập cách mạng Việt Nam Chính phủ Thái Lan còn ban hành Luật chống cộng sản
(9/1952) đồng thời tiến hành đàn áp các Việt kiều yêu nước, thu hẹp phạm vi cư trú của họ và dồn nhiều Việt kiều đến một số đồn điền ở Miền Nam Thái Lan Trước tình hình đó, chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã ra kháng nghị lên án hành động khủng bố người Việt của chính phủ Thái Lan
1954 Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ và rút quan khỏi Việt Nam, trong khi Thái Lan dần trở thành một đồng minh chiến lược rất thân cận với Mĩ ở Đông Nam Á Suốt thời kì Việt Nam chống Mĩ, quan hệ Thái Lan và Việt Nam là quan hệ thù địch vì ngoài thể chế chinh trị và ý thức hệ khác nhau, Thái Lan còn là đồng minh thân thiết với kẻ thù của nhân dân Việt Nam Thái Lan rất tích cực giúp đỡ Mĩ, trở thành bàn đạp cho Mĩ trong cuộc chiến Việt Nam Chính quyền Thái Lan trong khi không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng lại công nhận và hợp tác với chính phủ của Bảo Đại và sau đó là Việt Nam Cộng hoa của Ngô Đình Diệm
Trong những năm dài Mĩ tiến hành Chiến tranh lạnh với chính sách chống
cộng sản trong khi Thái Lan là đồng minh thân cận của Mĩ nên chịu ảnh hưởng rất lớn Giữa Thái Lan – Việt Nam nảy sinh những mâu thuẫn trên nhiều mặt như chính trị, ngoại giao và quân sự Dưới tác động đó, chính phủ Thái Lan tiến hành nhiều chính sách thiếu thiện chí đối với Việt kiều Ngày 4/6/1957 Thái Lan cử một phái đoàn đến Sài Gòn nhằm bàn kế hoạch đưa khoảng 40.000 người Việt ở Thái Lan về
Trang 18Miền Nam Việt Nam Ngoài ra, chính phủ Thái Lan còn trục xuất 43 000 người Việt Nam đến vùng rừng sâu nước độc ở Kòrạt và việc làm này đồng nghĩa với việc dồn họ đến chổ chết Trước thái độ đối xử phân biệt và đàn áp đối với người Việt của chính phủ Thái Lan, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phản đối mạnh mẽ đồng thời lên án chính sách khủng bố Việt kiều của chính phủ Thái Lan Cộng đồng người Việt tại Thái Lan cũng đoàn kết đấu tranh chống lại âm mưu của chính phủ Thái Lan trong việc đưa Việt kiều về cho chính phủ Ngô Đình Diệm Sự phản đối
và tinh thần đấu tranh mạnh mẽ của bà con Việt kiều buộc chính phủ Thái Lan phải đồng ý để Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hội Chữ thập đỏ Thái Lan kí kết văn bản Hiệp định về vấn đề đưa Việt kiều ở Thái Lan hồi hương (14/8/1959) Sau gần 5 năm thực hiện hiệp định (1959 - 1964) đã có 75 chuyến tàu đưa khoảng 45.033 Việt kiều hồi hương đến cảng Hải Phòng nhưng đến 1965 thì bị tạm hoãn vì lý do máy bay Mĩ oanh tạc Miền Bắc
Sự ủng hộ của Chính phủ Thái Lan đối với Mĩ trong cuộc chiến tại Việt Nam thể hiện rất rõ bằng cách đưa quân lính Thái Lan sang chiến trường Miền Nam cùng với lính quân đội Sài Gòn chống lại cuộc chiến đấu thống nhất đất nước của Việt Nam Tháng 5/1966 Thái Lan viện trợ cho chính quyền Sài Gòn 2 tàu chiến, 2 máy bay quân sự để tỏ thái độ thiện chí là đồng minh hết lòng ủng hộ Mĩ trong cuộc chiến ở Việt Nam Trong suốt hai thập niên 50, 60 của thế kỉ XX chính phủ Thái Lan theo đuổi chính sách chống cộng sản làm cho mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam luôn có những mâu thuẫn và đối đầu với nhau
1.2 Quan hệ Thái Lan – Việt Nam trong giai đoạn 1967 – 1976
Ngày 8/8/1967 Thái Lan cùng Indonexia, Malaixia, Singapo, Philippin thành lập tổ chức ASEAN (Association of Southeast Asian Nations) tại Băng Cốc với mục đích tăng cường liên kết nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa, tăng cường hợp tác giúp đỡ lẫn nhau nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực và hợp tác để tạo thêm sức mạnh nhằm tránh sự chi phối của các nước lớn Quan hệ giữa các nước ASEAN hình thành các nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện, không tuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí và giữ gìn
Trang 19đoàn kết cũng như bản sắc chung của tổ chức Tuy vậy, Thái Lan vẫn theo đuổi chính sách ủng hộ Mĩ trong cuộc chiến tại Việt Nam với nhiều mục đích trong đó có quyền lợi sát sườn là tranh thủ sự ủng hộ của Mĩ để xây dựng và phát triển đất nước Thực tế, tiền viện trợ của Mĩ đổ vào Thái Lan tăng lên hàng năm đặc biệt là
khi Mĩ càng dính sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam Cụ thể, “1950 – 1956 là 17.5 triệu đôla thì trong thời gian 1957 – 1965 là 36.75 triệu Nhưng đáng chú ý là sau
1965, khi Thái Lan tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam con số này tăng rất nhanh: 1966 – 50 triệu đôla, 1967 – 77 triệu, 1968 – 100 triệu” [77, tr 138] Đến
1969 con số viện trợ đã lên tới 278 triệu đô la Mặt khác, Thái Lan cũng muốn thông qua Mĩ để cản phá ý thức hệ cộng sản từ Việt Nam vì sợ đến một lúc nào đó
sẽ lan sang nước mình Trong chính sách đối nội, Thái Lan tiếp tục đàn áp các Việt kiều nghi ngờ có mối quan hệ mật thiết với cộng sản Việt Nam Chính phủ Thái Lan tiếp tục sử dụng những chính sách cứng rắn đối với cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan vì cho rằng, một số Việt kiều theo cộng sản và liên kết với cộng sản Thái Lan để chống lại chính phủ Thái Lan nên họ kiểm soát rất gắt gao và các cuộc bắt
bớ thường xảy ra khi có sự tình nghi A Sripan – một phóng viên của tờ Bưu điện Thái Lan (Bangkok post) đã từng phỏng vấn mẹ mình – bà Supap Spicer sinh tại Ubon, một nhân chứng từng sống và chứng kiến xã hội Thái Lan trong những năm chiến tranh xảy ra Việt Nam nói về cảm nghĩ thật của bà cũng như cảm nghĩ chung
của người dân Thái Lan Bà cho rằng, “đa số người dân trong khu vực bà sinh sống đều có cách nghĩ không thiện cảm với Việt cộng Việt Nam thông qua lời tuyên truyền của chính phủ Các cuộc biểu tình của người Việt ở vùng Đông Bắc Thái Lan phản đối chính phủ Thái Lan tham chiến ở Việt Nam và sự hiện diện của quân đội Mĩ ở Thái Lan nhưng đã bị chính phủ Thái Lan dùng vòi rồng và các phương tiện trấn áp Thái độ của người dân Thái Lan với người Việt ở Thái Lan cũng trở nên ngày càng xa lấn” [102, tr.1] Sau khi chứng kiến cả một giai đoạn lịch sử bà Supap Spicer đi đến kết luận “đa số người dân đều bị chính phủ lừa dối về chiến tranh Việt Nam và Việt cộng cũng không bị cô lập, không đe doạ đến chủ quyền Thái Lan như bà và mọi người từng nghĩ trước đây” [102, tr.2]
Trang 20Thực tế Mỹ đã viện trợ quân sự cho Thái Lan đồng thời xây dựng trên đất Thái Lan nhiều căn cứ quân sự để phục vụ cho cuộc chiến của mình ở Việt Nam, trong
đó xây dựng 6 sân bay quân sự là Utapao, Tacli, Khorat, Ubon, Nakonphanom và Uđontali Một phần các máy bay chiến lược và chiến thuật của Mĩ cất cánh ở đây sang bắn phá miền Bắc Việt Nam trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất (1965 - 1968), lần thứ hai (1969 - 1972) Nghiêm trọng nhất là trong 12 ngày đêm cuối 1972 máy bay Mĩ đã gây biết bao đau thương và mất mát cho nhân dân Việt Nam Quân Mỹ đóng ở Thái Lan lúc đong lên đến 58.000 người (1969) bao gồm 45.000 phi công và nhân viên phục vụ, 12.000 lính bộ binh và 1000 lính hải quân
Ngoài ra, Thái Lan còn trở thành trung tâm giải trí cho quân Mĩ đồn trú ở Việt Nam sau khi đánh trận xong Để đáp ứng cho nhu cầu vui chơi của lính Mĩ và thu nguồn lợi từ dịch vụ này, các vùng xa xôi ở Miền Bắc Thái Lan, thuốc phiện đã
được trồng để phục vụ cho nhu cầu cua lính Mĩ Bên cạnh đó lĩnh vực “công nghiệp mại dâm” được chính phủ Thái Lan khai thác tối đa trong nhu cầu phục vụ cho lính
Mĩ để thu lợi Trong những năm 60 – 70 trung bình có khoảng 4,3 triệu người Thái Lan ở Băng Cốc và những nơi khác của Thái Lan phục vụ trong các trung tâm giải trí giành cho quân đội Mĩ Ngành công nghiệp giải trí giúp cho bộ mặt một số vùng quê ở Thái Lan đặc biệt ở vùng Đông Bắc có sự chuyển mình rất mạnh mẽ trong việc đi lên theo hướng công nghiệp Tuy nhiên, vấn đề thuốc phiện và mại dâm cũng gây ra những hệ luỵ cho Thái Lan sau khi quân Mĩ rút khỏi Việt Nam Nạn nghiện thuốc và đại dịch AIDS phát triển trong những năm 80 để lại hệ luỵ rất lớn cho chính sách thu lợi vội vàng và thiếu trách nhiệm xã hội của chính phủ Thái Lan
Từ năm 1966 đến 1972 Thái Lan đã đưa sang Miền Nam một sư đoàn và một trung đoàn với quân số gần 14.300 quân Trong đó bao gồm, 12.000 lính thuộc quân
đoàn Báo đen và 2.300 lính thuộc sư đoàn Rắn hổ mang sau đó tăng lên 5.000 quân
(1968) Trong thời gian Thái Lan tham chiến tại Việt Nam, rất nhiều phong trào biểu tình của nhân dân phản đối chính phủ và đòi rút quân về nước Đặc biệt, từ năm 1965 Mặt trận yêu nước Thái Lan xuất hiện với chủ trương đấu tranh vũ trang
Trang 21chống chế độ độc tài quân sự Các phong trào đấu tranh du kích nổ ra ở nhiều nơi nêu khẩu hiệu chống Mĩ, cải thiện dân sinh và dân chủ Phong trào du kích còn có hành động ủng hộ cách mạng Việt Nam, tiêu biểu là sự kiện họ tấn công vào sân bay Uđontani (8/1968) nhằm phản đối Mĩ dùng không quân phá hoại Việt Nam
Sau thất bại trong Chiến tranh cục bộ Mĩ chuyển sang chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” đồng thời cho rút dần quân Mĩ về nước Trong khi đó, dưới áp lực
của phong trào đấu tranh của nhân dân cũng buộc Thái Lan rút dần quân của mình
về nước Tháng 8/1970 Thái Lan bàn đến việc rút quân và đến tháng 4/1972 thì rút toàn bộ quân Thái Lan khỏi Việt Nam
Rõ ràng, mặc dù chính phủ Thái Lan thực hiện đường lối đối ngoại thân Mĩ
và tham chiến ở Việt Nam gây ra những hành động làm tổn thương rất lớn mối quan
hệ giữa hai nước Trong chính sách đối nội, chính phủ Thái Lan tiếp tục đàn áp các Việt kiều yêu nước và cưỡng ép họ về Miền Nam Việt Nam vi phạm nghiêm trọng Hiệp ước đã kí kết năm 1959, phớt lờ sự phản đối của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
và quốc tế Để biện hộ cho hành động đó của mình, chính phủ Thái Lan cho rằng,
sở dĩ họ làm vậy là lo sợ lực lượng cộng sản Việt Nam xâm nhập vào Thái Lan thông qua cộng đồng người Việt sống ở vùng Đông Bắc Thái Lan và đe doạ an ninh của họ Thái độ của giới cầm quyền Thái Lan với cái nhìn phiếm diện và cực đoan đối với những người cộng sản Việt Nam một phần là do sức ép từ bên ngoài Nhà
chính trị học Thái Lan Kthirarit từng nhận xét: “Kể từ chiến tranh thế giới thứ II , Thái Lan và Mỹ chia sẻ tư tưởng về mối đe dọa của Chủ nghĩa Cộng sản Yếu tố đó trở thành hòn đá tảng của các quan hệ Mỹ – Thái Lan”[83, tr.228-229]
Trong lịch sử quan hệ Thái Lan – Việt Nam đã có những mâu thuẫn và đến giai đoạn này mâu thuẫn được đẩy lên một bước mới mang tính chất thời đại và suy cho cùng vẫn là xuất phát từ sự tranh chấp ảnh hưởng giữa hai cường quốc Xô – Mĩ
mà trong đó những nước nhỏ như Việt Nam và Thái Lan khó tránh khỏi vòng xoáy của sự tác động Trong đó việc chọn lựa hướng đi phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng nước Ảnh hưởng này không chỉ riêng một nước nào đó nhằm thoả mãn khát vọng mở rộng bờ cõi, đất đai như trong thời phong kiến mà chính là ảnh hưởng của
Trang 22ý thức hệ trong đó mỗi nước đứng ở mỗi bên chiến tuyến đối địch với nhau Không thể phủ nhận trong lịch sử mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam có những lúc hoà hiếu nhưng thời gian mâu thuẫn căng thẳng cũng không ít Ngay trong lịch sử Thái Lan khi giảng dạy ở nhà trường khi đề cập đến quan hệ Thái Lan – Việt Nam cũng chỉ
đề cập đến những cuộc chiến giữa hai nhà nước Xiêm La – Đại Việt
Trong thời kì Chiến tranh lạnh, các sách báo và phương tiện thông tin đại chúng của Thái Lan luôn tô vẽ một cách thái quá về chủ nghĩa cộng sản, họ gây cho
người Thái tâm trạng lo sợ về cái gọi là “hiểm hoạ cộng sản” từ Việt Nam sẽ lan
sang Thái Lan Chính phủ Thái Lan đã thành công phần nào trong việc đưa quần chúng nhân dân Thái Lan có cái nhìn không thiện cảm với Việt Nam để biện hộ cho những hành động của họ Để dân Thái tin rằng, việc Thái Lan trở thành căn cứ quân
sự của Mĩ và Thái Lan trực tiếp đưa quân tham chiến tại Việt Nam là một điều cần phải làm vì an ninh và chủ quyền của Thái Lan Tất cả những hiểu biết của dân chúng chỉ là mối lo về anh ninh của Thái Lan đang bị Chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam đe doạ
Về phía Việt Nam do phải tập trung toàn bộ sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống Pháp trước đó và sau đó là cuộc kháng chiến chống Mĩ nên tất yếu không có thời gian tìm hiểu nhiều về Thái Lan Việc tìm hiểu tuy còn hạn chế nhưng cũng đủ cho người Việt Nam nhận ra rằng, chính sách thù địch của chính quyền Thái Lan với vị trí là đồng minh đắc lực của Mĩ tại Đông Nam Á, sự ủng hộ cuộc chiến của Mĩ tại Việt Nam sẽ giúp chính phủ Thái Lan nhận thêm được nhiều đồng dollar viện trợ và nhiều đơn đặt hàng của Mĩ Trong khi người dân Thái Lan thì hoàn toàn bị bưng bít trước những chính sách tuyên truyền tinh vi của chính phủ
Các máy bay Mĩ xuất phát từ các căn cứ quân sự của Thái Lan sang ném bom Việt Nam và sự hiện diện của quân đội Thái Lan tại Việt Nam cùng với mâu thuẫn về thể chế chính trị Tư bản chủ nghĩa và Cộng sản chủ nghĩa nên lúc bấy giờ Thái Lan cũng coi Việt Nam là kẻ thù nguy hiểm của mình và ngược lại Đây chính
là nguyên nhân chính dẫn đến những nghi ngờ và trở ngại cho quan hệ giữa Thái
Trang 23Lan và Việt Nam sau này Sau khi Mĩ thất bại tại Việt Nam và rút quân, Thái Lan rất lo sợ về một cuộc trả thù của Cộng sản Việt Nam đối với mình
Trong những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, Thái Lan gặp rất nhiều khó khăn về chính trị và kinh tế Giai đoạn này Thái Lan thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện rất khó khăn, đầu tư nước ngoài vào Thái Lan giảm sút, viện trợ kinh tế của Mĩ giảm đi trông thấy, khủng hoảng năng lượng thế giới ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế Thái Lan làm đời sống nhân dân giảm sút nghiêm trọng Nhân dân Thái Lan cho rằng, những hậu quả trên do chính phủ độc tài quân
sự thực hiện chính sách đối ngoại thân Mĩ gây ra Thêm vào đó là thất bại của Mĩ ở Việt Nam càng có dịp để phong trào chống đường lối theo đuôi Mĩ của chính phủ Thái Lan bùng nổ Từ tháng 10/1973 đã có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ của học sinh – sinh viên Thái Lan nổ ra đòi quyền dân chủ, đòi cải cách kinh tế, chính trị, giáo dục và xét lại chính sách đối ngoại thân Mĩ Phong trào này đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân ủng hộ dẫn đến sự sụp đổ của chính phủ độc tài quân sự chấm dứt thời kì thống trị của các tướng lĩnh quân sự kéo dài hơn một phần tư thế kỉ Một chính phủ dân sự được lập nên do giáo sư Sania Thamasac làm thủ tướng tạo một không khí chính trị cởi mở hơn ở Thái Lan Chính phủ mới của Thái Lan không thể phớt lờ lời kêu gọi của học sinh và sinh viên Thái Lan trong việc điều chỉnh đường lối ngoại giao đối với Việt Nam nói riêng và ba nước Đông Dương nói chung Một luồng tư tưởng mới xuất hiện là Thái Lan cần phải học cách sống chung với các nước láng giềng dù cho họ có theo thể chế cộng sản chứ không nên có thái độ thù địch với họ Điều này một lần nữa chứng tỏ sự linh hoạt của Thái Lan trong chính sách đối ngoại của mình với đặc điểm cơ bản của chính sách đối ngoại thể hiện sự
mềm dẻo và linh động không mất lòng ai hay ngả theo chiều gió
Ngày 19/3/1975 trước khi Miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, Thủ
tướng Thái Lan Seni Pramot đã tuyên bố “Chính phủ Thái Lan sẽ xúc tiến quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, tích cực ủng hộ mọi hợp tác trong các lĩnh vực ngoại giao với các nước ASEAN, đồng thời tăng cường nổ lực tìm kiếm, móc nối quan hệ với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”[73, tr.72] Đây là một động thái
Trang 24chứng tỏ sự thay đổi trong chính sách ngoại giao của Thái Lan đối với Việt Nam Ở đây không chỉ đơn thuần là sức ép từ dư luận trong nước mà thực tế Thái Lan thấy được sự thất bại của Mĩ ở Việt Nam đã đến gần và một Việt Nam thống nhất tất yếu
sẽ do Cộng sản kiểm soát với tiềm lực quân sự có thể xem là mạnh nhất Đông Nam
A lúc bấy giờ nên việc tiếp tục giữ thái độ thù địch như trước kia là không có lợi cho Thái Lan Thái Lan bắn tiếng muốn nối lại quan hệ bình thường với Việt Nam
rõ ràng là có lợi cho Thái Lan trong việc tạo sự ổn định trong và ngoài nước để tập trung giải quyết bầu không khí chính trị phức tạp ở nước mình, đồng thời xốc dậy nền kinh tế đang trên đà suy thoái và mở ra cơ hội làm ăn trong tương lai cho Thái Lan với khu vực Đông Dương đầy hứa hẹn
1.3 Quan hệ Thái Lan – Việt Nam trong giai đoạn 1976 – 1979
Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ, nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ra đời và nhiệm vụ hàng đầu của Việt Nam là làm sao mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh quá lớn Việt Nam tích cực tham gia Hiệp ước Bali (2/1976) nhằm thể hiện thiện chí của mình trong việc bắt tay hợp tác với các nước trong khu vực Mặt khác, không thể phủ nhận vai trò to lớn của Thái Lan trong tổ chức ASEAN với chủ trương hướng tới việc xây dựng một Đông Nam Á hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển
Trong khối ASEAN, Thái Lan là nước không chỉ gần gũi với Việt Nam về mặt địa lý mà còn về lịch sử, văn hoá, xã hội và phong cách làm ăn truyền thống Thái Lan và Việt Nam còn có chung khí hậu nhiệt đới gió mùa và có một nền văn minh nông nghiệp rất phong phú Trong quá trình phát triển văn hoá, hai nước có nhiều yếu tố rất tương đồng Ngoài ra, Thái Lan có cả giai đoạn dài xây dựng và phát triển đất nước nên những kinh nghiệm đó Việt Nam có thể học hỏi để áp dụng
có chọn lọc phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm thu ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực
Chiến tranh Việt Nam kết thúc không chỉ có Thái Lan điều chỉnh lại chính sách ngoại giao cho phù hợp mà chính Việt Nam cũng phải điều chỉnh lại chính
Trang 25sách ngoại giao của mình cho phù hợp với xu thế và nguyện vọng chung của khu vực và thế giới nhằm tiến tới hoà bình, hợp tác cùng phát triển trong khu vực Những thiện chí hợp tác của Việt Nam dần đánh tan đám mây nghi ngờ của Thái Lan và một số các nước khác trong khu vực Để khẳng định điều đó, ngày 5/7/1976
Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh ra tuyên bố 4 điểm về đối ngoại
của chính phủ Việt Nam gồm có “Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước; Cam kết không để lãnh thổ của mình cho bất kì nước ngoài nào sử dụng để chống lại nước khác; Thiết lập quan hệ láng giềng tốt đẹp, hợp tác kinh tế, trao đổi văn hoá với các nước; Ra sức hợp tác nhiều mặt với các nước.”[73, tr.69] Tiếp đó là chuyến thăm của phái đoàn ngoại giao Việt Nam sang
các nước ASEAN (1/1976) trong đó có Thái Lan
Những tuyên bố trên của Việt Nam làm Thái Lan phần nào yên tâm Việt Nam sẽ không trả đũa về quân sự đối với những hành động mà họ gây ra cho Việt Nam trong quá khứ Như vậy, cả Việt Nam và Thái Lan đều gặp nhau ở một điểm là mong muốn thiết lập mối quan hệ láng giềng thân thiện để có điều kiện hợp tác nhằm thúc đẩy đất nước phát triển Tuy nhiên, không phải tất cả những mâu thuẫn
và mối nghi ngờ giữa hai bên trong ngày một, ngày hai có thể hoàn toàn bị xoá bỏ nên hai bên đã có những bước đi rất dè chừng và thận trọng đối với nhau
Sau khi Việt Nam thống nhất đất nước, Thái Lan chủ động mời một phái đoàn ngoại giao Việt Nam sang thăm Thái Lan Nhận lời mời, ngày 22/5/1975 phái đoàn Bộ Ngoại giao Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phan Hiền đẫn đầu sang thăm Thái Lan và đàm phán với Thủ tướng Thái Lan Seni Pramot để dọn đường cho việc thiết lập mối quan hệ ngoại giao giưa hai nước Đối với Thái Lan,
sự khác biệt về ý thức hệ cũng quan trọng nhưng không phải là nhân tố quyết định
tất cả trong đường lối ngoại giao của họ Nếu nói “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong
đường lối đối ngoại của Thái Lan thì cái bất biến đó là quyền lợi quốc gia – dân tộc
và cơ hội để phát triển đất nước, để thực hiện cái bất biến đó phương pháp thực hiện của họ rất vạn biến Điều đó dễ dàng nhận thấy trong chiến tranh Việt Nam, Thái Lan trở thành đồng minh chiến lược của Mỹ để kiếm những món lợi và những
Trang 26khoản viện trợ béo bở Ngược lại khi Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh, Thái Lan đã chủ động xích lại gần Việt Nam để tạo sự ổn định trong khu vực nhằm giúp Thái Lan có điều kiện tốt trong phát triển kinh tế Đặc biệt khi Thái Lan thấy thị trường Đông Dương thực sự có nhiều hứa hẹn cho sự đầu tư phát triển của kinh tế Thái Lan
Trong quá trình tiến tới bình thường hóa quan hệ Thái Lan – Việt Nam hàng loạt vấn đề mà hai bên đưa ra đàm phán có một số vấn đề còn gây tranh cãi chưa thống nhất được là vấn đề Việt kiều tại Thái Lan Vấn đề Việt kiều vẫn luôn là một trọng tâm đem ra bàn bạc giữa hai chính phủ và có tác động rất lớn đến mối quan hệ của hai nước Tuy lúc này, mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam được cải thiện và chính sách của chính phủ Thái Lan đối với Việt kiều có phần nới lỏng nhưng vấn đề
cơ bản như việc cấp thẻ căn cuớc, hay cho phép nhập quốc tịch vẫn chưa được sửa đổi Chính phủ Thái Lan cho dù qua nhiều đời Thủ tướng vẫn không có cái nhìn thực sự thiện cảm với Việt kiều Công bằng mà nói, cộng đồng người Việt ở Thái Lan đã có những đóng góp nhất định vào công cuộc xây dựng cho xã hội Thái Lan đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và văn hoá Tuy vậy, Việt kiều tại Thái Lan vẫn mang mặc cam, thiếu tin tưởng vào chính sách của chính phủ Thái Lan Một vấn đề khác cũng không kém phần gay cấn là Việt Nam đòi Thái Lan bàn giao những máy bay, tàu chiến, quân trang, quân dụng và vũ khí do ngụy quyền Sài Gòn cất dấu ở các kho của Thái Lan Thái Lan đề nghị việc giải quyết vấn đề Việt kiều cần phải có thời gian còn những phương tiện chiến tranh mà nguỵ quyền Sài Gòn cất giấu ở Thái Lan thì không thể trả lại cho Việt Nam được vì cả Mĩ và Việt Nam đều tuyên
bố có quyền sở hữu nên Thái Lan rất khó xử Thái Lan nhận trông coi cẩn thận số tài sản này và chỉ trả lại khi có sự nhất trí giữa phía Mĩ và Việt Nam Một vấn đề nữa cũng tranh luận không kém phần gay cấn là Việt Nam đòi Thái Lan phải bồi thường chiến tranh vì đã cho Mĩ sử dụng Thái Lan làm căn cứ quân sự để máy bay
Mĩ ném bom phá hoại Việt Nam Trong khi Thái Lan cho rằng, sở dĩ Thái Lan là như vậy bởi vì Việt Nam từng ủng hộ Đảng Cộng sản Thái Lan Những vấn đề trên tranh luận hết sức gay cấn, cuối cùng hai bên đi đến nhất trí gác lại những vướng
Trang 27mắc không nên để ảnh hưởng đến việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước bởi vì đây chính là cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề từ trước đến nay một cách bài bản và theo hướng tích cực hơn
Với những cố gắng của hai chính phủ trong việc từng bước tiến tới bình thường hóa quan hệ, ngày 6/8/1976 Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Phichay Rattacun tới Hà Nội cùng hội đàm với Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh Hai bên cùng kí Hiệp định thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Vương quốc Thái Lan và Cộng hoà XHCN Việt Nam Hiệp định này có một ý nghĩa rất quan trọng thể hiện quyết tâm và thiện chí của hai nước trong việc tạm gác lại những bất đồng để hướng tới xây dựng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai bên Tuy vậy, Thái Lan vẫn còn dè chừng bởi vì những nghi kị về Cộng sản Việt Nam của chính phủ Thái Lan mà đặc biệt là giới quân sự không thể ngày một, ngày hai có thể
dễ dàng xoá bỏ được Tuy nhiên việc kí kết hiệp định thiết lập quan hệ ngoại Thái Lan – Việt Nam là một sự kiện đáng khen ngợi và cần phát huy Mặc dù tính mong manh của hiệp định này không phải là không có vì thực tế lúc đó tình hình chính trị của Thái Lan là rất rối ren và phức tạp
Ngày 6/10/1976 đúng hai tháng sau khi Hiệp ước thiết lập quan hệ ngoại giao Thái Lan và Việt Nam được kí kết, phái quân sự tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền dân sự của thủ tương Seni Pramot đồng thời đưa Thanim Krayvichien, một người không mấy thiện cảm về cộng sản lên làm thủ tướng Thái Lan Hiệp định thiết lập quan hệ ngoại giao Thái Lan – Việt Nam đi vào thực tế chưa bao lâu đã có nguy cơ bị phá vỡ Quan hệ Thái Lan – Việt Nam một lần nữa có nguy cơ trở nên
bế tắc và căng thẳng Tuy nhiên, năm 1977 thủ tướng mới của Thái Lan Kriangsak Chomanan có chính sách đối ngoại mềm dẻo theo truyền thống đối ngoại của Thái Lan Ngoài việc tăng cường mối quan hệ với cả ba cường quốc Mĩ – Liên Xô – Trung Quốc, ông còn có những động thái tích cực trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam mà chính quyền Seni Pramot đã đặt nền tảng cơ sở Không những thế, quan hệ ngoại giao của Thái Lan và Việt Nam thời kì này được nâng lên một bước mới với việc các cán bộ ngoại giao cấp cao của hai bên gặp gỡ và trao đổi
Trang 28nhiều vấn đề hợp tác Đặc biệt, ngày 28/9/1977 tại trụ sở của Liên Hợp Quốc, Ngoại trưởng Thái Lan Uppađi Pcharigiankun đã có cuộc gặp gỡ và hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh Hai bên nhất trí sẽ thiết lập quan
hệ ngoại giao thông qua sứ quán của hai chính phủ tại Viêng Chăn (Lào) Sau đó liên tiếp có nhiều cuộc gặp gỡ của phái đoàn ngoại giao hai bên tại Viêng Chăn (Lào)
Ngày 2/12/1977 Thái Lan và Việt Nam tuyên bố thông cáo chung về bình thường hoá quan hệ ngoại giao Thái Lan – Việt Nam Ngày 13/12/1977 nhận lời mời của chính phủ Thái Lan, phái đoàn ngoại giao Việt Nam do ông Nguyễn Xuân dẫn đầu sang thăm Thái Lan nhằm bàn thảo về việc chuẩn bị địa điểm đặt Sứ quán Việt Nam tại Băng Cốc
Với những bước đi tích cực của hai bên đã tạo ra những điều kiện tích cực cho mối quan hệ hợp tác giữa hai nước Ngày 27/12/1977 Thứ trưởng Bộ giao thông vận tải Thái Lan sang thăm Việt Nam nhằm chuẩn bị cho việc kí kết Hiệp định về hành không giữa hai nước Ngày 9/1/1978 Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh cũng chính thức sang thăm Thái Lan, sau hai ngày đàm phán, hai bên đã đi đến quyết định chính thức đặt Đại sứ quán Thái Lan tại Hà Nội và ngược lại là sứ quán Việt Nam tại Băng Cốc Hai bên ký hai hiệp định quan trọng là Hiệp định thương mại – hợp tác kinh tế – khoa học kĩ thuật và Hiệp định hàng không Tháng 9/1978 mối quan hệ tiến triển tốt đẹp giữa Thái Lan – Việt Nam được đánh dấu bằng chuyến thăm Thái Lan của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng Trong cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Kriangsak Chomanan và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, hai bên đã thống nhất được một số vấn đề quan trọng đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, giao thông – vận tải, thương nghiệp, khoa học – kĩ thuật…
Tuy nhiên từ cuối 1978 đầu 1979 xung đột giữa lưc lượng Polpot và Việt Nam ngày càng mở rộng và sau đó Việt Nam đưa quân sang Campuchia giúp đỡ nhân dân Campuchia tiêu diệt lực lượng Polpot, đồng thời Thái Lan thực hiện những hành động giúp đỡ tàn quân Polpot làm cho mối quan hệ Thái Lan – Việt
Trang 29Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng và diễn biến theo chiều hướng rất xấu Những bước đi chập chững dần thiết lập quan hệ hợp tác tốt đẹp của hai nước đã bị phá sản, thay vào đó là mối quan hệ căng thẳng và nghi kị lẫn nhau Điều đó không chỉ ảnh hưởng xấu đến quan hệ hai nước mà còn cả khu vực Đông Nam Á
TIỂU KẾT
Mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam trong lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy tính chất phức tạp và chịu tác động bởi nhiều yếu tố dẫn đến mối quan hệ của hai nước láng giềng này diễn ra rất thăng trầm Nếu ví mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam như một biểu đồ thì đó chính là biểu đồ hình Sin để chỉ mối quan hệ không ổn định của hai nước Chính sách đối ngoại của Thái Lan từ trước đến nay cho dù qua các đời thủ tướng có những phương pháp thực hiện khác nhau, nhưng truyền thống đối ngoại mềm dẻo vẫn không mất đi Thái Lan biết lựa chiều để hạn chế tối đa những bất lợi nhằm phát huy cái có lợi, tất cả đều hướng tới mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước phồn thịnh Cái hay trong chính sách của Thái Lan ở chỗ, họ cố gắng tìm đủ mọi cách để đất nước không bị cuốn vào những điểm nóng trước tình hình thế giới luôn diễn biến phức tạp Nếu một số nước trên thế giới tự hào vì mình
đã đánh thắng được những đế quốc, phát xít lớn thì người Thái cũng có cái tự hào riêng của họ vì không phải đánh nhau ác liệt với đế quốc, phát xít nào cả và tất nhiên trong đó người được lợi nhất vẫn là nhân dân vì không phải hy sinh nhiều xương máu
Trong giai đoạn Việt Nam chống Pháp, mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam đã
có thời kỳ tiến triển rất tốt, Thái Lan đã từng có thiện chí giúp đỡ khi cho Việt Nam thiết lập cơ quan đại diện ngoại giao trên đất nước họ (1946 - 1951) Nhưng rồi vì quyền lợi của đất nước mình, Thái Lan đã hy sinh mối quan hệ với người láng giềng nhỏ để bắt tay với đế quốc Pháp và trục xuất cơ quan đại diện ngoại giao của chính phủ Việt Nam khỏi Thái Lan đồng thời công nhận chính phủ Bảo Đại do Pháp lập nên Dễ dàng nhận thấy hành động của Thái Lan khi bắt tay với Pháp, Thái Lan sẽ được lợi nhiều hơn là thiết lập mối quan hệ thân thiện với Việt Nam – nước đang trong tình trạng chiến tranh và nghèo khổ
Trang 30Đến giai đoạn Việt Nam chống Mĩ, một lần nữa vì quyền lợi của đất nước mình Thái Lan lại thực hiện chính sách đối ngoại thân Mĩ, tiếp tay cho Mĩ trong cuộc chiến tại Việt Nam Vấn đề Thái Lan tiếp tay cho Mĩ chống lại cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam có rất nhiều nguyên nhân Thứ nhất, Thái Lan là nước quân chủ nhưng xây dựng đất nước theo con đường TBCN, trong khi Việt Nam lại quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường XHCN đó chính là sự khác biệt rất lớn về ý thức hệ chính trị Thứ hai, trong khi giai đoạn 1954 – 1975 thế giới đang trong thế hai cực đối đầu nhau kịch liệt, tùy theo mức độ, điều kiện, các nước nhỏ như Thái Lan, Việt Nam khi đã xác định thể chế chính trị trong con đường xây dựng đất nước chắc hẳn không thể nào tránh khỏi sự chi phối của các nước lớn Do vậy khi Thái Lan chọn thiết lập quan hệ thân thiện với Mĩ thì không thể nào có mối quan hệ tốt đẹp với Việt Nam được khi mà hai nước Việt – Mĩ xem nhau là kẻ thù trực tiếp Thứ ba, khi trở thành đồng minh của Mĩ sẽ giúp Thái Lan có được những khoản viện trợ lớn để đầu tư phát triển đất nước, sẽ được Mĩ đảm bảo về an ninh để yên tâm phát triển kinh tế Thái Lan thường biết lựa chiều, họ luôn cố gắng lựa chọn nhằm đem lại cho họ nhiều quyền lợi và giảm thiểu thiệt hại nhất khi đứng trước những lựa chọn mang tính quyết định
1975 Sau khi Việt Nam kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ, Thái Lan là người chủ động đánh tiếng muốn nối lại quan hệ với Việt Nam Một lần nữa Thái Lan lại có sự lựa chọn khôn khéo trong chọn bên để hợp tác có lợi cho mình
Mĩ đã thất bại, rút quân đồng thời các khoản viện trợ cũng bị cắt giảm Việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam sẽ giúp Thái Lan tạo được sự ổn định trong khu vực để tập trung phát triển kinh tế Thái Lan cũng nhận thấy Đông Dương là một thì trường hứa hẹn mà họ có thể khai thác tốt cho sự phát triển kinh tế của mình
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong chính sách đối ngoại của Thái Lan, cái bất
biến chính là quyền lợi quốc gia dân tộc của người Thái, cái vạn biến chính là phương pháp để thực hiện cái bất biến đó Do nguyên tắc đó mà mối quan hệ Thái Lan và Việt Nam trong suốt cả một thời gian dài rất thăng trầm trước tình hình thế giới có nhiều biến động, khi sự đối đầu Đông – Tây trong giai đoạn quyết liệt là
Trang 31điều dễ hiểu Nguyên tắc trong phương pháp thực hiện để đem đến thành công cho người thích ứng thời cuộc là không có bất kỳ nguyên tắc nào và người Thái đã vận dụng tốt điều đó Một lần nữa có thể khẳng định, mối quan hệ thăng trầm giữa Thái Lan – Việt Nam chịu sự tác động của nhiều nhân tố và một trong những nhân tố tác động lớn đó chính là sự đối đầu Xô – Mĩ, TBCN – XHCN trong Chiến tranh lạnh
Trang 32Chương 2
VẤN ĐỀ CAMPUCHIA TRONG QUAN HỆ THÁI LAN – VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1979 – 1986
2.1 Bối cảnh lịch sử và nguồn gốc của vấn đề Campuchia
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi (30/4/1975), những mâu thuẫn giữa Campuchia Dân chủ với Cộng hòa XHCN Việt Nam ngày càng trở nên trầm trọng, thế lực Polpot – Ieng Xari liên tục gây hấn
ở biên giới Tây Nam của Việt Nam Tháng 5/1975 quân Khmer đỏ tấn công vào Tây Ninh, đảo Phú Quốc và hành quyết hàng trăm người ở đảo Thổ Chu đe dọa nghiêm trọng an ninh chủ quyền của Việt Nam
Để giải quyết những bất đồng giữa hai nước, tháng 6/1975 nhận lời mời của chính phủ Việt Nam, Polpot dẫn đầu phái đoàn chính phủ Campuchia Dân chủ sang thăm Việt Nam nhằm giải quyết những bất đồng và mâu thuẫn giữa hai nước Cuộc hội đàm giữa Polpot với chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thất bại phần lớn do thái độ thiếu thiện chí của Polpot và hai bên không tìm ra được biện
pháp khả thi để giải quyết bất đồng Trong khi tình hình xung đột biên giới ngày
càng leo thang, Việt Nam nhiều lần gởi thư thúc giục thực hiện các cuộc gặp gỡ với mong muốn đàm phán với Campuchia Dân chủ nhằm thực hiện một giải pháp chính trị cho sự xung đột Đặc biệt trong tháng 8/1975 người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẫn thực hiện chuyến thăm Campuchia nhằm tháo gỡ những mâu thuẫn giữa hai bên Nhưng rất tiếc những thiện chí hòa bình của Việt Nam đã bị thế lực Polpot – Ieng Xari đáp lại với thái độ thờ ơ thiếu thiện chí Ngược lại Polpot cùng các tay chân của ông ta họp bàn và đi đến chủ trương chống Việt Nam đến cùng và quyết định cho thành lập 15 sư đoàn để tấn công Việt Nam
Năm 1977 Campuchia Dân chủ tuyên bố cắt đứt mọi quan hệ với Việt Nam, rút hết các nhân viên ngoại giao ở Việt Nam về nước đồng thời yêu cầu các nhân viên ngoại giao Việt Nam phải rút khỏi Campuchia Năm 1978 lực lượng Polpot
Trang 33thực hiện nhiều cuộc xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam ở Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Tây Ninh, khu vực Tây Nguyên và gây ra nhiều vụ thảm sát đối với
nhiều dân thường Việt Nam
Nguy hiểm hơn thế lực Polpot – Ieng Xari được Trung Quốc ủng hộ và tăng cường viện trợ về quân sự Hành động công khai của Trung Quốc nhằm đáp trả việc Việt Nam – Liên Xô kí Hiệp ước hữu nghị và hợp tác (3/11/1978) là cử ông Uông Đông Hưng – Uy viên bộ Chính trị ĐCS Trung Quốc thăm Campuchia (4/11/1078) nhằm khẳng định sự ủng hộ cho Polpot trong cuộc xung đột với Việt Nam Bên cạnh đó bắt đầu từ ngày 5/11/1978 Đặng Tiểu Bình thăm các nước ASEAN, kêu gọi các nước này cùng Trung Quốc thành lập mặt trận chung chống Liên Xô – Việt Nam kèm theo đó Đặng Tiểu Bình cũng hứa hẹn những khoản viện trợ cho các nước ASEAN, đặc biệt là dành cho Thái Lan
Ngày 13/12/1978 Khmer đỏ huy động khoảng 10 sư đoàn tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia Quân đội Việt Nam đã chặn đứng cuộc tiến công của lực lượng Polpot, tiêu diệt bộ phận quân Khmer đỏ và đẩy lùi các cuộc tấn công lấn chiếm Trước đó Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia thành lập (3/12/1978) đã lên tiếng kêu gọi toàn dân đứng lên chống chế
độ diệt chủng Polpot – Ieng Xari, đồng thời mong muốn “quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ nhân dân Campuchia đánh đổ lực lượng Polpot – Ieng Xari để cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng” [4, T.5] Đáp lại lời yêu cầu đó và
cũng để bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia đất nước, Bộ chính trị Việt Nam quyết định mở chiến dịch phản công biên giới Tây Nam với quy mô lớn nhằm đánh sập hoàn toàn lực lượng Polpot, giải phóng nhân dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Để thực hiện chiến dịch, Việt Nam huy động số lượng lớn phương tiện chiến tranh cùng lực lượng quân đội hùng hậu bao gồm lực lượng của Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9, Đoàn 901 không quân,
Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 và Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101… kết hợp với lực
lượng của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia mở cuộc tấn công tổng
lực vào Campuchia Tuy gặp phải sự kháng cự khá quyết liệt của lực lượng Khmer
Trang 34đỏ nhưng với quân số và vũ khí vượt trội, quân đội Việt Nam liên tục đánh bại các cuộc kháng cự của quân Khmer đỏ tại Takeo, Battambang, Siem Reap, Ratanakiri, Mondolkiri, Kompong Cham
Ngày 7/1/1979 Quân đội Việt Nam cùng lực lượng của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia tiến vào giải phóng hoàn toàn Phnom Penh đánh dấu
sự sụp đổ hoàn toàn sự cai trị tàn bạo của chính quyền Polpot – Ieng Xari Tàn quân Khmer đỏ chạy đến khu vực biên giới Campuchia – Thái Lan, thậm chí vượt sang
đất Thái Lan để xây dựng các vùng “đất thánh” và nhận được sự hậu thuẫn của
Thái Lan, Trung Quốc, Mĩ để chống chính quyền cách mạng
Trước đó ngày 5/1/1979 với 66 đại biểu của Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia được triệu tập tại Mimot và đi tới thống nhất thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia Sau khi Phnom Penh được giải phóng (7/1/1979) Hội đồng Cách mạng Campuchia (xem như Chính phủ lâm thời) được thành lập do Heng Samrin làm Chủ tịch Ngày 18/2/1979 đại diện của Hội đồng Cách mạng
Campuchia Heng Samrin kí với Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác có giá trị trong vòng 25 năm, theo đó mong muốn
quân đội Việt Nam tiếp tục ở lại để giúp nhân dân và Chính phủ Cách mạng Campuchia loại trừ sự quay lại của Khmer đỏ và giúp Campuchia tái thiết đất nước
Hiệp ước cũng khẳng định “Cộng hòa XHCN Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Campuchia kiên trì chính sách quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt với Thái Lan và các nước khác ở Đông Nam Á, tích cực góp phần vào hòa bình, ổn định và phồn vinh của khu vực Đông Nam châu Á”[10, tr.4] Mùa xuân 1981 hiến pháp mới của
Campuchia được công bố, bầu cử toàn quốc cũng được tiến hành nhằm chọn các đại biểu quốc hội và thành lập chính phủ mới trong đó Heng Samrin được bầu làm Chủ tịch nước, Pexovan được bầu làm Phó chủ tịch phụ trách bộ Quốc phòng và Husen được bầu làm Bộ trưởng Ngoại giao
Chính quyền mới của Campuchia được Việt Nam, Liên Xô, Cuba, các nước XHCN ở Đông Âu công nhận Trong khi Mĩ, Trung Quốc, các nước phương Tây, Thái Lan và các nước ASEAN khác xem chính quyền Heng Samrin là tay sai của
Trang 35Việt Nam và tiếp tục công nhận chính phủ Polpot Chính vấn đề Campuchia đã làm nảy sinh những bất đồng mới giữa Thái Lan – Việt Nam Như trên đã trình bày, khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia thì quan hệ Thái Lan – Việt Nam ngày càng xấu đi, lập trường của Thái Lan và Việt Nam ngày càng khác xa nhau Trong khi Việt Nam công nhận vào giúp đỡ chính quyền Cộng hòa Nhân dân Campuchia, xem đây là đại diện hợp pháp cho nhân dân Campuchia Việt Nam xem việc quân đội mình đóng tại Campuchia là vấn đề bình thường vì có sự chấp thuận của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia để ngăn chặn thế lực Polpot – Ieng Xari quay trở lại nắm quyền và góp phần gìn giữ sự ổn định trong khu vực Ngược lại, Thái Lan xem chính quyền Polpot là đại diện cho Campuchia đồng thời lên án Việt Nam đưa quân vào Campuchia là nguyên nhân chính làm cho tình hình khu vực căng thẳng và đe dọa đến an ninh Thái Lan Mặt khác vấn đề Campuchia còn chịu ảnh hưởng của những vấn đề liên quan khác trong quan hệ quốc tế Các nước lớn như Mĩ, Liên Xô, Trung Quốc tìm cách can thiệp vào vấn đề Campuchia nhằm thể hiện sức mạnh cũng như tầm ảnh hưởng của mình Từ đó, lôi kéo các nước khác hình thành nên hai phe đối địch nhau Vấn đề Campuchia lúc này không còn là chuyện của Campuchia, Việt Nam hay Thái Lan nữa mà bị đẩy lên thành vấn đề toàn cầu đồng thời không thoát khỏi cái bóng của sự đối đầu trong Chiến tranh lạnh
Khi tìm hiểu nguồn gốc của vấn đề Campuchia không thể xem xét vấn đề trên khía cạnh đơn tuyến mà phải đặt trong hoàn cảnh và diễn biến chung của tình hình quốc tế cũng như mối quan hệ giữa các cường quốc mới thấy hết tính chất phức tạp của vấn đề này Sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi, cục diện quan hệ quốc cũng có nhiều diễn biến phức tạp Trong khi thế lực của Mĩ có giảm sút đôi chút sau thất bại ở Việt Nam buộc phải hạn chế sự có mặt của mình ở một số khu vực trên thế giới trong đó có khu vực Đông Nam Á, nhưng Mĩ không muốn khu vực này rơi vào tầm ảnh hưởng của Liên
Xô hoặc Trung Quốc nên tìm nhiều phương cách để đối phó Chiến tranh lạnh bước vào giai đoạn mới, tuy bản chất vấn đề vẫn chưa thay đổi nhưng cách thức thực hiện của hai phe (TBCN và XHCN) có nhiều thay đổi đó chính là việc hai cực Xô – Mĩ
Trang 36đã chuyển sang đối thoại với nhau nhiều hơn Trong khi đó, một số mối quan hệ được xem là truyền thống tốt đẹp trong chiến tranh ngày càng xấu đi và trở thành thù địch mà điển hình là quan hệ Trung Quốc – Việt Nam Một trong những nguyên nhân làm cho quan hệ Trung – Việt xấu đi chính là mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô chưa được cải thiện trong khi Trung Quốc cho rằng, Việt Nam ngày càng ngả về phía Liên Xô Các nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn xem Việt Nam có vị trí chiến lược rất quan trọng, luôn muốn Việt Nam phụ thuộc vào mình trong tất cả mọi vấn đề, kể cả việc muốn cuộc chiến tranh Việt Nam chống Mĩ kéo dài để Trung Quốc đạt được mục đích làm Mĩ suy yếu Do đó khi Việt Nam không thực hiện theo đúng ý đồ của họ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thực hiện những kế sách gây tổn hại lớn trong quan hệ hai nước Trung Quốc từng bước bắt tay với Mĩ để chống Liên Xô và thực hiện những chính sách gây ảnh hưởng xấu đến cách mạng Việt Nam, đến mối quan hệ Trung - Việt Quan hệ thù địch giữa Trung Quốc và Việt Nam được đẩy lên đỉnh điểm khi Trung Quốc cho quân tấn công Việt Nam vào tháng 2/1979
Trái ngược với quan hệ Việt – Trung, quan hệ Việt – Xô ngày càng gắn bó thắm thiết Ngày 3/11/1978 Việt Nam – Liên Xô kí Hiệp ước hữa nghị có giá trị 25
năm, trong hiệp định khẳng định “trong trường hợp một nước nào đó rơi vào mục tiêu xâm lược hoặc bị đe dọa, hai thành viên sẽ bàn bạc với nhau nhằm loại trừ sự
đe dọa và thực hiện biện pháp cùng nhau bảo vệ hòa bình và an ninh của hai nước”[50, tr.82] Bên cạnh đó Liên Xô tăng cường viện trợ cho Việt Nam những
gói viện trợ hàng triệu rúp, Việt Nam thực sự trở thành đồng minh chiến lược của Liên Xô ở khu vực Đông Nam Á
Đối với Thái Lan, việc Mĩ thất bại trong cuộc chiến tại Việt Nam làm Thái Lan thay đổi chiến lược đối ngoại của mình, ít phụ thuộc vào Mĩ hơn Thái Lan thực hiện các bước đi ngoại giao mang tính độc lập hơn, trong đó có việc từng bước thực hiện các bước đi trong quan hệ với Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô Quan hệ giữa các nước trong tổ chức ASEAN được đẩy mạnh hơn sau Hiệp ước Bali (1976) nhằm đưa tổ chức này ngày càng lớn mạnh hơn, liên kết và độc lập hơn trước sự
Trang 37ảnh hưởng của các cường quốc lớn Quan điểm của Thái Lan là “Phát triển mối quan hệ với các cường quốc một cách cân bằng, phù hợp với lợi ích quốc gia, đồng thời hợp tác về các mặt kinh tế, khoa học kĩ thuật với các nước đang và đã phát triển, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường”[77, tr.161] Giới lãnh đạo
Thái Lan cũng thấy được tiềm năng to lớn của các nước Đông Dương mà Thái Lan
có thể hợp tác để làm giàu cho mình như nguồn nhân công rẻ, thị trường tiêu thụ hàng hóa …
Trong khi đó vấn đề bình thường hóa quan hệ Mĩ – Việt Nam gặp những khó khăn qua ba vòng đàm phán tại Pháp (vòng 1: ngày 3 – 4/5/1977; vòng 2: ngày 2 – 3/6/1977; vòng 3: ngày 19 – 20/12/1977) giữa phái đoàn của Việt Nam do Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền dẫn đầu hội đàm với phái đoàn Mĩ do R Holbrooke dẫn đầu cuối cùng đã đi đến ngõ cụt do bất đồng giữa hai bên khá lớn Phía Mĩ đòi bình thường hóa vô điều kiện, ý không chấp nhận những điều kiện Việt Nam đưa ra,
Mĩ đưa ra yêu cầu hai nước sẽ thiết lập văn phòng liên lạc tại Hà Nội và Oashinton gắn với việc giúp Mĩ tìm kiếm lính Mĩ mất tích tại Việt Nam Trong khi Việt Nam
gắn vấn đề bình thường hóa với việc Mĩ “Bỏ cấm vận và lập quan hệ ngoại giao đầy đủ, Mĩ viện trợ cho Việt Nam 3,25 tỉ USD như đã hứa”[70, tr.361] Đến năm
1978 Mĩ cũng đặt việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam gắn với việc Việt Nam không được xâm chiếm Campuchia, vấn đề người tị nạn, Việt Nam không được quá phụ thuộc vào Liên Xô Những yêu cầu Mĩ đưa ra đã bị Việt Nam bác bỏ, đàm phán bình thường hóa quan hệ Việt – Mĩ hoàn toàn thất bại và phải đợi cho đến
Mĩ bị cản trở vì rõ ràng để làm hài lòng Trung Quốc, Mĩ không thể một sớm một
Trang 38chiều xích lại gần Việt Nam được Mĩ đã chọn Trung Quốc Tổng thống Mĩ Carter
từng khẳng định “Bước đi với Trung Quốc có tầm quan trọng tối cao, cho nên sau vài tuần đánh giá, tôi quyết định trì hoãn cố gắng về Việt Nam cho đến khi kí hiệp định của chúng ta ở Bắc Kinh” [70, tr.365] Để thể hiện quyết tâm bình thường hóa
quan hệ với Trung Quốc, Mĩ cử Ngoại trưởng Cyrus Vance thăm Bắc Kinh (23/8/1978) để thúc đẩy mối quan hệ hai nước Những bước đi của Mĩ được chính quyền Trung Quốc hết sức hoan nghênh, thậm chí để tỏ rõ thiện chí của mình, một
nhà lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc còn mạnh miệng tuyên bố “Trung Quốc là NATO phương Đông” Ngày 15/12/1978 Mĩ và Trung Quốc ra thông cáo chung
chính thức công nhận nhau đồng thời thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức bắt đầu từ ngày 1/1/1979 Từ ngày 29/1 đến 4/2/1979 nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình chính thức thăm Mĩ đánh dấu mối quan hệ Trung – Mĩ bình thường hóa
Đến đầu những năm 80 ba nước lớn Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc đã có sự điều chỉnh chiến lược của mình đó là vừa đấu tranh vừa hòa hoãn, kiềm chế lẫn nhau nhằm tập trung vào phát triển kinh tế Trong đó vấn đề Campuchia được đưa vào chương trình nghị sự trong hội đàm giữa các nước lớn Tháng 10/1982 tại Bắc Kinh, đàm phán bình thường hóa quan hệ Trung Quốc – Liên Xô trong đó Trung Quốc nêu ra một trong những trở ngại lớn cho việc bình thường hóa quan hệ hai nước đó chính là vấn đề Campuchia đồng thời Trung Quốc đưa ra bản yêu sách 5 điểm về vấn đề Campuchia cho Liên Xô Nội dung chính của bản yêu sách bao gồm
“1 Liên Xô chấm dứt ủng hộ Việt Nam xâm lược Campuchia; 2 Việt Nam tuyên bố rút hết quân khỏi Campuchia Đàm phán bình thường hóa quan hệ Trung – Việt sẽ bắt đầu sau khi những đơn vị quân Việt Nam đầu tiên rút; 3 Trung Quốc có những biện pháp cải thiện quan hệ với Liên Xô; 4 Lập chính phủ liên hiệp Campuchia đại diện cho tất cả các phe phái ở Campuchia Đảm bảo quốc tế ho một nước Campuchia độc lập và không liên kết”[51, tr.29] Ngày 1/3/1983 Trung Quốc cho
công khai 5 điểm trên, chủ ý thực của Trung Quốc là sử dụng vấn đề Campuchia để mặc cả với Liên Xô nhưng chưa có thiện chí giải quyết vấn đề vì Trung Quốc cho
rằng ghìm chân Việt Nam càng lâu sẽ càng có lợi cho mục đích của họ
Trang 39Trong giai đoạn 1979 – 1986 cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật có những bước phát triển như vũ bão, khoa học – kĩ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các nước TBCN không ngừng áp dụng khoa học – kĩ thuật vào trong sản xuất
và cuộc sống, thu được những thành quả rất khả quan trong việc phát triển đất nước Ngược lại, Liên Xô và các nước XHCH rơi vào cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng, kinh tế sụt giảm và mâu thuẫn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp Trong tình hình đó, năm 1985 M Goocbachop lên nắm quyền đồng thời tiến hành cuộc cải
tổ toàn diện Bên cạnh đó, tình hình thế giới trong giai đoạn này xu thế hội nhập khu vực và thế giới diễn ra rất mạnh mẽ, sự ra đời và liên kết của các tổ chức khu vực ngày một phát triển mạnh, trong đó tiêu biểu là sự hội nhập sâu rộng của tổ chức EU
Tóm lại, tình hình thế giới giai đoạn 1979 – 1986 bên cạnh việc xuất hiện những yếu tố tích cực vẫn còn đó những diễn biến hết sức phức tạp, ẩn chứa nhiều vấn đề nguy hiểm cho hòa bình thế giới Năm 1979 vấn đề Campuchia xảy ra, sự phức tạp của vấn đề này được đẩy lên không còn là vấn đề riêng của Việt Nam, Campuchia hay Thái Lan mà trở thành một vấn đề toàn cầu đẩy cuộc Chiến tranh lạnh sang một giai đoạn mới, trong đó cực Mĩ – Trung Quốc và đồng minh của họ đối đầu với cực Liên Xô – Việt Nam và những đồng minh của mình Hầu như trong giai đoạn 1979 – 1991 những vấn đề quan hệ quốc tế có liên quan đến Việt Nam, Thái Lan, Campuchia cũng như quan hệ Thái Lan – Việt Nam đều ít nhiều có dính dáng đến vấn đề Campuchia
Trang 402.2 Lập trường của Thái Lan và Việt Nam xung quanh vấn đề Campuchia 2.2.1 Lập trường đối lập và nguy cơ đối đầu giữa Thái Lan – Việt Nam xung quanh vấn đề Campuchia (1979 – 1980)
Nếu trong giai đoạn 1976 – 1978 mối quan hệ Thái Lan và Việt Nam có những chuyển biến tích cực trong việc xích lại gần nhau thì từ cuối 1978 – 1979 mối quan hệ hai nước bắt đầu xuất hiện lập trường đối lập và những nguy cơ dẫn đến đối đầu xung quanh vấn đề Campuchia Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật
đổ chế độ diệt chủng và thỏa thuận với chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia tiếp tục sự hiện diện của quân đội Việt Nam tại Campuchia để ngăn chặn sự quay lại của chế độ Polpot – Ieng Xari, đồng thời giúp nhân dân Campuchia có điều kiện tái thiết đất nước, điều đó làm chính phủ Thái Lan mà đặc biệt là giới quân sự Thái Lan hết sức lo lắng Thêm vào đó, sự tăng cường tuyên truyền của chính phủ Trung Quốc khi cho rằng, Việt Nam có ý định lập Liên bang Đông Dương và sẽ xâm lược
Thái Lan càng làm cho Thái Lan có lý do để lo sợ hơn Một lần nữa cái gọi là “sự trả thù của cộng sản Việt Nam” lại có dịp bùng phát trong tư tưởng của giới cầm
quyền Thái Lan Mặt khác, chính phủ Thái Lan vẫn luôn luôn xem Việt Nam là đối thủ cạnh tranh lớn của họ ở trong khu vực nhất là sau khi nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ và có trong tay một tiềm lực quân sự hùng mạnh, được báo chí phương Tây xem là không có đối thủ trong khu vực Đông Nam Á nếu xét về khía cạnh này
Năm 1975 – 1978 thế lực lượng Polpot – Ieng Xari liên tục gây hấn ở biên giới Tây Nam Việt Nam và sau đó mở cuộc tấn công quy mô lớn vào biên giới Việt Nam, giới quân sự Thái Lan xem đó là biện pháp hữu hiệu mà chính phủ Campuchia Dân chủ gián tiếp giúp Thái Lan làm cho Việt Nam suy yếu Dù trên thực tế, chính phủ Vương quốc Thái Lan không ưa gì chính quyền Campuchia Dân chủ, nhưng do những tính toán về quyền lợi và an ninh của mình, Thái Lan vẫn ngầm ủng hộ những hành động của Polpot – Ieng Xari đối với Việt Nam Tuy vậy lúc đầu trong mọi phát biểu, giới cầm quyền Thái Lan vẫn tuyên bố rất ngoại giao