1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Thạc sĩ Khoa học ngữ văn: Ngô Tất Tố - Nhà báo thành tựu xuất sắc qua mảng Tạp văn - Tiểu phẩm

116 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án Ngô Tất Tố - Nhà báo thành tựu xuất sắc qua mảng Tạp văn - Tiểu phẩm trình bày về các nội dung: tư tưởng và quan niệm của Ngô Tất Tố về làm báo, viết văn, nội dung tư tưởng của tạp văn - tiểu phẩm Ngô Tất Tố, nghệ thuật viết tiểu phẩm của Ngô Tất Tố. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ Hồ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÔ TẤT TỐ - NHÀ BÁO THÀNH TỰU XUẤT SẮC QUA MẢNG TẠP VĂN - TIỂU PHẨM

CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ : 5-04-33

LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

 Người hướng dẫn khoa học :

GS - PTS TRẦN HỮU TÁ

 Người thực hiện:

TRẦN VẦN DỮNG

1997

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ Hồ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÔ TẤT TỐ - NHÀ BÁO THÀNH TỰU XUẤT SẮC QUA MẢNG TẠP VĂN - TIỂU PHẨM

CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ : 5-04-33

LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

 Người hướng dẫn khoa học:

GS - PTS TRẦN HỮU TÁ

 Người thực hiện:

TRẦN VẦN DỮNG

1997

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

I MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nói đến Ngô Tất Tố, người đọc liên tưởng ngay đến tác giả của tiểu thuyết Tắt đèn,

một tác phẩm xuất sắc đã góp phần đưa tên tuổi của nhà văn lên vị trí xứng đáng trong dòng

văn học hiện thực nước ta, giai đoạn 1930 - 1945 Từ khi mới ra đời Tắt đèn đã được nhiều

nhà văn, nhà báo thời đó khen ngợi và đánh giá cao "một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy"(1)

Không chỉ có Tắt đèn mà còn nhiều tác phẩm khác của Ngô Tất Tố như: Việc làng, Lều chõng, những bài báo và các công trình khảo cứu, dịch thuật cũng

được đông đảo công chúng độc giả đón nhận một cách nồng nhiệt

Ngày nay, tác phẩm của ông được đưa vào dạy ở trường phổ thông và đại học Thân thế và sự nghiệp của ông được nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học quan tâm, nhiều thế

hệ sinh viên chọn làm luận văn tốt nghiệp ở bậc đại học và cao hơn

Vào ngày 10-6-1996 một vinh dự lớn đã đến với Ngô Tất Tố là các tác phẩm: Tắt

đèn, Việc làng, Lều chõng, Phiên chợ trung du (bút ký năm 1947 - 1948) được trao giải

thưởng Hồ Chí Minh (đợt I) Đây là hình thức khen thưởng cao nhất của Đảng - Nhà nước tặng cho những công trình đặc biệt xuất sắc, đã được công bố hoặc sử dụng kể từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay Theo đánh giá của Hội đồng trao giải, tất cả 77 cụm công trình, tác phẩm được tặng thưởng đợt này đều có giá trị cao về khoa học, văn học nghệ thuật, có ảnh hưởng rộng lớn, lâu dài trong đời sống nhân dân, cũng như góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nước

Như vậy, sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố, thêm một lần nữa được khẳng định

ở vị trí xứng đáng trong nền văn học Việt Nam Tác phẩm của ông từng làm say mê nhiều thế hệ độc giả, trong đó có tôi

(Lần đầu tiên tôi được làm quen với tác giả Ngô Tất Tố qua tác phẩm Tắt đèn, cách

đây đã hơn hai mươi năm) Không khí náo động, căng thẳng, ngột ngạt của làng Đông Xá trong vụ thuế, dưới thời Pháp thuộc được ông miêu tả như vẫn còn in đậm trong trí nhớ của tôi: cổng làng đóng chặt, việc đồng áng đình đốn, dân làng bị dồn lại và bọn

(1) Vũ Trọng Phụng viết trên tờ Thời vụ năm 1939, trích lại trong Lịch sử Văn học Việt Nam, tập V, NXB Giáo

Trang 4

cường hào bắt đầu đốc thuế bằng gậy gộc, cùm kẹp Giữa tiếng thúc giục dồn dập của "mõ

cá trên cột đình", "trống cái dưới xá đình", người nông dân đầu óc căng thẳng, hoặc chạy ngược chạy xuôi vay nợ, cầm đồ, hoặc kêu khóc thảm thiết Sau lũy tre xanh, làng Đông Xá

êm đềm, lặng lẽ bỗng trở thành một bãi chiến trường Tôi vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây tiếng kêu uất ức của chị Dậu và hình dung được cảnh chị nghiến hai hàm răng lại, thách thức và đánh ngã hai tên bộ hạ hung hăng của quan phụ mẫu và cụ lý

Mỗi lần đọc lại hai câu thơ cùa Tố Hữu:

" Nửa đêm thuế thúc trống dồn

Sân đình máu chảy đường thôn lính đầy"

là tôi lại liên tưởng đến Tắt đèn và nhớ đến Ngô Tất Tố Sau này, khi học lên đại học, có

điều kiện đọc nhiều tác phẩm khác của Ngô Tất Tố, tôi nhận ra: bên cạnh các sáng tác văn học, ông còn viết nhiều công trình nghiên cứu, khảo cứu, nhiều bài bình luận thời sự có giá trị Đặc biệt là trên lĩnh vực báo chí, ông cũng đã chứng tỏ được mình là một cây bút tài hoa hiếm thấy trong làng báo Việt Nam thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi mà nền báo chí nước nhà vừa mới phát triển Trong khoảng thời gian mười lăm năm (1930 - 1945), trên các báo ngày, báo tuần, tạp chí khắp cả Bắc - Trung - Nam, xuất hiện liên tục các bài văn ngắn của Ngô Tất Tố, dưới nhiều tên ký khác nhau Vào thời đó "độc giả khắp trong Nam ngoài Bắc, không ai là không biết đến danh tiếng của ông" Chính những bài văn ngắn này là mảng được ông đầu tư vào đó nhiều công sức và tâm huyết nhất

Lớp hậu sinh của chúng tôi ngày nay chỉ được đọc một phần rất nhỏ trong số hàng ngàn trang viết của nhà báo Ngô Tất Tố Nhưng chỉ với một phần nhỏ ấy thôi, cũng đủ làm cho chúng tôi kính phục văn tài của ông Đọc lại những tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố viết cách đây hơn nửa thế kỷ, nhiều khi chúng tôi hết sức ngạc nhiên và tự hỏi: Làm sao một nhà nho áo the khăn xếp, từng bị các đồng nghiệp chế giễu "suốt đời không biết ăn kem Bờ Hồ", lại có thể viết những bài báo sắc sảo, hiện đại đến như thế? Vừa thâm nho, uyên bác đậm tính triết lý phương Đông, vừa đầy chất trí tuệ của phương Tây Và điều gì đã thôi thúc ông, vừa có tài viết "mỗi ngày một chuyện" vừa có tài viết "mỗi bài một kiểu", không đơn điệu, trùng lắp và luôn đem đến cho người đọc một sự thú vị

Thế nhưng, từ trước đến nay mảng tạp văn của ông không được mấy người biết đến, trừ một số bậc cao niên và những nhà nghiên cứu

Trang 5

Nhiều người khá quen thuộc với nhà văn hiện thực Ngô Tất Tố, nhưng chưa biết nhiều hoặc không biết nhà báo Ngô Tất Tố Thậm chí có nhà báo được đào tạo qua trường lớp đàng hoàng, đã từng viết tiểu phẩm báo chí, nhưng khi được hỏi về tạp văn - tiểu phẩm của Ngô Tất Tố thì tỏ ra xa lạ, vì chưa được đọc đến bao giờ Có người nghĩ đó là những tiểu phẩm đã "xưa như trái đất", đáng được đưa vào bảo tàng, không còn cần thiết đối với những người làm báo thời hiện đại Nghĩ như vậy là chưa hiểu nhiều về nhà báo Ngô Tất

Tố

Là người yêu thích văn chương của ông, tôi chọn "mảng không được mấy người biết

đến" này để làm luận án tốt nghiệp cao học Đề tài được mang tên : Ngô Tất Tố - nhà báo

(những thành tựu xuất sắc qua mảng tạp văn - tiểu phẩm)

Nghiên cứu tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, chúng tôi muốn góp phần làm sáng

tỏ tư tưởng tiến bộ và quan niệm của ông về nghề làm báo và viết văn, đồng thời qua đó khẳng định tài năng của ông trên lĩnh vực báo chí, đồng thời khẳng định lại vị trí của các tác phẩm báo chí, trong toàn bộ sự nghiệp văn chương của ông Thực tế cho thấy, các tác phẩm

Tắt đèn, Việc làng, Lều chõng trước khi in thành sách, một số đoạn đã được đăng trên các

báo dưới dạng những bài văn ngắn, điều đó có nghĩa là tất cả được bắt đầu từ báo chí mà ra Theo chúng tôi cả hai chức năng nhà văn và nhà báo ở ông đều hòa chung trong một nhân cách, nhưng ở góc độ nhà báo ông có phần sắc sảo hơn Chúng tôi sẽ lý giải điều này trong phần nội dung của luận án

Làng báo Việt Nam hiện nay, đang bước vào giai đoạn đổi mới trong bối cảnh đổi mới chung của đất nước, với số lượng báo chí phát hành nhiều, có hình thức trình bày trang nhã, nội dung phong phú đa dạng, thì việc đòi hỏi các nhà báo vừa có chuyên môn cao được đào tạo qua trường lớp, vừa phải thực hành giỏi để tạo ra những tác phẩm báo chí có sức sống lâu dài trong lòng độc giả, là một nhu cầu cấp thiết Nhưng theo nhận xét của riêng tôi, trong giáo trình báo chí được giảng dạy ở các trường đào tạo chuyên ngành hiện nay, có phần nặng về trang bị lý luận hơn là nghiệp vụ thực hành qua các thể loại Vì vậy, việc nghiên cứu tạp văn - tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, là một việc làm cần thiết mang ý nghĩa bổ sung vào vốn kiến thức chuyên môn cho bản thân mình, đồng thời giúp cho những người đã, đang hoặc sắp sửa bước vào nghề báo có thêm tài liệu để tham khảo

Trang 6

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Khi nghiên cứu về tác giả và tác phẩm của Ngô Tất Tố, nhiều người thường quan

tâm đến ông với tư cách là một nhà văn hiện thực xuất sắc với các tác phẩm Tắt đèn, Việc

làng, Lều chõng Ít ai chú ý đến những bài văn ngắn của nhà báo Ngô Tất Tố, được đăng

liên tục trên các báo và tạp chí, trong khoảng thời gian từ 1930 -1945 Nếu có đề cập đến những bài văn ngắn của ông, thì cũng chỉ là sự chọn lựa có giới hạn để chứng minh cho một nhận định nào đó trong công trình nghiên cứu của mình mà thôi

Ngô Tất Tố được đánh giá là một cây bút sắc sảo trong làng báo Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về nhà báo Ngô Tất Tố và những thành tựu xuất sắc của ông qua thể loại tạp văn - tiểu phẩm Tuy vậy, qua những lời phát biểu, những bài viết của bạn bè đổng nghiệp cùng thời, của những nhà văn nhà báo hiện nay, chúng tôi nhận thấy tất cả đều thống nhất với nhau ở chỗ đánh giá cao về đức độ và văn tài của nhà báo Ngô Tất Tố Để tiện theo dõi, trong phần này chúng tôi chia ra các tiểu mục như sau:

* Các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến Ngô Tất Tố, xuất bản trước năm 1945

Trong bài giới thiệu về tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, đăng trên báo Thời vụ

ngày 31.01.1931, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã viết: "Ngô Tất Tố là một nhà báo về phái nho học và là một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho Làng báo Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam

Kỳ, cũng như độc giả, hẳn không ai là không biết danh tiếng người ra đời từ hồi thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu chủ trương An nam tạp chí và đã viết nhiều bài đại luận khảo cứu, bút chiến, phê bình, nhiều truyện lịch sử có giá trị, trong nhiều tờ báo và tạp chí cả Nam lẫn Bắc Với cái sự đời hoan nghênh ấy, Ngô Tất Tố chẳng cần ai giới thiệu nữa"(1)

Trong công trình nghiên cứu Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (NXB Văn học -

Hội nghiên cứu giảng dạy văn học Thành phố HCM in lại, 1994) tác giả giới thiệu bảy mươi chín nhà văn Việt Nam, tham gia sáng tác bằng chữ quốc ngữ từ cuối thế kỷ 19 đến đầu

những năm 40 của thế kỷ 20, phần đề cập đến Ngô Tất Tố, tác giả viết: "Về Ngô Tất Tố ông

là một tay kỳ cựu trong làng văn, làng báo Việt Nam Cũng như

Trang 7

Phan Khôi, ông vào số những nhà Hán học đã chịu ảnh hưởng văn học Âu Tây và được người ta kể vào hạng nhà nho có óc phê bình, có trí xét đoán, có tư tưởng mới Nhưng sở dĩ tôi đặt ông vào các nhà văn lớp sau vì những văn phẩm gần đây của ông đã chứng tỏ một cách rõ rệt rằng về đường văn nghệ, ông đã theo kịp cả những nhà văn thuộc phái tân học xuất sắc nhất Ngô Tất Tố là một nhà nho mà đã viết được những thiên phóng sự, những thiên tiểu thuyết theo nghệ thuật Tây phương và ông đã viết bằng một ngòi bút đanh thép, làm cho người tân học phải khen ngợi"(1)

Trong công trình của mình, Vũ Ngọc Phan chỉ

giới thiệu và phê bình các tác phẩm Việc làng, Lều chõng và một số công trình khảo cứu

khác của Ngô Tất Tố, không đề cập đến những bài văn ngắn của Ngô Tất Tố

- Ở tập sách Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (Bộ Giáo dục - Trung

tâm học liệu Sài Gòn tái bản, năm 1968), tác giả có dành một phần để nói về tình hình báo chí Việt Nam nhưng rất sơ lược Còn ở phần văn xuôi, tác giả có giới thiệu một số văn gia hiện đại, có khuynh hướng tả thực như: Nguyễn Công Hoan, Tam Lang, Lan Khai, Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang, Nguyên Hồng, Nguyễn Lân không thấy nhắc đến Ngô Tất Tố

* Các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến Ngô Tất Tố, xuất bản từ năm 1945 đến 1975:

Ở miền Nam trước năm 1975, có các công trình đáng chú ý như sau:

Trong sách Việt Nam văn học tiền bán thế kỷ XX ban văn đệ nhị A.B.C.D và kỹ thuật

(Văn Hiệp xuất bản năm 1960) của nhóm tác giả Lê Kim Ngân, Võ Thu Tịnh, Nguyễn Tường Minh có dành một chương viết về tình hình báo chí nước ta từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1945, và ảnh hưởng của báo chí đối với văn học Những người biên soạn sách chỉ giới

thiệu hai tờ Đông Dương tạp chí và Nam phong tạp chí, cùng một số cây bút tiêu biểu của

hai tờ báo này Trong tập sách có nhắc đến Ngô Tất Tố, nhưng với tư cách là tác giả của hai

công trình khảo cứu: Thơ văn bình chú I, II (1941, 1943) và Văn học đời Lý (1942)

Nhắc nhiều về Ngô Tất Tố phải kể đến tập hồi ký của Vũ Bằng Vũ Bằng là một trong những người hoạt động sôi nổi trên lĩnh vực báo chí và văn học ở miền Bắc từ năm

1930 đến 1945 Ông có quan hệ thân tình với nhiều nhà văn, nhà báo nổi tiếng của nước nhà như: Nam Cao,

Trang 8

Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Ngỗ Tất Tố, Nguyễn Công Hoan Sau Hiệp định

Giơ-ne-vơ, Vũ Bằng vào Sài Gòn tiếp tục làm báo và viết văn Năm 1969, Vũ Bằng cho xuất bản

tập hồi ký "Bốn mươi năm nói láo", đây là lời tự bạch về cuộc đời viết văn và làm báo của

mình Với tập sách dày trên ba trăm trang chữ in, ông kể lại nhiều kỷ niệm vui buồn lẫn lộn với chua cay của nhiều bạn bè đồng nghiệp cùng thời với ông, trong đó ông nhắc nhiều đến Ngô Tất Tố Năm 1993, Nhà xuất bản Thông tin - Hà Nội tái bản tập sách này, với lời giới thiệu của nhà văn Triệu Xuân

Vũ Bằng kể lại: theo quan niệm chung của nhiều người thời đó, nhà báo phải khác người, phải lập dị, phải là những tay ăn chơi chí tử Người viết báo mà không biết hút thuốc phiện, không uống rượu, không đi hát cô đầu thì bị chê là yếu Càng nghiện hút nặng, uống

dữ, chơi bời phóng túng thì được xem là người thành công trong nghề báo Còn chuyện đi đứng, ăn mặc cũng phải khác người: "chải đầu bi đăng tin, mặc ba đờ suy đờ vin, đi ghệt, cầm ba toong gỗ ép mua ở nhà Chabot, đánh phấn một tí, bôi môi một tí để lấy le"(1) Còn viết báo thì tha hồ, muốn viết gì thì viết, cố làm ra vẻ mình "thông kim quán cổ", bàn đủ mọi chuyện trên đời, cứ chửi loạn xà ngầu (miễn đừng chửi Tây là được), chửi chí chết, nếu chửi tục, chửi dơ dáy, thỉnh thoảng xen vào vài câu dâm dục thì càng được hoan nghênh"(2) Xung quanh mình, phần đông là các nhà báo như thế đấy, nhưng suốt thời gian cùng sống và viết với họ, Ngô Tất Tố vẫn sống đứng đắn, viết nghiêm túc, ông giữ được mình và ngòi bút của mình trong sạch Chính vì vậy, ông được bạn bè đồng nghiệp nể phục về đức độ cũng như văn tài

Vũ Bằng luôn dành cho Ngô Tất Tố một tình cảm hết sức kính trọng "Anh em tòa soạn gồm 7, 8 người ai cũng hăng say đi tìm cái lạ Nguyễn Triệu Luật, Ngô Tất Tố, Phùng Bảo Thạch là những bạn phụ trách các bài đứng đắn , còn Vũ Liên, Nguyễn Như Hoàn, Vũ Trọng Phụng và tôi có nhiệm vụ viết "Pô-tanh" tiểu thuyết, ký sự, phóng sự, chuyện vui tòa án Sau này, Ngô Tất Tố nổi tiếng về mục "phim hàng ngày" chính vì viết nhũng bài sâu

sắc, đau đớn, chua chát, ngộ nghĩnh trong mục "nói hay đừng" của tờ Công dân” (3) Sau khi

tờ Công dân bị đình bản các ông tiếp tục làm tờ Tương lai Mãi những năm về sau này, tình

cờ lượm được một tờ báo Tương lai cũ đọc lại mà Vũ Bằng vẫn còn cảm giác "buồn se sắt

khi nhớ lại một quãng đời làm báo đã qua và nhiều lúc tôi ngạc nhiên: Sao lúc ấy, anh em lại

có thể viết được những bài hay như những bài "phim" của Ngu Công "(4), (bút hiệu của

Ngô Tất Tố khi viết cho tờ Tương lai)

Trang 9

- Tình cờ chúng tôi đọc được tập san: Giai phẩm văn học, ấn hành tại Sài Gòn,

những năm trước giải phóng, nhưng không còn bìa, nên chúng tôi không xác định được thời gian và đơn vị xuất bản Toàn bộ nội dung của tập san dành riêng để giới thiệu về Ngô Tất

Tố, trong đó có các bài viết của Vũ Bằng (về một truyện dài nổi tiếng nhất của Ngô Tất Tố:

truyện Tắt đèn), Vũ Ngọc Phan (Phê bình văn nghiệp Ngô Tất Tố, trích Nhà văn hiện đại),

Kiều Thanh Quế (Phê bình Lều chõng, tiểu thuyết của Ngô Tất Tố - trích Tri Tân, số 33 ngày 23.1.1942), Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (Phê bình Thi văn bình chú của Ngô Tất Tố) và đăng lại các bài viết của Ngô Tất Tố: Phê bình nho giáo Trần Trọng Kim, Đôi giầy mất dạy (trích trong Việc làng), Buổi chợ trung du (1948) Điều này chứng tỏ, bạn đọc ở miền Nam

trước đây cũng yêu thích văn của Ngô Tất Tố

Tiếp theo là công trình Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (1865 -

1932), của tác giả Bùi Đức Tịnh Ông viết xong năm 1974, đã được xuất bản tại Sài Gòn vào tháng 2.1975, nhưng do điều kiện phát hành lúc đó gặp khó khăn, nên tập sách không được mấy người biết đến Năm 1992, để phục vụ cho công tác nghiên cứu, tham khảo của nhiều độc giả, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh đã cho in lại tập sách này Riêng trên lĩnh vực báo chí, tác giả Bùi Đức Tịnh, cũng chỉ làm công việc khái quát lại quá trình hình thành và phát triển của báo chí nước ta giai đoạn 1865 - 1932, và giới thiệu một vài cây bút tiêu biểu, trong đó không có nhà báo Ngô Tất Tố

* Các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến Ngô Tất Tố, xuất bản từ sau năm 1975 đến nay

Năm 1977, Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội, in Ngô Tất Tố - tác phẩm của Giáo sư Phan Cự Đệ Đây là công trình đầu tiên giới thiệu một cách tương đối toàn diện về Ngô Tất

Tố và những thành công của ông trên các lĩnh vực: báo chí, nghiên cứu dịch thuật, sáng tác văn học Riêng trên lĩnh vực báo chí, tác giả đã có công sưu tầm và giới thiệu 112 bài báo của Ngô Tất Tố được viết trong khoảng thời gian 1929 - 1943 Trong phần nhận định đánh giá chung về Ngô Tất Tố, tác giả xác định: Ngô Tất Tố là một nhà nho nghèo yêu nước tiến

bộ, phấn đấu trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam "Không thấy rõ điểm xuất phát

đó của Ngô Tất Tố, chúng ta không đánh giá đúng mức được những cố gắng và sự tiến bộ vượt bậc của ông"

Quá trình phát triển tư tưởng theo hướng đi lên đó của Ngô Tất Tố,

Trang 10

theo Giáo sư Phan Cự Đệ là do những nguyên nhân sau: Trước hết là mối quan hệ chặt chẽ của nhà nho với quần chúng nông dân lao động Từ chỗ đứng của lớp người nghèo khổ bị bóc lột, Ngô Tất Tố thấy rõ bộ mặt tàn bạo, nham hiểm của giai cấp thống trị đương thời Thứ hai là trong cuộc đời mình, Ngô Tất Tố được nghe kể hoặc chứng kiến những sự thối nát của giai cấp phong kiến đầu hàng Pháp: Hoàng Cao Khải bán nước, Nguyễn Thân đàn

áp phong trào Phan Đình Phùng, Lê Hoan tàn sát phong trào Bãi Sậy Thứ ba là những phong trào Đề Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học ảnh hưởng khá sâu sắc đến lòng yêu nước của nhà nho Ngô Tất Tố Đáng kể nhất và có ý nghĩa quyết định nhất đối với tư tưởng Ngô Tất Tố là những ảnh hưởng của phong trào cách mạng trong nước, của sách báo mác-xít ở nước ngoài và báo chí cộng sản công khai thời kỳ Mặt trận Dân chủ Tất nhiên thấm thía nhất vẫn là kinh nghiệm bản thân của Ngô Tất Tố: cuộc đời của một thanh niên đã từng mấy lần khoa cử lận đận, cuộc đời của "một bọn anh em nhà văn nghèo, dúm rau dúm bếp làm với nhau, ít khi trả tiền in rồi trong két có được tiền thừa mà trả cho người cầm bút" (Ngô Tất Tố - Gia thế ông Vũ Trọng Phụng, Tao Đàn 1939), cuộc đời cay đắng tủi nhục đầy những chuyện căm uất của một người trí thức mất nước, luôn luôn phải lo lắng đối phó với những thủ đoạn mua chuộc dụ dỗ, hoặc trục xuất ra khỏi thành phố, khám nhà bắt giam của sở Mật thám Hà Nội

Tất cả những yếu tố trên đã giúp cho Ngô Tất Tố vượt lên phía trước, đuổi kịp thế hệ trẻ và trở thành một trong những người tiến bộ nhất của lớp nhà nho cuối mùa

Phan Cự Đệ đã gọi Ngô Tất Tố là "một nhà nho" bất kính "đối với Khổng Tử" vì

"Trước Cách mạng tháng Tám, trong loại văn tiểu phẩm, trong các công trình nghiên cứu

cũng như tiểu thuyết Lều chõng, truyện Trong rừng nho (hiện nay chưa sưu tầm được tác

phẩm này), Ngô Tất Tố đã nhiều lần soát lại một cách không tự giác những giáo lý Khổng

Mạnh Ông không thể không suy nghĩ khi viết Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim

(1938), Mặc tử (1942), Lão Tử (1942) và Kinh dịch (1944) Tuy chưa có một quan điểm

khoa học, mác-xít để tiến hành nghiên cứu và phê phán Nho giáo một cách triệt để, nhưng

rõ ràng Ngô Tất Tố không phải là người nhắm mắt phục cổ, suy tôn Nho giáo một chiều Tuy là môn đệ của Khổng Mạnh, nhưng nhiều lúc Ngô Tất Tố đã thẳng thắn phê phán giáo

lý của các nho gia, đặc biệt tỏ thái độ "bất kính" đối với cụ Khổng"

Trang 11

Ngô Tất Tố tích cực nghiên cứu, đánh giá lại các học thuyết cổ của Trung Quốc vốn có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tư tưởng của các thế hệ nhà nho Việt Nam trong các thế kỷ trước Với bản lĩnh của một cây bút có tư tưởng độc lập và luôn luôn muốn vươn lên cho kịp thời đại, với tinh thần tiếp thu có phê phán những giá trị tinh thần cũ của các thế hệ nhà nho, những tác phẩm của Ngô Tất Tố ít nhiều có ý nghĩa chống lại phong trào phục cổ, phong trào suy tôn Khổng giáo và bảo tổn quốc tuy mà Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và một

số người khác đang ra sức hô hào cổ vũ

Nội dung tư tưởng này xuyên suốt quá trình sáng tác của ông Ngòi bút của Ngô Tất

Tố theo sát từng diễn biến của phong trào cách mạng nước ta, có các sự kiện nào nổi bật ông đều xoáy vào đó để bộc lộ tư tưởng và quan điểm chính kiến của mình "Lập trường chiến đấu của Ngô Tất Tố là lập trường của một nhà nho nghèo, yêu nước, thương dân Ngô Tất

Tố cũng là một người có cảm tình với cách mạng, trước sau thủy chung với cách mạng Tuy nhiên cho đến những năm trước 1945, Ngô Tất Tố vẫn chưa đứng hẳn vào hàng ngũ cách mạng Ông chưa thấy được lực lượng hùng hậu của phong trào quần chúng cũng như chưa tin vào sự thắng lợi cuối cùng của cách mạng Những hạn chế trong thế giới quan của một nhà nho trí thức cũng phần nào ảnh hưởng đến thái độ đối với cách mạng Ngô Tất Tố chưa

hề đặt vấn đề phải làm cách mạng để lật đổ chế độ thực dân Pháp Cho nên chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy ông đưa ra những biện pháp của chủ nghĩa cải lương tư sản (đề nghị cải cách chế độ quan lại, dùng trí thức cải tạo đời sống cho nông dân) Mặc dù còn

có những hạn chế trong thế giới quan, trong lập trường chiến đấu nhưng nói chung không khi nào Ngô Tất Tố chĩa mũi dùi đả kích vào hàng ngũ cách mạng và quần chúng lao khổ, không khi nào ông tô son vẽ phấn cho bọn quan lại, dù chúng là Nho học hay Tây học Đó

là vì ông luôn luôn đứng trên quyền lợi của dân tộc, của quần chúng bị áp bức, luôn luôn xuất phát từ một tấm lòng yêu nước thương dân mà sáng tác Có thể nói trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Ngô Tất Tố là người bạn đường đáng tin cậy của giai cấp công nhân Những người yêu nước thương dân như Ngô Tất Tố trước sau rồi cũng đi đến với cách mạng "(1)

Không dừng lại ở chỗ phân tích những giá trị về nội dung tư tưởng, Phan Cự Đệ còn

đi vào phân tích những thành công về mặt nghệ thuật biểu hiện trong văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố Nhiệt tình chiến đấu

Trang 12

cộng với nghệ thuật già dặn đã làm cho loại văn tiểu phẩm có một giá trị đặc biệt và chiếm một địa vị quan trọng trong sự nghiệp văn học của Ngô Tất Tố Tác giả cho biết: "Theo chúng tôi nghĩ ngày nay chúng ta vẫn còn có thể học tập được nhiều ở tính chiến đấu của ngòi bút Ngô Tất Tố, ở nghệ thuật châm biếm sắc sảo của ông"(1) Khi phân tích giá trị nghệ thuật trong văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, Phan Cự Đệ đã nêu lên một số vấn đề cần chú ý:

"bất cứ lúc nào có điều kiện, Ngô Tất Tố sẵn sàng sử dụng những đòn đánh thẳng vào mặt đối phương, không kiêng nể và ông phân biệt rất rõ lối đả kích hoặc trào lộng đả kích để đánh địch, lối hài hước và trào lộng hài hước là để giải quyết những vấn đề mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân Nụ cười châm biếm của Ngô Tất Tố không phải là sự chế giễu lạnh lẽo vô tình, không phải là thái độ bông phèng "lùng tùng xòe" như nhóm Tự lực văn đoàn, cũng không phải là sự đả kích vô chính phủ theo quan điểm hư vô chủ nghĩa của Vũ Trọng Phụng, mà đây là một sự phê phán xã hội đứng trên lập trường của một người trí thức yêu nước Chính lập trường đó đã làm cho tiếng cười của Ngô Tất Tố có nội dung xã hội sâu sắc, lành mạnh, lạc quan và nói chung lúc nào cũng nhằm trúng đích, bắn chính xác vào kẻ thù của dân tộc và của quần chúng bị áp bức bóc lột"(2)

Nghiên cứu về nhà báo Ngô Tất Tố và những thành tựu của ông qua mảng tạp văn tiểu phẩm, Phan Cự Đệ bắt đầu từ điểm xuất phát của Ngô Tất Tố là một nhà nho nghèo yêu nước tiến bộ, phấn đấu trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam Và triển khai phân tích chứng minh, đánh giá những thành tựu của Ngỗ Tất Tố theo sự tiến bộ về tư tưởng của ông trong từng thời kỳ phát triển của cách mạng Việt Nam, đồng thời phê phán những mặt hạn chế về tư tưởng của Ngô Tất Tố

- Công trình tiếp theo là Lịch sử văn học Việt Nam (tập V, 1930 -1945, Nhà xuất bản

Giáo dục, năm 1978) của nhóm tác giả: Huỳnh Lý, Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn ĐăngMạnh, Nguyễn Trác trong đó có một chương viết về "Ngô Tất Tố- nhà báo"

do giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh biên soạn Tác giả đã nêu khái quái về cuộc đời làm báo của Ngô Tất Tố, và chỉ quan tâm đến những bài báo được Ngô Tất Tố viết trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ "Báo chí phát triển rất mạnh, người ta phát biểu sôi nổi xung quanh việc

dự thảo tập dân nguyện, người ta hăng hái tranh luận về các vấn đề thời sự, chính trị, xã hội, nghệ thuật, triết lý Là con người luôn luôn băn khoăn đến thời thế, đến vận mệnh của dân tộc, Ngô Tất Tố lúc này càng hết sức tung hoành trong trường ngôn luận Ông đã đứng vững trên lập trường dân chủ, chiến đấu kịch

Trang 13

liệt với những lực lượng áp bức bóc lột nhân dân"(2) Qua phân tích tác giả đi đến kết luận:

"Nhìn chung qua những bài bình luận, bút chiến, phóng sự, ta thấy Ngô Tất Tố thật sự là một nhà báo hăng hái và chân thành chiến đấu cho những yêu cầu cải cách dân chủ thật sự

vì lợi ích của nhân dân lao động Những việc ông làm, những điều ông đấu tranh như thế đã khiến ông gần với cách mạng"(1) Đồng thời nêu lên những mặt hạn chế trong tư tưởng của nhà báo Ngô Tất Tố: "Chưa thể nói nhà báo Ngô Tất Tố lúc này đã có "phẩm chất cách mạng" Thực ra, ông chưa hiểu rõ về cách mạng, chưa tin tưởng vào cách mạng và chưa bao giờ đặt vấn đề cách mạng Ông cho rằng nước ta "không thể thoát ly nước Pháp mà làm một

xứ độc lập" Quan điểm duy tâm lịch sử, tính chất khiếp nhược tiểu tư sản không cho phép ông vượt quá giới hạn của tư tưởng chính trị cải lương chủ nghĩa Dĩ nhiên cần phân biệt chủ trương cải lương của Ngô Tất Tố, xuất phát từ lợi ích nhân dân với chủ trương cải lương của giai cấp tư sản đương thời"(2) Tác giả chỉ nêu nhận xét về những giá trị được thể hiện qua nội dung tư tưởng, và phê phán những hạn chế về tư tưởng của nhà báo, không đi vào phân tích giá trị nahệ thuật trong các tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố

Còn nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh, khi đọc tiểu phẩm của Ngô Tất Tố thì quan tâm nhiều đến nghệ thuật viết báo điêu luyện, nhất là nghệ thuật trào phúng đặc sắc Sau khi phân tích các thủ pháp nghệ thuật được biểu hiện trong tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, tác giả

Lê Thị Đức Hạnh đi đến kết luận: "Rõ ràng Ngõ Tất Tố rất già dặn trong việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo-nhiều thủ pháp nghệ thuật khi đề cập đến các vần đề của xã hội đương thời ông biết khai thác đề tài bằng cách đối lập một hiện tượng nào đó với khát vọng mong muốn của nhân dân ông biết tô đậm những mâu thuẫn của hiện thực và khi thể hiện chúng thông qua một ngôn ngữ giàu hình ảnh, đậm đà chất trữ tình nên ồng đã tạo được một hiệu quả phê phán lớn Sự thông minh hóm hỉnh là một đặc trưng quan trọng của nghệ thuật trào phúng, cũng thấy bộc lộ quá từng câu, từng chữ, có khi trong toàn bài, đã làm cho văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố để lại những ấn tượng khó quên trong lòng người đọc Quả thực chưa nói tới các lĩnh vực khác, chỉ riêng ở văn tiểu phẩm cũng đã thấy rõ được tính chất phong phú đa dạng trong ngòi bút Ngô Tất Tố"(3)

Trong bài giới thiệu về tác giả Ngô Tất Tố, in trong Từ điển Văn học - tập II (Nhà

xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1984), giáo sư Nguyễn Hoành Khung đã viết: "Trên lĩnh vực báo chí, Ngô Tất Tố là "một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho" Từ những năm

Trang 14

xuyên có mặt trên nhiều tờ báo ở Trung, Nam, Bắc Đặc biệt trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, do ảnh hưởng của phong trào đang dâng lên sôi sục, ngòi bút sắc bén của ông tỏ ra xông xáo, tung hoành Với tấm lòng ưu ái trước thời thế, luôn luôn băn khoăn về số mệnh đất nước, nhân dân, ông đã đứng khá vững trên lập trường dân chủ, dõng dạc kết án tội ác của bọn thống trị và lên tiếng tố khổ cho nhân dân đang chịu áp bức bóc lột Tuy chưa có được nhận thức cách mạng và chưa vượt khỏi tư tưởng chính trị cải lương, nên có những lệch lạc không tránh khỏi, nhưng ngòi bút Ngô Tất Tố vẫn đầy tính chiến đấu và nói chung rất gần với cách mạng Những bài tiểu phẩm của ông thường ngắn gọn và có một nghệ thuật châm biếm sắc bén, thâm thuý"(1)

Nhận định về nhà báo Ngô Tất Tố của giáo sư Nguyễn Hoành Khung, về cơ bản thống nhất với đánh giá của giáo sư Phan Cự Đệ và giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh

Trong bài: Nhớ mãi bác Ngô Tất Tố đăng trong tạp chí Văn học số 1.1985, nhà thơ

Hoàng Trung Thông có viết: "Đọc những tiểu phẩm của Ngô Tất Tố mới thấy rằng không thua gì tạp văn của Lỗ Tấn, mà có những tác phẩm còn trội hơn của Lỗ Tấn nữa, là vì Lỗ Tấn người được học trường đại học, người được biết bốn thứ tiếng, còn bác Ngô của tôi, hỡi

ơi chỉ biết có chữ Hán, thế mà sao những tiểu phẩm của bác lại uyên bác đến như thế, thâm thúy đến như thế, thông minh đến như thế"(3)

Tham khảo giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, giai đoạn 1930 -1945 (trường Đại

học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh ấn hành 1985, lưu hành nội bộ) do thầy Bạch Văn Hợp (giảng viên chính) biên soạn, chúng tôi ghi nhận được ở chương V (trang 49) có đoạn nói về Văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố Thầy Bạch Văn Hợp, viết: "Trước khi bước vào làng văn, Ngô Tất Tố đã là nhà báo cự phách Vũ Trọng Phụng, người cùng thời đã đánh giá Ngô Tất

Tố là "một tay ngôn luận xuất sắc trong đám làng nho Bằng một sự thống kê chưa đầy đủ,

ta thấy Ngô Tất Tố đã từng cộng tác với 13 tờ báo khắp trong Nam ngoài Bắc và có tới 10 bút danh khác nhau Trong vòng 10 năm từ 1930 đến 1940, Ngô Tất Tố đã viết tới 120 bài báo (tức văn tiểu phẩm) có giá trị Ngay từ khi làm báo, Ngô Tất Tố đã đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa hiện thực phê phán để vạch ra những điều chướng tai, gai mắt, những chuyện bất công ngang trái trong xã hội Bằng nghệ thuật trào phúng sắc sảo, thâm thúy, Ngô Tất Tố đã đả kích châm biếm sâu cay những kẻ đại diện cho giai cấp thống trị, đồng thời tố cáo vạch trần chính sách phản động, mị dân

Trang 15

cùng những thủ đoạn áp bức bóc lột tàn nhẫn vô nhân đạo của bọn chúng", thầy Bạch Văn Hợp đã nhận định một cách khái quát về văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, chưa đi sâu vào phân tích chứng minh những thành tựu của Ngô Tất Tố qua thể loại này, nhất là những giá trị nghệ thuật của văn tiểu phẩm

Ở giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (tập 2) do thầy Trần Ngọc

Hồng biên soạn (khoa ngữ văn - báo chí - Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, ấn hành 1987 - 1988, lưu hành nội bộ) Phần viết về Ngô Tất Tố, thầy Trần Ngọc Hồng chỉ

dừng lại ở việc nêu những thành tựu của Ngô Tất Tố, qua hai tác phẩm Việc làng, và Tắt

đèn không thấy đề cập đến các tác phẩm báo chí Tuy nhiên ở phần kết luận, thầy có nhắc:

"Ngô Tất Tố là một nhà văn tiêu biểu của trào lưu hiện thực 1930 - 1945 Ông không chỉ là nhà văn, nhà báo mà còn là nhà khảo cứu dịch thuật có tên tuổi " Tóm lại trong giáo trình này, thầy chỉ nhắc đến chức năng nhà báo của Ngô Tất Tố, không phân tích tác phẩm báo chí nào của ông

Năm 1993, Nhà xuất bản Văn học cho in Tuyển tập Ngô Tất Tố (2 tập) do Phan Cự

Đệ sưu tầm tuyển chọn, Trương Chính sắp xếp giới thiệu Trong lời giới thiệu về Ngô Tất

Tố in ở tập 1, Trương Chính đã nêu Do điều kiện khách quan của xã hội lúc đó là báo chí sách vở chịu sự kiểm duyệt gắt gao của chế độ thực dân Pháp, người viết báo hầu hết là trẻ

và Tây học, nhu cầu của chúng độc giả là thích đọc những bài báo ngắn có mang chút ít tính chất hiện thực Vì vậy, một nhà nho như Ngô Tất Tố, khi đã quyết định sống bằng ngòi bút thì phải phấn đấu vươn lên thay đổi về tư tưởng và văn phong cho ngang tầm thời đại Xuất phát từ yêu cầu của thực tế khách quan đó, Ngô Tất Tố đã vượt qua mọi sự ràng buộc của tư tưởng nho giáo, ông phê phán những quan niệm lạc hậu của nó, điều đó chứng tỏ ông "là một người tư tưởng độc lập, không chịu nhắm mắt theo những thành kiến của cổ nhân" Nổi bật nhất ở Ngô Tất Tố cũng là lòng yêu nước, thương dân, tư tưởng này nhất quán từ đầu đến cuối, chẳng những được thể hiện một lần mà nhiều lần trong tạp văn cũng như trong các sáng tác văn học, các công trình khảo cứu, dịch thuật Bất cứ trong hoàn cảnh nào, Ngô Tất

Tố cũng giữ vững khí tiết của một nhà nho yêu nước, thương dân "phú quí không ham, nghèo hèn không đổi dạ, uy quyền không thể khuất phục" Giáo sư Trương Chính đã đặt tạp văn của Ngô Tất Tố cạnh tạp văn của những nhà văn khác để phân tích và làm rõ quan niệm nghiêm túc của Ngô Tất Tố về làn báo và viết văn "báo chí, sách vở theo Ngô Tất Tố phải thật sự là "cơ quan

Trang 16

ngôn luận", nói lên tiếng nói của dân, phải là vũ khí đấu tranh vì quyền lợi của dân tộc không phải là phương tiện giải trí, giết thì giờ hay phương tiện kiếm ăn" Và Ngô Tất Tố đã

tự tách mình ra khỏi năm hạng người viết báo tiêu biểu cho giới báo chí Việt Nam thời đó

"hạng lấy báo chí làm nơi giải trí, gọt đẽo câu văn cho kêu; hạng dùng văn chương để trổ tài thông minh vặt; hạng làm báo thì ít mà làm tiền thì nhiều; hạng cơ hội khi đứng bên này khi nhảy sang bên kia và hạng bồi bút tay sai để làm giàu và làm quan"(1)

Theo giáo sư, sở dĩ tạp văn của Ngô Tất Tố có một giá trị lâu dài là nhờ mấy đặc điểm sau đây:

" Một là, ông viết cho các mục: Nói chơi, Nói mà chơi, hoặc tương tự, nhưng bao giờ

cũng để cập đến những chuyện hết sức quan trọng trong đời sống dân tộc, đời sống xã hội, chuyện chính quyền thực dân, áp bức, bóc lột, lừa dối, chuyện dân đói, dân khổ, dân căm thù

Hai là, ông đấu tranh, vạch mặt, buộc tội kẻ thù, vì công lý, vì nhân đạo, chứ không phải kêu ca để gợi lòng thương của những người có quyền có thế để xin chúng nhẹ tay

Ba là, ông nói những điều chất chứa trong lòng, chứ không phải thấy người ta nói, mình cũng nói, cho hợp thời như các nhà văn cơ hội Họ cũng có viết những bài rất kịch liệt, nhưng hời hột, khi vui thì vỗ tay vào, khi khó khăn thì rút lui, chuyển sang hướng khác, chạy theo những đề tài ăn khách

Bốn là, ông không phải là người ngoài cuộc Ông đại diên cho tầng lớp nghèo, bị bóc lột, bị áp bức mà phát ngôn Ông trân trọng ngòi bút của mình và thấy mình có trách nhiệm nói lên sự thực

Năm là, ông dùng lối văn châm biếm có ý nghĩa xã hội, tránh được hai khuynh hướng của lối văn này, là cười đùa và cười nhạt Ông làm được như Lỗ Tấn đề ra trong bài

Văn tiểu phẩm khủng hoảng (Tạp văn tuyển tập II, Văn học 1963): “Văn tiểu phẩm muốn

tồn tại thì phải là mũi dao nhọn, là khẩu súng, có thể cùng với người đọc mở một con đường sống bằng máu Tất nhiên nó cũng làm cho người ta thích thú và nghỉ ngơi, nhưng đó không phải là tiểu bài thiết (là trò chơi của người nhàn rỗi bày đặt các đồ chơi trong thư phòng như

ta chơi non bộ - Lời chú thích của giáo sư Trương Chính) và cũng không phải là lời vuốt ve

Trang 17

an ủi, không phải là sự tê liệt, nó làm cho người ta thích thú và nghỉ ngơi, nó bồi bổ, chuẩn

bị cho người ta làm việc và chiến đấu"(1)

Sau cùng, để đánh giá những thành công về mặt nghệ thuật viết tạp văn - tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, giáo sư Trương Chính đã nhận định "Tạp văn của Ngô Tất Tố cũng như của Lỗ Tấn có tính chất văn học rõ rệt, lập luận chặt chẽ, truyền cảm mạnh, đôi khi dùng điển cố văn học, thường thì nói cách nói có hình ảnh của dân gian Bạn đọc có thể ngạc nhiên thấy văn của Ngô Tất Tố rất hiện đại ngày nay đọc vẫn không thấy thừa chữ nào, kể

cả những bài viết từ năm 1930 là thời kỳ người ta còn chuộng văn chương biền ngẫu Ông là một là nho, nhưng ông không lạm dụng từ Hán Việt Văn ông gọn, sắc nhưng không cộc lốc, lai căng, như các nhà văn Tây học, cũng không lằng nhằng dây muống như các nhà văn cựu học Ông viết như ông nói, không trau chuốt mà cũng không dễ dãi, nhiều chỗ thâm thuý đáo để Đối với kẻ thù, những miếng đòn của ông rất hiểm Ông chửi thật sự và chửi một cách văn chương, chửi bằng điển cố Ông nói mát thì nhức nhối tận xương, ông đả kích không phải cho sướng tay, chửi cho sướng miệng, mà là để tố cáo buộc tội một cách nghiêm chỉnh"(2)

Giáo sư Trương Chính không quan tâm nhiều đến những hạn chế trong tư tưởng của Ngô Tất Tố, mà chú ý tập trung làm nổi bật những quan điểm tiến bộ của nhà nho Ngô Tất

Tố Chính quan điểm tiến bộ này, đã giúp Ngô Tất Tố vượt qua những đồng nghiệp cùng thời (Nho học cũng như Tây học), để gặt hái được nhiều thành công trên lĩnh vực báo chí

Khi đọc lại những bài báo của Ngô Tất Tố viết cách đây hơn nửa thế kỷ, nhà báo Phan Quang (hiện nay là Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam) cảm nhận được cái tâm trong sáng và ngọn lửa nhiệt tình chiến đấu của Ngô Tất Tố để chống áp bức bất công, bênh vực quyền lợi của dân tộc và nhân dân Nói theo ngôn ngữ bây giờ, Ngô Tất Tố đã thể hiện được đạo đức của một người cầm bút chân chính Nhà báo Phan Quang đã viết: "Trước năm 1945, Ngô Tất Tố làm báo khoảng 14 - 15 năm ấy, khoảng đời trôi dạt của một nàng Kiểu - Ngô Tất Tố đã viết bao nhiêu tiểu phẩm, không tính những tác phẩm văn học, những công trình khảo cứu và dịch thuật, những bài "đại luận" như chữ dùng của Vũ Trọng Phụng Lớp hậu sinh chúng tôi chỉ được đọc một phần những gì nhà báo Ngô Tất Tố đã cho in ra dưới nhiều tên ký khác nhau, có thể ngày xưa rất quen thuộc với bạn đọc như tác giả Số Đỏ đã khẳng định, mà ngày

Trang 18

nay dễ mấy ai còn biết Tuy nhiên với một phần rất nhỏ ấy thôi cũng đủ cảm nhận được cái tâm, hiểu rõ thái độ và được khích lệ bởi sức chiến đấu của người cầm bút Phải chăng từ cái tâm mà Ngô Tất Tố viết nên những tiểu phẩm sắc như dao; chính ngọn lửa bên trong đã thôi thúc ông chiến đấu không mệt mỏi, đả kích không nương tay quan Tây và quan ta, cường hào và hãnh tiến, bọn vô lại và tất cả những điều chướng tai gai mắt trong xã hội và trên chính trường Trong lòng không có lửa, làm sao có thể viết lên những bài báo có sức chiến đấu cao? Cái tâm không lành làm sao truyền cảm? Nếu tâm ta chưa thật sáng, còn chông chênh vì bị chi phối bởi những điều tầm thường, làm sao mong mỏi những điều ta viết ra sẽ khách quan, trung thực và thật sự hữu ích cho đời"(1)

Còn nhà báo Nguyễn Minh Đức thì học tập ở Ngô Tất Tố tính xông xáo dũng cảm của người cầm bút và năng lực viết báo "Ngô Tất Tố xuất thân là một nhà nho, nhưng rồi ông nhanh chóng trở thành một nhà báo xông xáo dũng cảm Ông thường xuyên viết trên nhiều tờ báo khắp Trung, Nam, Bắc như: An nam tạp chí, Thần Chung, Thực Nghiệp, Đông Phương, Công Dân, Tương Lai, Việt Nữ, Thời Vụ, Đông Pháp, Con Ong, Hải Phòng tuần báo Nhiều tiểu phẩm của ông sắc sảo nhạy bén lạ thường Chẳng thế mà nhiều bút danh viết báo của ông được nhiều người quen biết, kính trọng, yêu mến Còn mãi những cái tên Lộc Hà, Lộc Đình, Phó Chi, Thôn Dân, Hy Cừ, Tuệ Nhỡn cùng với nhũng bài báo của Ngô Tất Tố"(2)

Nhân dịp Ngô Tất Tố được trao giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I), nhà báo Hoàng Dạ

Vũ có viết bài giới thiệu về ông, đăng trên tuần báo Văn nghệ số 43 ngày 26-10-1996 Trong bài báo này, tác giả kể lại những kỷ niệm giữa Nguyễn Tuân và Ngô Tất Tố, thời kỳ hai người mới bắt đầu làm báo cho đến toàn quốc kháng chiến Ngô Tất Tố tham gia viết báo ở Hà Nội, Sài Gòn nhiều khi ông sống và làm việc ngay tại tòa soạn Nhà văn Nguyễn Tuân cho biết nhiều đêm Ngô Tất Tố viết rất khuya và rồi ngủ luôn tại đó Nguyễn Tuân hay

đi chơi buổi tối vế muộn "nhìn những trang viết dở của bác Tố trên bàn, tự nhiên trong người thấy đứng đắn trở lại" Đức độ và tài năng của Ngô Tất Tố đã làm cho nhiều bạn bè đồng nghiệp kính phục Bởi vậy, sau này khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, sự kiện Ngô Tất Tố lên chiến khu có tác động không nhỏ đến sự lựa chọn đi kháng chiến hay ở lại thành của giới văn nghệ sĩ đương thời, nhất là với những nhà văn lãng tử cỡ Nguyễn Tuân Như ông đã có lần nhắc lại: "Cho đến khi toàn quốc đánh Pháp, được tin Ngô Tất Tố đi kháng chiến, tôi thấy vui và tin quá Ở vùng căn cứ, mỗi lần có dịp

Trang 19

đi "hạ sơn" về Trung du và vùng Yên Thế để đón bác Tố lên họp lại càng thấy vui hơn Nhìn

Ngô Tất Tố áo vải, vai đeo chéo cái khăn bông cũng nhuộm nâu chống gậy qua Đèo Khế, có anh bạn đi sau đã bỏ nhỏ vào tai tôi, giọng anh nghịch: "Trông kém gì năm đói chạy đói

vùng xuôi để lên khất thực ở thượng du" Đó là hồi ức của Nguyễn Tuân về sự hiện diện của

Ngô Tất Tố giữa núi ngàn Việt Bắc kháng chiến

Gần đây, trong một bài viết đăng trên báo Tuổi trẻ chủ nhật, Vương Trí Nhàn có đề

cập đến những nhà văn tiền chiến và nghề báo: "Nhất Linh và Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân và Thạch Lam, Thế Lữ và Xuân Diệu Bấy nhiêu tên tuổi, nếu như không nói là hầu như gần hết các nhà văn "có tên có tuổi" hồi tiền chiến, đều

từng là người viết báo, đóng góp của họ cho nền văn hóa đất nước còn đó với kho tàng báo chí sống động đương thời, và đến nay vẫn chưa được khai thác hết"(1) Riêng phần nói về Ngô Tất Tố, có đoạn viết: "Một người như Ngố Tất Tố từ lúc bỏ quê lên Hà Nội sống hẳn bằng nghề cầm bút, đã cộng tác với nhiều tờ báo hàng ngày bằng cách viết các loại tiểu phẩm đó, và ký các bút danh khác nhau: Hy Cừ, Lộc Hà, Phó Chi, Xuân Trào, Thôn Dân May cho Ngô Tất Tố là ngay từ những năm 60, lúc các thư viện ở Hà Nội còn khá nền nếp, tác phẩm của ông được Nhà nước chú ý, nên gom về gần như không sót chút gì Thử tính sơ

sơ thì thấy trong toàn bộ tác phẩm của Ngô Tất Tố đã sưu tầm đến nay là 1200 trang (theo

Ngô Tất Tố - Tác phẩm, NXB Văn học, 1977): phần tiểu thuyết, bao gồm cả tiểu thuyết lịch

sử, chỉ chiếm già nửa (620 trang), còn lại phóng sự chiếm 160 trang và tiểu phẩm tới 420

trang "(2)

Nhìn chung, những nhà văn nhà báo hiện nay, khi đọc lại tạp văn của Ngô Tất Tố,

tuy theo cách cảm thụ mà mỗi người có thể tự rút ra những bài học bổ ích cho bản thân

mình Còn các nhà nghiên cứu, khi đọc tạp văn của Ngô Tất Tố thì quan tâm đến việc làm nổi bật những tư tưởng mới, những quan niệm tiến bộ của một nhà nho trong buổi giao thời,

từ đó làm phong phú thêm cho nền văn học nói chung và báo chí nước nhà nói riêng

Trong quá trình triển khai luận án này, chúng tôi tiếp thu nhiều ý kiến của hai tác giả Phan Cự Đệ và Trương Chính, được thể hiện trong hai bài giới thiệu về nhà báo Ngô Tất Tố Trên cơ sở đó, chúng tôi làm rõ thêm những nhận định của hai ông về Ngô Tất Tố

Ngô Tất Tố là một nhà báo kỳ cựu trong làng báo Việt Nam, giai

Trang 20

đoạn 1930 - 1945 Ông nổi tiếng với thể loại tạp văn - tiểu phẩm, có thể sánh với nhà văn Lỗ Tấn của Trung Quốc, nhưng trong các tài liệu nghiệp vụ báo chí hay các giáo trình đào tạo cán bộ báo chí ở nước ta hiện nay, chúng tôi không thấy nhắc đến tên ông, một cây bút già dặn kinh nghiệm ở thể loại này Chúng tôi xin điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau:

Tập Giáo trình nghiệp vụ báo chí (Trường Tuyên huấn Trung ương - Khoa báo chí -

tài liệu lưu hành nội bộ - ấn hành năm 1978) Nội dung chính của tập I, những người biên soạn sách có nêu: một số vấn đề cơ bản về quan điểm báo chí cách mạng và mấy công tác lớn của báo, có điểm qua một số thể loại báo chí, chủ yếu là trang bị kiến thức về lý luận, không hướng dẫn kỹ thuật thực hành Vì vậy, không nhắc đến những kinh nghiệm của những người viết báo trước đây

Hai tập sách của nhà báo Hồng Chương: 120 năm báo chí Việt Nam (Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, năm 1985) và Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam (Nhà xuất bản

sách giáo khoa Mác - Lênin, năm 1987) cũng vậy, tuy tác giả có phân tích kỹ hơn về quá trình hình thành và phát triển của báo chí Việt Nam, có nêu đặc điểm và những khuynh hướng tư tưởng khác nhau của từng nhóm báo, nhưng chủ yếu là tập trung làm nổi bật vai trò và tác dụng của báo chí cách mạng từ khi ra đời năm 1925 nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Đảng trong từng thời kỳ

Ở tập tài liệu Nghề nghiệp và công việc của nhà báo (Hội Nhà báo Việt Nam ấn hành, năm 1992), trong phần Các thể tài báo chí, các tác giả có đề cập đến thể tài bình luận,

bút chiến, tiểu phẩm và cách viết tiểu phẩm Có liên hệ thực tế: Học tập phương pháp biểu hiện trong tạp văn của Lỗ Tấn, nhưng không thấy nhắc đến tạp văn của Ngô Tất Tố Đây là một thiệt thòi lớn cho nền báo chí nước nhà

Mặc dù những công trình nêu trên không có liên quan đến nhà báo Ngô Tất Tố, nhưng chúng tôi vẫn đề cập đến, với mong muốn các nhà biên soạn giáo trình đào tạo cán bộ báo chí lưu ý đến một cây bút tài hoa của làng báo Việt Nam như nhà báo Ngô Tất Tố

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa duy vật chúng tôi,

Trang 21

nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách khách quan, có căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, đặt nhà báo Ngô Tất Tố và các tác phẩm báo chí của ông trong hoàn cảnh kinh tế - chính trị

- xã hội và tình hình báo chí Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945 để xem xét Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi dùng phương pháp so sánh, đặt Ngô Tất Tố cạnh các nhà văn - nhà báo cùng thời, cùng viết về một loại đề tài và thể loại tạp văn tiểu phẩm, để đánh giá nhằm làm nổi bật: Ngô Tất Tố là một nhà nho "có óc phê bình, có trí xét đoán, có tư tưởng mới",

là người cầm bút có trách nhiệm làm báo hay viết văn là để nói lên tiếng nói của dân, để đấu tranh vì quyền lợi của dân tộc, không phải là phương tiện giải trí, giết thì giờ hay phương tiện kiếm ăn Ngô Tất Tố là nhà báo giàu lòng yêu nước, thương dân Khi nghiên cứu, chúng tôi dùng phương pháp đối chiếu, để khẳng định "cách nghĩ cách làm" của Ngô Tất Tố cách nay hơn nửa thế kỷ vẫn rất gần gũi với quan niệm của chúng ta ngày nay về đạo đức của người làm báo, năng lực và cách viết tạp văn - tiểu phẩm

4 GIỚI HẠN ĐẾ TÀI

Ngô Tất Tố đã viết gần như đủ các loại văn, nào phóng sự, tiểu thuyết, rồi biên khảo, dịch thuật, phê bình và rất nhiều bài văn ngắn Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi trong luận

án này chỉ giới hạn ở các bài văn ngắn của ông được đăng trên báo, khoảng thời gian từ năm

1929 đến 1943 Ngô Tất Tố đã viết bao nhiêu bài văn ngắn như thế, đến nay vẫn chưa ai có thể thống kê được một cách đầy đủ Khi thực hiện luận án, chúng tôi dựa vào các bài báo

của Ngô Tất Tố, đã được giáo sư Phan Cự Đệ sưu tầm và giới thiệu trong Ngô Tất Tố - Tác

phẩm, tập I, Nhà xuất bản văn học, năm 1977 Với số lượng 112 bài, chủ yếu đăng trên các

báo: Phổ thông, Đông phương, Tương lai, Thời vụ

5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Từ trước đến nay, nhiều người đã biết đến nhà văn Ngô Tất Tố, và đã khẳng định được những đóng góp của ông về văn học nghệ thuật, nhà báo Ngô Tất Tố cũng đã có nhiều người viết nhưng chưa đủ Luận án này sẽ nghiên cứu về Ngô Tất Tố - nhà báo, một cách có

hệ thống và đầy đủ hơn, để đi đến khẳng định tài năng của ông trên lĩnh vực báo chí Có thể nói cho đến nay, chưa ai vượt qua ông về cách viết thể loại tạp văn - tiểu phẩm báo chí Đó

là những đóng góp mới của chúng tôi khi thực hiện luận án

Trang 22

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Chương I: Tư tưởng và quan niệm của Ngô Tất Tố về làm báo, viết văn

1 Tình hình báo chí nước ta từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến Cách mạng tháng Tám năm 1945

2 Nhà báo Ngô Tất Tố - cuộc đời và sự nghiệp

3 Quá trình chuyển biến tư tưởng của Ngô Tất Tố từ một nhà nho yêu nước trở thành một nhà báo tiến bộ

4 Quan niệm của Ngô Tất Tố về làm báo và viết văn

5 Nhân cách của người viết tạp văn - tiểu phẩm

Chương II: Nội dung tư tưởng của tạp văn - tiểu phẩm Ngô Tất Tố

1 Tố cáo những thủ đoạn bóc lột của bọn tư sản, bọn làm giàu bất chính trên sự đau khổ của nhân dân

2 Lên án bọn quan lại phong kiến, bọn đầu cơ chính trị

3 Đả kích thực dân Pháp cùng những chính sách cai trị tàn bạo của chúng

Chương III: Nghệ thuật viết tiểu phẩm của Ngô Tất Tố

1 Đặc điểm của thể loại văn tiểu phẩm

Trang 23

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG VÀ QUAN NIỆM CỦA NGÔ TẤT

TỐ VỀ LÀM BÁO VIẾT VĂN

1 Tình hình báo chí nước ta từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến Cách mạng tháng Tám năm 1945

Tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời, đánh dấu sự hình thành của nền báo chí Việt Nam

là tờ Gia Định báo, xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1865 Từ đó đến những năm đầu thế kỷ

20, cả nước có khoảng 10 tờ báo tiếng Việt Hầu hết các báo đều do thực dân Pháp lập ra Người viết báo có cả người Pháp lẫn người Việt Những người Việt viết báo, phần đông là công chức trong bộ máy nhà nước thực dân

Nội dung các báo đều tuyên truyền cho chính sách của thực dân Pháp Về hình thức, các báo trình bày thô sơ, đơn điệu, khô khan, phần lớn đều được xếp chữ theo kiểu hết bài này rồi mới đến bài khác

Trong thời kỳ này, báo chí tiếng Việt chỉ là một bộ phận phụ thuộc vào báo chí tiếng Pháp Việc xuất bản báo đã mang lại một số điểm lợi cho nhân dân ta, từ đây người Việt Nam bắt đầu làm quen với một phương tiện thông tin mới là báo chí rồi dần dần tiến lên sử dụng báo chí như một công cụ đấu tranh Thông qua báo chí, người Việt Nam tìm hiểu tình tình trong nước và thế giới, tìm hiểu âm mưu và chính sách của thực dân Pháp và tay sai, để

có thể đấu tranh chống lại chúng một cách có hiệu quả hơn Việc xuất bản và phát hành báo chí tiếng Việt, khiến cho chữ quốc ngữ được truyền bá ngày càng rộng rãi hơn Các nhà yêu nước Việt Nam thời đó, đã thấy chữ quốc ngữ là một công cụ tốt để tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước và nâng cao trình độ về mọi mặt cho quần chúng nhân dân Vì chỉ có viết bằng tiếng mẹ đẻ mới có thể truyền bá tư tưởng yêu nước trong phạm vi rộng

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến năm 1930, tình hình

Trang 24

kinh tế, chính trị, xã hội nước ta có nhiều biến đổi lớn Về kinh tế, thực dân Pháp tiếp tục thi hành chính sách khai thác thuộc địa, nhằm cướp đoạt thật nhiều tài nguyên, để làm giàu cho chính quốc Về chính trị, chúng thực hiện chính sách cải lương lừa bịp nhằm mua chuộc tầng lớp trên trong xã hội để làm chỗ dựa Ở nước ta trong giai đoạn này xuất hiện thêm những lực lượng xã hội mới, đó là giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát dần dần có tổ chức tự giác Do tác động của Cách mạng tháng Mười Nga, việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với phong trào công nhân

và phong trào yêu nước đã hình thành nên các tổ chức cách mạng và tổ chức yêu nước Giai cấp tư sản cũng phân hóa thành hai bộ phận: tư sản mại bản thì ôm chân đế quốc, chống lại nhân dân, còn tư sản dân tộc do bị đế quốc chèn ép, nên trong một chừng mực nào đó họ cũng có tư tưởng chống đế quốc phong kiến

Phong trào cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ do tầng lớp thanh niên tân tiến chịu ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười hoặc có quan hệ với giai cấp công nhân lãnh đạo, hoặc

do lớp trí thức xuất thân từ giai cấp tư sản dân tộc khởi xướng Các tổ chức đảng phái cách mạng có xu hướng công nhân hoặc xu hướng tư sản đã đề ra được những nét lớn về cương lĩnh chính trị của mình Trong thời kỳ này, các đảng pha cách mạng cũng đã biết vận dụng nhiều hình thức đấu tranh phong phú như: bãi khoa, đình công, biểu tình, kết hợp đấu tranh bất hợp pháp là đấu tranh hợp pháp, xuất bản báo chí bí mật, lợi dụng báo chí hợp pháp Việc thông tin liên lạc giữa các miền trong nước được thuận tiện hơn, tao điều kiện cho phong trào lan nhanh và có qui mô toàn quốc

Trên lĩnh vực giáo dục, thực dân Pháp bãi bỏ việc học và thi cử bằng chữ Hán, mở các trường dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp Việc thay đổi nội dung giảng dạy trong các trường đã đem lại những thay đổi lớn trong đội ngũ trí thức nói chung và đội ngũ người viết báo nói riêng Tầng lớp trí thức mới do Pháp đào tạo ngày càng đông Việc dạy chữ quốc ngữ đã tạo ra lớp công chúng độc giả của báo chí tiếng Việt Nhiều nhà tư sản bản xứ đã bỏ vốn ra mở nhà in, đưa công nghiệp in vào làm cho ngành in phát triển, giúp cho việc in báo tiếng Việt được dễ dàng hơn trước Tình hình trên có ảnh hưởng lớn đến hoạt động báo chí ở nước ta

Thi hành chính sách cải lương, thực dân Pháp không giữ độc quyền về báo chí như trước, chúng đã cho một số người thuộc tầng lớp trên trong xã hội được phép xuất bản báo

Trang 25

pháp luật của chính quyền thực dân và phải chịu sự kiểm soát của chúng Qua thống kê cho thấy báo chí bằng chữ quốc ngữ phát triển nhanh về số lượng, vào năm 1922 cả nước có 14

tờ báo tiếng Việt thì đến năm 1929 đã tăng lên 47 tờ Tất cả báo chí công khai xuất bản trong thời kỳ này đều tự nguyện hoặc bị bắt buộc phải phục vụ cho chính sách cai trị của thực dân Pháp Ngoài nét chung đó, mỗi tờ báo lại có nét riêng là phản ánh lợi ích của chủ báo Một số người có thế lực và có tiền đã xuất bản báo chí, dùng báo chí để mưu cầu danh lợi, còn việc viết báo thì thuê người khác làm Trong nghề báo dần dần hình thành hai loại người: người chủ báo và người viết báo, mà về quyền lợi không phải lúc nào cũng nhất trí với nhau Báo chí trong thời kỳ này được viết theo lối văn mới, và có nhiều khuynh hướng

tư tưởng khác nhau khá phức tạp, phản ánh lợi ích của nhiều giai cấp khác nhau trong xã hội

Các loại báo do thực dân, phong kiến "đỡ đầu" tuy có thực lực hơn, nhưng uy tín đối với công chúng độc giả ngày càng giảm Báo chí quốc ngữ ngày càng phát triển Báo tư nhân của người bản xứ xuất bản ngày càng nhiều, chính quyền thực dân khó mà kiểm soát được chặt chẽ Trình độ giác ngộ chính trị của quần chúng ngày càng cao, phong trào đấu tranh ngày càng sôi nổi đã tác động đến báo chí Để chống lại sự thức tỉnh về ý thức dân tộc,

về tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, nhất là giới trẻ, thực dân đã cho xuất bản tờ

"Việt Nam thanh niên tạp chí”, rồi một nhóm quan lại của triều đình phong kiến cho ra mắt

công chúng tờ "Thần kinh tạp chí” Một số tờ báo tuyên truyền về tôn giáo cũng được phép

xuất bản

Trong giai đoạn này, thực dân Pháp buộc phải "nới lỏng" một phần sự kiểm soát quá khắt khe đối với việc xuất bản và phát hành báo chí Chính vì vậy, trong số các báo hợp pháp, ngoài những tờ báo được gọi là "cái loa của chính quyền thực dân", bắt đầu xuất hiện một số tờ báo "đối lập" Đối với loại báo này, thực dân Pháp ra sức hạn chế, gây khó khăn, thậm chí ra lệnh đóng cửa Còn những tờ báo tích cực tuyên truyền cho chính sách của chúng, thì chúng ra sức nâng đỡ, tạo điều kiện thuận lợi như phụ cấp về tài chính, giúp đỡ

về phát hành (Thống đốc toàn quyền Va-ren đã dành ra số tiền 120.000 đồng Đông Dương

để trợ cấp cho các tờ báo là công cụ của chúng Chính quyền thực dẩn còn xuất công quỹ ra mua một khối lượng lớn bản in và bắt các làng xã bỏ tiền công ra mua các tờ báo tay sai để phát không cho người đọc ) Những tờ báo của thực dân là vậy Còn các tờ báo do những nhà tư sản bản xứ chủ trương thì một mặt tuyên truyền cho "chính sách khai hóa"

Trang 26

của thực dân Pháp, mặt khác yêu cầu Pháp ban hành một số điều cải cách, nhượng lại một

số quyền lợi cho giai cấp tư sản bản xứ

Bên cạnh mảng báo chí hợp pháp như đã trình bày trên, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta trong thời kỳ mới, những người yêu nước chân chính đã xuất bản và phát hành các loại báo chí bí mật Đáng chú ý nhất là tờ

Thanh niên, do Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đổng chí hội (một tổ chức cách

mạng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc thành lập, đây là tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam sau này) xuất bản vào tháng 6-1925 Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người khởi xướng đồng thời cũng là người phụ trách chủ chốt, viết nhiều bài cho tờ báo này Báo được

in ở Quảng Châu (Trung Quốc ) và chuyển về Việt Nam theo con đường bí mật, những người cách mạng trong nước chép lại thành nhiều bản, rồi phát hành rộng ra cả nước Cùng

với tờ Thanh niên, theo thống kê chưa đầy đủ, từ tháng 6-1925 đến tháng 12-1929, cả nước

có khoảng 50 tờ báo cách mạng đã được xuất bản và lưu hành bí mật trong nhân dân Mặc

dù đế quốc và tay sai phong kiến tìm đủ mọi cách để ngăn cản, đàn áp, bắt bớ, tù đày những người viết báo, phá các cơ quan in báo, cắt đứt các đường dây phát hành, nhưng báo chí cách mạng vẫn không ngừng phát triển

Đảng cộng sản Việt Nam (ra đời ngày 3-2-1930) đã phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đã đẩy các mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa dân tộc với

đế quốc, giữa nông dân với địa chủ lên thành cao trào quyết liệt, sâu sắc và toàn diện hơn,

đẩy lịch sử Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ hơn Từ năm 1930 trở đi, các cuộc xung đột giai cấp diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống Các giai cấp đểu có ý thức sử dụng báo chí

để đấu tranh cho quyền lợi của mình

Thực dân Pháp tiếp tục thi hành chính sách ngu dân Trước sự thức tỉnh của đông đảo quần chúng nhân dân về ý thức dân tộc, chúng càng hạn chế giáo dục Bởi vậy, số người

mù chữ ở nước ta thời kỳ này đã lên đến trên 90% dân số Trong nhà trường chúng tìm mọi cách xuyên tạc truyền thống văn hoa tốt đẹp của dân tộc ta, chúng gieo rắc ở thanh niên tư tưởng sùng bái tiếng Pháp và thái độ khinh miệt tiếng mẹ đẻ Ngay ở bậc tiểu học, tiếng Việt

đã bị coi là "ngoại ngữ", học sinh chỉ được học mỗi tuần vài ba tiết

Thực dân Pháp thi hành chế độ kiểm duyệt sách báo gắt gao

Trang 27

nhằm dựng lên một hàng rào kiên cố, để ngăn chặn ảnh hưởng của báo chí cách mạng đến với các tầng lớp nhân dân Sách báo tiến bộ trong và ngoài nước bị cấm lưu hành Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936 -1939), do sự đấu tranh của Đảng, buộc thực dân Pháp phải nhượng bộ ít nhiều, phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt ở ba kỳ Song chúng lại thi hành những thủ đoạn xảo quyệt khác, nhằm hạn chế sự phát triển của báo chí cách mạng và báo chí tiến

bộ Nhiều tờ báo tiến bộ bị đình bản, nhà báo tiến bộ bị mật thám theo dõi Chúng dọa dẫm nhà in, nhà xuất bản và cả những người đọc sách báo tiến bộ Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (năm 1939) chế độ kiểm duyệt được thực dân Pháp thi hành khắt khe hơn trước, hàng loạt tòa báo, nhà xuất bản bị đóng cửa, nhiều nhà văn nhà báo tiến bộ bị bắt bớ cầm tù

Song song với những thủ đoạn bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do xuất bản báo chí, thực dân Pháp đã tung ra nhiều loại văn hóa phẩm đồi truy phản động của tư sản phương Tây, những tàn dư văn hoa phong kiến, mà chúng gọi là sự kết hợp "Văn minh Âu Mỹ" với

"quốc hồn quốc túy An-nam" Chúng sử dụng báo chí phản động và số trí thức tay sai như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Phan Long, Nguyễn Tiến Lãng để truyền bá các sản phẩm văn hóa phản khoa học, phản dân tộc ấy, để gieo rắc vào đầu óc độc giả tư tưởng

nô dịch Thực dân Pháp rất có ý thức trong việc dựa vào các tôn giáo, các phong trào mê tín

dị đoan, để đầu độc ru ngủ nhân dân ta Vì vậy, các báo tôn giáo, tướng số đ ược xuất bản hàng loạt

Âm mưu truy lạc hóa thanh niên, cũng được thực dân Phap tiến hành triệt để Sách báo, phim ảnh khiêu dâm, âm nhạc, tiệm hút, nhà chứa được khuyến khích phát triển Phong trào "thể dục thể thao'' được cổ vũ rầm rộ, để hướng thanh niên vào con đường ăn chơi sa đọa mà lãng quên đi trách nhiệm cứu nước Thực dân Pháp còn trương lên khẩu hiệu "văn hóa phục hưng", "Pháp - Việt đề huề"

Tất cả những vấn để nêu trên được báo chí phản động và các tay bồi bút tha hồ tán dương, trên các báo do thực dân bỏ tiền nuôi dưỡng hoặc hà hơi tiếp sức, để phục vụ cho mục đích thôn tính lâu dài đất nước ta Họ hết lời ca ngợi công "khai hóa" của nước "Đại

Pháp" đối với dân tộc ta Rõ ràng, họ xứng đáng là "cái loa tuyên truyền của thực dân

Pháp"

Trong giai đoạn 1930 - 1945, báo chí hợp pháp phát triển rầm rộ,

Trang 28

vào năm 1932 cả nước có khoảng 300 tờ báo bằng chữ quốc ngữ Đội ngũ những người viết báo đông hơn; nổi lên một so cây bút có thực tài (do tiếp thu kinh nghiệm làm báo của phương Tây, cả về cách viết và kỹ nghệ in ấn) Nhà báo có nhuận bút, nên họ có thể sống được với nghề Đây là điểu kiện tốt để họ nâng cao tay nghề Bên cạnh đó, có một số nhà văn, nhà báo đứng ra xuất bản báo và bắt đầu chú ý đến tính thương mại của báo chí là làm sao để báo bán chạy? Vì vậy, cách viết cũng phải thay đổi cho phù hợp với tâm lý độc giả

Do yêu cầu của lịch sử và hoan cảnh xã hội nước ta giai đoạn 1930 -1945, giai cấp

vô sản dồn sức vào hoạt động chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng báo chí để phục vụ cho những nhiệm vụ đó Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, triệt để lợi dụng những điểu kiện thuận lợi, Đảng đã tung ra cả một rừng sách báo cách mạng từ Bắc chí Nam, nhằm tấn cõng một cách mạnh mẽ và tương đối toàn diện vào tư tưởng văn hoa nô dịch phản động, văn hoa tư sản tiêu cực, khuyến khích các xu hướng tiến

bộ, đồng thời giới thiệu một cách có hệ thống, có lý luận về chủ nghĩa cộng sản và văn hóa

vô sản Thời kỳ 1939 - 1945, Đảng rút vào hoạt động bí mật, nhưng báo chí của Đảng vẫn phát triển nhanh, đánh mạnh vào âm mưu văn hóa lừa bịp của Pháp, Nhật và bọn Trốt-kít

Nhận định về tình hình báo chí Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, trong một công trình nghiên cứu của ông Huỳnh Văn Tòng được ấn hành ở miền Nam trước giải phóng, tác giả có viết: "Báo chí Việt Nam bước sang một bước ngoặt quan trọng Trưởng thành về mặt

ý thức chính trị, văn học đang phát triển mạnh, kỹ thuật làm báo đã đạt được một bước tiến quan trọng Báo chí Việt Nam trong giai đoạn này có thể tự hào về sứ mạng của mình trước lịch sử, nhất là báo chí cách mạng"(1) Lời nhận định của ông tuy chưa sâu sắc, chưa toàn diện, không thể hiện rõ quan điểm tư tưởng của người viết, nhưng dù sao ông cũng đã nhấn mạnh đến vai trò của báo chí cách mạng đối với sự phát triển của lịch sử nước nhà

Trong điều kiện báo chí chịu sự kiểm soát gắt gao của chính quyền thực dân, những người cầm bút chân chính, muốn nói lên tiếng nói của quần chúng nhân dân, muốn "vạch mặt chỉ trán" bọn thống trị cùng với những bất công ngang trái trong xã hội do chúng tạo nên, cần phải có dũng khí và tài năng để vượt qua rào cản của sự kiểm duyệt, của sự hăm dọa, bắt bớ tù đày Ngô Tất Tố là một trong những nhà báo Việt Nam thời đó đã thể hiện được đầy đủ bản lĩnh của người cầm bút chân chính

Trang 29

ông đã sử dụng ngòi bút của mình như một thứ vũ khí sắc bén, liên tục tấn công vào kẻ thù

là bọn thực dân phong kiến, bọn quan lại tư sản giàu lên nhờ bóc lột nhân dân

2 Nhà báo Ngô Tất Tố - Cuộc đời và sự nghiệp

Ngô Tất Tố, người quê ở làng Lộc Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thuộc ngoại thành Hà Nội) Ông sinh năm 1894, trong một gia đình nhà nho nghèo, luôn gặp cảnh lận đận về đường công danh khoa cử Ông nội của Ngô Tất

Tố đã bảy lần dự kỳ thi hương cũng chỉ đậu đến tú tài Còn ông thân sinh đành chịu phận " ông giáo trường tổng", sau sáu lần lều chõng lên đường rồi lại về không Bản thân Ngô Tất

Tố, vào năm 1912 thi hỏng ở kỳ đệ nhất, năm 1915 ông đỗ đầu trong kỳ thi khảo hạch ở Bắc Ninh Vì thế, người làng Lộc Hà vẫn quen gọi ông một cách thân mật là ''đầu xứ Tố" Tuy là một nhà nho thật sự có tài và thông minh, nhưng ông vẫn không qua được kỳ thi đệ nhị, nghĩa là vẫn không vào được tam trường

Cũng vào năm ấy, thực dân Pháp ra lệnh bãi bỏ chế độ thi cử bằng chữ Hán, nhường chỗ cho nền giáo dục thi cử bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp, để đảo tạo ra tầng lớp tay sai người bản xứ, phục vụ cho việc cai trị lâu dài của chúng ở đất nước ta Vậy là, vận mệnh của một nền Hán học đã tồn tại hơn 1.000 năm, làm khuôn mẫu cho nền đao đức phong hóa của các triều đại phong kiến Việt Nam, nay đã đến hồi kết thúc Một số nhà nho cùng thời với Ngô Tất Tố đã "quăng bút lông đi, lấy bút chì", để đi theo con đường mà Tú Xương đã chỉ cho là " đi học làm ông Phán Tối rượu sâm banh sáng sữa bò" Còn khá đông thì lui

về các làng quê làm nghề dạy học, làm thầy địa lý hoặc đến các cửa đền, hay lang thang ở

các chợ làm nghề bói toán, xem tướng đoán quẻ để kiếm sống

Ngô Tất Tố không đi theo con đường mà nhiều bạn làng nho trong cảnh chợ chiều của mình đã chọn Vì nhà nghèo, gia đình phải mượn ruộng của làng để làm thêm và thường

hay vay nợ lãi, nên không có tiền để học tiếp, ông đành phải lao vào cuộc mưu sinh bằng

nghề làm báo, viết sách như một vài nhà nho đương thời đã làm như: Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Trọng Thuật, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Mai Đăng Đệ, Dật Công Phạm Quế Lâm

Trang 30

Vào năm 1922, Tản Đà thành lập nhà xuất bản Tản Đà tu thư cục, chính nơi này đã

in tác phẩm đầu tay của Ngô Tất Tố, đó là một bản dịch từ sách Trung Quốc có tên Cẩm

Hương Đình (năm 1923) Đến tháng 7-1926, Tản Đà ra tờ An nam tạp chí, và mời Ngô Tất

Tố tham gia cộng tác Kể từ đây, Ngô Tất Tố rời quê nhà để lên Hà Nội làm báo với Tản Đà

Tờ An nam tạp chí phát hành được 10 số thì đình bản, vì không còn vốn để in tiếp Nhà thơ tạm biệt đất Bắc lên đường vào Nam phụ trách trang văn chương trên tờ Đông pháp thời

báo của Diệp Văn Kỳ, và mời Ngô Tất Tố cùng đi Vào đến Sài Gòn, hai người cùng làm

chung trong một tòa báo Được ba tháng, nhà thơ trở về đất Bắc, còn Ngô Tất Tố ở lại đến

ba năm sau mới về Thời gian này, ông tiếp tục viết bài cho các tờ Đông pháp thời báo,

Thần chung, đồng thời cho xuất bản hai tập sách dịch Ngô viết Xuân Thu và Hoàng Hoa cương

Cuối năm 1930, Ngô Tất Tố trở về Hà Nội, từ đó đến Cách mạng tháng Tám năm

1945, ông viết cho các tờ: Phổ thông ( 1930 - 1931), Đông phương (1931), Công dân (1935), Hải Phòng tuần báo (1935), Tương lai (1936 -1937), Thời vụ (1938 - 1939), Hà Nội

tân văn (1940), Đông pháp (1942) , đồng thời gởi bài đăng ở nhiều tờ báo khác như: Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ 3 ông ký nhiều bút danh khác nhau như: Thiết Khẩu Nhi,

Phó Chi, Tuệ Nhỡn, Hy Cừ, Ngu Công, Thục Điểu, Lộc Đình, Xuân Trào, Thuyết Hải, Lộc

Hà, Thôn Dân, Đạm Hiên

Sự nghiệp trước tác của Ngô Tất Tố khá phong phú Ông nổi tiếng trên nhiều lĩnh

vực: khảo cứu, dịch thuật, viết báo, viết văn, ông làm việc ăn lương cho nhà xuất bản Mai

Lĩnh, nên sách của ông trừ cuốn Đường thi do Tân Dân xuất bản, số còn lại đều do Mai Lĩnh

ấn hành

Làm báo, viết sách không đủ sống, Ngô Tất Tố còn mở hiệu thuốc Bắc và dịch sách

y học cho nhà xuất bản Nhật Nam thư quán (1935)

Trước Cách mạng tháng Tám, Ngô Tất Tố sáng tác rất cần cù, nhưng chỉ làm giàu

cho các nhà xuất bản và chủ báo Chỉ có hai tờ Công dân và Tương lai “là cơ quan của một

bọn anh em nhà nghèo dúm rau, dúm bếp làm với nhau"

Về phương diện học thuật, ông là tác giả của nhiều công trình khảo cứu triết học, văn học cổ, lịch sử có giá trị Trong đó có những công trình đáng chú ý như cuốn ký sự lịch

sử Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (1935) thể hiện được tinh thần yêu nước, thái

độ căm ghét

Trang 31

bọn tướng tá xâm lược và bọn Việt gian bán nước Xuất thân là một nhà nho, nhưng Ngô Tất Tố không phải là người nệ cổ, bảo thủ, ông luôn cố gắng vươn tới những tư tưởng tiến

bộ của thời đại Trong cuốn Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim (1940), ông phê phán

thái độ nhắm mắt đề cao và sự chế biến xuyên tạc đối với Nho giáo của Trần Trọng Kim

Cuốn Lão tử (1942, viết chung với Nguyễn Đức Tịnh) là công trình nghiên cứu công phu, có tinh thần phê phán khoa học, là "tác phẩm nghiêm túc nhất về Lão Tử" Trong cuốn Mặc tử

(1942), Ngô Tất Tố đề cao những yếu tố duy vật, tiến bộ trong học thuyết của Mặc Địch

Trong bộ Việt Nam văn học (mới hoàn thành 2 tập: Văn học đời Lý, Văn học đời Trần, xuất

bản năm 1942, chủ yếu là ông tuyển dịch thơ văn hai đời này, có kèm theo bình luận), Ngô Tất Tố tỏ ra thiết tha với việc bảo tổn, phát huy những truyền thống tốt đẹp trong di sản văn học của dân tộc Ông đặc biệt để cao tư tưởng độc lập tự cường được thể hiện trong văn chương đời Trần và phê phán tinh thần nô lệ bạc nhược đầy dẫy trong văn chương học thuật

phong kiến V ề dịch thuật, bản dịch Đường thi (1940) và Hoàng Lê nhất thống chí (1942)

là những công trình có giá trị

Trên lĩnh vực sáng tác văn học, những tác phẩm chính của Ngô Tất Tố trong thời kỳ

trước cách mạng là: Tắt đèn (1939), Lều chõng (đăng trên báo Thời vụ, 1939), Việc làng

(đăng báo Hà Nội tân văn, 1940) Ngoài ra còn một số truyện ngắn, phóng sự được in rải rác

trên các báo Tác phẩm tiêu biểu nhất trong sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố là Tắt

đèn, "một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có

thể gọi là kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy" (Vũ Trọng Phụng) Tắt đèn là một trong những thành công xuất sắc nhất trong trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam Lều chõng là

tiểu thuyết phóng sự về chế độ khoa cử phong kiến Từ những tư liệu phong phú, nhà văn dựng lại không khí "lều chõng" ngày trước, qua đó làm nổi bật tính chất nhồi sọ của nhà trường và sự trói buộc khắc nghiệt vô lý của chế độ thi cử phong kiến Vì vậy, tác phẩm ít

nhiều có ý nghĩa chống lại "phong trào phục cổ" do thực dân đề xướng Việc làng là tập

phóng sự về những hủ tục "quái gở, mọi rợ" trong nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Mỗi chương sách là một câu chuyện thương tâm về một lệ làng, một mối tai họa

đối với người nông dân khốn khổ Điều đáng chú ý là trong Việc làng, tác giả đã vạch ra

chính bọn địa chủ, cường hào, chánh tổng, lý trưởng, chánh hội, chưởng lễ là những kẻ đã bày đặt và duy trì những hủ tục đó để đục khoét dân lành, đẩy nhiều gia đình tới chỗ phá sản, có người phải tuyệt mạng Đôi lúc câu chuyện dường như vượt khỏi khuôn khổ phóng

sự "việc làng" để đi sâu

Trang 32

vào tình cảnh thê thảm của người nông dân bị áp bức bóc lột đến tột cùng Việc làng cũng

có tác dụng chống lại phong trào phục cổ đương thời

Là một nhà báo xuất sắc, qua những bài bình luận ngắn Ngô Tất Tố đã lên tiếng tố cáo chế độ thực dân phong kiến dã man, tàn bạo, đồng thời thể hiện lòng thương yêu và thái

độ trân trọng thật sự đối với nhân dân lao động Vì vậy, ông đã trở thành "cái gai trước mắt"

mà bọn thực dân phong kiến cần phải nhổ bỏ Năm 1935, ông bị thực dân cấm không cho

viết trên tờ Hải Phòng tuần báo, và trục xuất khỏi các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, nghĩa là chúng muốn tuyệt đường sinh sống của ông Năm 1939, tác phẩm Tắt

đèn bị cấm lưu hành hoặc tàng trữ, ông bị sở mật thám khám nhà và bắt giam 4 tháng

Nhưng tất cả những việc làm đó của chúng không làm cho ông chùn bước, ngòi bút của ông vẫn tỏ ra sắc sảo và tấn công vào chúng mãnh liệt Tác phẩm của ông được công chúng độc giả đón đọc một cách nồng nhiệt hơn

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Ngô Tất Tố tham gia Hội văn hóa cứu

quốc v à ông là một trong những người cao tuổi lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng

chiến Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Ngô Tất Tố đã cố gắng hết sức mình để phục vụ nhân dân: ông làm ca dao tuyên truyền, làm báo, làm thơ, viết ký sự, truyện ngắn,

sáng tác chèo, dịch thuật văn học nước ngoài Vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác, viết về nữ

chiến sĩ thi đua trên mặt trận nông nghiệp là chị Quách Thị Tước của ông được Hội Văn

nghệ Việt Nam trao giải thưỏng (năm 1952) Những bút ký Phiên chợ trung du, Quà tết bộ

đội thể hiện cái nhìn mới mẻ của nhà văn đối với đất nước, con người hồi sinh sau cách

mạng Thời kỳ này, ông biết cho báo Cứu quốc, báo Thông tin khu XII, tạp chí Văn nghệ,

đồng thời phụ trách văn nghệ liên khu I

Ngô Tất Tố mất tháng 4 năm 1954 tại Yên Thế, Bắc Giang, hai tháng trước khi hòa bình lập lại

3 Quá trình chuyển biến tư tưởng của Ngô Tất Tố từ một nhà nho trở thành một nhà báo tiến bộ

Tình hình báo chí sách vở nước ta, vào đầu những năm 30 có nhiều thay đổi lớn Trên bình diện chung thực dân Pháp vẫn kiểm soát

Trang 33

chặt chẽ đối với báo chí Vì vậy, những nhà văn nhà báo ít nhiều có tư tưởng tiến bộ, không thể nào nói được trên sách báo công khai những điều mình muốn nói Lưỡi kéo kiểm duyệt của thực dân hoạt động tích cực, hơi một tí là cắt xén, xóa bỏ, đình bản, đóng cửa tòa báo (trong vòng 4 năm từ 1931 - 1934, có đến 161 tờ báo bị đình bản) Thời kỳ Mặt trận Dân chủ, do sự đấu tranh mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng buộc chính quyền thực dân phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt ở Nam kỳ (1935), Trung kỳ và Bắc kỳ (1937), nhưng đến chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ thì đâu lại vào đấy, có phần khắt khe hơn trước

Còn đội ngũ những người viết văn, viết báo thời bấy giờ đa số đều trẻ và Tây hóa

Họ tiếp thu được nhiều kinh nghiệm làm báo của các nước phương Tây (chủ yếu là Pháp), nên đã thay đổi một bước về cách viết cũng như kỹ thuật trình bày và in ấn Do chính sách ngu dân của thực dân Pháp, đại bộ phận quần chúng nhân dân đều mù chữ, nên vô hình trung họ đã bị gạt ra khỏi các hoạt động văn hoa văn nghệ Công chúng độc giả của sách báo thời bấy giờ, chủ yếu là học sinh sinh viên Tây học, công chức tiểu thương ở các thành phố lớn Họ được tiếp xúc nhiều với văn hóa phương Tây, nên đã thay đổi cách "thưởng thức" báo chí

Tờ báo muốn sống được thì phải có độc giả, nhưng tâm lý chung của nhiều độc giả

là quá chán ngán những cuốn tiểu thuyết lãng mạn Trung Quốc hay những bài văn nghị luận

cao đạo trên báo Nam Phong, Trung Bắc tân văn mà họ đòi hỏi báo chí chuyển tải đến cho

người đọc những thiên truyện có ít nhiều tính chất hiện thực, những thiên phóng sự điều tra ghi lại điều "tai nghe, mắt thấy", "chuyện bất công ngang trái", cảnh lầm than đau khổ trong

xã hội, những bài văn ngắn gọn, mang tính châm biếm nhẹ nhàng

Trong bối cảnh ấy, nhà nho Ngô Tất Tố nếu muốn theo đuổi nghề cầm bút, phải thay đổi tư tưởng và văn phong cho ngang tầm thời đại, phù hợp với yêu cầu độc giả Điều này rõ ràng không đơn giản chút nào Văn chương "kiểu cũ" không còn hợp thời nữa, chủ báo không mời cộng tác không đăng bài, chủ nhà xuất bản không đặt hàng, không nhận in nên nhiều bạn làng nho với Ngô Tất Tố đã phải bỏ cuộc Riêng ông, chẳng những trụ lại được với các đồng nghiệp trẻ, Tây học, mà đôi lúc còn tỏ ra sắc sảo hơn họ

Trang 34

Đọc lại những bài bình luận thời sự của Ngô Tất Tố, đăng trên các báo suốt mười lăm năm từ 1930 - 1945, có thể thấy ông luôn luôn hướng về phía trước, muốn vươn lên cho kịp người, vươn lên cho ngang tầm thời đại Vậy ông vươn lên như thế nào, và đã thay đổi

tư tưởng, văn phong của mình ra sao?

Sự chuyển biến về tư tưởng của Ngô Tất Tố được thể hiện khá rõ nét trong các công trình khảo cứu, dịch thuật, các bài báo và các sáng tác văn học của ông Chúng tôi xin điểm qua quá trình phát triển tư tưởng của ông từ một nhà nho trở thành một nhà báo tiến bộ, một nhà văn hiện thực xuất sắc

Là một nhà nho, nhưng Ngô Tất Tố không đứng trên lập trường quan điểm của nho giáo để đặt vấn đề và giải quyết vấn đề Trong lúc những người cùng thế hệ với ông, kể cả những người tiến bộ nhất đểu hô hào hòa hợp đạo Khổng Mạnh với văn minh Âu Tây, có công kích nho giáo nhưng cũng chỉ công kích một vài điểm trong Hán nho, Tống nho, chớ không đả động gì đến những nhân tố chủ yếu của đạo Khổng Mạnh Còn Ngô Tất Tố thì khác, ông phê phán một số mặt bản chất lạc hậu, phản động của nho giáo nói riêng và ý thức

hệ phong kiến nói chung Ông đã từng nghe kể hoặc từng chứng kiến sự thối nát của giai cấp phong kiến đầu hàng Pháp Và nhất là từ kinh nghiệm của bản thân mình đã mấy lần khoa cử lận đận Tất cả những yếu tố đó, giúp Ngô Tất Tố vượt lên phía trước, đuổi kịp thế

hệ trẻ và trở thành một trong những người tiến bộ nhất của lớp nhà nho cuối mùa

Trong tác phẩm của mình, khi đề cập đến nho giáo, chúng ta thấy Ngô Tất Tố

thường dùng giọng văn chế nhạo Nhất là đối với hai chủ nghĩa hành đạo và tùy thời của

Khổng Tử và Mạnh Tử Nhân chuyện Khổng Đức Chương và Mạnh Khánh Đường là con cháu mấy mươi đời của Khổng Tử và Mạnh tử, từ chối không chịu hợp tác với phát xít Nhật, Ngô Tất Tố cho rằng cụ Khổng và cụ Mạnh ngày xưa "tuy thời một cách dễ dãi" chớ đâu có "khó tính" như vậy!

"Hai cụ ấy tuy đẻ cách nhau hơn 100 năm, nhưng là thầy trò với nhau, nhiều chỗ trong giáo lý của họ giống nhau như tạc, nhất là chủ nghĩa hành đạo và tuy thời" Hành đạo, nói một cách nôm na tức là làm quan, làm quan để thực hành đạo giáo của mình Mà tùy thời? Cắt nghĩa một cách không cho ai hiểu, thì là tùy thời (!) Khổng Tử sính làm quan lắm" Cứ như Trang Tử đã nói thì chính mình cụ đã đem "đạo" đi rao với

Trang 35

72 ông vua, dấu ngựa, bụi xe của ngài khắp cả các nước, rút lại vẫn không đắt hàng Cùng quá, đến nỗi hai anh tướng giặc Lỗ, cái "nước cha mẹ" của ngài, trong khi chiếm nước làm loạn muốn mời ngài đến giúp việc, ngài cũng định đi với họ Thật là một nghĩa tùy thời Mạnh Tử cũng vậy Tuy không "bệ kiến" nhiều vua như cụ Khổng, nhưng với vài chục cỗ

xe đi trước, vài chục đầy tớ đi sau, cụ này đã ăn khắp lượt mấy nước chư hầu và đã yết kiến vua Tuyên nước Tề, vua Huệ nước Lương cho đến vua Văn nước Đằng, một nước giật gấu

vá vai mới được năm chục dặm đất, cũng có dịp được gặp cụ nữa Đó là cụ cũng tuy thời như cụ Khổng vậy!"(1)

Năm 1938 ông viết bài Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim (đăng trên báo Thời

vụ từ số 80 đến 87, phát hành trong tháng 11 và 12 năm 1938) Cuốn sách của Trần Trọng

Kim chạy theo khuynh hướng phục cổ, tôn Khổng, sùng Nho của giai cấp thống trị Trong

lúc Phan Khôi một mực đề cao cuốn sách đó "Khuyên những người An - nam đều phải thắp hương mà đọc", thì ngược lại Ngô Tất Tố viết bài phê bình Ngoài việc phê phán tác giả Trần Trọng Kim, dùng tư liệu không chính xác, đem tư tưởng của người khác làm tư tưởng của Khổng Tử, dịch sai nghĩa hoặc thêm ý của mình vào Kinh truyện, Ngô Tất Tố còn lên tiếng cảnh báo: "Nếu như những chỗ sai lần của sách ấy không bị đính chính thì với những người đẻ sau vài chục năm nữa, Nho giáo sẽ là "Trần Trọng Kim giáo", không phải là đạo giáo của Khổng Tử và tiên nho nữa" Ông đã vạch rõ cho mọi người thấy dụng tâm của Trần Trọng Kim là lý tưởng hóa đạo Khổng, khi cho rằng: "đạo ấy rất thích hợp với chân lý, thật

là đạo xử thế rất hay, rất phải ai theo cũng được và thi hành ra đời nào cũng được" Tuy chưa trực diện công kích triết lý Khổng Mạnh, nhưng Ngô Tất Tố công kích những ai sùng bái "hai vị thánh" đó

Ngô Tất Tố phê phán chủ nghĩa trung quân mù quáng của Khổng Tử, chỉ biết nhắm mắt tôn thờ các bậc đế vương, thậm chí bao che cho cả bọn hôn quân bạo chúa Trong khi

ấy thì Trần Trọng Kim lại cho rằng: tư tưởng trung quân của Khổng Tử không có nghĩa là trung với người làm đế làm vương mà là trung với quân quyền trong nước Ngô Tất Tố đã bình phẩm ý kiến này của Trần Trọng Kim: "Trời ơi! Nếu quả như thế thì Khổng Tử chẳng những không khác Jean Jacques Rousseau mà còn giống cả Karl Marx và Lénine nữa" Các sách của Khổng giáo, không có chỗ nào phân biệt quân quyền với bản thân người làm đế vương cả

Trong tiểu phẩm Xưa kia nó là việc của vua chúa (in trên báo Thời

Trang 36

vụ số 56, ra ngày 23.8.1938), Ngô Tất Tố, viết: "Trong sách Xuân Thu, Khổng Tử đã phải

chép đến 36 chuyện giết vua,mà trong đó phần nhiều chuyện giết vua lại kiêm luôn cả giết cha nữa Ấy là mới kể trong thời kỳ 240 năm mà thôi, sau đó còn thiếu gì những chuyện như thế Vậy thì lịch sử đã bảo cho ta biết rằng xưa kia chỉ có vua chúa mới được giết cha!"

Vua chúa như vậy thì cái chủ nghĩa trung quân của Khổng Tử mà Trần Trọng Kim

hết lời ca ngợi trong Nho giáo, theo Ngô Tất Tố chỉ là một chuyện khôi hài mà thôi Ở một chỗ khác cũng trong Nho giáo, Trần Trọng Kim có viết: "Khổng Tử coi dân là trời, mệnh

trời tức là lòng dân" Thực ra đây là tư tưởng của Lương Khải Siêu, của Tăng Tử, Tử Tư,

Vũ Vương được Trần Trọng Kim đem "lắp vào cái tượng Khổng Tử ở Nho giáo" Ngô

Tất Tố đã phản bác lại: "Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử đã nói: "Dân có thể khiến cho nó

theo, không thể khiến cho nó biết Coi đó thì ngài thiên về chính trị chuyên chế, không khi nào lại chịu coi dân là trời" Ngô Tất Tố cho rằng: "Khổng Tử là người chủ trương thuyết ngu dân của giai cấp thống trị, là người tạo nên thứ giáo lý tôn ti trật tự, chỉ muốn biến thứ dân thành những kẻ cam phận tôi đòi Như vậy, thực chất đạo Khổng là một công cụ thống trị về mặt tinh thần của bọn vua chúa phong kiến Nếu như ở phương Tây, các ông vua đều chịu lễ thụ phong của giáo hoàng và nhờ giáo hoàng đặt hộ cái mũ lên đầu" thì ở phương Đông các thế lực phong kiến đều coi đạo Khổng là "một tôn giáo để duy trì thế lực của

mình", ông làm rõ ý này trong bài Chúa trùm Đảng áo nâu sẽ xuống địa ngục (đăng trên

báo Thời vụ số 27, ra ngày 13-5-1938) "Lưu Bang là anh cai phu ở Lý Sơn, trong lúc kéo

quân phá nước Tần, đánh nước Sở, rất không ưa nhà nho, có khi hắn đã lật mũ nhà nho mà

đái vào Thế mà đến khi chiếm được cái ngai hoàng đế thì tự mình lại đem cỗ thịt bò khúm núm đến lễ trước miếu cụ Khổng và trọng dụng một anh nho dở là Thúc Tôn Thông để chế

ra triều nghi cho mình Các vua sáng nghiệp đời sau của nước Tàu đều theo kiểu ấy Cho đến Tưởng Giới Thạch bây giờ cũng vậy"

Giai cấp phong kiến đã thần thánh hóa, thi vị hóa Khổng Tử và dùng nho giáo làm công cụ phục vụ cho mục đích thống trị của chúng Vào khoảng những năm 1942 -1944, chính quyền thực dân lại để xướng phong trào phục cổ “Văn hóa phục hưng", kết hợp văn minh Âu - Mỹ với quốc hồn quốc túy phương Đông Và đã có nhiều người cầm bút hùa theo, người thì nghiên cứu, người dịch thuật, người sáng tác ai nấy đều thi vị hóa quá khứ,

để cao đạo đức phong kiến, tuyên truyền ý thức hệ duy tâm

Trang 37

Vào thời điểm này, Ngô Tất Tố viết tiểu Thuyết Lều chõng, nghiên cứu Lão Tử,

Mặc Tử, dịch Kinh dịch, với mục đích làm ngược lại ý đồ của thực dân Trong Lều chõng ông chỉ trích nền giáo dục phong kiến là nhồi sọ, văn chương trường ốc là sáo rỗng, cách

kén chọn nhân tài theo khoa cử là vô nghĩa ông đề cao Mặc Tử cũng là để chống lại nho

giáo, chống phục cổ, chống thuyết hữu mệnh, chống chiến tranh xâm lược Ngô Tất Tố

không tán thành thái độ thần thánh hoa Kinh dịch của một số nhà nho đương thời Ông

thường nói với Phùng Bảo Thạch, người bạn cùng làm báo với ông: " Người ta cứ suy tôn

Kinh dịch cho nó là thần thánh, thực ra cũng chẳng có gì đâu, để tôi dịch ra cho các bác

xem" Năm 1943, ông bắt đầu dịch Kinh dịch, và năm sau ông đưa cho Mai Lĩnh xuất bản (4 tập) Ở Kinh dịch, Ngô Tất Tố chỉ mới tập trung phê phán phần duy tâm, thần bí: "Từ xưa đến nay, ai ai cũng tin Kinh dịch là một bộ sách khó hiểu Sự thực cũng đúng như thế Nhưng cái khó hiểu của Kinh dịch không tại ý tứ sâu xa, chỉ tại lời văn chủng chẳng rời rã,

ngớ ngẩn đột ngột, giống như lời nói của bọn đồng cốt, không đầu đuôi, không mạch lạc, có chỗ lại không đúng với văn pháp nữa Vì vậy, trong các chính văn hết thảy dịch bằng tiếng

cổ của ta, cố giữ lấy cái tinh thần "chủng chẳng rời rã, ngớ ngẩn đột ngột" của nó, để độc giả muốn hiểu thế nào thì hiểu, bằng không hiểu nữa thì đã có lời chú giải của Trình Di, Chu Hy

dịch tiếp ở dưới, coi đó rồi cũng phải hiểu" Thái độ phê phán của Ngô Tất Tố đối với Kinh

dịch mặc dù còn mang tính chất cảm tính, nhưng nó có một ý nghĩa nhất định Vì đó là đòn

đánh vào chủ nghĩa phục cổ, đánh vào những kẻ nhắm mắt suy tôn Khổng giáo và Kinh

dịch, xem nó là quốc hồn quốc túy của dân tộc, là báu vật của triết học phương Đông

Trong khi nhiều người cũ lẫn mới, nho học cũng như Tây học, đều ra sức hô hào cổ

vũ, hết lời ca ngợi những tác phẩm: Nho giáo của Trần Trọng Kim, Lão Tử, Mặc Tử, Kinh

dịch thì Ngô Tất Tố lại phê phán kịch liệt và ông còn tỏ ý thương hại cho các nhà nho "lạc

bước trong thời đại mới, bơ vơ đứng giữa ngã ba với những cơn gió mưa cát bụi, để chờ ngày chấm dấu hết cho trang lịch sử Hán học của nước Nam" Điều đó chứng tỏ ông không phải là một nhà "cựu học", một "nhà nho" nữa, mà ngay từ khi mới bước chân vào làng báo, làng văn, Ngô Tất Tố luôn cố gắng vượt lên chính mình, để theo kịp trào lưu tư tưởng mới Ý thức tự vượt mình ở Ngô Tất Tố nhất quán từ đầu đến cuối và được biểu hiện không phải một lần mà là nhiều lần, trong những trường hợp khác nhau, những chuyện khác nhau Ngay từ những năm 1930 - 1931, ông đã viết nhiều bài bình luận ngắn, chống chủ trương: " bảo tồn quốc túy", " đừng đem

Trang 38

những cái cặn bã của cửa Khổng sân Trình mà nhồi mãi vào óc độc giả" hay "cổ động dân

quê duy trì các thói tục ở góc điện sân đình" hoặc "hô hào các bạn gái cứ giữ gìn cái sinh hoạt ở cửa buồng xó bếp" Ngô Tất Tố đã từng nói: "Vận hội một nước trông ở tương lai

nhiều hơn trông ở quá khứ" (Văn học đời Lý, 1942)

Nhà nho Ngô Tất Tố là như thế Vì vậy chỉ có thể gọi ông là "nhà nho" với ý nghĩa ông có vốn Hán học cao so với các đồng nghiệp đang cùng ông làm báo, viết sách Ông không hề bị tư tưởng Nho giáo ràng buộc

4 Quan niệm của Ngô Tất Tố về làm báo và viết văn

Phần đông những người viết báo ở nước ta thời đó, đều quan niệm về nghề khá đơn

giản Chúng ta hãy nghe Vũ Bằng kể lại một quãng đời làm báo của mình: "Tất cả chúng

tôi lúc ấy đều quan niệm một cách dễ dàng: làm báo là trò chơi, ai muốn viết gì thì viết, quăng bài vào Tòa soạn rồi in ra, thế là xong Chúng tôi không cần phải có đường lối chánh

trị, không cần phải có quan điểm lập trường, lôi thôi lắm Vả lại sống vào thời đó, Tây lo

cho hết cả rồi, thì quan điểm, lập trường làm gì vô ích? Vì thế bài xã thuyết thì viết về vấn

đề xã hội, mùa xuân thì viết xã thuyết về xuân, mùa hạ thì viết xã thuyết về hạ, thỉnh thoảng đổi giọng lại viết xã thuyết về vấn đề quốc tế cho oai, ra cái giọng ta đây thông kim quán

cổ, biết hết cả chuyện năm châu bốn biển, mà trước sau vẫn không quên vấn đề chuồng tiêu công cộng ở chợ Đồng Xuân hôi quá, hay đống rác ở ô Đồng Lầm ruồi nhặng vo ve suốt ngày, rất hại cho vệ sinh chung

Ngoài bài xã thuyết thì là truyện, thơ, phóng sự, muốn đăng cái gì cũng được, nhưng thế nào cũng phải để dành một chỗ kha khá cho mục "Nói hay đừng" chửi loạn xà ngầu (miễn là đừng chửi Tây), chửi chết thôi, mà nếu chửi tục, chửi dơ dáy, thỉnh thoảng xen vào vài câu dâm dục thì càng được hoan nghênh Vậy chửi cái gì? Chửi vấn đề xã hội thì Tây phụ trách, chửi người mà không biết lựa thì nó lên méc Tây, Tây cho vào xà lim, ép rệp bỏ cha; chửi về chánh trị thì mình không biết oong đơ gì hết, mà chửi về kinh tế thì quả là mình đui quá Rút lại tên thư ký tòa soạn tờ Rạng Đông, cũng như hầu hết các ký giả trẻ khác hồi

đó, chỉ còn biết quay qua chửi bậy, chửi cá nhân, chửi đời tư của những người mà mình ghét, và nhất là chửi đồng nghiệp, vì "nghe đâu báo của nó chạy hơn của mình" Mà nó không có tài, chẳng hiểu làm sao báo lại

Trang 39

chạy? Mình thế này mà chịu thua nó hay sao? Tức thì lại càng chửi khoẻ"(1)

Ngô Tất Tố thì khác Là một nhà nho tiến bộ, với bản lĩnh vững vàng của một người cầm bút, ông luôn thể hiện sự độc lập trong suy nghĩ của mình, luôn vươn lên cho kịp với thời đại Với tinh thần tiếp thu có phê phán, và lúc cần thì ông phê phán hết sức nghiêm khắc, đối với các học thuyết của nho giáo Do vậy, trong các tác phẩm của ông, ít nhiều đều mang ý nghĩa chống lại xu hướng phục cổ, suy tôn Khổng giáo và bảo tổn quốc tuy ông quan niệm rất nghiêm túc về nghề làm báo và viết văn "Ngô Tất Tố tự tách mình ra khỏi năm hạng người tiêu biểu cho giới báo chí Việt Nam thời Pháp thuộc: hạng lấy báo chí làm nơi giải trí, gọt đẽo câu văn cho kêu; hạng dùng văn chương để trổ tài thông minh vặt; hạng làm báo chí thì ít mà làm tiền thì nhiều; hạng cơ hội, khi đứng bên này khi nhảy sang bên kia và hạng bồi bút tay sai để làm giàu và làm quan"(2)

Theo ông , báo chí - sách vở phải là phương tiện chở học thuật, tư tưởng và hướng đạo quần chúng, "học thuật tư tưởng" ích nước lợi dân Quan niệm của ông gần gũi với quan niệm của cha ông ta ngày trước về ''trước thư lập ngôn" và " Văn dĩ tải đạo" "Đạo" ở đây là đạo làm người, "đạo" yêu nước thương dân Chưa phải là người cách mạng, ông sử dụng ngòi bút của mình chưa phải là để chiến đấu cho mục đích lý tưởng cách mạng, nhưng trong hoàn cảnh bị mất nước, nhân dân đang sống lầm than đau khổ dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, ông muốn dùng ngòi bút của mình góp phần chống lại các thế lực đen tối đang bóp nghẹt đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Việt Nam, ông mong mỏi có được cuộc sống dân chủ hơn, tự do hơn, ấm no hơn Còn dân chủ, tự do, ấm no đến mức độ nào và phải đấu tranh bằng phương thức nào để có được, thì ông chưa hình dung nổi Bản thân ông chỉ nhìn thấy xã hội "tối đen như mực", ông muốn dùng sức mạnh ngòi bút, chân thành bền bỉ đấu tranh (tất nhiên là trong phạm vi có thể) để cho nó đỡ tối hơn mà thôi

Quan niệm của ông về nghề làm báo, viết văn thể hiện được những phẩm chất "đạo đức nghề nghiệp" của người cầm bút Báo chí là một nghề mới xuất hiện ở nước ta, kể từ khi thực dân Pháp xâm lược Lúc đầu, người Pháp cho ra báo để tuyên truyền phổ biến những chủ trương, chính sách, những thông cáo của nhà nước thực dân đến với dân chúng thuộc địa Mau chóng, những người yêu nước Việt Nam nhận rõ

(1) Vũ Bằng – Bốn mươi năm nói láo, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1993, trang 47-48

Trang 40

được tác dụng lợi hại của báo chí, nên đã sử dụng báo chí để nâng cao dân trí, cổ vũ tinh thần canh tân đất nước Các vị ấy đã xông vào trận địa báo chí, tùy theo tình hình mà có thể lợi dụng báo chí do thực dân cầm quyền tổ chức hoặc xin ra báo tư nhân Những người đầu tiên làm báo ở nước ta là các nhà trí thức nho học, Tây học có tài năng và có lòng nhiệt thành yêu nước Chính những người này đã xây dựng nền móng cho báo chí Việt Nam, tạo lập một truyền thống đạo đức nghề nghiệp được những người đi sau kế tục và các thế hệ nối tiếp duy trì và noi theo Ngoài chuẩn mực đạo đức mà những người làm báo chân chính ở mọi nơi, mọi thời đại đều phải tuân thủ, còn có những nét đạo đức truyền thống riêng của nghề làm báo ở nước ta Ngô Tất Tố là một trong những người đầu tiên góp phần xây dựng nên những chuẩn mực đạo đức truyền thống của nghề báo ở Việt Nam Quan niệm viết báo của Ngô Tất Tố rất gần gũi với những gì mà các nhà báo chân chính trong thời đại ngày nay đang vươn tới

Về cơ bản, báo chí có hai chức năng: thông tin và hướng dẫn dư luận Ở các quốc gia

có chế độ chính trị khác nhau, có những qui định khác nhau về chức năng của báo chí hoặc nhấn mạnh mặt này mặt khác Đề cập đến đạo đức của người làm báo có khi trùng hợp với nhiệm vụ của người làm báo, tuy nhiên chúng ta cũng có thể phân biệt được ranh giới đó Nói đến nhiệm vụ là đề cập đến những điều mà người làm báo phải thi hành, còn nói đến đạo đức là để cập đến những giá trị tinh thần mà người làm báo phải ra sức phấn đấu để thực hiện Đó là những mục tiêu, những định hướng mà nhà báo phải tận lực theo đuổi Nhà báo chân chính chỉ ôm ấp một lý tưởng là phụng sự chân lý, bảo vệ chính nghĩa, nếu không thực hiện được điều này thì nhà báo không hoàn thành sứ mạng được giao phó Thông tin mà không phụng sự chân lý thì thông tin như thế nào? Thông tin cái gì? Thông tin mà không bảo vệ chính nghĩa thì làm sao hướng dẫn dư luận? Có thể nói điều này chính là "hòn đá thử vàng" về người làm báo chân chính hay không chân chính, người thật sự làm báo hay kẻ mạo danh nhà báo Chính đó là đặc trưng nhận dạng tư cách đạo đức nhà báo

Nhà báo phải là người chiến đấu cho sự công bằng xã hội, chống áp bức bóc lột, bênh vực những người lầm than đau khổ, những người ở địa vị thấp kém, những người bị oan ức Có lẽ vì thế nên nhiều người đã gọi nhà báo là "những hiệp sĩ cầm bút", để ví với những hiệp sĩ cầm gươm thời xưa "kiến nghĩa bất vi vô dõng giả!” Trong thời đại ngày nay

Hồ Chủ tịch đã từng nhắc đến trách nhiệm của người cầm bút là "phò

Ngày đăng: 16/01/2020, 10:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w