Bài viết này tập trung trình bày vài nét đặc trưng của quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương và ảnh hưởng của ĐTH đến sự chuyển dịch đất nông nghiệp, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của quá trình chuyển dịch này, trên cơ sở đó đưa ra một số các khuyến nghị hướng đến sử dụng đất theo hướng hiệu quả, hài hòa trong phát triển kinh tế, xã hội và môi trường.
Trang 1VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG ĐÔ THỊ HÓA TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2000 - 2015
Nguyễn Thị Hoài Phương1
1 Trường Đại học Thủ Dầu Một
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 25/07/2018
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
20/09/2018
Ngày chấp nhận đăng:
08/2019
Title:
Some majorcharacteristics of
urbanization in Binh Duong
province in the period 2000 -
2015
Keywords:
Binh Duong province,
characteristics, urbanization,
agricultural land, shifting
Từ khóa:
Bình Dương, đặc trưng, đô thị
hóa, đất nông nghiệp, chuyển
dịch
ABSTRACT
Urbanization is an objective inevitability process in the era of industrialization and modernization It does not only change the population, the geospatial expansion but also changes the socio-economic factors, each locality the process of implementation is not the same The low point of urbanization compared to some localities in the Southern Key Economic Zone, with the advantages of geographical location, topography and economic exchange conditions, Binh Duong now becomes one in the provinces with the fastest urbanization in the country Rapid urbanization not only brings advantages but also limits This paper focuses on some characteristics of urbanization in Binh Duong province, and the impact of urbanization to agricultural land shifting and evaluates the positive and negative aspects of this process On that basis, a number of recommendations are made towards land use in the direction of efficiency and harmony in economic, social and environmental development
TÓM TẮT
Đô thị hóa (ĐTH) là một quá trình tất yếu khách quan trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) ĐTH không chỉ làm thay đổi về dân
cư, sự mở rộng không gian địa lý mà còn làm thay đổi đến các yếu tố kinh tế
xã hội khác, tuy nhiên ở mỗi địa phương quá trình thực hiện không giống nhau Xuất phát điểm ĐTH thấp so với một số địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN), với những lợi thế về vị trí địa lý, địa hình, điều kiện giao lưu về kinh tế, hiện nay Bình Dương trở thành một trong những tỉnh có tốc độ ĐTH nhanh nhất cả nước ĐTH nhanh bên cạnh những thuận lợi luôn song hành những hạn chế Bài viết này tập trung trình bày vài nét đặc trưng của quá trình ĐTH tỉnh Bình Dương và ảnh hưởng của ĐTH đến sự chuyển dịch đất nông nghiệp, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của quá trình chuyển dịch này, trên cơ sở đó đưa ra một số các khuyến nghị hướng đến sử dụng đất theo hướng hiệu quả, hài hòa trong phát triển kinh tế,
xã hội và môi trường
1 GIỚI THIỆU
Bình Dương, một tỉnh nằm trong VKTTĐPN
đang có những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế xã
hội (KTXH) như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực
Do vị trí địa lý thuận lợi cùng với những chính sách thông thoáng, hấp dẫn, Bình Dương đã thu
Trang 2hút nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước, đặc
biệt ở lĩnh vực công nghiệp, là động lực đẩy
nhanh quá trình CNH, ĐTH
Không thể phủ nhận sự phát triển kinh tế mạnh
mẽ tỉnh Bình Dương chủ yếu do sự phát triển của
công nghiệp, kéo theo quá trình ĐTH diễn ra
mạnh, hệ thống đô thị của tỉnh phát triển nhanh
trong thời gian qua, nhiều đô thị mới được thành
lập, nâng cấp các đô thị cũ, cơ sở hạ tầng phát
triển mạnh kết nối các địa phương trong tỉnh và
vùng phụ cận, làm cho đất đai của tỉnh chuyển
dịch mạnh và sự chuyển dịch này chủ yếu từ diện
tích đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết tập trung nghiên cứu một số vấn đề liên
quan đến đặc điểm của quá trình ĐTH tỉnh Bình
Dương, phương pháp được tiến hành:
(1) Phương pháp thu thập số liệu tài liệu về
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội từ Cục
Thống kê tỉnh Bình Dương, Tổng Cục
Thống kê Việt Nam; Số liệu biến động đất
đai lấy từ Cục Quản lý đất đai, Sở Tài
Nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương;
Các quyết định của Chính phủ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(2) Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu,
số liệu (từ những thông tin, tài liệu, số liệu
thu thập được của các nhà khoa học, các
nhà nghiên cứu đi trước) tiến hành so sánh,
chọn lọc, phân loại, tổng hợp các số liệu,
tài liệu phù hợp theo mục đích nghiên cứu
3 NỘI DUNG
3.1 Một vài đặc điểm về tỉnh Bình Dương
3.1.1 Vị trí địa lý
Bình Dương nằm trong khu vực trung tâm
VKTTĐPN, nằm ở vị trí chuyển tiếp nối Nam
Trường Sơn với các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu
Long với diện tích tự nhiên 2.694,43 km2, chiếm
11,4% diện tích vùng Đông Nam Bộ, xếp vị trí
thứ 4 trên Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) và
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Phía Nam giáp TP.HCM;
Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước; Phía Đông giáp
tỉnh Đồng Nai; Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và TP.HCM (xem hình 1) Trên địa bàn tỉnh có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia đã được mở rộng, nâng cấp, kết nối các tỉnh trong vùng, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long,
cơ sở hạ tầng hoàn thiện được xem là một lợi thế hết sức thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh (Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Giao thông vận tải, 2014, tr.5)
Hình 1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
- Địa hình và thổ nhưỡng: Tỉnh Bình Dương có
cơ cấu đất khá phong phú, gồm đất phù sa (13.754 ha); đất phèn (3.290 ha); đất xám (113.786 ha); đất đỏ vàng (123.684 ha); đất dốc tụ (2.519 ha) (Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2010) Với ưu thế về vốn đất, tỉnh Bình Dương có nhiều điều kiện trong phát triển nông nghiệp đa dạng, thích hợp trồng nhiều loại cây, trong đó cây công nghiệp chiếm ưu thế vì diện tích loại đất này
Trang 3chiếm tỷ lệ cao nhất Do địa chất nền đất cứng,
độ dốc nhỏ và tương đối bằng phẳng thích hợp
xây dựng công trình công nghiệp và dân dụng,
cơ sở hạ tầng
- Khí hậu: nằm trong khu vực khí hậu cận xích
đạo gió mùa Đông Nam Bộ nóng ẩm, mưa
nhiều, nhiệt độ trung bình năm 26,50C, thường
không chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp
nhiệt đới, lượng ẩm và ánh sáng dồi dào nên
rất thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đặc
biệt là trồng các loại cây công nghiệp lâu năm
và cây ăn quả
- Thủy văn: Bình Dương có 3 con sông lớn
(sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé)
thuộc hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai,
nhiều rạch (rạch Bà Hiệp, rạch Bà Lô ) ở các
địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác, có
giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho sản xuất
nông nghiệp, sinh hoạt, thủy sản, giao thông
vận tải và du lịch
3.1.3 Kinh tế xã hội
Bình Dương là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao, trung bình giai đoạn 2000 - 2015 là 14,2%
(Cục Thống kê tỉnh Bình Dương [CTKBD], 2000;
2005; 2010; 2013; 2015); cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành
công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông
nghiệp Thu nhập bình quân đầu người giai đoạn
này tăng 12,4 lần từ 8,2 triệu lên 101,9 triệu đồng
(CTKBD, 2000; 2015), là tỉnh duy nhất cả nước
không còn hộ nghèo và hộ cận nghèo theo chuẩn
nghèo quốc gia 2016 - 2020
3.2 Vài nét đặc trưng quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Dương
3.2.1 Mở rộng mạng lưới đô thị
Sau khi tái thành lập từ tỉnh Sông Bé năm 1997, tỉnh Bình Dương có nhiều chuyển biến về phát triển đô thị Khi nâng cấp các xã lên thành phường: xã Phú Thọ chuyển thành phường Phú Thọ; xã Phú Hòa chuyển thành phường Phú Hòa;
xã Tân Phước Khánh chuyển thành thị trấn Tân Phước Khánh (Chính phủ Việt Nam [CPVN], 1997), dân số đô thị được bổ sung tỉnh Bình Dương hơn 38.000 người, tỷ lệ đô thị hóa đạt 27% (CTKBD, 2000) Năm 2008, ba xã tiếp tục nâng cấp lên phường là
xã Hiệp An (708,108 ha với 16.377 người), xã Phú Mỹ (1.287,67 ha với 11.345 người), xã Định Hòa (1.425,49 ha với 12.347 người) (CPVN, 2008) Đến năm 2010, dân số đô thị chiếm 31,66% tổng số dân toàn tỉnh, tỷ lệ này tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo (xem bảng 4), đặc biệt từ giai đoạn 2000 - 2011 trở đi, giai đoạn đột biến là 2010 - 2013 do có nhiều sự chuyển biến lớn về mặt tổ chức hành chính (điển hình Thành phố mới Bình Dương được thành lập trên đất của
xã Tân Hiệp - xã Tân Vĩnh Hiệp thuộc huyện Tân Uyên; xã Hòa Lợi thuộc huyện Bến Cát được nâng cấp thành phường Hòa Phú thuộc TP.Thủ Dầu Một (TP.TDM); xã Phú Chánh thuộc huyện Tân Uyên điều chỉnh về TP.TDM (CPVN, 2009) Năm 2011 huyện Dĩ An và huyện Thuận An nâng cấp lên thành thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An) (CPVN, 2011)
Trang 4Hình 2 Bản đồ mật độ dân số
tỉnh Bình Dương năm 2015
Bảng 1 Đơn vị hành chính tỉnh Bình Dương năm 1997, 2015
1997-2015
7 Huyện Bắc Tân
Uyên
10 xã Tách từ huyện Tân
Uyên
8 Huyện Dầu Tiếng 1 thị trấn, 11 xã 1 thị trấn, 11 xã
9 Huyện Phú Giáo 1 thị trấn, 10 xã 1 thị trấn, 10 xã
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Dương, 2000; 2015
Trang 5Năm 2013, huyện Bến Cát tách thành thị xã Bến
Cát và huyện Bàu Bàng, huyện Tân Uyên tách
thành thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên)(
CPVN, 2013)
Như vậy, từ tháng 1 năm 2014 đến nay, tỉnh Bình
Dương có 9 đơn vị hành chính cấp huyện
3.2.2 Sự gia tăng dân số
Sau gần 20 năm tách tỉnh, dân số tỉnh tăng lên
nhanh chóng với tốc độ gia tăng dân số trung bình
hàng năm 11,5 % trong giai đoạn 2000 - 2015 (tính từ bảng 2), trong đó mức gia tăng tự nhiên thấp nhưng gia tăng cơ học cao (xem bảng 2), điều này chứng tỏ dân số tỉnh tăng nhanh chủ yếu
do nhập cư Có nhiều nguyên nhân, trong đó công nghiệp phát triển nhanh, giá đất rẻ hơn TP.HCM
và khoảng cách đến thành phố lớn nhất cả nước này chỉ 30 km nên có sức hút mạnh với dân nhập
cư
Bảng 2 Một số chỉ tiêu dân số tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000 - 2015
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Dương, 2000; 2005; 2010; 2015
Quy mô dân số phân theo cấp huyện năm 2015:
thị xã Thuận An có số dân đông nhất với 476.221
người chiếm 24,5% dân số toàn tỉnh và gấp 4,8
lần dân số huyện Bắc Tân Uyên - huyện có dân số
thấp nhất với 62.481 người chiếm 3,2% dân số
toàn tỉnh (CTKBD, 2015)
3.2.3 Gia tăng mật độ dân số
Mật độ dân số trung bình tỉnh Bình Dương năm
2015 là 722 người/km2, thấp hơn TP.HCM (3.888
người/km2) nhưng cao hơn tỉnh Đồng Nai (492
người/km2) và Bà Rịa - Vũng Tàu (539
người/km2) (xem bảng 3) Vị trí này có sự thay
đổi so với mốc năm 2000 theo thứ tự từ cao xuống thấp là TP.HCM, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai
và Bình Dương Năm 2000, mật độ dân số tỉnh Bình Dương thấp nhất trong tứ giác có kinh tế phát triển nhất của VKTTĐPN nhưng đến năm
2015, Bình Dương có mật độ dân số xếp thứ 2 sau
TP.HCM (xem bảng 3) Với chủ trương “rải thảm
đỏ mời các nhà đầu tư nước ngoài, mời các chuyên gia giỏi trong nước đến Bình Dương đầu
tư vốn và chất xám cho phát triển kinh tế”
(Nguyễn Sinh Cúc, 2004, tr.59) đã thu hút nguồn nhân lực đáng kể cho quá trình phát triển KTXH tỉnh Bình Dương
Bảng 3 Mật độ dân số một số tỉnh trong VKTTĐPN (đơn vị: người/km2)
Nguồn: Tổng Cục Thống kê, 2000; 2015
Mức độ tập trung dân số tại các huyện không
đồng đều, nơi có mật độ dân cư đông nhất là thị
xã Dĩ An với 6.568 người/km2 và thị xã Thuận An
với 5.689 người/km2; thấp nhất là huyện Bắc Tân
Uyên 156 người/km2 (CTKBD, 2015) Dân cư tập
trung chủ yếu vào các huyện có kinh tế phát triển sớm và tốc độ ĐTH nhanh như thị xã Dĩ An, thị
xã Thuận An, TP.TDM (xem hình 2 và hình 3)
Trang 63.2.4 Quy mô dân số đô thị và tỷ lệ dân số đô thị
tăng nhanh
Dân cư đô thị có xu hướng tăng lên rất nhanh
Mức độ tập trung dân cư đô thị tỉnh giai đoạn
2000 - 2010 ít có sự biến động so với trung bình
cả nước (trung bình cả nước trong giai đoạn này
khoảng 28% (tính từ Tổng Cục Thống kê, 2000,
2010)) Tuy nhiên, mức đột biến là giai đoạn 2010
- 2015 tăng hơn gấp 2 lần trước đó, đạt mức gần 75% (xem bảng 4) Ngoài các nguyên nhân nêu trên, sự đột biến tỷ lệ dân cư đô thị giai đoạn này
là do chuyển cư tại chỗ từ dân cư nông thôn thành
dân cư đô thị
3.3 Chuyển dịch đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa
3.3.1 Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Bảng 4 Dân số đô thị và tỷ lệ dân số đô thị tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000 - 2015
Năm Tổng dân số (người) Dân số thành thị Tỷ lệ dân số đô thị (%) (người)
Nguồn: CTKBD, 2000; 2005; 2010; 2013; 2015
Quá trình ĐTH đã làm thay đổi rõ nét mục đích sử
dụng đất, xu hướng chuyển dịch mạnh từ đất nông
nghiệp sang đất chuyên dùng cũng như các hoạt
động phi nông nghiệp khác, nhất là những tỉnh có
công nghiệp phát triển ĐTH cùng với sự phát
triển của công nghiệp, xuất hiện các khu công
nghiệp, các nhà máy xí nghiệp, thu hút lao động
tập trung quanh vùng tạo thành các khu định cư
mới, đồng thời kéo theo sự phát triển của các dịch
vụ (y tế, giáo dục, giao thông vận tải ) Đi cùng với các dự án công nghiệp và hạ tầng xã hội, tỉnh
đã thành lập đô thị mới (Thành phố mới Bình Dương), mở rộng nâng cấp các đô thị hiện có, chuyển các hộ dân từ xã lên phường, nên giai đoạn 2000 - 2015 diện tích đất đai của tỉnh có sự thay đổi rõ rệt (xem bảng 5) Sự thay đổi này tập trung chủ yếu vào đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp
Bảng 5 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000 - 2015
Tổng diện tích tự nhiên (ha) 269.554 269.522 269.443 269.464
(84,7%)
218.659 (81,1%)
208.689 (77,5%)
207.439 (76,98%)
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương, 2000; 2005; 2010; 2015
- Đất nông nghiệp: giảm cả về diện tích và tỷ
trọng trong tổng diện tích tự nhiên Năm 2000,
tỉnh có 228.266 ha đất nông nghiệp chiếm 84,7% diện tích tự nhiên, diện tích này giảm
Trang 7dần qua các năm Đến năm 2015 diện tích này
còn lại 207.439 ha chiếm 76,98% đất tự nhiên
của tỉnh (xem bảng 5)
- Đất phi nông nghiệp: Tăng liên tục trong giai
đoạn 2000 - 2015 Năm 2015 diện tích đất phi
nông nghiệp của tỉnh là 57.133 ha tăng 22.792
ha so với năm 2000 (tăng 1,66 lần) (tính từ
bảng 5) Đất phi nông nghiệp tăng là phù hợp
với xu thế chung hiện nay của các tỉnh có nền
kinh tế năng động, nhu cầu phát triển công
nghiệp nhanh, quá trình ĐTH mạnh Tuy
nhiên, giai đoạn 2010 - 2015, đất phi nông
nghiệp giảm, nguyên nhân tập trung chủ yếu ở
hai loại đất:
• Đất ở: Do cách xác định loại đất theo
hiện trạng sử dụng đất, tại các khu dân cư
đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng nhưng hiện
trạng chậm xây dựng nhà ở thì sẽ được
kiểm kê là đất bằng chưa sử dụng; tại kỳ
kiểm kê đất đai năm 2005, 2010 các khu
dân cư được quy hoạch đều được tính
tổng là đất ở nhưng thực tế trong các khu
dân cư này có rất nhiều loại đất như: đất
cây xanh cách ly, đất xây dựng cơ sở văn
hóa, đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào
tạo, đất thương mại, dịch vụ… Do đó, tại
kỳ kiểm kê đất đai từ năm 2014, diện tích
các loại đất tại các khu dân cư được tính
như hiện trạng nên có sự biến động diện
tích (Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương,
2014)
• Đất chuyên dùng: Nguyên nhân chính do
tỉnh Bình Dương đã xây dựng Trung tâm
hành chính tập trung nên các trụ sở, cơ
quan cấp tỉnh đều chuyển đi nên giảm
diện tích đất trụ sở Bên cạnh đó, có một
số đơn vị được giao đất để xây dựng trụ
sở nhưng hiện nay đang chậm xây dựng
nên không được kiểm kê là đất trụ sở; đất
quốc phòng an ninh chuyển sang mục
đích sử dụng trồng cây hàng năm và cây
lâu năm, (Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương, 2014)
• Đất chưa sử dụng: Giai đoạn 2000 - 2010 nhìn chung giảm theo xu hướng biến động chung của cả nước, tuy nhiên giai đoạn 2010 - 2015 nhóm đất này tăng mạnh trở lại (xem bảng 5) Nguyên nhân
do các khu dân cư, đất đã được giao đất, cho thuê, cho phép chuyển mục đích đã được quy hoạch chi tiết nhưng chậm triển khai thực hiện, hiện trạng còn để trống nên kiểm kê là đất bằng chưa sử dụng (Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương, 2014)
3.3.2 Chuyển mục đích sử dụng trong nội bộ đất nông nghiệp
Sự chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp của tỉnh không chỉ do chuyển đổi sang nhóm đất phi nông nghiệp để phục phụ cho nhu cầu xây khu công nghiệp, nhà ở, cơ sở hạ tầng mà còn có sự chuyển đổi trong nhóm đất nông nghiệp, phù hợp với sự chuyển biến của kinh tế thị trường, xu hướng của toàn cầu hóa
Đối với đất sản xuất nông nghiệp, sự chuyển đổi chủ yếu diễn ra ở đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm Diện tích đất trồng cây hàng năm giảm 35.547 ha từ năm 2000 đến năm 2015,
và chủ yếu chuyển từ cây hàng năm sang trồng cây lâu năm nên diện tích cây lâu năm tăng lên đáng kể, tăng 16.042 ha (xem bảng 6) Diện tích đất có mặt nước nuôi thủy sản giảm, nguyên nhân
do điều kiện thời tiết không thuận lợi, nguồn nước ngày càng ít, san lấp xây dựng các dự án phi nông nghiệp, tình trạng ô nhiễm nguồn nước do hoạt động công nghiệp nên hạn chế người dân tham gia sản xuất Diện tích đất cỏ cho chăn nuôi cũng giảm do tỉnh có ít lợi thế về chăn nuôi động vật ăn
cỏ, khô hạn ngày càng tăng nên diện tích cũng giảm dần
Trang 8Bảng 6 Hiện trạng đất nông nghiệp tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000 - 2015
Năm 2015 so với năm 2000 (+: tăng; -: giảm) Tổng diện tích tự nhiên (ha) 269.554 269.464
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp
(tỷ lệ so với diện tích tự nhiên)
215.475 (79,94%)
195.616 (72,59%) - 19.859
Nguồn: Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bình Dương, 2000; 2015
- Đất lâm nghiệp: Diện tích tăng tập trung đất
rừng sản xuất và đất rừng phòng hộ, đất rừng
đặc dụng không còn nữa do chuyển đổi mục
đích sang đất rừng sản xuất và đất rừng phòng
hộ
- Đất nông nghiệp khác tăng do tăng cường khai
thác từ diện tích đất chưa có mục đích sử
dụng
3.3.3 Biến động diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người giai đoạn 2000 - 2015 giảm còn 1.057
m2/người (giảm hơn 2,75 lần) (xem bảng 7), sẽ tiếp tục thấp hơn trong những năm tới khi mà nhu cầu về đất phi nông nghiệp trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình ĐTH, CNH cùng với đó là sự gia tăng về dân số
Bảng 7 Diện tích bình quân đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
Năm
Dân số (người)
Diện tích đất sxnn (ha) Bình quân đất sxnn (m 2 /người)
Nguồn: Sở Tài nguyên Môi trường Bình Dương và CTKBD, 2000; 2005; 2010; 2015
Trang 93.3.4 Chuyển dịch diện tích đất cấp huyện
Ở cấp huyện giai đoạn 2000 - 2015 do có sự phân
chia lại ranh giới từ 7 đơn vị hành chính thành 9
đơn vị hành chính nên diện tích đất chuyển dịch
khá mạnh:
- Đất sản xuất nông nghiệp: nhìn chung tất cả
các huyện đều giảm, giảm mạnh nhất ở thị xã
Bến Cát và huyện Bàu Bàng (trước cùng thuộc
huyện Bến Cát) giảm 9.090 ha, kế đến là thị xã
Tân Uyên và huyện Tân Uyên (trước cùng
thuộc huyện Tân Uyên) giảm 5.247 ha, giảm ít
nhất huyện Phú Giáo giảm 790 ha, duy chỉ có
huyện Dầu Tiếng là tăng 813 ha (xem bảng 8)
- Đất chuyên dùng: tăng nhanh nhất cũng thuộc
thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng tăng 6.489
ha, và kế đến thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên tăng 5.547 ha (xem bảng 8), do chính sách của tỉnh thúc đẩy phát triển công nghiệp các huyện phía Bắc đi cùng là phát triển hạ tầng giao thông đường bộ nên đất chuyên dùng các nơi này tăng nhanh Chỉ có huyện Dầu Tiếng diện tích đất chuyên dùng giảm do quy hoạch lại và thực hiện chủ trương triển khai thực hiện trồng mới, khoanh nuôi bảo vệ rừng kết hợp du lịch phát triển đàn thú bán hoang dã
Bảng 8 Các loại đất và phân theo huyện giai đoạn 2000- 2015 (đơn vị: ha)
STT
Phân theo
đơn vị cấp
huyện
Đất sxnn
Đất chuyên dùng
Đất ở
Đất lâm nghiệp
Đất sxnn
Đất chuyên dùng
Đất ở
Đất lâm nghiệp
3 H.Bàu Bàng
Uyên
50.466 2.960 819 4.174
7 H.Bắc Tân
Uyên
9 TX Thuận
An
Biến động diện tích các loại đất năm 2015 so với năm 2000 (ha) (dấu +: tăng; dấu -: giảm; sxnn: sản xuất nông nghiệp)
3 H.Bàu Bàng
4 TX.Bến Cát
Trang 105 H.Phú Giáo - 790 + 501 + 92 + 350
6 TX.Tân Uyên
7 H.Tân Uyên
Nguồn: Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bình Dương, 2000; 2015
- Đất ở: Tăng nhiều nhất theo thứ tự thị xã Dĩ
An, đến TP.TDM (tăng 794 ha), đến thị xã
Thuận An (639 ha) Đất ở 3 khu vực này tăng
nhiều do giao thông thuận lợi, tiếp giáp
TP.HCM và nơi có nhiều khu công nghiệp
phát triển sớm và do điều chỉnh địa giới hành
chính.)( CPVN, 2009)
3.4 Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến
chuyển dịch đất nông nghiệp tỉnh Bình
Dương
* Tích cực:
- Thúc đẩy sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế: chuyển dịch phù hợp với xu hướng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng vao trò vừa
là yếu tố bị ảnh hưởng bởi xu hướng chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, vừa là tác nhân thúc đẩy
tác động ảnh hưởng ngược lại xu hướng và tốc
độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các dự án công
nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh tạo điều
kiện thu hút đầu tư, tăng cường năng lực sản
xuất, thông qua đó làm thay đổi cơ bản cơ cấu
kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và nâng
cao thu nhập cho người dân
- Tạo tiền đề phát triển cơ sở hạ tầng xã hội:
ĐTH đi cùng với CNH - HĐH làm tăng kết
cấu hạ tầng KTXH, do đó làm thay đổi nhu
cầu sử dụng đất (chủ yếu đất nông nghiệp) cho
phát triển các dự án công nghiệp, hạ tầng giao
thông, y tế, giáo dục Đặc biệt là hạ tầng giao
thông đường bộ khá đồng bộ, là một trong các
yếu tố góp phần đưa tỉnh trở thành một trong
những tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh (PCI) dẫn đầu nước ta
- Góp phần làm thay đổi diện mạo vùng nông thôn theo hướng ĐTH: phát triển đồng bộ hệ
thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, tăng cường năng lực phục vụ của các công trình phúc lợi
xã hội, góp phần nâng cao dân trí người dân ở
nông thôn
* Hạn chế:
- Việc quy hoạch phát triển công nghiệp, cơ sở
hạ tầng đã lấy đi nhiều diện tích đất nông nghiệp dẫn đến dư thừa lao động nông nghiệp
đã đặt gánh nặng về cơ sở hạ tầng, về sinh kế
cả khu vực nông thôn lẫn đô thị
- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số
địa phương còn gây ra nhiều bất ổn do chính sách đền bù chưa thỏa đáng, tạo ra sự bất công đối với người bị thu hồi đất và hình thành lợi ích nhóm giữa cán bộ liên quan và nhà đầu tư đất
- Việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho lĩnh
vực phi nông nghiệp đang làm gia tăng khoảng cách giàu - nghèo, đặc biệt là các vùng nông nghiệp hóa công nghiệp Nếu quá trình thu hồi đất diễn ra nhanh, người nông dân bị thu hồi đất chưa có điều kiện để tiếp cận với trình độ
kỹ thuật, kinh nghiệm, quan hệ xã hội… để chuyển sang các ngành phi nông nghiệp càng làm gia tăng khoảng cách giàu - nghèo ngay ở khu vực nông thôn do chưa chuẩn bị kỹ về mọi mặt nên một bộ phận những người nông dân bị thu hồi đất bị thất nghiệp hoặc thiếu việc làm Tiền bồi thường hỗ trợ không sử dụng đúng mục đích gây lãng phí, hiệu quả sử dụng thấp, gây xung đột trong nội bộ gia đình, tệ nạn xã hội có nguy cơ phát triển