Luận văn thực hiện với mục tiêu nghiên cứu: dựa trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản và phân tích một số tồn tại, vướng mắc, khó khăn trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản thời gian vừa qua để đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước của Thị xã Sơn Tây được tốt hơn, phù hợp với điều kiện hiện nay nhìn từ góc độ của cơ quan quản lý. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1Nguyễn Anh Thương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB
TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -
Nguyễn Anh Thương
Mã học viên: C00106
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB
TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Người hướng dẫn chính: GS.TS NGUYỄN KHẮC MINH
Hà Nội – Năm 2015
Trang 3ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Nguyễn Anh Thương
Sinh ngày 19/01/1983
Là học viên lớp Cao học chuyên nghành Tài chính – Ngân hàng – Khóa 2 (CQB2ST) Trường Đại học Thăng Long
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các
số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Sơn Tây, tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Thương
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Bản cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt vi
Danh mục sơ đồ, bảng biểu vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NSNN 6
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NSNN 6
1.1.1 Đầu tư xây dựng cơ bản 6
1.1.2 Đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước 11
1.1.3 Chất lượng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN 14
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB TỪ VỐN NSNN 15
1.2.1 Nội dung quản lý 15
1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý đầu tư XDCB từ vốn NSNN 30
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý hoạt động đầu tư XDCB 33
1.3 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 34
1.4 KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB TỪ NGUỒN NSNN CỦA MỘT SỐ ĐỊA BÀN TRONG NƯỚC 34
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý của Thành phố Bắc Ninh 35
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý của thành phố Đà Nẵng 38
Trang 5iv
1.4.3 Những bài học kinh nghiệm về quản lý đầu tư XDCB rút ra cho thị
xã Sơn Tây 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẦU TƯ VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY GIAI ĐOẠN 2011-2014 41
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY 41
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Thị xã Sơn Tây 41
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây 42
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB TỪ VỐN NSNN Ở THỊ XÃ SƠN TÂY TRONG NHỮNG NĂM QUA 45
2.2.1 Các văn bản và các chính sách liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN 45
2.2.2 Đầu tư XDCB bằng NSNN tại Thị xã Sơn Tây 49
2.2.3 Giám sát, kiểm tra, thanh tra trong đầu tư xây dựng cơ bản 80
2.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẦU TỪ XDCB TỪ NGUỒN NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY 83
2.3.1 Những mặt đã đạt được: 83
2.3.2 Những hạn chế và khó khăn 85
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên 88
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB TỪ NGUỒN VỐN NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY GIAI ĐOẠN 2016-2020 90
3.1 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐỊNH HƯỚNG, NHU CẦU ĐẦU TƯ XDCB CỦA THỊ XÃ SƠN TÂY ĐẾN NĂM 2020 90
3.1.1 Mục tiêu phát triển 90
Trang 63.1.2 Định hướng đầu tư XDCB thị xã Sơn Tây giai đoạn từ nay đến
2020 92
3.1.3 Dự báo nhu cầu về vốn đầu tư XDCB của Thị xã giai đoạn 2016 đến 2020 95
3.1.4 Quan điểm trong quản lý đầu tư XDCB trong những năm tới 96
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB TỪ NGUỒN VỐN NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY 102
3.2.1 Nâng cao năng lực quản lý trong đầu tư XDCB 102
3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn trong đầu tư XDCB 103
3.2.3 Nâng cao chất lượng trong công tác lập chủ trương đầu tư, công tác lập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư 105
3.2.4 Nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định và phê duyệt các dự án đầu tư 108
3.2.5 Nâng cao chất lượng công tác đấu thầu 110
3.2.6 Nâng cao chất lượng khâu quyết toán vốn đầu tư 112
3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với vốn đầu tư XDCB 113
3.2.8 Đẩy mạnh công tác huy động vốn xã hội hóa 114
3.3 KIẾN NGHỊ 115
3.3.1 Kiến nghị với Trung ương 115
3.3.2 Kiến nghị với Thành phố Hà Nội 116
3.3.3 Kiến nghị với UBND, HĐND Thị xã Sơn Tây, UBMT và các đoàn thể nhân dân 118
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Số hiệu các
Sơ đồ 2.1 Mô hình quản lý đầu tư XDCB thị xã Sơn Tây 50
Sơ đồ 2.2 Quy trình, phân cấp quản lý đầu tư XDCB thị xã Sơn Tây 51
Sơ đồ 2.3 Qui trình thẩm định, phê duyệt kế hoạch đấu thầu 73 Biểu đồ 2.1 Chi đầu tư XDCB trong tổng chi NS 66
Biểu đồ 2.3 So sánh giá trị công trình chủ đầu tư báo cáo và giá trị thanh tra, kiểm tra 81
Bảng 2.2 Kết quả công tác thẩm định giai đoạn 2011-2014 60 Bảng 2.3 Kết quả phê duyệt báo cáo KTKT (2011-2014) 60 Bảng 2.4 Danh sách công trình điều chỉnh tổng mức đầu tư năm 2014
62 Bảng 2.5 Tổng hợp dự toán chi đầu tư XDCB từ NSNN 64 Bảng 2.6 Kế hoạch vốn đầu tư XDCB từ NSNN 66 Bảng 2.7 Cơ cấu vốn đầu tư XDCB chia theo ngành 70 Bảng 2.8 Qui trình thẩm định phê duyệt kết quả đấu thầu 74 Bảng 2.9 Kết quả thực hiện công tác đấu thầu năm 2014 76 Bảng 2.10 Kết quả thực hiện công quyết toán dự án hoàn thành giai đoạn 2012-2014
78 Bảng 2.11 Tổng hợp công trình thanh tra, kiểm tra giai đoạn 2011 - 2014
80 Bảng 2.12 Kết quả giải ngân thanh toán giai đoạn 2011-2014 84
Trang 9và Nhà Nước ta đã có những quyết sách phù hợp, kịp thời với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân nói chung và sự nghiệp phát triển kinh tế của các vùng miền nói riêng Để giải quyết vấn đề này trước tiên cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề đầu tư xây dựng cơ bản, có như vậy mới xây dựng được cơ sở vật chất đầy đủ đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước Như vậy, đầu tư xây dựng là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển xã hội, là tiền đề cơ bản để thực hiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước Với vị trí và tầm quan trọng của lĩnh vực đầu tư xây dựng đối với nền kinh tế quốc dân thì vai trò quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này là hết sức to lớn Đặc biệt là trong điều kiện môi trường pháp lý, các cơ chế chính sách quản lý kinh tế ở nước ta còn chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và luôn luôn thay đổi thì vấn đề này càng mang tính cấp bách
và cần thiết hơn bao giờ hết
Sơn Tây là một Thị xã nhỏ của Thành phố Hà Nội, kinh tế còn nghèo,
cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng còn thiếu thốn, chưa tận dụng khai thác được hết tiềm năng cho phát triển kinh tế, nguồn vốn rất hạn hẹp trong khi nhu cầu phát sinh ngày càng lớn, từ đó đòi hỏi công tác đầu tư xây dựng cơ bản cần đặc biệt chú trọng Để làm được điều đó công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải được đặt lên hàng đầu Hiện nay nhu cầu đầu tư xây dựng trên địa bàn Thị xã là rất lớn, nhưng trên thực tế chất lượng và hiệu quả quản lý các
Trang 10dự án đầu tư xây dựng vẫn còn nhiều hạn chế và gặp nhiều khó khăn Tình trạng đó có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là
do sự chưa hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý, quy trình quản lý chưa chặt chẽ, tính chuyên nghiệp hoá chưa cao và chất lượng đội ngũ cán bộ trong công tác quản lý các dự án xây dựng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế
Trong thời gian qua, công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình ở UBND Thị xã đã thực hiện tốt theo quy định của Luật xây dựng và các quy định về đầu tư XDCB góp phần thúc đẩy việc phát triển KTXH của địa phương, tuy nhiên công tác quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn thị xã Sơn Tây vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: Việc lập thẩm định dự án còn yếu, chi đầu tư XDCB còn dàn trải, công tác đấu thấu còn hình thức, số lượng hồ sơ trình thẩm định, phê duyệt quyết toán còn tồn đọng nhiều nên việc hoàn thiện hệ thống quản lý đó là cần thiết, đồng thời sau khi
tiếp thu kiến thức từ khóa học nên tôi chọn đề tài "Nâng cao chất lượng quản
lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thị xã Sơn Tây” cho luận văn Thạc sỹ tốt nghiệp khóa học của mình để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Vấn đề quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả, ở nhiều cấp độ nghiên cứu khác nhau Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này như sau:
+ Nguyễn Huy Phúc (2014), luận văn Thạc sỹ Chuyên nghành Quản trị
kinh doanh (trường Đại Học giao thông Vận tải Hà Nội), Giải pháp tăng
cường quản lý vốn NSNN đầu tư xây dựng cơ bản của Huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội của anh Nguyễn Huy Phúc Đề tài đã đề cập đến việc quản
lý vốn NSNN tại Phòng Tài chính – Kế hoạch của huyện Phúc Thọ, phân tích thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn NSNN
Trang 113
đầu tư XDCB của Huyện Phúc Thọ Đề tài mới chỉ tập trung chủ yếu về công tác quản lý vốn ngân sách chưa quan tâm đến việc quản lý toàn diện chất lượng đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
+ Nguyễn Mạnh Hà (2012), luận văn Thạc sỹ Chuyên nghành Quản trị kinh doanh (trường Đại Học Quốc gia Hà Nội, Đại học khoa học và kỹ thuật
Long Hoa), Hoàn thiện hệ thống quản lý các dự án đầu tư XD trong bộ tổng
tham mưu Bộ Quốc phòng Phạm vi nghiên cứu của đề tài mới chỉ dừng lại ở
các dự án của Bộ quốc phòng Các dự án này có những đặc thù riêng và không phù hợp đối với các dự án dân sự
+ Lê Thị Thu Trang (2010), luận văn tốt nghiệp cử nhân chuyên
nghành Kinh tế đầu tư (trường Đại học Kinh tế Quốc dân), Hoàn thiện công
tác quản lý XDCB trên địa bàn thị xã Sơn Tây, đề tài đã đề cập đến thực trạng
công tác quản lý XDCB ở phòng Tài chính – Kế hoạch Sơn Tây, tìm ra những giải pháp thiết thực góp phần củng cố tăng cường công tác quản lý đầu tư của Thị xã được tốt hơn
Dưới góc độ khoa học, các công trình nói trên đã đưa ra những cơ sở lý luận, phân tích thực trạng quản lý XDCB để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý XDCB trên địa bàn nghiên cứu Tuy nhiên, nội dung của các công trình chưa đi sâu vào thực tiễn trên địa bàn, các giải pháp vẫn còn mang nặng lý thuyết mà khó áp dụng với thực tiễn, chưa đánh giá về mặt chất lượng quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN Bên cạnh
đó, một số công trình đã nghiên cứu thường tập trung vào kỹ thuật phân tích đánh giá lợi ích và chi phí đối với dự án mà chưa đánh giá tính hiệu quả đối với kinh tế xã hội
Để khắc phục những hạn chế đó, đề tài Nâng cao chất lượng quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thị xã Sơn Tây
là công trình nghiên cứu đầu tiên mang tính toàn diện đối với công tác quản lý
Trang 12đầu tư XDCB trên địa bàn thị xã Sơn Tây ở tầm Thạc sỹ Nghành Kinh doanh
và quản lý Trong qúa trình thực hiện tác giả nghiên cứu một cách hệ thống, tương đối đầy đủ và cập nhật về thực trạng, giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Sơn Tây Các giải pháp được đề xuất sẽ góp phần phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyền địa phương, tạo lập môi trường tài chính lành mạnh nhằm giải phóng và phát triển các nguồn lực, phân bổ ngân sách một cách hợp lý, đảm bảo công bằng sử dụng có hiệu quả nguồn NSNN phục vụ mục tiêu phát triển KT-XH của thị xã
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là dựa trên cơ sở hệ thống hóa lý luận
về quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản và phân tích một số tồn tại, vướng mắc, khó khăn trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản thời gian vừa qua để đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước của Thị xã Sơn Tây được tốt hơn, phù hợp với điều kiện hiện nay nhìn từ góc độ của cơ quan quản lý
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: chỉ giới hạn vào các dự án do UBND Thị xã
quyết định đầu tư trên địa bàn Thị xã Sơn Tây trong khoảng thời gian từ năm
2011 đến hết năm 2014; đề xuất các giải pháp quản lý đầu tư XDCB của thị
xã Sơn Tây đến năm 2020 và những năm tiếp theo
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về chất lượng quản lý đầu tư
XDCB sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn Thị xã Sơn Tây dưới góc độ của cơ quan quản lý
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Trang 13- Phương pháp phân tích, tổn hợp, đánh giá: Đây là phương pháp phổ biến được áp dụng trong nghiên cứu của Luận văn để đánh giá về thực trạng của đối tượng nghiên cứu, và đưa ra các giải pháp có thể nâng cao chất lượng công tác đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn Thị xã
6 Dự kiến những đóng góp của Luận Văn
Qua nghiên cứu lý thuyết về chất lượng quản lý đầu tư XDCB của thị
xã Sơn Tây từ nguồn vốn ngân sách nhà nước để làm rõ những thành công, hạn chế và nguyên nhân từ đó đề ra những giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện, nâng cao chất lượng quản lý đầu tư XDCB trên địa bàn thị xã Sơn Tây
từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về đầu tư xây dựng cơ bản và chất lượng
quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác đầu tư và chất lượng quản lý đầu tư
XDCB của Thị xã Sơn Tây giai đoạn 2011-2014
Chương 3: Một số Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý đầu tư
XDCB từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn Thị xã Sơn Tây
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ XDCB
VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB
ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa khôi phục các tài sản cố định
Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế Các tài sản cố định bao gồm: tài sản cố định của doanh nghiệp (máy móc, thiết bị,nhà xưởng…) và tài sản cố định công(cầu cống, đường xá…được gọi chung là vật kiến trúc) Do vậy đầu tư XDCB là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng Đầu tư Xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau Đầu tư Xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế
Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo
Trang 157
sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị) kết quả của các hoạt động Xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định
1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản
- Đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài
Hoạt động đầu tư Xây dựng cơ bản đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư lớn Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư Vì vậy trong quá trình đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chống lãng phí nguồn lực
- Thời gian dài với nhiều biến động
Thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy
ra
- Có giá trị sử dụng lâu dài
Các thành quả của đầu tư xây dựng cơ bản có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế giới như vườn Babylon ở Iraq, tượng nữ thần tự do ở Mỹ, kim tự tháp cổ Ai cập, nhà thờ La Mã ở Roma, vạn lý trường thành ở Trung Quốc, tháp Angcovat ở Campuchia, …
Trang 16hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng lãnh thổ
- Liên quan đến nhiều ngành
Hoạt động đầu tư Xây dựng cơ bản rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau Vì vậy khi tiến hanh hoạt động này, cần phải
có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư
1.1.1.3 Vai trò của đầu tư XDCB
Nhìn một cách tổng quát: đầu tư Xây dựng cơ bản trước hết là hoạt động đầu tư nên cũng có những vai trò chung của hoạt động đầu tư như: tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước Ngoài ra với tính chất đặc thù của mình, đầu tư Xây dựng cơ bản là điều kiện trước tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế, có những ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền kinh tế và với từng cơ sở sản xuất Đó là:
Đầu tư Xây dựng cơ bản đảm bảo tính tương ứng giữa cơ sở vật chất
kỹ thuật và phương thức sản xuất
Mỗi phương thức sản xuất từ đặc điểm sản phẩm , yếu tố nhân lực, vốn
và điều kiện về địa điểm,… lại có đòi hỏi khác biệt về máy móc thiết bị ;nhà xưởng Đầu tư Xây dựng cơ bản đã giải quyết vấn đề này
Đầu tư Xây dựng cơ bản là điều kiện phát triển các ngành kinh tế và
thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng
Khi đầu tư Xây dựng cơ bản được tăng cường, cơ sở vật chất kỹ thuật
Trang 179
của các ngành tăng sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành Phát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân Như vậy, đầu tư Xây dựng cơ bản đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nước, tăng tích luỹ đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế - xã hội Như vậy đầu tư Xây dựng cơ bản là hoạt động rất quan trọng: là một khâu trong quá trình thực hiện đầu tư phát triển, nó có quyết định trực tiếp đến sự hình thành chiến lược phát triển kinh tế từng thời kỳ; góp phần làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chính sách kinh tế của nhà nước
1.1.1.4 Trình tự đầu tư xây dựng cơ bản
Trình tự đầu tư xây dựng được hiểu như là mô ̣t cơ chế để tiến hành các hoa ̣t đô ̣ng đầu tư xây dựng, trong đó định rõ thứ tự, nô ̣i dung các công viê ̣c, trách nhiê ̣m và mối quan hê ̣ giữa các bên hữu quan trong viê ̣c thực hiê ̣n các công viê ̣c đó Cơ sở khoa ho ̣c của cơ chế này là lý thuyết quản lý và lý thuyết về vòng đời của dự án, mà theo đó đầu tư xây dựng phải được diễn ra theo
mô ̣t quá trình từ khởi đầu, vâ ̣n hành đến kết thúc về mă ̣t pháp lý theo quy định
Theo Luật Xây dựng (Số 43/2014/QH13) thì hoa ̣t đô ̣ng đầu tư xây dựng phải thực hiê ̣n theo trình tự 3 giai đoa ̣n, gồm chuẩn bị dự án, thực hiện
dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng
Trang 18Sơ đồ 1.1: Trình tư đầu tư xây dựng
Người quyết đi ̣nh đầu tư
Chủ đầu tư
Trình phê duyê ̣t dự án đầu tư Phê duyê ̣t dự án đầu tư
Nghiên cứu cơ hô ̣i đầu tư, đi ̣a điểm
xây dựng
Đấu thầu tư vấn Chuẩn bi ̣ mă ̣t bằng, giấy phép
Lâ ̣p dự án xây dựng
Cho ̣n thầu tư vấn thiết kế
Cho ̣n thầu xây lắp, cung cấp thiết bi ̣
Duyê ̣t thiết kế, dự toán Đấu thầu xây lắp, cung cấp thiết bi ̣
Phê duyệt kết quả cho ̣n thầu xây lắp, cung cấp thiết bi ̣ Thi công xây lắp, cung cấp thiết bi ̣ Nghiê ̣m thu – Thanh toán Bàn giao công trình, quyết toán
Giai đoa ̣n khai thác, vâ ̣n hành, bảo trì công trình
Lựa cho ̣n tư vấn lâ ̣p dự án
Lâ ̣p hồ sơ mời thầu…
Thẩm đi ̣nh thiết kế, dự toán
Lâ ̣p hồ sơ mời thầu…
Báo cáo kết quả đấu thầu Thẩm đi ̣nh kết quả đấu thầu Giám sát thi công, quản lý
thực hiê ̣n hơ ̣p đồng thi công xây dựng, cung cấp thiết
Trang 1911
1.1.2 Đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
1.1.2.1 Khái niệm
Theo Điều 1 Luật của Quốc hội Nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 về ngân sách nhà
nước: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Căn cứ theo phân cấp quản lý NSNN, chia nguồn vốn đầu tư từ NSNN thành: Vốn đầu tư từ NSNN Trung ương và vốn đầu tư từ NSNN địa phương
Từ khái niệm đầu tư XDCB và sự phân tích về NSNN có thể hiểu khái niệm:
Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là vốn NSNN được cân đối trong dự toán NSNN hàng năm từ các nguồn thu trong nước, ngoài nước (bao gồm vay nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ của Nhà nước cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan Nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu
tư XDCN Vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn là một phần của vốn đầu tư phát triển của NSNN được hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chi cho đầu tư XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân
1.1.2.2 Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
- Nhà nước sử dụng vốn ngân sách để đầu tư XDCB cho các công trình thuộc kết cấu hạ tầng và các công trình thuộc dịch vụ xã hội
- Được dùng để đầu tư XDCB phát triển các công trình thuộc sở hữu nhà nước như: Công nghiệp, nông nghiệp, thương mại có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế quốc dân mà các doanh nghiệp tư nhân không có điều kiện hoặc khả năng đầu tư xây dựng
- Đầu tư xây dựng công trình mà doanh nghiệp Nhà nước cần quản lý để
Trang 20đảm bảo tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và thuận lợi cho mọi công dân
1.1.2.3Vai trò của đầu tư XDCB từ NSNN
Đầu tư NSNN cho đầu tư XDCB có vai trò hết sức quan tro ̣ng đối với toàn xã hô ̣i, đă ̣c biê ̣t đối với nền kinh tế đang trên đà chuyển di ̣ch cơ cấu của các nước đang phát triển
- La ̀ m tăng tổng cầu trong ngắn hạn của nền kinh tế để kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế
Dưới giác đô ̣ của đầu tư, NSNN cho đầu tư XDCB làm tăng tổng cầu của nền kinh tế trong ngắn ha ̣n, qua đó làm tăng nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và đời sống để kích thích tăng trưởng kinh tế Mă ̣t khác, do mu ̣c đích của NSNN đầu tư XDCBcho là đầu tư cho duy trì, phát triển hê ̣ thống hàng hóa công cô ̣ng và phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nho ̣n có quy mô lớn Từ đó, khi đầu tư hoàn thành sẽ làm tăng tổng cung trong dài ha ̣n và ta ̣o tiền đề cơ sở vâ ̣t chất kỹ thuâ ̣t ha ̣ tầng cho phát triển kinh tế
- Đẩy nhanh chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế, tạo thêm nhiều viê ̣c làm cho ngưới lao động
NSNN cho đầu tư XDCB là tiềm lực kinh tế của Nhà nước, với vai trò chủ đa ̣o, nó đã đường hướng đầu tư của nền kinh tế vào các mu ̣c tiêu chiến lươ ̣c đã đi ̣nh của Nhà nước, làm chuyển di ̣ch nhanh cơ cấu kinh tế, sử du ̣ng, bố trí la ̣i hợp lý có hiê ̣u quả các nguồn lực, ta ̣o thêm nhiều cơ hô ̣i viê ̣c làm cho người lao đô ̣ng, giảm tỷ lê ̣ thất nghiê ̣p trong nền kinh tế
- Pha ́ t triển lực lượng sản xuất và củng cố quan hệ sản xuất
NSNN cho đầu tư XDCB ta ̣o lâ ̣p cơ sở vâ ̣t chất kỹ thuâ ̣t cho tăng trưởng và phát triển nền kinh tế, làm chuyển di ̣ch nhanh cơ cấu kinh tế, giải phóng và phân bổ hợp lý các nguồn lực sản xuất Trên cơ sở đó, làm cho lươ ̣ng sản xuất không ngừng phát triển cả về mă ̣t lượng và chất Đồng thời, lực lươ ̣ng sản xuất phát triển đã ta ̣o tiền đề vững chắc cho củng cố quan hê ̣
Trang 21- Chu ̉ động hội nhập kinh tế quốc tế, áp dụng nhanh các thành tựu tiến bộ khoa học để phát triển đất nước
Thông qua đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nho ̣n có lợi thế so sánh quốc gia, NSNN cho đầu tư XDCB đã ta ̣o điều kiê ̣n cho nền kinh tế tham gia phân công lao đô ̣ng quốc tế và áp du ̣ng nhanh các thành tựu tiến
bô ̣ khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t của nhân loa ̣i thông qua nhâ ̣p khẩu máy móc, thiết bi ̣, công nghê ̣ tiên tiến Quá trình tham gia phân công lao đô ̣ng quốc tế và áp
du ̣ng nhanh tiến bô ̣ khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t làm cho nền kinh tế chủ đô ̣ng trong hợp tác và hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quốc tế ngày càng sâu rô ̣ng
- Pha ́ t triển nền kinh tế một cách bền vững
NSNN cho đầu tư XDCB mô ̣t mă ̣t đầu tư cho phát triển kinh tế, mô ̣t
mă ̣t đầu tư cho sự nghiê ̣p xóa đói nghèo, bảo vê ̣ môi trường sinh thái, giải quyết các vấn đề xã hô ̣i Dưới giác đô ̣ đó, ngoài tác đô ̣ng tăng trưởng kinh tế,
an sinh xã hô ̣i được duy trì và kiềm chế được phần nào mă ̣t trái của kinh tế thi ̣ trường làm cho nền kinh tế phát triển mô ̣t cách bền vững
- Không ngư ̀ ng nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của Nhà nước
Từ vai trò chủ đa ̣o của Kinh tế Nhà nước, NSNN cho đầu tư XDCB đã đường hướng, điều tiết đầu tư của toàn xã hô ̣i, tác đô ̣ng vào tổng cung và tổng
Trang 22cầu của nền kinh tế cùng với hiê ̣u ứng phản hồi sau tác đô ̣ng đã cung cấp ki ̣p thời thông tin cho Nhà nước để điều chỉnh những tác đô ̣ng của mình Thông qua điều chỉnh tác đô ̣ng vĩ mô theo yêu cầu thường xuyên biến đổi của thực tiễn làm cho năng lực quản lý của Nhà nước không ngừng được nâng cao
1.1.3 Chất lượng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN
1.1.3.1 Khái niệm
Quản lý, theo nghĩa chung là sự tác động có mục đích của chủ thể vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra Quản lý đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư) và các yếu tố đầu tư, bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế-xã hội, tổ chức kĩ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả
và hiệu quả đầu tư cao nhất, trong điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sang tạo những qui luật khách quan và qui luật đặc thù của đầu tư Quản
lý đầu tư là công tác phức tạp nhưng là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư
Chất lượng là tập hợp các đặc điểm của một sản phẩm nhằm tạo cho sản phẩm đó có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn
Chất lượng quản lý đầu tư XDCB là mức độ thỏa mãn của các đặc tính vốn có của công tác quản lý Đầu tư XDCB nhằm đáp ứng các yêu cầu đặt ra của cơ quan quản lý, của Pháp luật
Chất lượng Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn NSNN là quá trình quản lý có hệ thống của các cơ quản quản lý NN có chức năng về xây dựng quản lý việc thực hiện đầu tư XDCB từ nguồn NSNN nhằm đảm bảo
đáp ứng yêu cầu về chất lượng mà Nhà nước đặt ra
Trang 2315
1.1.3.2 Vai trò của chất lượng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh tiến độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Sử dụng các nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản do Nhà nước quản
lý đạt hiệu quả cao nhất, chống thất thoát, lãng phí
Bảo đảm đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện theo đúng quy hoạch, kiến trúc, đáp ứng yêu cầu bền vững, mỹ quan, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, bảo đảm chất lượng và thời gian xây dựng với chi phí hợp lý, bảo đảm tiết kiệm, thực hiện bảo hành công trình
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB TỪ VỐN NSNN
1.2.1 Nội dung quản lý
1.2.1.1 Ban hành các văn bản và các chính sách liên quan đến quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN
Xây dựng và hoàn thiện các luật liên quan đến đầu tư xây dựng, các văn bản dưới luật nhằm quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Nhà nước ban hành Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Thuế, Luật Đấu thầu, ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành các Luật trên đồng thời các văn bản dưới Luật khác nhằm khuyến khích đầu tư, đảm bảo cho các dự án đầu tư thực hiện đúng Luật và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao Trong quá trình thực hiện, thường xuyên có sự biến động khách quan của các yếu tố liên quan đến vấn đề cơ chế quản lý; chính vì vậy nhu cầu sửa đổi, bổ sung các luật và văn bản dưới luật hết sức cần thiết
Hệ thống văn bản nhằm quản lý các thành phần kinh tế tham gia đầu tư,
Trang 24nhất là thành phần kinh tế Nhà nước (vốn NSNN) chỉ duy nhất do Nhà nước ban hành Trong cơ chế quản lý nói chung và cơ chế quản lý đầu tư xây dựng nói riêng, hệ thống văn bản là điều kiện cần thiết cho việc quản lý có cơ sở khoa học, quản lý một cách có hệ thống và hiệu quả Để đáp ứng được nhu cầu về QLNN trong lĩnh vực này, hệ thống văn bản của Nhà nước cần tập trung để giải quyết những vấn đề cơ bản là:
- Thứ nhất, phân định mức độ QLNN về đầu tư đối với từng loại dự án,
từng nhóm dự án có những nhóm dự án Nhà nước quản lý toàn diện, có những nhóm dự án chỉ quản lý một giai đoạn hay một quá trình của công cuộc đầu tư, những vấn đề, những vấn đề này thường được quy định trong Luật Xây dựng hay Nghị định về đầu tư xây dựng
- Thứ hai, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp, các
ngành trong quản lý và thực thi hoạt động đầu tư và xây dựng, quy định trách nhiệm của từng cơ quan trong việc quyết định chủ trương đầu tư; quyết định đầu tư; phê duyệt quy hoạch ngành; quy hoạch địa phương và vùng lãnh thổ; phê duyệt; phê duyệt thiết kế - tổng dự toán và dự toán công trình tương ứng với nhóm dự án được đầu tư; trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc thực thi pháp luật trong đầu tư; trách nhiệm của nhà thầu tham gia đầu tư; trách nhiệm của các cơ quan tư vấn đấu thầu, thiết kế, giám sát thi công… trách nhiệm của các cấp các ngành trong việc tổ chức đấu thầu các dự án đầu tư Đồng thời quy định việc phối hợp của các cấp, các ngành trong việc quản lý những vấn
đề xây dựng có liên quan đến các ngành, các cấp đó
- Thứ ba, quy định trình tự các bước thực hiện đầu tư, những thủ tục cơ
bản trong quá trình thực hiện đầu tư
- Thứ tư, quy định hệ thống kiểm tra giám sát hoạt động đầu tư và xây
dựng ở các khâu, tránh sự chồng chéo và bỏ sót nhiệm vụ
Xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật, các quy phạm kỹ thuật và
Trang 2517
quản lý đơn giá XDCB bằng vốn NSNN
- Định mức kinh tế - kỹ thuật phản ánh lượng tiêu hao vật liệu, thời gian hoạt động của máy móc, thiết bị và số giờ làm việc của công nhân trên một đơn vị sản phẩm Hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật ngày càng tiến bộ hơn do việc áp dụng khoa học - kỹ thuật vào hoạt động thi công công trình xây dựng cụ thể là tiêu hao vật liệu, số giờ máy móc thiết bị và thời gian nhân công làm việc trên một đơn vị sản phẩm giảm Đối với các tiêu chuẩn quy phạm xây dựng có xu hướng ngày càng cao do nhu cầu về sản phẩm có chất lượng ngày càng cao của xã hội
Nhà nước có trách nhiệm ban hành hệ thống các định mức kinh tế - kỹ thuật Việc sửa đổi bổ sung định mức kinh tế - kỹ thuật, quy phạm kỹ thuật là nhu cầu tất yếu của từng thời kỳ phát triển của kỹ thuật, như tiêu dùng của xã hội và tiến bộ về công nghệ trong ngành xây dựng
Nhà nước ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật nhằm mục đích quản lý được chi phí đầu tư dưới hình thức định mức dự toán, với mục đích để xây dựng các bộ đơn giá xây dựng thuộc khu vực của các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương hoặc làm cơ sở xây dựng các bộ đơn giá cá biệt cho những công trình có điều kiện đặc biệt
- Theo cơ chế quản lý hiện nay, sản phẩm XDCB đối với dự án được đầu tư bằng nguồn vốn NSNN thì nhà nước quản lý giá mua sản phẩm bằng đơn giá do Nhà nước ban hành Với phương thức quản lý giá là mỗi tỉnh, thành phố ban hành bộ đơn giá riêng để thực hiện việc mua sản phẩm; ngoài
ra một số công trình lớn, có điều kiện về kỹ thuật và điều kiện tự nhiên khác biệt lớn, Nhà nước cho phép lập bộ đơn giá riêng cho công trình ấy để quản lý chi phí
Mục đích của việc xây dựng bộ đơn giá là để không chế giá trần của từng loại hình công việc khi Nhà nước bỏ vốn ra để thanh toán cho các đơn vị
Trang 26tham gia đầu tư
Đối với đơn giá xây dựng được hình thành trên cơ sở định mức dự toán
do Bộ Xây dựng ban hành (hay định mức chuyên ngành do các bộ quản lý ngành ban hành với sự thỏa thuận của Bộ Xây dựng) với các bảng giá sau:
- Thứ nhất, bảng giá vật liệu đến hiện trường xây dựng do ban xây
dựng đơn giá của các tỉnh thành phố xây dựng trong các thời kỳ nhất định
- Thứ hai, bảng giá nhân công xây dựng được tính toán theo mức
lương tối thiểu tương ứng với cấp bậc công nhân và các loại phụ cấp theo quy định hiện hành
- Thứ ba, bảng giá ca máy và thiết bị theo tính toán của Bộ Xây dựng
tại các thời điểm
Bộ đơn giá xây dựng được hình thành để phục vụ công tác xác định tổng mức đầu tư công trình; tính toán tổng dự toán, dự toán, làm cơ sở xác định giá trị mời thầu… cũng như tính toán giá trị mà Nhà nước phải bỏ ra để mua lại sản phẩm xây dựng của các nhà thầu, đối với những dự án được đầu
tư bằng vốn NSNN
Đơn giá xây dựng cơ bản có tác động hai mặt đến quá trình quản lý đầu
tư Nếu phù hợp với mặt bằng giá thị trường nó sẽ tiết kiệm được vốn của Nhà nước, kích thích nhà đầu tư tham gia trong hoạt động đầu tư và xây dựng Nếu xây dựng ở mức quá cao hoặc quá thấp so với thị trường thì mất vốn Nhà nước hoặc không khuyến khích các nhà đầu tư
1.2.1.2 Đầu tư XDCB từ vốn NSNN
Tổ chức bộ máy quản lý đầu tư XDCB từ vốn NSNN
Tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý có tác động rất lớn đến quá trình quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng, nó tác động trực tiếp đến quá trình này từ khâu hoạch định cơ chế chính sách để quản lý xây dựng cơ bản; lập và quyết định quy hoạch xây dựng; khâu thẩm định và phê duyệt các dự án đầu
Trang 2719
tư; thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu và tổ chức đấu thầu và tổ chức đấu thầu các dự án đầu tư; khâu tổ chức quản lý dự án; khâu giám sát quá trình đầu tư…
Vấn đề chất lượng cán bộ và phân công cán bộ có tác động trực tiếp đến hiệu quả đầu tư Chính vì vậy yếu tố nguồn nhân lực có tác động toàn diện và trực tiếp đến quá trình đầu tư xây dựng cơ bản
Vấn đề tổ chức cán bộ không những thể hiển ở việc tổ chức sắp xếp cán
bộ hiện có để thực thi công vụ mà còn phải tính đến quá trình đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, nhận thức chính trị, đạo đức nghề nghiệp…
có như vậy mới nâng cao được nguồn lực con người nhằm tăng cường hiệu quả về đầu tư và xây dựng Suy cho cùng vấn đề con người là yếu tố quyết định nhất đối với công tác quản lý Nhà nước về xây dựng
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư XDCB từ vốn NSNN
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch là một trong những nội dung cơ bản trong việc quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản Nhà nước thông qua các quy hoạch và kế hoạch mà xác định hệ thống các mục tiêu dài hạn cơ bản nhất và các biện pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu đó trong một thời kỳ xác định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thường được xây dựng cho một khoảng thời gian dài, thông thường từ 10 năm trở lên Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành
và địa phương, các cơ quan QLNN tiến hành xây dựng quy hoạch và kế hoạch đầu tư theo ngành, địa phương và vùng lãnh thổ, xác định nhu cầu về vốn, nguồn vốn, các giải pháp huy động vốn… từ đó xác định danh mục các dự án
ưu tiên
Trong quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác quy hoạch và các chương trình đầu tư phát triển, coi đây là khâu quan trọng; một giải pháp mang tính chiến lược hoàn thành mục tiêu
Trang 28công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Những tác động tích cực trong quy hoạch và kế hoạch phát triển trong nhiều năm qua đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế vượt qua khó khăn, thách thức, duy trì mức tăng trưởng nhanh và bền vững; kinh tế vĩ mô ổn định, nguồn lực phát triển trong nền kinh tế đã khai thác theo hướng tiến bộ hơn; cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa…
Trong khâu kế hoạch đầu tư XDCB cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Nguyên tắc kế hoạch đầu tư:
Phải dựa vào quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, của ngành, địa phương và cơ sở; xuất phát từ tình hình cung cầu của thị trường; coi trọng công tác dự báo khi lập kế hoạch đầu tư trong cơ chế thị trường; đẩy mạnh công tác kế hoạch hóa theo các chương trình, dự án; kế hoạch đầu tư của Nhà nước trong cơ chế thị trường cần coi trọng cả kế hoạch định hướng và kế hoạch trực tiếp; phải bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, kịp thời và linh hoạt; kế hoạch đầu tư của Nhà nước phải bảo đảm những mặt cân đối lớn của nền kinh tế, kết hợp giữa giữa nội lực và ngoại lực, kết hợp giữa lợi ích hiện tại và lợi ích lâu dài, lợi ích tổng thể và lợi ích cục bộ, lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn để xem xét đánh giá, kế hoạch trực tiếp của Nhà nước phải được xây dựng theo nguyên tắc từ dưới lên
Những vấn đề cần chú ý trong quá trình quản lý kế hoạch
- Về điều kiện ghi kế hoạch đầu tư hàng năm:
Các dự án được ghi kế hoạch chuẩn bị đầu tư phải phải phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ được duyệt, có nghĩa là trước khi được ghi kế hoạch chuẩn bị đầu tư cho dự án nào đó thì trong tay phải có quyết định phê duyệt quy hoạch ngành và lãnh thổ mà dự án đó sẽ đầu tư trong tương lai Kế hoạch vốn chuẩn bị đầu tư nhằm trang trải cho những hợp đồng khảo sát sơ bộ, lập dự án khả thi và những chi phí liên quan đến việc tạo ra dự
Trang 2921
án khả thi được duyệt
Kế hoạch thực hiện đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho các hoạt động khảo sát, thiết kế kỹ thuật, các chi phí liên quan đến tổ chức đấu thầu, chi phí xây dựng và lắp đặt thiết bị cho đến khi kết thúc xây dựng bàn giao công trình đưa vào sử dụng, và được thông báo kế hoạch cho dự án khi dự án
đó có thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán được duyệt
- Về thẩm quyền thông báo kế hoạch vốn
Đối với từng cấp ngân sách trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc thông báo vốn có khác nhau:
Nguồn vốn ngân sách trung ương: Các cơ quan có liên quan là Bộ Tài chính; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Kho bạc Nhà nước
Nguồn vốn ngân sách Tỉnh: những cơ quan có thẩm quyền có liên quan
là UBND Tỉnh, Thành phố; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Tài chính
Nguồn vốn ngân sách Huyện, Xã: Các cơ quan có liên quan như: UBND các Huyện, Xã; Phòng Tài chính - Kế hoạch Huyện; Ban Tài chính
Xã
- Thời điểm thông báo kế hoạch vốn đầu tư
Về thời điểm thông báo vốn đầu tư, một trong yêu cầu cơ bản là kế hoạch vốn được cấp có thẩm quyền giao kế hoạch ngay từ đầu năm ngân sách, trên thực tế yêu cầu của chính phủ giao các cơ quan có trách nhiệm phải thông báo đến chủ đầu tư từ tháng 12 của năm ngân sách đó
Theo Luật Ngân sách, kế hoạch vốn đầu tư chỉ được thanh toán cho những khối lượng hoàn thành trong năm ngân sách (trước 31/12 năm ngân sách), chính vì vậy kế hoạch được thông báo về mặt lượng phải tương ứng với giá trị khối lượng XDCB mà chủ đầu tư và đơn vị thi công có khả năng hoàn thành trong năm kế hoạch
Tổ chức triển khai thực hiện đầu tư
Tổ chức bộ máy quản lý các dự án
Trang 30Về nguyên tắc người quản lý dự án là chủ đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao và là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình, trên nguyên tắc:
Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước thì chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định, trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với luật Ngân sách
Dự án sử dụng vốn vay tín dụng thì người vay vốn là chủ đầu tư
Căn cứ vào điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân, yêu cầu của dự án người quyết định đầu tư xây dựng quyết định lựa chọn một trong hai hình thức quản lý dự án đầu tư Nếu chủ đầu tư không đủ điều kiện về năng lực thì chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án đầu tư Đối với trường hợp này trách nhiệm và quyền lợi của chủ đầu tư và đơn vị tư vấn quản lý dự án được thể hiện trong hợp đồng kinh tế Nếu chủ đầu tư có đủ điều kiện về năng lực quản lý thì trực tiếp quản lý dự án, trong trường hợp này chủ đầu tư có thể thành lập ban quản lý dự án Ban quản lý dự án thực hiện một số nhiệm vụ do chủ đầu tư giao cho và chịu trách nhiệm trước phát luật
Nhiệm vụ của chủ đầu tư:
Tổ chức thẩm định và phê duyệt các bước thiết kế, dự toán xây dựng công trình sau khi dự án được duyệt; ký kết hợp đồng với các nhà thầu; thanh toán cho nhà thầu theo tiến độ hợp đồng theo biên bản nghiệm thu; nghiệm thu để đưa công trình vào khai thác sử dụng Tùy theo đặc điểm cụ thể của dự
án, chủ đầu tư có thể ủy quyền cho Ban Quản lý dự án thực hiện một phần hoặc toàn bộ các nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Nhiệm vụ của Ban Quản lý dự án:
Thực hiện các thủ tục về giao nhận đất, xin cấp giấy phép xây dựng, chuẩn bị mặt bằng xây dựng và các công việc khác phục vụ cho việc xây dựng công trình; chuẩn bị hồ sơ thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công
Trang 3123
trình để chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt theo quy định; lập hồ sơ mời
dự thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu; đàm phán ký kết hợp đồng với nhà thầu theo ủy quyền của chủ đầu tư; thực hiện nhiệm vụ giám sát thi công xây dựng công trình khi có đủ điều kiện về năng lực; nghiệm thu, thanh toán, quyết toán khối lượng dự án được thực hiện theo hợp đồng đã ký kết; quản lý chất lượng, khối lượng, tiến độ, chi phí xây dựng, an toàn và vệ sinh môi trường của công trình xây dựng; tổ chức nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng; lập báo cáo thực hiện vốn đầu tư hàng năm, báo cáo quyết toán vốn đầu
tư khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng
Chuẩn bị đầu tư
Tổ chức thẩm định và phê duyệt dự án, thiết kế, dự toán và tổng dự toán
Thứ nhất, Đối với công tác thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư được
thực hiện trên 3 cấp độ khác nhau:
- Những dự án quan trọng quốc gia phải lập Báo cáo đầu tư xây dựng công trình để trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư, các dự
án nhóm A không phân biệt nguồn vốn cũng phải lập Báo cáo đầu tư xây dựng để trình cấp có thẩm quyền cho phép đầu tư
Việc thẩm định Báo cáo đầu tư xây dựng do bộ quản lý ngành chủ trì và chịu trách nhiệm lấy ý kiến của các địa phương và bộ ngành khác có liên quan
- Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở
Một là, thẩm định dự án nói chung
Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước về các
dự án đầu tư để thẩm định các dự án do Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư
và các dự án khác do Thủ tướng Chính phủ yêu cầu
UBND Tỉnh tổ chức thẩm định các dự án sử dụng ngân sách thuộc
Trang 32quyền quyết định của mình Các dự án khác do người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định
Hai là, thẩm định thiết kế cơ sở
Việc thẩm định thiết kế cơ sở thực hiện cùng với việc thẩm định dự án đầu tư, không phải tổ chức thẩm định riêng Các dự án nhóm A do các bộ quản lý ngành tham gia Các dự án nhóm B, C của các bộ, ngành, địa phương
do các sở chuyên ngành tham gia
- Thẩm quyền phê duyệt dự án xây dựng công trình:
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các dự án theo nghị quyết của Quốc hội và các dự án quan trọng khác
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư các dự án nhóm A,
B, C trong phạm vi và khả năng cân đối ngân sách của địa phương sau khi thông qua Hội đồng nhân dân cùng cấp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh, cấp Huyện được uỷ quyền hoặc phân cấp quyết định đầu tư đối với các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấp dưới trực tiếp
Tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh quy định cụ thể cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp Huyện, cấp
Xã được quyết định đầu tư các dự án có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên
- Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình Đây là hình thức thấp hơn dự án đầu tư, những dự án được phép lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình bao gồm: Các công trình xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất),phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng; trừ trường hợp người quyết định đầu tư thấy cần thiết và yêu cầu phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình
Người có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình cũng
Trang 3325
được phân công phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình đồng thời là người tự tổ chức thẩm định báo cáo
Thứ hai: Thiết kế, dự toán và tổng dự toán:
Chủ đầu tư tự tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán, tổng dự toán đối với những công trình phải lập dự
án Trường hợp chủ đầu tư không đủ điều kiện về năng lực để thẩm định thì được phép thuê các tổ chức tư vấn, cá nhân có đủ điều kiện về năng lực để thẩm tra thiết kế, dự toán làm cơ sở để phê duyệt
Tổ chức thực hiện dự án
Tổ chức đấu thầu trong xây dựng
Mục tiêu của đấu thầu nhằm thực hiện tính cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà thầu phù hợp, đảm bảo hiệu quả kinh
- Trình tự tổ chức đấu thầu:
Lập hồ sơ mời thầu; thông báo đăng ký dự thầu; xác định danh sách ngắn; mời thầu; nhận và quản lý hồ sơ dự thầu; mở túi hồ sơ đề xuất kỹ thuật;
Trang 34đánh giá đề xuất kỹ thuật; mở túi hồ sơ đề xuất tài chính; đánh giá tổng hợp; trình duyệt danh sách xếp hạng các nhà thầu; thương thảo hợp đồng; trình duyệt kết quả đấu thầu; công bố kết quả trúng thầu và thương thảo hoàn thiện hợp đồng; trình duyệt nội dung hợp đồng
Công tác giải phóng mặt bằng xây dựng Việc đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng phải đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan Đối với nhà
ở của tổ chức, cá nhân phải giải quyết chỗ ở mới ổn định, có điều kiện chỗ ở bằng hoặc tốt hơn chỗ ở chũ, hỗ trợ tạo việc làm, ổn định đời sống cho người phải di chuyển, trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa các bên có liên quan
Khi tổ chức giải phóng mặt bằng xây dựng phải thành lập Hội đồng đền
bù giải phóng mặt bằng xây dựng
Trường hợp giải phóng mặt bằng xây dựng theo quy hoạch xây dựng được phê duyệt mà chưa có dự án đầu tư xây dựng thì việc đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng được thực hiện thông qua Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng do Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thành lập hoặc giao cho doanh nghiệp chuyển về giải phóng mặt bằng đảm nhận Kinh phí giải phóng mặt bằng lấy từ NSNN hoặc huy động và được thu hồi lại khi giao đất, cho thuê đất cho chủ đầu tư xây dựng công trình có dự án trên mặt bằng
đã được giải phóng
Trường hợp giải phóng mặt bằng xây dựng theo dự án đầu tư xây dựng thì việc đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng được thực hiện bởi Hội đồng giải phóng mặt bằng xây dựng do Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chủ trì phối hợp với chủ đầu tư xây dựng tổ chức giải phóng mặt bằng Kinh phí thực hiện được lấy từ dự án đầu tư xây dựng
Tổ chức bộ máy thanh toán vốn đầu tư bằng NSNN
Việc thanh toán vốn cho các dự án được đầu tư bằng vốn NSNN được
Trang 3527
thực hiện duy nhất là hệ thống Kho bạc Nhà nước
Tại Trung ương những dự án quan trọng, những dự án xây dựng theo tuyến được thực hiện qua nhiều tỉnh, thành phố được thanh toán qua sở giao dịch trực thuộc Kho bạc Nhà nước
Tại Kho bạc Nhà nước các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Tỉnh) thanh toán các dự án thuộc vốn ngân sách Trung ương và ngân sách Tỉnh, Thành phố Tùy theo điều kiện cụ thể của từng Tỉnh, Thành có thể Kho bạc Nhà nước các Tỉnh có ủy quyền (hoặc phân cấp) một số dự án thuộc ngân sách Trung ương, ngân sách Tỉnh cho Kho bạc Nhà nước cấp dưới
Tại Kho bạc Nhà nước cấp Huyện, thanh toán các dự án được ủy quyền (hoặc phân cấp) của Kho bạc Nhà nước cấp trên đồng thời thanh toán vốn cho các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp Huyện, cấp Xã
Hệ thống Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm tạm ứng vốn đầu tư cho các nhà thầu ngay khi hợp đồng xây dựng có hiệu lực phù hợp với các quy định trong từng giai đoạn
Đối với những dự án đấu thầu và một số chi phí khác được phép tạm ứng vốn đầu tư khi chưa có khối lượng hoàn thành với tỷ lệ vốn ứng trên giá trị hợp đồng kinh tế, tùy theo tính chất công việc và quy mô về vốn của gói thầu theo quy định hiện hành
Về nguyên tắc Kho bạc Nhà nước thanh toán trực tiếp cho đơn vị xây lắp hoặc tư vấn trên cơ sở đề nghị của chủ đầu tư và chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra
1.2.1.3 Thực hiện giám sát, kiểm tra, thanh tra trong XDCB từ vốn NSNN
Về cơ chế quản lý trong thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư
và xây dựng, đối với các dự án đầu tư bằng vốn NSNN, được thực hiện tập trung tại một số khâu như: Thẩm định và phê duyệt dự án; cấp giấy phép xây dựng; quản lý thi công xây dựng công trình, nghiệm thu bàn giao đưa công
Trang 36trình vào khai thác sử dụng
Trong giai đoạn lập dự án đầu tư, kiểm tra giám sát thể hiện ở các khâu phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở và tập trung vào một số điểm như: diện tích đất có phù hợp với nhu cầu thực sự của đơn vị sử dụng không? Hệ
số sử dụng đất có phù hợp với quy định của Nhà nước không? Giám sát sự phù hợp của dự án với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt tại khu vực và các công trình lân cận; ý tưởng của phương án thiết kế kiến trúc, mầu sắc công trình, các giải pháp thiết kế phù hợp với điều kiện khí hậu, môi trường, văn hóa, xã hội tại khu vực xây dựng; phương án gia cố nền, móng, các kết cấu chịu lực chính, hệ thống kỹ thuật và hạ tầng kỹ thuật của công trình; phương án phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường và cuối cùng là xác định tổng mức đầu tư cũng như thời gian xây dựng công trình
Trong giai đoạn cấp phép xây dựng với mục tiêu là xác định các dự án được đầu tư đã đủ các điều kiện cần thiết theo quy định trước khởi công công trình
Trong giai đoạn quản lý thi công xây dựng công trình tập trung vào giám sát những vấn đề như:
Về chất lượng công trình: Đi sâu vào giám sát việc đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm xây dựng công trình, việc cấp phối vật liệu đúng quy định ban hành tại các thời điểm thi công, thi công theo đúng kích thước được duyệt tại bản vẽ kỹ thuật thi công
Về tiến độ thi công công trình: Tiến độ thi công phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được duyệt Những trường hợp kéo dài thi công phải có
lý do chính đáng và phải có chấp thuận của người quyết định đầu tư bằng văn bản; khuyến khích thúc đẩy nhanh tiến độ thi công nhưng phải đảm bảo chất lượng công trình
Về quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình: Thi công xây
Trang 3729
dựng phải theo khối lượng của thiết kế được duyệt hay khối lượng trúng thầu Giám sát nghiệm thu khối lượng giữa chủ đầu tư và đơn vị thi công phải dựa trên nguyên tắc khối lượng thực tế có trên hiện trường Trường hợp khối lượng thực tế vượt khối lượng trúng thầu hoặc khối lượng trong bản vẽ thiết
kế được duyệt phải được phê duyệt của cấp có thẩm quyền
Ngoài ra vai trò về giám sát của Nhà nước còn thể hiện ở những khâu như giám sát về an toàn lao động trên công trình xây dựng, giám sát về bảo đảm môi trường…
Đối với công tác giám sát, kiểm tra tại khâu nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng Đây là giai đoạn cuối cùng mang tính tổng thể, xác định trách nhiệm của các đơn vị trực tiếp của các đơn vị trực tiếp tham gia trong quá trình đầu tư như: Chủ đầu tư - các đơn vị tư vấn thiết kế - các đơn
vị tư vấn giám sát thi công, lắp đặt thiết bị - các đơn vị thi công xây lắp và cung ứng thiết bị - đơn vị nhận tài sản cố định bàn giao
Những biện pháp và công cụ giám sát thường được thực hiện như sau: Giám sát qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện ở những khâu: Thẩm định dự án đầu tư; giám sát về môi trường, giám sát về thực hiện
an toàn lao động…
Giám sát được thực hiện từ chủ đầu tư và các cơ quan tư vấn thể hiện ở những khâu sau: Về giám sát tác giả được thực hiện từ tư vấn thiết kế, tư vấn thiết kế có nhiệm vụ kiểm tra chủ đầu tư và đơn vị thi công có thực hiện theo đúng bản vẽ do mình thiết kế hay không (giám sát quyền tác giả); giám sát thi công đây là trách nhiệm của chủ đầu tư, trong trường hợp chủ đầu tư không
đủ năng lực thì thuê tư vấn để giám sát, với nhiệm vụ giám sát đơn vị thi công phải thi công đúng bản vẽ thiết kế được duyệt hoặc khối lượng trúng thầu
Công tác thanh tra, kiểm tra là việc thực hiện đánh giá kết quả hoạt động của một hay tất các khâu của dự án đầu tư, công tác này được thực hiện
Trang 38bởi những cơ quan như: Thanh tra Nhà nước; Kiểm toán Nhà nước; Thanh tra chuyên ngành Mục đích của thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhằm xác định tính đúng đắn của các báo cáo về các vấn đề do chủ đầu tư lập
1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý đầu tư XDCB từ vốn NSNN
Thứ nhất, do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa
Với mục tiêu trên chúng ta cần phải có nhiều vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý Tuy nhiên trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm định hướng phát triển kinh tế - xã hội theo từng thế mạnh của từng địa phương, song quá trình thực hiện còn nhiều mặt chưa được: vốn đầu tư còn thiếu, nhưng bố trí còn dàn trải, chưa tập trung, chưa có trọng điểm, cho nên chưa đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra
Thứ hai, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn nhằm đảm bảo tránh thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB
Thời gian qua, nguồn vốn đầu tư XDCB không ngừng nâng cao, thường chiếm tỉ trọng khoảng gần 30% trong cơ cấu ngân sách Nhà nước Trong thực tế, việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn nhiều bất cập và tồn tại như: Cơ chế chính sách chưa đồng bộ, còn nhiều kẽ hở; công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn kém… điều đó dẫn tới thất thoát vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở hầu hết các dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSNN Đây là vấn đề đang làm nhức nhối trong toàn xã hội Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tránh thất thoát, tăng hiệu quả vốn đầu tư bằng NSNN? Thực hiện được điều này trước hết phải đổi mới cơ chế quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
Như vậy, xuất phát từ thực trạng bất cập của cơ chế đầu tư XDCB bằng vốn NSNN, nên cần phải đổi mới lĩnh vực này nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế -
Trang 3931
xã hội của dự án đầu tư và chống thất thoát, lãng phí là tất yếu khách quan
Thứ ba, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN trên địa bàn nhằm đảm bảo tính hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư
Nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực chính trị, thực hiện điều tiết và điều chỉnh đối với mọi hoạt động của xã hội, nhằm mục tiêu phát huy
và khai thác triệt để những tiềm năng của đất nước để thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội Quá trình đó được thực hiện chủ yếu bằng pháp luật và các chính sách để quản lý và điều tiết các hoạt động, trong đó có các hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản bằng ngân sách Nhà nước
Cơ chế quản lý về đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện và vận hành kết quả đầu tư) và các yếu tố đầu tư bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất, trong điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan vào trong lĩnh vực đầu tư
Trong những năm qua, nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước nói riêng và của toàn xã hội nói chung ngày càng tăng, đã góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng đáng kể năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm mới, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Nguồn vốn đầu
tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước thực sự có vai trò chủ đạo, dẫn dắt, thu hút và làm cho các nguồn vốn của xã hội được huy động cho đầu tư phát triển tăng hàng năm
Cơ chế quản lý về đầu tư XDCB trong những năm gần đây có một số tiến bộ nhất định, bước đầu phát huy hiệu quả trong việc phát hiện những yếu
Trang 40kém, tiêu cực trong quản lý, góp phần từng bước hạn chế và khắc phục những
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này
Tuy nhiên, cơ chế quản lý vốn đầu tư XDCB nói chung và nguồn vốn
từ ngân sách Nhà nước nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề bức xức như: Quy hoạch, kế hoạch đầu tư chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao; quy hoạch, kế hoạch theo ngành chưa gắn chặt với từng vùng địa phương; mô ̣t số quyết đi ̣nh chủ trương đầu tư thiếu chính xác; tình tra ̣ng đầu tư dàn trải diễn ra phổ biến thể hiê ̣n trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư; từ chủ trương đầu tư, quy hoa ̣ch, lâ ̣p, thẩm đi ̣nh dự án, khảo sát thiết kế đến thực hiê ̣n đầu tư, đấu thầu, nghiê ̣m thu, điều chỉnh tăng dự toán và đưa công trình vào khai thác sử du ̣ng;
nơ ̣ tồn đo ̣ng vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng.Vì vâ ̣y, để đảm bảo tính hiê ̣u quả trong đầu tư XDCB từ vốn NSNN đòi hỏi phải đổi mới cơ chế quản lý
Thứ tư, thực hiê ̣n phương châm của Đảng và Chính phủ: "Dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Các công trình xây dựng được đầu tư từ ngân sách Nhà nước đi ̣a phương đều phu ̣c vu ̣ lơ ̣i ích cho nhân dân ở đi ̣a phương Cho nên cần phải bàn
ba ̣c với nhân dân, phải công khai minh ba ̣ch các dự án được đầu tư mới phù
hơ ̣p, phát huy hiê ̣u quả, chất lượng công trình Có như vâ ̣y các công trình, dư án được đầu tư mới phù hợp, phát huy hiê ̣u quả, chất lượng công trình được
đảm bảo, tránh thất thoát, lãng phí, tiêu cực
Thứ năm, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng là một xu thế tất yếu của tất cả các quốc gia và dân tộc
Do điều kiện về KT-XH và lợi thế cạnh tranh của nước ta không đồng nhất với nhiều nước trên thế giới Để đảm bảo cho nền kinh tế nước ta hội nhập, tận dụng được những nguồn lực ngoài nước và sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có một lộ trình hội nhập phù hợp