Luận án thực hiện nghiên cứu với mục đích là hình thành kĩ năng thiết kế công nghệ bài hóa học nghiên cứu tài liệu mới bằng bài toán tình huống mô phỏng, biên soạn theo tiếp cận môđun, cho sinh viên hóa đại học sư phạm sử dụng như tài liệu giáo khoa tự học - cá thể. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI I
Đặng Thị Oanh
DÙNG BÀI TOÁN TÌNH HUỐNG MÔ PHỎNG RÈN LUYỆN
KĨ NĂNG THIẾT KẾ CÔNG NGHỆ BÀI NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU MỚI CHO SINH VIÊN KHOA HÓA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Mã số: 5.07.02
LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SĨ KHOA HỌC SƯ PHẠM – TÂM LÍ
Người hướng dẫn khoa học:
GS.PTS NGUYỄN NGỌC QUANG PTS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
HÀ NỘI - 1995
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
§1 ĐẶT VẤN ĐỀ: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
§2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 5
§6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
CHƯƠNG I 11
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA TIẾP CẬN BÀI TOÁN TÌNH HUỐNG MÔ PHỎNG ĐỂ HÌNH THÀNH KĨ NĂNG NGHỀ DẠY HỌC 11
Đặt vấn đề 11
§1 Cấu trúc chức năng của nghề dạy học 13
$2- Cấu trúc của bài học hóa học 19
2-1- Khái niệm bài học 19
2-2- Phân loại bài học 19
2-3- Qui luật cơ bản chi phối cấu trúc của bài học 20
2-4- Cấu trúc các bước công nghệ của bài học nghiên cứu tài liệu mới (Kiểu I 2-5- Qui trình thiết kế công nghệ bài học nghiên cứu tài liệu mới 23
$3 Tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại 27
3-1- Đôi chút lịch sử 27
3-2- Thế nào là công nghê dạy học hiện đại 28
3-3- Hệ dạy học "tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn" 29
$4 Biên soạn nội dung dạy học theo tiếp cận mô đun 30
4-1- Khái niệm môđun dạy học 31
4-2- Những đặc trưng cơ bản của một môđun dạy học 31
4-3- Cấu trúc của môđun dạy học 32
Trang 4$5 Xây dựng hệ thống bài toán tình huống mô phỏng 35
5.1 Tình huống mô phỏng hành vi 35
5.2- Bài toán tình huống mô phỏng hành vi là gì? 37
5.3 Algorit của quá trình biến tình huống nghề thành bài toán tình huống mô phỏng [67] 39
Kết luận chương I 41
CHƯƠNG II 44
HỆ THỐNG KĨ NĂNG THIẾT KẾ CÔNG NGHỆ BÀI HOÁ HỌC NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU MỚI 44
Đặt vấn đề: 44
$1 Hệ thống kỹ năng thiết kế công nghệ bài học 45
$2 Chiến lược huấn luyện kỹ năng thiết kế công nghệ bài học 46
2.1- Huấn luyện theo lôgic phân tích từng phần 46
2-2 Huấn luyện theo lôgic phát triển liên hoàn 47
2-3- Chiến lược huấn luyện quyết định chiến lược soạn tài liệu giáo khoa 48
HỆ THỐNG CÁC BÀI TOÁN TÌNH HUỐNG MÔ PHỎNG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG THIẾT KẾ CÔNG NGHỆ BÀI HÓA HỌC NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU MỚI CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM 49
Mở đầu 51
I Mục tiêu 52
II Nội dung: 52
Cách thức thứ nhất: Biên soạn theo lôgic phân tích từng phần (Môđun I) 52
Trang 5Cách thức thứ hai:Biên soạn theo logic phát triển tuyến tính (Môđun II) 53
III- Mã số của môđun 54
IV Cách học theo môđun 54
TEST VÀO 55
RÈN KĨ NĂNG XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC 57
I/ M ục ti êu 57
II/ Giới thiệu nội dung 57
III/ Bài tập 57
TEST TRUNG GIAN 60
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI 60
RÈN KĨ NĂNG THIẾT KẾ GRAP NỘI DUNG CỦA BÀI HỌC 63
II) Giới thiệu nội dung 63
III Bài tập 63
TEST TRUNG GIAN 66
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI 66
RÈN KỸ NĂNG THIẾT KẾ CÁC BƯỚC LÝ LUẬN DẠY HỌC CỦA BÀI HỌC (CHIA CÔNG ĐOẠN) 71
I Mục tiêu 71
II Giới thiệu nội dung 71
III Bài tập 71
TEST TRUNG GIAN 73
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI 73
Trang 6RÈN KỸ NĂNG THIẾT KẾ CẤU TRÚC PHƯƠNG PHÁP CỦA BÀI HỌC 78
I Mục tiêu 78
II Giới thiệu nội dung 78
III Bài tập 79
TEST TRUNG GIAN 81
HUỚNG DẪN TRẢ LỜI 82
RÈN KỸ NĂNG THIẾT KẾ CẤU TRÚC TOÀN VẸN CỦA BÀI HỌC (HOÀN THIỆN GIÁO ÁN) 90
I Mục tiêu 90
II Giới thiệu nội dung 90
III Bài tập 90
TEST TRUNG GIAN 91
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI 93
TEST KẾT THÚC 99
KẾT LUẬN 101
CHƯƠNG III 103
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 103
§1 Mục đích thực nghiệm 103
§2 Phương pháp nghiên cứu 104
2.1 Chọn những bài soạn thực nghiêm thích hợp với yêu cầu của đề tài: 104
2.2 Chọn đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm 105
2.3 Tổ chức điều tra, phỏng vấn giáo viên, sinh viên 106
§3 Nội dung thực nghiệm 107
3.1 Biên soạn nội dung thực nghiệm 107
3.2 Cách tiến hành thực nghiệm 107
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sự phạm 110
Trang 7Bước 1: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu về nội dung đánh giá và tiêu chí đánh giá (đánh giá
"Cái gì" và cho "điểm số" như thế nào) tương ứng với mục tiêu đề ra đã được cụ
thể hóa đến chi tiết 110
Bước 2: Thiết kế công cụ đánh giá và kế hoạch sử dụng 115
l) Công cụ đánh giá: 115
2) Kế hoạch sử dụng: 117
Bước 3 và 4: Thu thập, xử lí số liệu Phân tích,nhận xét : 118
3.3.1 Đánh giá kết quả về mặt định lượng 119
1- Thống kê kết quả tổng hợp 119
2) Đường Lũy tích so sánh kết quả kiểm tra: Để có thể rút ra được những nhận xét chính xác, đầy đủ lên chúng tôi so sánh tình hình chất lượng của sinh viên trước khi thực nghiệm và sau khi thực nghiệm bằng đường lũy tích ứng với các kết quả nêu trong bảng III.11, III.12, 128
3.3 2 Phân tích kết quả về mặt định tính 143
KẾT LUẬN CHUNG 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 8LỜI CÁM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc giáo sư Nguyễn Ngọc Quang về sự hướng dẫn quí báu trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện luận án, giáo sư Nguyễn Cương và Phó tiến sĩ Nguyễn Xuân Trường về việc tham gia hướng dẫn, góp ý và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực nghiệm và hòan thiện luận án
Tôi xin chân thành cám ơn Phó giáo sư, Phó tiến sĩ Nguyễn Đình Am, Phó giáo
sư Nguyễn Hữu Dũng, Phó tiến sĩ Trần Anh Dũng, Gs.Tiến sĩ Hoàng Trọng Yêm, GS Đặng Vũ Hoạt, PTS Nguyễn Thị Sửu, PTS Phạm Tư, PTS Lê Xuân Trọng đã nhận xét bản thảo và cho những gợi ý quý báu trong quá trình hoàn thiện luận án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu, Ban Chủ nghiệm Khoa Hoá, Phòng Quản lý khoa học trường Đai học Sư phạm Hà Nội I
Tôi xin chân thành cám ơn tất cả các thầy, cô, các anh chị trong tổ Bộ môn Phương pháp giảng dạy khoa Hoá, trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (nơi tôi làm viêc)
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có điều kiện nghiên cứu và đã có nhiều ý kiến đóng góp qui báu cho quá trình hoàn thiện luận án
Cuối cùng tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè, anh chị em, sinh viên đã động viên, giúp đỗ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án này
Hà Nội ngày 16-12-1994
Trang 9Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: "Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp bậc học, kết hợp tốt học và hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo năng lực giải quyết vấn đề
Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ,
Trang 10nghiên cứu những vấn đề về khoa học giáo dục, phục vụ cho mục tiêu phát triển và sự
Trường đại học sư phạm là nơi đào tạo những người giáo viên tương lai có đầy
đủ những phẩm chất nhân cách, năng lực và những kĩ năng nghề nghiệp Các phẩm chất này đảm bảo cho sinh viên khi tốt nghiệp về công tác ở trường trung học có thể thực hiện suốt cuộc đời nghề nghiệp của họ
Các bậc tiền bối đã từng dạy chúng ta: "nhất nghệ tinh nhất thân vinh" - Chính
vì vậy việc đào tạo nghề nghiệp trong các trường sư phạm là một mục tiêu quan trọng hàng đầu Trong đó vấn đề rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp giảng dạy -giáo dục cho sinh viên là cốt yếu và cũng là công việc khó khăn phức tạp nhất
(2) Bây giờ ta hãy đánh giá thực trạng của việc đào tạo nghề dạy học ở trường sư
phạm
a) Trước hết về mặt đào tạo lí thuyết, các giáo trình tâm lí học, giáo dục học, phương pháp giảng dạy bộ môn còn ít được cải tiến, chưa phán ánh được những thành tựu hiện đại của khoa học giáo dục thế giới trong những thập kỉ gần đây Chúng chỉ nhằm trang bị cho giáo sinh những kiến thức thuần túy lí thuyết, ít gắn bó với thực tiễn trường trung học, không được kèm theo luyện tập, thực hành sư phạm
Trang 11Tính hàn lâm của cách đạo tạo đó chỉ có thể giúp sinh viên tái hiện lí thuyết trong các bài thi, chứ không phải trong thực hành
b) Về mặt đào tạo thực hành, kiến tập và thực tập sư phạm trở thành những biện pháp và cơ hội duy nhất Chúng được tiến hành gần như tách rời với lí luận, vì khi học
lí luận dạy học - giáo dục không có luyện tập để vận dụng lí thuyết vào các tình huống dạy học - giáo dục Nói cách khác, giữa lí thuyết và thực tập sư phạm có một khoảng trống: thiếu sự luyện tập tay nghề ngay khi nghiên cứu lí thuyết Hơn nữa thời lượng dành cho kiến tập và thực tập sư phạm lại hết sức ít ỏi so với tính chất phức tạp và yêu cầu rất cao của việc rèn luyện kĩ năng nghề ("tay nghề") Chưa nói đến những khó khăn
vô cùng to lớn của việc tổ chức những đợt đi kiến tập và thực tập sư phạm cho giáo sinh đến các trường phổ thông Nhiều khi, chỉ vì những khó khăn khách quan này (cả từ hai phía: trường sư phạm và trường phổ thông), mà hình thức tổ chức đào tạo quan trọng này biến thành chủ nghĩa hình thức, đưa lại những kết quả không đáng hài lòng cho giáo sinh
c) Một nhược điểm nữa của cách đào tạo hiện nay ở trường sư phạm là việc đề cao quá đáng vai trò của diễn giảng lí thuyết, coi nhẹ tự học, đó là việc sinh viên không được rèn luyện kĩ năng nghiên cứu khoa học về lí luận dạy học hóa học Người giáo viên giỏi trong tương lai sau khi tốt nghiệp không những phải dạy tốt mà còn có kĩ năng tự bồi dưỡng và kĩ năng nghiên cứu khoa học về nghề dạy học hóa học
(3) Trong lúc đó, yêu cầu của xã hội Việt Nam trong thời kì
Trang 12đổi mới theo cơ chế thị trường và định hướng XHCN đòi hỏi chất lượng cao đối với công tác đào tạo giáo viên Không những thế, xu hướng hòa nhập với thế giới buộc nền giáo dục của chúng ta phải vận dụng tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại
Thay vì dạy học theo mô hình mà diễn giang vẫn giữ vai trò chủ đạo như hiện nay chúng ta đang tìm cách thiết kế những hệ dạy học mới theo cơ chế tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn được đánh giá theo tín chỉ Hệ dạy học mới này, hướng vào người học, tổ chức cho người học tự học cá thể hóa cao độ bằng tài liệu giáo khoa được biên soạn theo tiếp cận mô đun, chứa đựng sự huớng dẫn bằng ngôn ngữ lí luận dạy học Như vậy người học tuy tự học nhưng vẫn chịu sự điều khiển có kế hoạch của người dạy
mà vẫn có thể tiến lên theo nhịp độ cá nhân
(4) Đó là tư tưởng hiện đại của công nghệ dạy học mà chúng tôi vận dụng vào quá trình đào tạo kĩ năng nghề dạy học môn hóa học cho sinh viên đai học sư phạm, gắn bó với quá trình giảng dạy môn lí luận dạy học hóa học
Kĩ năng nghề dạy học là một khái niệm rộng và phức tạp Đã có nhiều tác giả đưa ra nhiều lí giải về khái niệm này trên thế giới và trong nước
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, nghe dạy học có chức năng cơ bản: thiết kế, thi công, kiểm tra, đánh giá giao tiếp và tự bồi dưõng (trong luận án sẽ trình bày chi tiết) Do đó nghề dạy học cũng có năm nhóm kĩ năng như vậy Kĩ năng thiết kế công
nghệ bài lên lớp (soạn giáo án) là một
Trang 13trong những kĩ năng cơ bản, thiết yếu và có tính chất quyết định đối với chất lượng dạy học của người giáo viên tương lai, kể từ lúc mới bước chân vào nghề cho đến hết cuộc đời dạy học của họ Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã chọn đề tài của luận án có nội dung vận dụng tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại vào việc rèn luyện kĩ năng thiết kế công nghệ bài lên lớp nghiên cứu tài liệu mới về hóa học cho sinh viên khoa Hóa trường đại học sư phạm bằng bài toán tình huống mô phỏng, chứa đựng trong tài liệu giáo khoa biên soạn theo tiếp cận mô đun
Đề tài luận án được phát biểu như sau:
"Dùng bài toán tình huống mô phỏng, rèn luyện kĩ năng thiết kế công nghệ bài nghiên cứu tài liệu mới cho sinh viên khoa Hóa đại học sư phạm"
§2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống bài toán tình huống mô phỏng đó được biên soạn thành tài liệu giáo khoa mô đun hóa; mô đun dạy học là một
Trang 14cách tổ chức nội dung dạy học thích hợp tốt nhất với hệ tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn của công nghệ dạy học hiện đại
Tóm lại, mục đích của luận án là “Hình thành kĩ năng thiết kế công nghệ bài hóa học nghiên cứu tài liệu mới” bằng bài toán tình huống mô phỏng, biên soạn theo
tiếp cận môđun, cho sinh viên hóa đại học sư phạm sử dụng như tài liệu giáo khoa tự học - cá thể
Để thực hiện được mục đích nói trên, đề tài phải hoàn thành những nhiệm vụ chủ yếu sau đây
2.2 Những nhiệm vụ chủ yếu của đề tài:
Nhiệm vụ 1: Nếu được hệ thống những kĩ năng thiết kế công nghệ bài hóa học nghiên cứu tài liệu mới theo chương trình hóa học hiện dùng Hệ thống kĩ năng này cần hình thành cho sinh viên là nội dung cốt lõi, đồng thời là mục đích cuối cùng của luận
án Muốn thế, chúng tôi phải xuất phát từ hai cơ sở lí luận sau:
a) Dựa vào cấu trúc 5 nhóm chức năng của nghề giáo viên, lựa chọn nhóm đầu tiên: nhóm kĩ năng thiết kế bài học;
b) Căn cứ vào lí thuyết bài học của lí luận dạy học; xác định qui trình thiết kế công nghệ bài học;
c) Từ hai điểm xuất phát đó, kết hợp lại thành hệ thống kĩ năng cơ bản về thiết
kế công nghệ bài hóa học nghiên cứu tài liệu mới
Nhiệm vụ 2: Biên soạn hệ thống những bài toán tình huống mô phỏng việc thiết
kế công nghệ bài hóa học nghiên cứu tài liệu mới của người giáo viên hóa học
Trang 15Thực chất, đây là việc biến tình huống mô phỏng việc soạn giáo án bài hóa học kiểu I thành những bài toán để sinh viên tự học, tự giải đưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy
Nhiệm vụ 3: Hệ thống những bài toán tình huống mô phỏng nói trên được biên soạn theo tiếp cận mô đun về được dùng làm tài liệu giáo khoa cho sinh viên tự học - cá thể hóa Nó chứa đựng cả mục đích, nội dung, những chỉ dẫn về phương pháp tự học,
tự kiểm tra - đánh giá- Như vậy, tài liệu giáo khoa tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn
được mô đun hóa này sẽ là nguồn thông tin xuất phát (chứ không phải là bài diễn giảng của cán bộ giảng dạy) Nó sẽ được tổng kết, bổ sung và đề cao bài diễn giảng
Nhiệm vụ 4: Tiến hành thực nghiệm sư phạm tổ chức cho sinh viên tự học - cá
thể hóa có hướng dẫn theo tài liệu giáo khoa (mô đun hóa) nói trên nhằm rèn luyện kĩ năng thiết kế công nghệ bài hóa học nghiên cứu tài liệu mới (kĩ năng soạn giáo án bài học kiểu I)
Nhiệm vu 5: Đánh giá hiệu quả của tiếp cận mới về mặt đào tạo kĩ năng nghe
cho sinh viên, cụ thể là kĩ năng thiết kế công nghệ bài hóa học nghiên cứu tài liệu mới
Những điều trình bày trên đây cũng đồng thời là phạm vi giới hạn của luận án
và là những nét mới của đề tài
§3 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Quá trình đào tạo sinh viên khoa Hóa đại học sư phạm về lí luận dạy học, trong
đó có hệ thống kĩ năng nghề dạy học môn hóa học ở trường phổ thông trung học
Trang 16§4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Rèn luyện kĩ năng thiết kế bài hóa học nghiên cứu tài liệu mới ở trường phổ thông trung học
§5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Theo lí luận dạy học công tác, hiệu quả và chất lượng dạy học chỉ có thể được bảo đảm ở mức cao khi tổ chức được sự học tập có trình độ cao của tự học - cá thể hóa
- có hướng dẫn theo tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại
Đặt biệt hơn nữa, trong việc đào tạo nghề ở trường sư phạm, hiệu quả và chất lượng dạy học của người giáo viên tương lai phụ thuộc môt cách quyết định vào kĩ năng tự học tự rèn luyện "tay nghề" ngay trong quá trình được đào tạo ở trường sư phạm, khi còn là sinh viên
Vì thế, tiếp cận dạy học trò chơi mô phỏng, cụ thể là sử dụng bài toán tình huống mô phỏng nghề dạy học, là phương pháp dạy học hiệu nghiệm nhất hiện nay để thực hiện mục tiêu nói trên ở trường đại học sư phạm, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn dạy học
Hơn nữa, với tư cách một phẩm chất quan trọng của nhân cách giáo viên, kĩ năng tự lực thiết kế công nghệ bài học sẽ giúp hình thành ở người sinh viên năng lực tự giải quyết những vấn đề dạy học, rộng hơn nữa, đó là năng lực tự bồi dưỡng - nghiên cứu khoa học để nâng cao chất lượng nghề dạy học của bản thân, khi họ bước vào giảng dạy ở trường phổ thông
Trang 17§6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong đề tài này chúng tôi đã sử dụng một loạt những phương pháp khoa học sau
Trước hết sử dụng tiếp cận hệ thống để tìm hiểu cấu trúc, chức năng cơ bản của nghề giáo viên nói chung, lựa chọn nhóm chức năng đầu tiên: nhóm thiết kế bài học
Đồng thời căn cứ vào lí thuyết bài học của lí luận dạy học, xác định qui trình algorit của việc thiết kế công nghệ bài nghiên cứu tài liệu mới, áp dụng cụ thể vào môn hóa học
3) Vận dụng một biến dạng của tiếp cận "Trò chơi mô phỏng" (tức là bài toán tình huống mô phỏng) vào việc chuyển hóa tình huống nghề dạy học (ở đây là tình huống sọan giáo án) thành bài toán tình huống mô phỏng việc sọan giáo án Hệ thống bài toán tình huống mô phỏng này sẽ là nội dung và phương pháp dạy học chủ yếu cho sinh viên
4) Dùng tiếp cận mô đun để biên soạn tài liệu giáo khoa: "Hệ thống các bài toán tình huống mô phỏng" và cho sinh viên sử dụng theo phương pháp tự học - cá thể hóa -
có hướng dẫn
5) Thông qua thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của phương pháp này 6) Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác như: điều tra, phỏng vấn, xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học.v.v…
§7- TÍNH MỚI MẺ CỦA ĐỀ TÀI
Luận án vận dụng những tiếp cận mới cụ thể là:
1) Nghiên cứu cấu trúc những chức năng của nghề dạy học (tức là hệ thống những chức năng của nghề dạy học) qua các tác
Trang 18giả trong ngoài nước
Chọn đi sâu một chức năng bộ phận - chức năng thiết kế nội dung bài học (soạn giáo án) và chỉ đi sâu vào bài học nghiên cứu tài liệu mới (môn hóa học phổ thông cơ
4) Dùng tiếp cận mô đun biên soạn hệ thống những bài toán tình huống mô phỏng đó thành tài liệu giáo khoa
5) Sử dụng tài liệu giáo khoa này để tổ chức cho sinh viên "tự học - có hướng dẫn"
Trang 19CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA TIẾP CẬN BÀI TOÁN TÌNH HUỐNG
MÔ PHỎNG ĐỂ HÌNH THÀNH KĨ NĂNG NGHỀ DẠY HỌC
Đặt vấn đề
Để thực hiện được mục tiêu hình thành kĩ năng nghề dạy học cho sinh viên đại học sư phạm (người đang "học nghề" chứ chưa "hành nghề"), cần thiết phải dựa trên những cơ sở lí thuyết nào và theo trình tự logic nào? Đó là những câu hỏi cơ bản của luận án mà lời đáp chính là nền tảng khoa học của công trình
(1) Trước hết, muốn hình thành kĩ năng nghề dạy học, cần hiểu biết cấu trúc của nghề đó về mặt chức năng Chúng tôi đã tham khảo các công trình nghiên cứu của một
số tác giả về vấn đề này và đã lựa chọn một phướng án làm cơ sở Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, nghề giáo viên gồm 5 nhóm chức năng Chúng tôi đã chọn nhóm chức năng đầu tiên: thiết kế công nghệ dạy học cho bài học cấu trúc nghề dạy học là cơ
sở lý thuyết đầu tiên của luận án
(2) Đồng thời, vì trong nhóm chức năng đầu tiên này, người giáo viên phải có những hiểu biết sâu sắc về bài học thì mới thiết kế được công nghệ của bài học hóa học
Do đó cơ sở khoa học thứ hai của luận án là lí thuyết về bài học Sự phân loại về bài học của nhiều tác giả hiện đại đều chú ý đến bài học kiểu I: bài nghiên cứu tài liệu mới Chúng
Trang 20tôi đã hạn chế phạm vi nghiên cứu ở việc hoàn thành kĩ năng thiết kế công nghệ bài học kiểu I (nghiên cứu tài liệu mới)
Dựa vào lí thuyết về bài học, chúng tôi xác định cụ thể qui trình algorit thiết kế công nghệ dạy học bài nghiên cứu tài liệu mới về hóa học Nói cách khác, chúng tôi đã xác định qui trình các bước của việc soạn giáo án bài hóa học kiểu I
(3) Qui trình thiết kế công nghệ bài học đã giúp chúng tôi vạch ra được cấu trúc của hệ thống những chức năng soạn giáo án cho một bài kiểu I Đó là xác định mục tiêu của bài (M) xây dựng grap nội dung ( N), phân chia các bước lí luận dạy học của bài, chọn phương pháp dạy học (Pdh) từng bước và cho toàn bài, xác lập tiêu chí và cách đánh giá hiệu quả (K) của bài v.v
(4) Để thiết lập được một hệ dạy học mới " tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn" (theo tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại) thay cho cách đào tạo dựa vào diễn giảng của thầy là chủ yếu, chúng tôi đã chọn tiếp cận trò chơi mô phỏng để chuyển hóa những tình huống thực của nghe dạy học thành những bài toán tình huống mô phỏng
(5) Cuối cùng, để phục vụ cho hệ dạy học nói trên, chúng tôi biên soạn theo tiếp cận mô đun hệ thống bài toán tình huống mô phỏng cho qui trình thiết kế công nghệ bài kiểu I Đây là tài liệu giáo khoa dùng cho sinh viên tự học Trong chương I chúng tôi sẽ lần lượt trình bày những cở sở khoa học nói trên của luận án
Trang 21§1 Cấu trúc chức năng của nghề dạy học
Cũng như mọi nghề khác nghề dạy học là một loại hoạt động lao động đòi hỏi
ở người làm nghề đó những kiến thức kĩ năng, kĩ xảo chung và thuộc chuyên môn hẹp, xác định, mà họ thu lượm được trong quá trình học tập ở trường phổ thông, chuyên nghiệp và bằng con đường công tác thực hành
Quá trình đào tạo người giáo viên tương lai có thể trở nên hợp lý hơn, có hiệu quả hơn nếu quá trình đào tạo đó dựa trên cơ sở một hệ thống bắt nguồn từ cầu trúc của hoạt động, nghĩa là hệ thống kiến thức kĩ năng, kĩ xảo về phương pháp nghề nghiệp Việc nắm vững hệ thống đó đối với mỗi người sinh viên sẽ trở thành nấc thang quan trọng trên con đường tiến tới tinh thông nghề nghiệp, sự lành nghề [10] vì vậy nghiên cứu cấu trúc chức năng của nghề dạy học của người giáo viên là rất cơ bản
Hoạt động nghề của giáo viên rất phức tạp, nó bao gồm hai lĩnh vực lớn gắn bó hữu cơ với nhau: giảng dạy và giáo dục, ở trên lớp, ngoài giờ và trong xã hội Nếu chỉ xét riêng hoạt động dạy trên lớp ta cũng thấy tính phức tạp của nó: biên soạn giáo án, lên lớp giảng dạy, tổ chức và giám sát việc học ở nhà của học sinh, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Như vậy hoạt động dạy được coi là hoạt động cơ bản chủ đạo của người giáo viên
Dưới ánh sáng của tiếp cận hệ thống, ta thấy hoạt động dạy của giáo viên được coi như là một hệ toàn vẹn mà "Bất cứ hoạt động nào cũng có một hay nhiều chức năng Chức năng của một hệ là hình thức hay cách thức biểu hiện sự hoạt động của
Trang 22hệ đó, là hành vi có mục đích và là kết quả hoạt động của chính hệ đó" [62]
Hoạt động dạy có những chức năng cơ bản gì?
Có hai loạitiếp cận phương pháp luận áp dụng vào việc nghiên cứu hoạt động dạy: tiếp cận dùng mô hình lí thuyết và tiếp cận qui nạp hoặc tiếp cận Bacon
Tiếp cận dùng mô hình lí thuyết: Căn cứ vào lí thuyết làm cơ sở, người ta xác định hệ thống phân loạinhững hành vi của thầy, trò trong lớp, ở trường và phát hiện ra những mối liên hệ tồn tại giữa các phạm trù (biến số) của hệ phân loại đó Từ đó khái quát hóa những hành vi có tính đại diện cho tổ hợp những hành vi, sau đó kiểm nghiệm những khái quát hóa để xác nhận cái đúng và loại trừ cái sai
Tiếp cận qui nạp hoặc tiếp cận Bacon: Quan sát hành vi của giáo viên, ghi chép, phân loại, lí giải rồi từ đó đi tới những khái quát hóa lí thuyết, đưa ra giả thuyết Sau đó kiểm nghiệm giả thuyết bằng những quan sát tiếp theo Liên kết những khái quát hóa thành một hệ thống, từ đó đi tới việc xây dựng một lí thuyết
Sau đây là một số kết quả nghiên cứu của các tác giả về chức năng hoạt động dạy của giáo viên [70]
Theo hughes M.M (1959): Người giáo viên tiểu học có 7 chức năng sau: [96] (i) Kiểm tra,
(ii) Áp đặt,
(iii) Giúp đỡ,
(iv) Phát triển nội dung,
Trang 23(v) Trả lời cá thể,
(vi) Xúc cảm tích cực (tán thưởng),
(vii) Xúc cảm tiêu cực (chê bai)
Theo G.de.Landsheere và E.Bever ( 1969) [102]:Hoạt động dạy của giáo viên
có những chúc năng sau:
(i) Chức năng tổ chức
(ii) Chức năng áp đặt
(iii) Chức năng phát triển
(iv) Chức năng cá thể hóa
(v) Chức năng liên hệ nghịch tích cực (hành vi tán thưởng)
(vi) Chức năng liên hệ nghịch tiêu cực (hành vi chê bai)
(vii) Chức năng cụ thể hóa
(viii) Chức năng xúc cảm tích cực
(ix) Chức năng xúc cảm tiêu cực
Theo Sears(1957) [Theo G.A.Sorenson; T.R.Husek vaf C.Yu) Sears nêu lên 6 vai trò của người giáo viên:
(i) Điều khiển
(ii) Hướng dẫn
(iii) Giữ kỉ luật
(iv) Cung cấp thông tin
Trang 24- Xây dựng quá trình lĩnh hội của trò
- Xây dựng hoạt động của bản thân
b) Hoạt động tổ chức:
- Tổ chức nội dung môn học
- Tổ chức hoạt động của học sinh
- Tổ chức hoạt động của bản thân
c) Hoạt động giao tiếp
d) Họat động nhận thức
- Tìm hiểu học sinh
- Tìm hiểu mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy hoc
- Tự tu dưỡng để hoàn thiện nhân cách bản thân
Theo M.Postic (1977): Tác giả đã nêu lên bản hướng dẫn mô tả những chức năng của người giáo viên trung học
- Áp dụng điều lệ, qui tắc cho hoạt động của nhóm
iii) Tích cực hóa hoạt động của nhóm
iv) Kiểm tra đánh giá công việc của nhóm
b Chức năng truyền thống
i) Truyền đạt những mẫu thao tác
- Hình thành khái niệm khoa học
- Mô tả sự kiện bằng ngôn ngữ khoa học (chẳng hạn diễn tả
Trang 25chuyển động cơ học bằng đồ thị
- Lĩnh hội kĩ thuật thao tác trí tuệ để xử lí những vấn đề khoa học
II) Truyền đạt nội dung
- Chú ý đến các thành tố của nội dung
- Cách thức xử lí thông tin khoa học
- Hiểu biết về phương pháp nghiên cứu khoa học
- Cấu trúc hóa và xử lý nội dung dạy học cho vừa sức học sinh
- Phát biểu và trình bày kiến thức để truyền đạt
c- Chức năng khuyến khích
i) Thức tỉnh động cơ
ii) Kích thích sự quan sát
iii) Động viên sự lập luận
iv) Huy động sáng kiến cá nhân của trò
v) Khuyến khích tính tự quản có tổ chức của đời sống trong nhóm học sinh Gần đây nhất năm 1992, để góp phần vào việc phát hiện ra cấu trúc chức năng của hoạt động dạy, giáo sư Nguyễn Ngọc Quang có đề xuất một phương án riêng Trên
cơ sở nghiên cứu về lí luận dạy học trong nhiều năm, dựa vào sự phân tích khoa học và
kế thừa những công trình của nhiều chuyên gia (như đã nêu ở trên), tác giả cho rằng hoạt động dạy của giáo viên có thể có những chức năng cơ bản sau đây (tóm tắt):
a- Chức năng thiết kế:
- Thiết kế bài học
Trang 26- Thiết kế hoạt động học
- Thiết kế hoạt động dạy
b- Chức năng thi công bài học trong mòi trường dạy học:
- Truyền thông tin
- Điều khiển sự học tập
- Triển khai hoạt động dạy
c- Chức năng kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
d- Chức năng giao tiếp
e- Chức năng nhận thức hay tự bồi dưỡng - nghiên cứu khoa học
Trong phạm vi của luận án, chúng tôi chỉ chọn chức năng thiết kế công nghệ bài học (theo Nguyễn Ngọc Quang)
Trang 27$2- Cấu trúc của bài học hóa học
Trong các hình thức tổ chức dạy học trong hệ lớp - bài: bài học, tự học, thi cử
và các hình thức khác thi bài học giữ vai trò cơ bản, chủ yếu quyết định - đó là vai trò
chủ đạo
2-1- Khái niệm bài học
Bài học trong thực tế có nhiều tên gọi như bài lên lớp, giờ lên lớp, giờ học
Bài học là hình thức dạy học cơ bản chính yếu ở trường trung học Nó là một quá trình dạy học sơ đẳng, trọn vẹn
Bài học có thời lượng xác định, sĩ số giới hạn, tập hợp thành lớp những học sinh cùng độ tuổi, cùng trình độ học lực trung bình Ở đây dưới sự điểu khiên sư phạm của giáo viên, học sinh trực tiếp lĩnh hội một đoạn trọn vẹn của nội dung trí dục của môn học [67]
2-2- Phân loại bài học
Trong lí luận dạy học có nhiều cách phân loại bài học, theo chúng tôi cách phần loại sau đây sát với thực tế và hợp lí hơn cả đó là sự phân loại bài học dựa vào mục
đích lí luận dạy học của chúng Người ta phản loại bài học thành 5 kiểu [67]
Kiểu 1: Bài học nghiên cứu tài liệu mới
Kiểu 2: Bài học củng cố kiến thức và kĩ năng
Kiểu 3: Bài học vận dụng phức hợp kiến thức kĩ năng, kĩ xảo
Kiểu 4: Bài học khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức (tổng kết)
Kiểu 5:Bài học kiểm tra đánh giá trình độ lĩnh hội của học sinh
Trang 282-3- Qui luật cơ bản chi phối cấu trúc của bài học
Trên lí thuyết cũng như trong thực tiễn của bài học, vấn đề then chốt nhất đó là cấu trúc của bài học, nắm được qui luật cơ bản chi phối cấu trúc của nó có nghĩa là nhận thức được bản chất của bài học
Cấu trúc - đó là tổ chức bên trong của một hệ toàn vẹn, là cách thức riêng mà các thành tố của hệ liên hệ qua lại và tương tác với nhau, tạo nên tính toàn vẹn hay tính tích hợp của hệ [64]
Bài học là một hệ toàn vẹn, là một quá trình dạy học nguyên tố cơ bản, toàn vẹn Nó được hợp thành bởi ba bộ phân cơ bản là mực đích dạy học (M), nội dung dạy học (N) và phương pháp dạy học (P) Ba thành tố cơ bản đó liên hệ chặt chẽ với nhau, qui định lẫn nhau theo qui luật
M N P
Kết quả K của bài học cũng là một thành tố cơ bản thứ tư của nó Nhưng vì M chính là kết quả dự kiến, do đó kết quả K chính là M đã được thực hiện vì vậy ở đây trong trường hợp lí tưởng ta coi M và K như đồng nhất với nhau Như vậy từ cấu trúc của bài học là hệ Ba cấu trúc, là tổ hợp ba yếu tố thành phần cơ bản của nó, tức là M,
N, P, đồng thời cũng là mối liên hệ qua lại và sự tương tác giữa chúng trong suốt quá trình dạy học của bài lên lớp
Ba thành tố cơ bản của bài học nói trên trong mối liên hệ và trong sự tương tác hợp lí với nhau , sẽ tạo nên tính toàn vẹn (hay tính tích hợp của bài học) tức là làm cho
nó
Trang 29trở thành một khối toàn vẹn hoàn chỉnh
2-4- Cấu trúc các bước công nghệ của bài học nghiên cứu tài liệu mới (Kiểu I) [67]
Bài học kiểu I có mục đích như sau Học sinh tri giác tài liệu mới, bước đầu hiện rõ tài liệu này, phát hiện được ý nghĩa của các mối liên hệ và quan hệ trong đối tượng nghiên cứu Nó có thể có nhiều cách cấu trúc rất khác nhau, tùy theo nội dung của nó: Sau đây là một phương án cấu trúc của nó
I Tổ chức lớp
II Kiểm tra bài làm ở nhà
III Chuẩn bị lĩnh hội bài mới
IV.Nghiên cứu bài mới
V Kiểm tra sơ bộ việc tiếp thu bài mới
VI Củng cố sơ bộ kiến thức
VIII Kiểm tra và tự kiểm tra kiến thức
IX Tổng kết bài học
X Thông báo về bài làm ở nhà
Cùng một bài học có thể có một số phướng án cấu trúc khác Để đơn giản hóa
sự trình bày, chúng ta diễn tả các phương án bằng sơ đồ - bloc, trong đó các bước được qui ước ghi bằng số thứ tự chữ la mã của chúng
Trang 30Hình I 1 Các phương án phối hợp các bước lí luận dạy học kiểu I
Việc lựa chọn cấu trúc các bước công nghệ của bài học tuy thuộc vào qui luật
cơ bản M-N-P nói trên, và còn phụ thuộc vào trình độ phát triển trí tuệ của học sinh, vào điều kiện của môi trường dạy học và cuối cùng, vào tài năng, sự trải nghiêm nghề nghiệp của chính người giáo viên đứng lớp
Trang 312-5- Qui trình thiết kế công nghệ bài học nghiên cứu tài liệu mới
Nghề dạy học đòi hỏi ở người giáo viên một hệ thống rất phức tạp những kĩ năng nghề nghiệp, trong đó kĩ năng tổ chức bài học giữ vai trò quan trọng nhất Muốn rèn luyện "tay nghề" cho người sinh viên - giáo viên tương lai, trường sư phạm cần nắm được cấu trúc của hệ thống kĩ năng thiết kế bài học
Hệ thống kĩ năng thiết kế bài học, bản thân nó, lại là một tập hợp nhiều nhóm
kĩ năng bộ phận Muốn phát hiện được thành phần cấu trúc của hệ thống kĩ năng này, ta phải nắm được cấu trúc các bước của qui trình thiết kế bài học Nói cách khác, qui trình algorit các bước thiết kế công nghệ bài học giúp ta xác định được thành phần cấu trúc các nhóm kĩ năng soạn giáo án
Chúng tôi đã chọn qui trình thiết kế công nghệ bài học kiểu I do giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đề xuất [67]
Sau đây là sơ đồ - grap và bản ghi thành văn của qui trình đó
Trang 32A Sơ đồ grap của quy trình thiết kế công nghệ bài học kiểu I
H.I.2
B Algorit của quy trình thiết kế công nghệ bài học kiểu I
Giai đoạn I: xác định mục tiêu của bài học
1 Tên đề tài của bài học
2 Chủ đề đó thuộc loại nội dung nào (kiểu A, kiểu B, hay kiểu C)
3 Nhằm những mục đích lớn nào
Trang 33Giai đoạn II: xây dựng grap nội dung của bài học (N)
Giai đoạn III: Xây dựng cấu trúc các bước công nghệ của bài học
1 Dựa vào grap nội dung, chia bài học thành bước, tình huống và thao tác dạy
học
2 Trở lại mục tiêu của bài học: cụ thể hóa và chính xác hóa
Giai đoạn IV: Xây dựng và cấu trúc phương pháp của bài học P
1 Xác định chiến lược về phương pháp của toàn bài
2 Dựa trên chiến lược đó, chọn và phối hợp phương pháp và phương tiện dạy học cho từng bước dạy học, từng tình huống dạy học và cả đến từng thao tác
3 Điều chỉnh và hoàn thiện hệ phương pháp dạy học của bài học
Giai đoạn V: Tổng hợp qui trình công nghệ toàn vẹn của bài học
1 Bổ sung các bước hỗ trợ về tổ chức bài học
2 Rà sát lại toàn bộ bản thiết kế (tức giáo án)
3 Vạch kế hoạch triển khai và chuẩn bị các điều kiện cần thiết
Trang 34Giai đoạn VI: Đánh giá kết quả K
Xây dựng tiêu chí, phương pháp và công cụ kiểm tra kết quả lĩnh hội bài học của học sinh
Trong quá trình thực hiện các bước trên đây, dần dần cụ thể hóa mục tiêu bộ ba của bài học, đổng thời, dựa trên cây mục tiêu đó, xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả học tập của học sinh và phương pháp kiểm tra - đánh giá, ta qui ước đặt công việc kiểm tra - đánh giá này vào giai đoạn thứ sáu
áp dụng được nhiều thành tựu mới
Trang 35của lí luận dạy học cho phép công nghệ hoá cả qui trình soạn giáo án, lẫn qui trình triển khai các bước dạy học theo những tiếp cận hiện đại (grap, algorit, môđun, v.v.) [68]
Trong luận án này, chúng tôi sẽ chọn 5 nhóm kĩ năng bộ phận (từ I đến V của
sơ đồ - grap nêu trên) để hình thành cho sv bằng phương pháp mới do chúng tôi đề xuất Đó là các nhóm kĩ năng sau
a) Xác định mục tiêu của bài học
b) Xây dựng grap nội dung của bài học,
c) Chia bài học thành các bước dạy học
d) Thiết kế phương pháp dạy học cho từng bước, từng tình huống dạy học và cho toàn bài
e) Tổng hợp và hoàn thiện giáo án
Tài liệu giáo khoa mô đun hoá cho sinh viên tự học sẽ được biên soạn theo nội dung của 5 nhóm kĩ năng nói trên
$3 Tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại
3-1- Đôi chút lịch sử
Công nghệ sản xuất ra "đồ vật" đã tiến những bước thần kì và còn hứa hẹn nhiều thành tựu vĩ đại hơn nữa khi bước sang thế kỉ XXI Nó đã được chuyển hoá sang nền công nghệ sinh học với sinh học phân tử (chẳng hạn, nuôi cấy mô để tạo giống mới) Trong vài ba thập kỉ gần đây, tư tưởng công nghệ đang tiến vào lĩnh vực "qui trình hoá việc đào tạo con người"
Nếu trước đây "dạy giỏi" là một phạm trù "nghệ thuật" mang tính chủ quan của một số ít giáo viên thì nay người ta
Trang 36mong muốn qui trình hóa, khách quan hóa quá trình dạy làm cho nó đạt hiệu quả tối ưu cho nhiều người Đó chính là lí do xuất hiện và phát triển tư tưởng này, mà người khởi xướng là B.F.Skinner (1968)
Lúc ban đầu, người ta chỉ hiểu công nghệ dạy học là dùng các loại máy móc để
hỗ trợ cho giáo viên Thậm chí có người còn tưởng rằng với máy dạy học, một ngày nào đó các phương tiện kĩ thuật hiện đại sẽ thay thế giáo viên May sao điều này đã và
sẽ không bao giờ xảy ra
Ngày nay người ta hiểu công nghê dạy học hiện đại như thế nào ?
3-2- Thế nào là công nghệ dạy học hiện đại
Tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại thể hiện ở ba điểm cơ bản sau đây:
1) Chuyển hóa vào thực tiễn dạy học nhưng thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ và nghệ thuật, từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến hình thái tổ chức, thông qua xử lí về mặt sư phạm (ψ) Qui luật này có thể diễn đạt bằng công thức tổng quát:
Đối tượng của Khoa học – nghệ thuật Lối sống
Đối tượng của Dạy học (M, N, P)
Trang 37
2 ) Đồng thời sử dụng tối đa và tối ưu những hệ phương tiện kĩ thuật hiện đại đa kênh, đa trình vào dạy học
3 ) Từ đó, thiết kế được những hệ dạy học mới, vận hành theo nguyên lí mới: đó
là những hệ dạy học " tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn" (assisted - personalized -self learning systems) thích hợp vớii cơ chế thị trường
Có thể nói một cách khái quát, công nghệ dạy học hiện đại thực chất là lí luận dạy học Xibecnetic hoá hướng vào học sinh
3-3- Hệ dạy học "tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn"
Đích của công nghệ dạy học hiện đại, như đã nói trên là thiết kế được những hệ dạy học mới, thích hợp nhất với cơ chế kinh tế thị trường, tức là hiệu nghiệm, mềm dẻo (dễ biến đổi khi môi trường thay đổi như một hệ mở) hướng vào từng cá thể học sinh, cho phép người học tiến theo nhịp độ riêng của bản thân
Vào năm 1968 xuất hiện hệ dạy học cá thể hóa do F.S Killer và J.G.Sherman thiết kế Nó ra đời thay thế cho hệ dạy học cũ "diễn giảng - Xemina" phổ biến ở đại học
và đồng thời cho cả "hệ dạy học chương trình hóa" lúc đó đang là thời thượng, nhưng
đã bộc lộ quá nhiều nhược điểm Ngày nay nó đã được hoàn thiện và được dùng phổ biến ở lớp dự bị và năm thứ nhất đại học
Hệ dạy học cá thể hóa có những đặc trưng sau:
1) Việc học được cá thể hóa cao độ, tức là tự học - cá thể hóa, tôn trọng nhịp độ
cá nhân phù hợp với năng lực từng người
2) Việc dạy được khách quan hóa tối đa Nghĩa là: quan
Trang 38hệ giao tiếp giữa dạy và học, những mệnh lệnh điều khiển của dạy (kể cả kiểm tra) đều được chuyến hóa thành ngôn ngữ viết và được đưa ngay vào tài liệu giáo khoa tự học của học sinh để họ chấp hành, đây chính là mặt "có hướng dẫn" chủ yếu của tự học
3 ) Diễn giảng không còn giữ vai trò là nguồn thông tin xuất phát nữa, mà trở thành nguồn gây động cơ nhận thức khoa học: Giải đáp thắc mắc, tổng kết tư tưởng khoa học và kích thích tư duy mới tạo nhu cầu chiếm lĩnh chân lí mới, kiến thức mới
4 ) Tài liệu giáo khoa (giáo trình) được chia thành những học phần theo đơn vị học trình biên soạn theo tiếp cận môđun Học sinh phải chiếm lĩnh được đơn vị trước mớii được phép đi vào đơn vị tiếp theo
5 ) Mục tiêu dạy học được diễn đạt một cách cụ thế, tường minh và có tính đo lường được dưới dạng những chuẩn mực về kiến thức và kĩ năng Và việc đánh giá tổng quát kết quả học tập được thực hiện theo hệ tín chỉ (Credit System)
6 ) Sử dụng những phương pháp dạy học và phương tiện kĩ thuật hiện đại bên trong hoặc đồng thời với tài liệu giáo khoa môđun hóa Chẳng hạn, tài liệu giáo khoa tự học có hướng dẫn kèm theo băng (Audio - Tutorial Work book)
Tóm lại, Tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại dược vận dụng trong thực tiễn thông qua các hệ dạy học "tự học - cá thể học - có hướng dẫn
$4 Biên soạn nội dung dạy học theo tiếp cận mô đun
Để triển khai được một hệ dạy học kiểu mới, hệ tự học -
Trang 39cá thể hóa - có hướng dẫn, việc biên soạn và tổ chức nội dung dạy học phải thực hiện theo tiếp cận môđun
4-1- Khái niệm môđun dạy học
Môđun là đơn vị kĩ thật độc lập, có khả năng lắp ráp (hoặc tháo gỡ) với nhau tùy theo mục đích sử dụng Thí dụ, như việc lắp ráp nhiều con tàu vũ trụ thành một trăm vũ trụ, và tháo gỡ từng con tàu ra khỏi trạm Vận dụng tư tưởng đó, người ta thiết
kế ra phương pháp môđun dạy học nhằm phục vụ cho những hệ dạy học tự học - cá thể hoá - có hướng dẫn Vậy môđun dạy học là gì?
Môđun dạy học là đơn vị chương trình dạy học tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học và chứa đựng cả mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học và hệ thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, gắn
bó chặt chẽ với nhau thành một hệ toàn vẹn [61]
4-2- Những đặc trưng cơ bản của một môđun dạy học
1) Là một đơn vị học trình độc lập, chứa đựng cả mục tiêu, nội dung và phương pháp học, xung quanh một chủ đề trí dục của môn học, và bao gồm một tập hợp những tình huống dạy học được lắp đặt theo lôgic nhất định Nó là tài liệu tự học có hướng dẫn
2) Lôgic của môđun bao gồm cả những mệnh lệnh hướng dẫn người học, để họ
tự lực thực hiện trên con đường tiến tới chiếm lĩnh hoàn toàn nội dung môđun Vì thế môđun chứa đựng những con đường lĩnh hội khác nhau, thích hợp với kiểu dạy học cá thể hoá, với những trình độ khác nhau
Trang 403) Môđun dạy học bao gồm nhiều loại test kiểm tra (sơ bộ ban đầu để kiểm tra kiến thức điều kiện, test trung gian và test kết thúc v.v )
Nhờ cách này người học có thể tự kiểm tra (liên hệ nghịch trong) và người dạy
có thể biết được trình độ tiến triển của sự lĩnh hội (liên hệ nghịch ngoài)
4) Tiếp cận này cho phép người học tiến lên theo nhịp độ thích hợp với năng lực riêng (có thể nhanh hay chậm) Chỉ khi nào xong môđun trước, mới được phép học môđun sau Và do đó tiếp cận này thích hợp với hệ đánh giá theo tín chỉ, rất mềm dẻo
5) Tiếp cận môđun còn cho phép phân hóa - chuyên biệt hóa mục tiêu đào tạo Tuy theo cách "lắp ráp" các môđun lại với nhau và với các môđun phụ đạo hoặc đề cao,
ta có thể thiết kế được nhanh chóng những chương trình môn học có những trình độ đa dạng về cùng một đề tài Đó là những chương trình huấn luyện môđun hóa
4-3- Cấu trúc của môđun dạy học
Môđun dạy học bao gồm ba phần hợp thành: hệ vào, thân của môđun và hệ ra
Hình I.3 Cấu trúc môđun dạy học
* Hệ vào của môđun diễn ra theo 3 pha, mỗi pha có một chức năng
thân của
mô đun