Chế độ trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước được hiểu trên ba phương diện: Nhận thức lý luận, pháp lý và thực tiễn. Trên phương diện lý luận thể hiện qua việc nhận thức các thuật ngữ, khái niệm, đối tượng, phạm vi áp dụng.
Trang 1BÀN VỀ CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Tóm tắt:
Chế độ trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước được hiểu trên ba phương diện: nhận thức lý luận, pháp lý và thực tiễn Trên phương diện lý luận thể hiện qua việc nhận thức các thuật ngữ, khái niệm, đối tượng, phạm vi áp dụng Trên phương diện pháp lý, thể hiện các nội dung như hình thức trách nhiệm, nguyên tắc xử lý trách nhiệm, các trường hợp loại trừ, miễn giảm, giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm Trên phương diện thực tiễn
đó là việc xác định những khó khăn, thách thức đặt ra đối với việc thực hiện chế độ trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước
Tạ Ngọc Hải*
* TS Viện Khoa học Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ.
Abstract
Responsibility of the head of the administrative agencies
is understood in three aspects: theoretical perception, legal regulations and practical awareness Theoretical aspect is exposed through the perception of concepts, definitions, objects and scope
of application The legal aspect is expressed through the contents such as the responsibilities, principles for handling responsibilities, cases of exclusion, exemption, reduction or aggravation of responsibilities The practical aspect is the determination of the difficulties and challenges for the response of the responsibility of the head of administrative agencies.
Thông tin bài viết:
Từ khóa: người đứng đầu, cơ quan
hành chính nhà nước, trách nhiệm
Lịch sử bài viết:
Nhận bài : 20/09/2018
Biên tập : 10/10/2018
Duyệt bài : 17/10/2018
Article Infomation:
Keywords: the head; administrative
agency; responsibility
Article History:
Received : 20 Sep 2018
Edited : 10 Oct 2018
Approved : 17 Oct 2018
1 Người đứng đầu cơ quan hành chính
nhà nước
Trên phương diện ngôn ngữ, cụm
từ người đứng đầu được sử dụng phổ biến
trong xã hội Tuy nhiên, cho đến nay, chưa
có văn bản chính thức nào định nghĩa cụm
từ này Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng
Phê chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
ấn hành năm 1988; Đại từ điển tiếng Việt do
Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn
hóa Thông tin ấn hành năm 1998; Từ điển
tiếng Việt do Nhà xuất bản Đà Nẵng phối
hợp với Trung tâm Từ điển ấn hành năm
2007 với 45.850 mục từ, đều không có mục
từ người đứng đầu
Trang 2Trên phương diện pháp lý, người
đứng đầu được sử dụng phổ biến trong các
văn bản quy phạm pháp luật Điều 86 Hiến
pháp năm 2013 quy định: “Chủ tịch nước là
người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam về đối nội và
đối ngoại”; Điều 4 Luật Tổ chức Chính phủ
2015 quy định: “Thủ tướng Chính phủ do
Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội
theo đề nghị của Chủ tịch nước Thủ tướng
Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ và
hệ thống hành chính nhà nước”; Nghị định
số157/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của
Chính phủ quy định chế độ trách nhiệm đối
với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn
vị của Nhà nước trong thi hành nhiệm vụ,
công vụ…
Trên phương diện nghiên cứu, “người
đứng đầu cơ quan HCNN được hiểu là những
người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, các
Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân
các cấp”1 Cách hiểu này đồng nhất người
đứng đầu Nhà nước với người đứng đầu cơ
quan HCNN và không đưa ra quan niệm thế
nào là người đứng đầu cơ quan HCNN Có
quan điểm hiểu người đứng đầu theo nghĩa
rộng và nghĩa hẹp “Theo nghĩa hẹp người
đứng đầu là cá nhân có quyền lực trong lãnh
đạo, quản lý và đứng đầu, chỉ huy một đơn
vị hoặc một tổ chức nhất định để thực hiện
mục tiêu lãnh đạo, quản lý đã đề ra Theo
nghĩa rộng, người đứng đầu là chỉ cá nhân
hoặc tập thể có quyền lực nhất định trong
lãnh đạo, quản lý, gánh vác trách nhiệm nhất
định và đứng đầu, chỉ huy một tổ chức hoặc
một đơn vị nhất định để thực hiện mục tiêu
lãnh đạo, quản lý đã đề ra”2 Theo quan điểm
này, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan,
tổ chức HCNN không chỉ là trách nhiệm
cá nhân mà còn là trách nhiệm tập thể vì ở
nghĩa hẹp, người đứng đầu là cá nhân nhưng
ở nghĩa rộng, người đứng đầu là cá nhân
1 PGS.TS Nguyễn Hữu Đổng, TS Phạm Thế Lực, Hoạt động lãnh đạo, quản lý của người đứng đầu cơ quan HCNN ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị online, ngày 24/7/2013.
2 PGS.TS Trịnh Đức Thảo, Báo cáo đề tài khoa học cấp bộ: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN hiện nay - Vấn đề và giải pháp”, Hà Nội, 2010, tr 23.
hoặc tập thể
Chúng tôi cho rằng, khi bàn về khái niệm người đứng đầu cơ quan HCNN, cần lưu ý một số điểm sau đây:
Thứ nhất, nhận thức về người đứng
đầu cơ quan HCNN không đơn thuần chỉ
là câu chữ, từ ngữ mà phải xem đó là chế định pháp luật như các chế định tuyển dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… trong các quy định pháp luật Hoặc cao hơn, đặt chế định pháp luật về người đứng đầu trong thiết chế chính trị - pháp lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan nhà nước theo đó cần và phải được quy định trong văn bản của Đảng, Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật
Thứ hai, người đứng đầu là cá nhân
được bầu cử, bổ nhiệm, phê chuẩn hoặc giao quyền với các tên chức vụ, chức danh khác nhau nhưng có vị trí cao nhất trong cơ quan HCNN
Thứ ba, thực hiện quản lý toàn diện, có
quyền quyết định cao nhất đối với tổ chức, hoạt động của cơ quan do mình đứng đầu và chịu trách nhiệm cá nhân theo quy định của pháp luật đối với người đứng đầu
Ngoài ra, khi đề cập đến người đứng đầu cơ quan HCNN cần phải xem xét thêm một số yếu tố sau: vị trí của người đứng đầu
cơ quan HCNN được Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật quy định (đặc điểm này giúp phân biệt với người đứng đầu tổ chức Đảng, đoàn thể, doanh nghiệp); người đứng đầu cơ quan HCNN hoạt động nhân danh cơ quan do mình đứng đầu và nhân danh Nhà nước; địa vị pháp lý của người đứng đầu cơ quan HCNN chịu
sự chi phối theo thứ bậc của hệ thống hành chính; người đứng đầu cơ quan HCNN thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý đối với cơ quan do mình đứng đầu
Trang 32 Trách nhiệm người đứng đầu cơ quan
hành chính nhà nước
Trong từ điển tiếng Việt, trách nhiệm
được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, là phải
làm tròn phần việc được giao nếu không
phải gánh chịu hậu quả; thứ hai, sự ràng
buộc đối với lời nói hoặc hành vi của người
thực hiện nếu sai trái thì phải chịu hậu quả
Ngoài quan niệm này, còn có những quan
niệm khác về trách nhiệm như: trách nhiệm
là yếu tố không thể thiếu trong quản lý công,
quản trị nhà nước3; trách nhiệm là hậu quả
bất lợi mà người đứng đầu phải gánh chịu
khi không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng quyền, nghĩa vụ được giao4 Cách hiểu
này coi tránh nhiệm là biện pháp mà Nhà
nước áp dụng đối với người có vi phạm
(trách nhiệm pháp lý hành chính, dân sự,
hình sự)
Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày
27/10/2007 của Chính phủ sử dụng thuật
ngữ “chế độ trách nhiệm’ khi đề cập đến
trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan
hành chính Theo đó, “Chế độ trách nhiệm
đối với người đứng đầu, cấp phó của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà
nước là toàn bộ các quy định về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền được
Nhà nước giao cho người đứng đầu, cấp phó
của người đứng đầu; trường hợp vi phạm sẽ
bị xử lý theo quy định“ (khoản 2 Điều 3)
Từ những dẫn liệu nêu trên, có thể
hiểu, trách nhiệm của người đứng đầu cơ
quan HCNN là trách nhiệm cá nhân người
đứng đầu cơ quan trong việc thực hiện những
việc phải làm, được làm, cần làm, nên làm
và phải chịu hậu quả khi không thực hiện
đúng, đủ trách nhiệm trên cơ sở quy định
pháp luật tương thích với quy mô, tính chất,
phạm vi của cơ quan trong hệ thống HCNN
Nội dung trách nhiệm người đứng
3 Nguyễn Thị Hồng Hải, Một số vấn đề cần quan tâm nhằm nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong công vụ, Nội san Khoa học tổ chức và Quản lý nhân sự số 14 tháng 7/2017, tr 4-8.
4 TS Nguyễn Minh Phú, Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN - Tạp chí Tổ chức Nhà nước tháng 6/2018.
đầu cơ quan, tổ chức HCNN thể hiện trên một số phương diện sau:
- Trách nhiệm trong việc sử dụng các nguồn lực đầu vào Theo đó, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức HCNN đối với nguồn lực đầu vào là: quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức; quản lý sử dụng tài chính công; quản lý sử dụng tài sản công và quản lý, sử dụng thông tin
- Trách nhiệm trong việc thực hiện lãnh đạo, quản lý Hoạt động lãnh đạo, quản
lý thể hiện trên các mặt như: lập, thực hiện, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch công tác của cơ quan Theo đó tùy theo phạm vi, tính chất của cơ quan HCNN, người đứng đầu chỉ đạo lập, điều chỉnh kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch
- Trách nhiệm đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan được giao lãnh đạo, quản lý Mỗi cơ quan hành chính đều được thành lập và thực hiện những nhiệm vụ theo quy định Ngoài các nhiệm vụ thường xuyên theo quy định còn có các nhiệm vụ đột xuất Trách nhiệm người đứng đầu cơ quan HCNN đối với kết quả thực hiện nhiệm
vụ của cơ quan được giao lãnh đạo, quản lý: đảm bảo thời gian, tiến độ, chất lượng, hiệu quả công việc
Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan HCNN bao hàm những nội dung sau:
- Nguyên tắc xử lý trách nhiệm (xác định trách nhiệm theo hình thức nào xử lý trách nhiệm theo hình thức đó; chế tài áp dụng tương thích với mức độ vi phạm; việc
áp dụng chế tài đối với mỗi trường hợp cụ thể phải căn cứ theo nguyên tắc xác định trách nhiệm; mỗi hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một hình thức…)
- Các hình thức trách nhiệm cụ thể:
Trang 4trách nhiệm chính trị (bất tín nhiệm, từ
chức); trách nhiệm pháp lý (hành chính, dân
sự, vật chất, hình sự)
- Các trường hợp được loại trừ, miễn
giảm, giảm nhẹ hoặc tăng nặng hình thức
xử lý trách nhiệm (ví dụ: khi phát hiện các
sai phạm đã kịp thời áp dụng các biện pháp
ngăn chặn, khắc phục hậu quả…)
Có thể mô hình hóa trách nhiệm của
người đứng đầu cơ quan HCNN qua sơ đồ
sau đây:
3 Những khó khăn, thách thức đối với
việc thực hiện trách nhiệm người đứng
đầu cơ quan hành chính nhà nước
3.1 Trên phương diện nhận thức
Hiện nay, trên phương diện nhận thức
chưa có sự thống nhất về quan niệm, phạm
vi, chế tài và cách thức áp dụng chế độ trách
nhiệm người đứng đầu và người đứng đầu
cơ quan, tổ chức HCNN Nhận thức chưa
đầy đủ, thiếu đồng thuận sẽ không tạo được
sự thống nhất trong hành động để đạt được
kết quả tốt nhất, hiệu quả cao Đấy là khó
khăn, thách thức đầu tiên cần tính đến
3.2 Trên phương diện pháp luật
Các quy định về chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu và người đứng đầu
cơ quan HCNN còn không thống nhất, thiếu đồng bộ, hiệu lực pháp lý của văn bản quy định về chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN không cao
3.3 Trên phương diện thực tiễn
Những trường hợp vi phạm đã bị xử lý trong thời gian qua cho thấy, diễn biến thực
tế khá phức tạp Các vi phạm có ở nhiều cơ
quan HCNN ở trung ương và địa phương với quy mô, tính chất khác nhau, đối tượng
vi phạm đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo, quản
lý khác nhau Điểm đáng chú ý là số lượng
vụ việc người đứng đầu cơ quan HCNN bị
xử lý kỷ luật năm sau nhiều hơn năm trước Những hạn chế, bất cập nêu trên đòi hỏi chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tốt hơn nữa Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi
sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ■
TRÁCH NHIỆM NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
NGUYÊN TẮC XỬ LÝ HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM Chính trị ‐ Đạo đức ‐ Pháp lý Loại trừ, miễn giảm, giảm nhẹ hoặc CÁC TRƯỜNG HỢP
tăng nặng
NGUỒN QUY ĐỊNH
Văn bản của Đảng ‐ Văn Bản QPPL ‐ Văn bản của cơ quan, tổ chức