Luận văn Thạc sĩ Lịch sử: Người Hoa ở Đồng Nai 1954 - 2005 sau đây bao gồ những nội dung về quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai 1954 – 2005; hoạt động kinh tế và tổ chức xã hội của người Hoa ở Đồng Nai 1954 – 2005;... Mời các bạn tham khảo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ LÊ HUỲNH HOA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn:
- Tiến sĩ Lê Huỳnh Hoa, khoa Sử trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tận tình hướng dẫn khoa học trong suốt quá trình tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu
- Quý Thầy cô khoa Sử, Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy
và trang bị cho tác giả những kiến thức sâu sắc
- Phòng Sau Đại học trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Viện khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Đồng Nai đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
- Ban Quản trị Hội quán (cơ sở tín ngưỡng) tại các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cung cấp cho tác giả luận văn những thông tin phong phú và dịch những tư liệu chữ Hán tại đây, giúp tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Người Hoa đến Đồng Nai ngay từ buổi đầu mở mang khai phá vùng đất này Trong quá trình lịch sử hơn 300 năm, cùng với lưu dân người Việt, cộng đồng người Hoa đã có nhiều đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội của tỉnh Đồng Nai
Ở Việt Nam, người Hoa có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành nước ta, nhưng đông nhất là ở TP Hồ Chí Minh (49,71%), kế đến là Đồng Nai (11,81%) Tại tỉnh Đồng Nai, người Hoa là tộc người có số dân chiếm tỷ lệ cao thứ hai, sau người Kinh (Việt) từ 5% đến 5,34%
Hiện nay, người Hoa là công dân nước Việt Nam, là một lực lượng kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện về cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai, nhằm cung cấp những hiểu biết toàn diện về một cộng đồng dân tộc có lịch sử hơn 300 năm ở đất Đồng Nai, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định những chính sách kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai hiện nay
và sau này là việc làm cần thiết và không thể thiếu được
Đề tài tiếp cận nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai dưới nhiều góc độ: lịch sử di dân, hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội với mục đích có được một cái nhìn toàn diện về cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai, nhất là ở những giai đoạn lịch sử thăng trầm Và dù ở giai đoạn lịch sử nào, dù sống dưới chế độ xã hội nào, người Hoa ở Đồng Nai luôn tích cực, chủ động, sống hoà nhập với cộng đồng Đồng thời, thể hiện bản lĩnh cũng như những nét đặc thù của dân tộc mình trong quá trình cộng
cư cùng những dân tộc khác ở Đồng Nai, cũng như ở Việt Nam Qua đó, cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai được nhận diện, ta thấy sự khác biệt cơ bản giữa cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai với cộng đồng người Hoa ở một số nơi như: thành phố Hồ Chí Minh, Sóc Trăng…
Vì vậy, đề tài “Người Hoa ở Đồng Nai 1954 – 2005” góp phần thiết thực vào việc hình thành những hiểu biết khoa học về cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai một cách khá toàn diện, góp phần làm phong phú lịch sử vùng đất Đồng Nai với lịch sử hơn 300 năm Xuất phát từ những vấn đề có tính khoa
học và thực tiễn, tác giả đã chọn: “Người Hoa ở Đồng Nai giai đoạn 1954 - 2005” làm đề tài tốt
nghiệp Sau đại học
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Theo Chỉ thị số 62-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 8-11-1995 “Về tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới”, xác định “Người Hoa bao gồm những người gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quốc đã Hán hóa di cư sang Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn giữ những đặc trưng văn hóa, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của người dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa”
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: “Người Hoa ở Đồng Nai 1954 – 2005” là toàn bộ hoạt động của người Hoa ở Đồng Nai giai đoạn 1954 – 2005
Trang 4Đề tài tập trung tìm hiểu quá trình di dân của người Hoa đến đất Đồng Nai, hoạt động kinh tế, sinh hoạt văn hoá, xã hội trong khoảng thời gian 1954 – 2005 Đề tài nhằm phát hiện nét đặc thù của cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai
Người Hoa ở Đồng Nai vừa sống ở nông thôn, vừa sống ở thành thị, đề tài tiếp cận nghiên cứu
cả hai nhóm cư dân này Với lịch sử hơn 300 năm, mọi hoạt động của cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai luôn diễn ra một cách tích cực, chủ động, sáng tạo và đã đem lại những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội của tỉnh Đồng Nai
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian:
+ Tỉnh Biên Hòa (1954 – 1975)
+ Tỉnh Đồng Nai (1975 – 2005)
- Về thời gian: Đề tài chọn nghiên cứu về người Hoa ở Đồng Nai, giai đoạn 1954 – 2005, vì
người Hoa ở Đồng Nai sinh sống và hoạt động trong khoảng thời gian nói trên dưới hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau:
+ Giai đoạn 1955 – 1975: Chế độ chính trị - xã hội Việt Nam Cộng Hòa
+ Giai đoạn 1975 – 2005: Chế độ chính trị - xã hội Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tác giả chọn khoảng thời gian trên, để thấy được bản lĩnh trong hoạt động kinh tế, nét đặc sắc trong hoạt động văn hoá của tộc người Hoa, cùng quá trình hình thành cộng đồng tộc người trong các giai đoạn lịch sử khác nhau
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về ý nghĩa khoa học, luận văn “Người Hoa ở Đồng Nai 1954 – 2005” góp phần cung cấp
những hiểu biết toàn diện, khoa học về cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai, từ quá trình hình thành tộc người đến hoạt động kinh tế, sinh hoạt văn hóa – xã hội từ 1954 đến 2005
- Về ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần ứng dụng cho các ban ngành,
Mặt trận tổ quốc tỉnh Đồng Nai có một cái nhìn khoa học, toàn diện và xuyên suốt theo dòng lịch sử về cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai Từ đó, góp phần hoạch định chính sách dân tộc toàn diện; đồng thời luận văn còn có giá trị tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập về vấn đề dân tộc trong các Viện nghiên cứu và các trường Đại học, Cao đẳng, THPT
4 Tình hình nhiên cứu
Đề tài người Hoa ở Việt Nam từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Trong từng công trình, cộng đồng người Hoa được đề cập trên nhiều lĩnh vực khác nhau
4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Đầu thế kỷ XIX, xã hội người Hoa ở Đồng Nai được tác giả Trịnh Hoài Đức giới thiệu trong bộ
“Gia Định Thành thông chí” với nội dung đề cập đến sự di dân của người Hoa và việc hình thành cảng
thị Cù Lao Phố ở Biên Hoà cuối thế kỷ XVII (Bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha Văn Hoá Phủ
Trang 5Quốc vụ khanh xuất bản năm 1972), đồng thời cũng đề cập đến các phong tục - tập quán, sinh hoạt văn hoá vật chất và tinh thần cùng với các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa ở Đồng Nai – Gia Định một
cách khái quát Cũng bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, năm 1973, bộ “Đại Nam nhất thống chí: Lục
tỉnh Nam Việt” cũng nói đến lịch sử di dân của người Hoa vào vùng đất Đồng Nai và Nam Bộ cùng
với sinh hoạt kinh tế, văn hoá của người Hoa ở vùng đất mới này
Năm 1880, trong Báo cáo của Hội đồng quản hạt Nam Kỳ có nói đến các thương điếm của
người Hoa ở Nam Kỳ và khu vực Sài Gòn Năm 1924, tác giả Đào Trịnh Nhất đã công bố công trình
“Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ”, tác phẩm đề cập đến hoạt động kinh tế của người Hoa ở miền Nam vào đầu thế kỷ XX Tác giả Khương Hữu Điễu trên tạp chí “Cấp tiến” ở Sài Gòn ra năm 1970 đã có bài “Người Việt gốc Hoa và nền kinh tế Việt Nam”, bài viết đã phân tích vai trò của
người Hoa trong hoạt động kinh tế ở miền Nam nói chung cũng như ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn Những công trình trên, bước đầu đi sâu đề cập đến một số hoạt động kinh tế của người Hoa, có nhiều
tư liệu quý giá để tác giả luận văn tham khảo
Từ sau năm 1975, việc nghiên cứu người Hoa, trong đó có các hoạt động kinh tế không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn là một nhu cầu thực tiễn, nhằm góp phần hoạch định một chính sách kinh tế toàn diện, trong đó có đóng góp của người Hoa Nghiên cứu về hoạt động kinh tế của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh từ sau 1975 đến nay đã có nhiều công trình được công bố Năm 1987, tác giả
Trần Khánh đã bảo vệ Luận án Phó Tiến sĩ “Những khuynh hướng cơ bản phát triển xã hội và chính trị
tộc người cộng đồng người Hoa ở Việt Nam”(từ nửa sau thế kỷ XIX đến năm 1945 ở miền Bắc và đến năm 1975 ở miền Nam) Năm 1989, Viện Khoa Học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh và Ban công
tác người Hoa đã hợp tác nghiên cứu chương trình “Những biến đổi kinh tế - xã hội của người Hoa ở
thành phố Hồ Chí Minh từ sau 1975”
Từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay, ngày càng có nhiều nhà khoa học chú ý tới lĩnh vực văn hoá tinh thần, đặc biệt là tín ngưỡng, văn hoá, tôn giáo của người Hoa, tiêu biểu là tác phẩm của các tác giả: Phan An, Trần Hồng Liên, Phan Thị Yến Tuyết, Phan Ngọc Nghĩa, xuất bản 1990, với
tiêu đề “Chùa Hoa thành phố Hồ Chí Minh”, tác phẩm trình bày chi tiết về quá trình hình thành các cơ
sở tín nguỡng – tôn giáo của người Hoa cùng với mô thức kiến trúc, nghệ thuật trang trí, điêu khắc, thờ
tự và sinh hoạt lễ hội ở các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo này
Công trình “Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân
Diệm, Mạc Đường, xuất bản năm 1990 Công trình này đã miêu tả phần văn hoá tinh thần của các dân tộc, trong đó có người Hoa ở Nam Bộ với những nội dung đề cập đến hệ thống thờ tự của người Hoa trong gia đình cũng như ở các cơ sở tín ngưỡng dân gian Cũng trong năm này, một nhóm nghiên cứu
dưới sự chủ biên của tác giả Phan An đã tiến hành công trình nghiên cứu “Người Hoa ở Quận 6” Năm
1992, Viện Khoa học xã hội và Ban công tác người Hoa tiếp tục tập hợp nghiên cứu đề tài “Phát huy
tiềm năng của người Hoa trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hồ Chí Minh” Năm
Trang 61994, cuốn “Xã hội người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh sau 1975” do tác giả Mạc Đường chủ biên
được xuất bản đã đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, từ tên gọi, địa bàn, phân bố dân cư, vị trí xã hội, kinh tế, văn hoá và nhấn mạnh vai trò tín ngưỡng - tôn giáo trong việc định hướng những chuẩn mực nhân cách của người Hoa Luận án Phó tiến sĩ khoa học kinh
tế của tác giả Trần Hồi Sinh với đề tài “Người Hoa trong nền kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”
cung cấp những hiểu biết thiết thực về hoạt động kinh tế của người Hoa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đặc điểm vai trò, và vị trí của người Hoa trong hoạt động kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh, đây
là một tác phẩm nghiên cứu sâu về hoạt động kinh tế của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh
Năm 2000, Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản cuốn “Định cư của người Hoa trên đất Nam
Bộ” do tác giả Nguyễn Cẩm Thuý chủ biên, đây là công trình nghiên cứu tổng thể về quá trình di dân,
định cư và sinh hoạt của người Hoa trên đất Nam Bộ, có nhiều tư liệu quan trọng để tác giả tham khảo
Cũng Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2005, xuất bản cuốn“Người Hoa ở Nam Bộ” của tác giả
Phan An, tác phẩm nghiên cứu một cách tổng quan về hoạt động của người Hoa ở Nam Bộ, chủ yếu là
ở thành phố Hồ Chí Minh và ở Sóc Trăng Tác phẩm đã cung cấp cho tác giả một định hướng nghiên cứu ban đầu để nghiên cứu về người Hoa ở Đồng Nai
Tình hình nghiên cứu ở Đồng Nai: Trước năm 1975, nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu đã biên
soạn bộ “Biên Hoà sử lược toàn biên” gồm 5 quyển (đã xuất bản 2 quyển), nội dung giới thiệu về vùng
đất Biên Hoà – Đồng Nai sau ba thế kỷ hình thành , đặc biệt tài liệu đánh máy (quyển 5) chưa xuất bản
với nhan đề “300 năm người Việt gốc Hoa”, đây là một nguồn tài liệu quý hiếm viết về quá trình nhập
cư và phát triển của cộng đồng người Hoa đến Biên Hoà – Đồng Nai trước năm 1954 (nhưng rất tiếc hiện nay đã bị thất lạc, tác giả luận văn không tiếp cận được) Năm 1998, Ban chỉ đạo Lễ kỉ niệm 300
năm vùng đất Biên Hoà – Đồng Nai đã xuất bản cuốn “Biên Hoà – Đồng Nai 300 năm hình thành và
phát triển”, đây là công trình địa chí thu nhỏ, khái quát về sự hình thành và phát triển của vùng đất
Biên Hoà – Đồng Nai suốt 300 năm Trong phần Văn hoá – xã hội, công trình đã giới thiệu về lịch sử
di cư và sinh hoạt văn hoá – xã hội của người Hoa ở Đồng Nai từ năm 1679 (sự kiện Trần Thượng Xuyên cùng nhóm di thần nhà Minh từ Trung Quốc sang xin thần phục Nam triều được chúa Nguyễn cho vào khai khẩn vùng đất Đông phố - Biên Hoà còn hoang sơ) cho tới quá trình sinh hoạt văn hoá
của cộng đồng người Hoa ở Biên Hoà hiện nay Năm 2001, tỉnh Đồng Nai xuất bản bộ “Địa chí Đồng
Nai” có 5 tập (tổng quan, địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hoá – xã hội), ở mỗi tập đều có nhắc đến đóng
góp của người Hoa ở từng lĩnh vực cụ thể Tác phẩm “Cù Lao Phố - lịch sử và văn hoá” do tập thế
Nhà Bảo tàng Đồng Nai biên soạn, đuợc Nhà xuất bản Đồng Nai xuất bản năm 1998 cũng đề cập đến vai trò và vị trí của người Hoa trong buổi đầu xây dựng cảng thị Cù Lao Phố trở thành một trung tâm thương mại sầm uất một thời ở Nam Bộ
Năm 2002, tạp chí Xưa và Nay xuất bản sách “Miền Đông Nam Bộ lịch sử và phát triển” của nhiều tác giả, trong đó có bài “Tín ngưỡng của người Hoa ở Đồng Nai” của tác giả Huỳnh Văn Tới,
Trang 7nội dung của bài viết phần nhiều đề cập đến quá trình giao thoa văn hóa về tín ngưỡng giữa hai dân tộc Hoa và dân tộc Việt Năm 2001 và 2002, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh Uỷ và Uỷ Ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Sở Văn hoá thông tin và Nhà Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành khảo sát cơ sở tín ngưỡng và
lễ hội của người Hoa trên đại bàn tỉnh Đồng Nai Kết quả của hai đợt khảo sát đã đuợc tổng kết trong
công trình biên khảo “Khảo sát cơ sở tín ngưỡng và lễ hội của người Hoa ở Đồng Nai” Năm 2005, Nhà xuất bản Đồng Nai xuất bản công trình “Văn hoá Đồng Nai (sơ thảo)” của hai tác giả Huỳnh Văn
Tới và Phan Đình Dũng, đây là tập hợp những chuyên khảo về văn hoá dân gian ở Đồng Nai, trong đó
có một vài chuyên khảo về người Hoa
Gần đây, tháng 5/2008, Ban Dân vận Tỉnh Ủy Đồng Nai vừa công bố công trình nghiên cứu
“Người Hoa trong cộng đồng các dân tộc ở Đồng Nai” Đây là công trình duy nhất ở Đồng Nai nghiên cứu về người Hoa một cách khá toàn diện, nhưng đề tài này mới chỉ tập trung nghiên cứu giai đoạn từ
1995 đến 2005
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về người Hoa ở Đồng Nai một cách tổng quát chưa nhiều Vì vậy, luận văn “Người Hoa ở Đồng Nai” góp phần nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai một cách toàn diện Đây là một việc làm thiết thực, vừa mang ý nghĩa khoa học vừa mang ý nghĩa thực
tiễn Đó cũng là những cố gắng sẽ đuợc thể hiện trong nội dung luận văn “Người Hoa ở Đồng Nai
1954 – 2005”
4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Một người Hoa ở Chợ Lớn, ông Tsai Mawkuey, đã bảo vệ luận án Tiến sĩ “Người Hoa ở miền
Nam Việt Nam” tại Paris năm 1968 Đây là một công trình nghiên cứu về người Hoa ở miền Nam – tập
trung ở Sài Gòn, có nhiều tư liệu đáng chú ý Riêng về kinh tế của người Hoa, tác giả đã đưa ra một số thống kê từ Phòng thương mại Hoa kiều ở Chợ Lớn và các ngân hàng của người Hoa
Nghiên cứu về người Hoa một cách toàn diện có tác phẩm “Người Hoa tại Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Văn Huy, xuất bản tại Pari năm 1993, cung cấp một nguồn tư liệu về hoạt động của người Hoa tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, nhất là các chính sách của chính quyền đối với người Hoa ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử
Cũng trong năm 1993, tại Singapore tác giả Trần Khánh đã xuất bản sách “Cộng đồng người
Hoa với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam” Trong công trình này, tác giả đã có sự hệ thống các số liệu
kinh tế của người Hoa ở Sài Gòn trước năm 1975 và ở thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu về người Hoa của các tác giả đi trước Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong việc nghiên cứu tổng quan về người Hoa ở Đồng Nai Đồng thời việc nghiên cứu còn
Trang 8dựa trên những cơ sở, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về việc nghiên cứu dân tộc, trong đó có dân tộc Hoa
Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử, luận văn đặc biệt chú ý đến mọi mặt hoạt động và đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai giai đoạn 1954- 2005
- Phương pháp logích cũng được sử dụng khi luận văn rút ra những nét đặc trưng của người Hoa ở Đồng Nai, để từ đó thấy được sự đa dạng của người Hoa ở Nam Bộ
- Phương pháp điền dã cũng được thể hiện qua luận văn là sự quan sát trực tiếp hoạt động của những cơ sở kinh tế, nhà cửa, những tổ chức xã hội, những cơ sở tín ngưỡng, những lễ hội văn hoá tiêu biểu của người Hoa ở Đồng Nai
- Ngoài những phương pháp cơ bản kể trên, để có thể tiếp cận một cách tốt nhất
những vấn đề được nêu ra, tác giả luận văn còn sử dụng những phương pháp của những ngành khoa học liên quan như: xã hội học, dân số học, thống kê học Ngoài ra các biện pháp kỹ thuật như: chụp ảnh, ghi âm, quay phim cũng được tác giả sử dụng nhằm minh họa một số nội dung thiết yếu của luận văn
- Nguồn tài liệu
Mục đích, nội dung và những vấn đề cần phải giải quyết của luận văn “Người Hoa ở Đồng Nai
1954 – 2005” đã đặt tác giả trước một công việc cụ thể nhưng phức tạp Đó là việc thu thập, chọn lọc
và hệ thống tài liệu
+ Ở nguồn tài liệu thư tịch: Luận văn sử dụng những tư liệu của các nhà nghiên cứu từ thế kỷ
XIX đến tài liệu mới nhất là năm 2008, bao gồm các xuất bản phẩm chuyên khảo về người Hoa ở Việt Nam, ở miền Nam, ở Đồng Nai Ngoài ra, tác giả còn sử dụng những bài nghiên cứu được công bố trên
các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học, Văn hoá dân gian, Văn hoá
nghệ thuật, Xưa và Nay, và các trang web có nội dung liên quan đến đề tài Đặc biệt, là nguồn tài liệu
được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện tỉnh Đồng Nai; Thư viện Bảo tàng Đồng Nai; Thư viện Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Bên cạnh những hệ thống tư liệu nghiên cứu, tác giả còn sử dụng một số văn bản về pháp lệnh tôn giáo, tín ngưỡng, các chỉ thị của Nhà nước, của Chính phủ, của Ban Dân vận Trung ương về công tác người Hoa lưu trữ tại Ban Tôn giáo tỉnh Đồng Nai, Mặt Trận tổ quốc Tỉnh Đồng Nai Khi nghiên cứu người Hoa dưới chính quyền Sài Gòn ở miền Nam, tác giả đã sử dụng một số tư liệu về chính sách của chính quyền Sài Gòn đối với người Hoa ở Việt Nam, ở Đồng Nai, nhất là những tư liệu đề cập đến hoạt động kinh tế của người Hoa ở Đồng Nai giai đoạn 1954 – 1975
+ Ở nguồn tài liệu thu thập qua điền dã dân tộc học, tác giả đã: Tiến hành khảo sát một số cơ sở
sản xuất tiêu biểu của người Hoa ở Đồng Nai với những nghành nghề truyền thống còn được lưu giữ
Trang 9và phát huy thế mạnh ở thời hiện tại - khảo sát một số cơ sở sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo tiêu biểu của người Hoa ở Đồng Nai từ buổi đầu khai phá cho đến nay Ngoài ra, tác giả còn phỏng vấn, trao đổi
về những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh tế, văn hoá tinh thần của một số gia đình và một số Hội quán của người Hoa ở Đồng Nai Những đợt khảo sát đó, đã cho ra những cứ liệu tương đối xác thực nhằm nghiên cứu người Hoa ở Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay một cách toàn diện và chân thực
Trang 10Chương 1 - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở ĐỒNG NAI 1954 –
2005
Vùng đất Đồng Nai thuộc về chúa Nguyễn năm 1620, khi Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái thứ hai là công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II (1618 – 1628) Nhà vua Chey Chetta II đã tặng Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên một phần lãnh thổ là vùng đất Đồng Nai làm quà cưới
Đồng Nai hiện nay có 36 cộng đồng tộc người cùng sinh sống Trong đó người Kinh (Việt) chiếm 91,3% dân số, tiếp theo là người Hoa xếp thứ hai, kế đến là các cư dân bản địa như Châu Ro, Châu Mạ, Stiêng… Trên 90% người Hoa trong cả nước định cư ở Nam Bộ Đông nhất là ở thành phố
Hồ Chí Minh (gần 50%) và kế đến là Đồng Nai (11,81%)
Trước khi người Việt và người Hoa đến Đồng Nai, cư dân bản địa ở đây là người Khơme đã khai thác vùng đất này Khi đến đây, người Việt và người Hoa tiếp tục công cuộc khai thác và cải tạo
vùng đất “toàn là rừng rậm ấy” để có một Đồng Nai phồn thịnh và tươi đẹp như ngày hôm nay Cùng
với quá trình đó, là quá trình hình thành cộng đồng người Hoa trên ở đất Đồng Nai với lịch sử hơn 300 năm
1.1 Chính sách của các chính quyền đối với người Hoa di cư đến Việt Nam
Trước tình trạng di cư đông đảo của người Hoa đến Việt Nam, các chính quyền thống trị của Việt Nam trong lịch sử đã có những thái độ và chính sách khác nhau đối với người Hoa di cư đến Việt Nam Những chính sách ấy đã tác động đến quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, trong đó có Đồng Nai Đồng thời những chính sách ấy, cũng quyết định diễn trình kinh tế, diễn tiến văn hóa của cộng đồng người Hoa ở đất Đồng Nai nói riêng và Việt Nam nói chung
1.1.1 Thời kỳ trước năm 1954
Năm 1679, nhóm người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đã xin phép chúa Nguyễn được tỵ nạn chính trị ở Việt Nam Chúa Nguyễn Phúc Tần đã tỏ ra rất thông cảm và đối xử với nhóm người Hoa này một cách rất tử tế: “ bèn khiến đặt yến tiệc đãi họ, an ủi, khen ngợi, cho các tướng lãnh y chức cũ, phong thêm quan tước mới, khiến vào ở đất Đông phố để mở mang đất ấy Họ được các tướng Vân Trình, Văn Chiêu hướng dẫn; binh thuyền tướng sĩ Long Môn của Dương Ngạn Địch, tiến vào cửa Lôi Lạp, theo cửa Đại, cửa Tiểu, đến định cư ở Mỹ Tho, binh lính tướng sĩ Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình tiến vào cửa biển Cần Giờ rồi lên định cư ở xứ Bàn Lân, xứ Đồng Nai” [28, tr.110] Đây là sự kiện đánh dấu sự có mặt đầu tiên của người Hoa ở đất Đồng Nai Người Hoa
được phép khai khẩn những vùng đất “màu mỡ, có đến ngàn dặm”, “ khai hoang đất ấy để ở” [28,
tr.110]
Triều Nguyễn đã khuyến khích lưu dân người Hoa khai hoang, lập đất Sách Gia Định thành
thông chí của Trịnh Hoài Đức chép:“Đất Nông Nại (…) phép tắc hãy còn khoan dung giản dị” Ngay
cả việc trưng thuế cũng “tùy thuộc lòng dân, không hề ràng buộc, cốt sao khiến dân khai hoang mở đất
Trang 11cho thành ruộng lập nên thôn xã mà thôi” Nếu so với các dinh trấn phía Bắc thì phép tắc ở Đồng Nai
– Gia Định “còn rất khoang dung mà thuế lệ cũng còn nhẹ” [28, tr.115]
Như vậy, người Hoa đến đất Đồng Nai được các chúa Nguyễn cho lưu trú và tạo điều kiện cho được định cư lâu dài ở vùng đất mới, nên người Hoa ở Đồng Nai, nhóm theo Trần Thượng Xuyên chịu
ơn, chịu nghĩa các chúa Nguyễn Vì thế, khi Hoàng Tiến tướng dưới quyền của Dương Ngạn Địch chống lại chúa Nguyễn thì người Hoa đã đi theo và ủng hộ chúa Nguyễn đánh bại Hoàng Tiến Điều đó cho thấy sự biết ơn sâu sắc và lòng trung thành của họ đối với các chúa Nguyễn ở buổi đầu khi đến đất Đồng Nai Họ sẵng sàng bảo vệ sự an nguy của các chúa Nguyễn mỗi khi có nguy biến, họ cũng sẵn sàng chấp nhận những mất mát và hy sinh để chứng tỏ lòng trung thành của mình Vì thế, mà các chúa Nguyễn có những chính sách ưu ái để người Hoa ở Đồng Nai có thể an tâm lập nghiệp và định cư lâu dài ở đây
Những chính sách của các chúa Nguyễn đối với người Hoa thực chất là chính sách của chúa Nguyễn đối với công cuộc Nam tiến Để hoàn thành công cuộc này chúa Nguyễn buộc phải có những chính sách để người Hoa yên tâm, tin tưởng vào chính quyền cai trị, và tất nhiên đến lượt mình họ tất
sẽ trở thành lực lượng tích cực cho công cuộc đó
Nếu như dưới thời các chúa Nguyễn người Hoa được ưu đãi bao nhiêu, thì dưới thời Tây sơn, người Hoa lại bị thất sủng bấy nhiêu Một trong những nguyên nhân giải thích cho sự thất sủng đó là
do năm 1776, khi Nguyễn Lữ tiến quân vào Gia Định thì một thương nhân người Hoa tên là Lý Tài (trước theo Tây Sơn), đã đánh lại và gây thiệt hại cho quân Tây Sơn rất nhiều tại cầu Tham Lương Nhưng cuối cùng đội quân của Lý Tài bị Nguyễn Lữ đánh bại Sau đó, Nguyễn Lữ đã chiếm được thương cảng lớn nhất tại Cù Lao Phố là Nông Nại Đại Phố (Biên Hòa), tịch thu và chở hết những vật liệu kiến trúc quý của người Hoa (gạch ngói tráng men, cột đá cẩm thạch, bàn ghế xảm xà cừ) về Quy Nhơn Từ đó mối quan hệ giữa Tây Sơn và người Hoa luôn ở trong tình trạng căng thẳng Người Hoa ở Đồng Nai đã chuyển về định cư tại Sài Côn (TPHCM) lập Chợ Lớn để tiếp tục buôn bán sau sự kiện này
Thế nhưng, sau khi Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây sơn, lập ra triều Nguyễn năm 1802, thì người Hoa lại dành được ưu thế Các vua triều Nguyễn, đặc biệt là vua Gia Long, rất biết ơn cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai nói riêng và Nam Bộ nói chung vì những cống hiến của họ đối với công cuộc xây dựng chính quyền của nhà Nguyễn Để tỏ lòng biết ơn, năm 1787, Nguyễn Ánh cho thành lập bốn
bang ngữ phương lớn gốc Hoa tại miền Nam, gồm các bang: Quảng Đông (廣東), Phúc Kiến (福建), Triều Châu (潮州), và Hải Nam (海南), để điều hành các vấn đề nội bộ trong cộng đồng
người Hoa Có thể nói, đây là lần đầu tiên, người Hoa ở hải ngoại được phép thành lập những tổ chức quản trị độc lập với nền hành chính của chính quyền địa phương Bốn bang này đuợc hưởng nhiều đặc quyền trong sinh hoạt: thủ tục hành chính đơn giản, việc kiểm soát cư trú được bãi miễn, thuế khóa nhẹ
Trang 12nhàng Sau này, theo yêu cầu của người Hoa, bốn bang này đã đuợc cải tổ lại thành bảy bang: Phúc Kiến, Phúc Châu, Triều Châu, Quảng Châu, Quế Châu, Lôi Châu và Hải Nam Bang chúng trong các bang này được hưởng mọi quyền lợi như người Việt, mà không phải chịu các nghĩa vụ như: đi lính và nộp các thứ thuế định kỳ Điều này chỉ diễn ra dưới thời Gia Long, các triều vua tiếp sau đó đã không
ưu đãi người Hoa như thời Gia Long nữa Năm 1841, sau khi Gia Long mất, những khu tự trị của người Hoa ở Đồng Nai và miền Tây dần dần bị hủy bỏ Đến năm 1843, thời Thiệu Trị, có lệnh không cho người Hoa trở về Trung Quốc
Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ (1859 – 1862), Pháp đã dành cho người Hoa ở đây những quyền lợi ngang bằng hoặc hơn cả người Việt Năm 1862, nhằm đánh thuế và kiểm tra sự di cư bất hợp pháp, chính quyền thuộc địa cho ban hành thuế thân và cho lưu hành thẻ kiểm tra đối với những người Hoa
sinh sống tại Nam Kỳ Năm 1867, chính quyền thuộc địa Pháp cho người Minh Hương (明香人 _明鄉人) những quyền như người Việt Năm 1884, sau khi hoàn tất việc chiếm đóng Việt Nam và muốn giữ quan hệ ngoại giao tốt với Trung Hoa, chính quyền thuộc địa Pháp công nhận người Hoa sống tại Việt Nam là công dân của Trung Hoa Ngày 9/6/1885, Pháp ký với Trung Hoa hiệp ước Thiên Tân lần thứ nhất xác nhận quy chế bình đẳng của Hoa kiều sống tại Việt Nam: được an toàn về tính mạng và tài sản, nhưng những người này phải có thẻ lưu trú và đóng thuế thân Hiệp ước Thiên Tân ký lần thứ hai ngày 24/4/1886 cho phép người Hoa đi lại tự do và được thành lập những cơ sở kinh doanh trên khắp lãnh thổ Nam Kỳ
Tại Đồng Nai, thực dân Pháp có những chính sách tạo thuận lợi cho người Hoa nhập cư với mục đích kinh tế là chủ yếu, người Hoa đến Đồng Nai trong giai đoạn này chủ yếu bổ sung cho nguồn nhân lực làm việc ở các đồn điền cao su Trong cùng thời điểm này Sài Gòn cũng là nơi thu hút người Hoa đến đông nhất với những chính sách ưu đãi của thực dân Pháp Kể từ ngày 03/08/1900, Hội đồng Nam Kỳ đã quyết định miễn thuế cho người Hoa mới đến Nam Kỳ, khỏi phải nộp tiền đăng bạ trong năm đầu mới đến Nhưng đến ngày 12/1/1907, Hoa kiều phải đóng các thứ thuế:
- Thuế nhập cư (tân đáo): 6 đồng
- Thuế thân cho người 18 tuổi trở lên: 15 đồng
- Thuế công sưu: được miễn khi quá 35 tuổi
- Phụ thu cho quản hạt: ít nhất bằng hai sắc thuế thân và nhập cư cộng lại; nếu có đóng thuế môn bài và ruộng đất thì cộng lại không quá 4.000 đồng
- Thuế huê lợi: để được cấp giấy thông hành khi mới đến hoặc ra đi: 2 đồng (trẻ em, phụ nữ và
số đàn ông được miễn thuế thân) Thuế hêu lợi để được cấp giấy thông hành đi khắp Đông Dương (đối với nhà buôn giàu có là 15 đồng)
Trang 13Năm 1935, chánh tham biện Buy-ten-Mô-rít-xơ (Butel Maurice) liệt người Hoa thuộc diện ngoại kiều châu Á, đồng hóa với người Việt Nam, đàn ông phải nộp thuế thân hàng năm là 30 đồng và phụ thu 2 đồng
Ngày 28/2/1948, chính phủ Pháp và chính quyền Tưởng Giới Thạch kí thỏa ước Trùng Khánh dành cho Hoa kiều qui chế tối huệ quốc (最恵國槼制)
Những sự kiện trên cho thấy dưới thời Pháp thuộc, người Hoa ở Việt Nam được chính quyền sở tại ưu đãi Trên cơ sở đó, họ dần dần khẳng định chỗ đứng của mình trong lĩnh vực kinh tế, và trong xã hội Việt Nam
Như vậy, thời kỳ trước 1954, chính sách của các chính quyền đối với người Hoa ở Việt Nam là:
Ở thời kỳ các chúa Nguyễn đã có những chính sách như: cho phép người Hoa được khai hoang những vùng đất trù phú ở Đồng Nai để định cư và lập nghiệp, chính sách này nằm trong chính sách Nam tiến của các chúa Nguyễn Thời kỳ đầu nhà Nguyễn (Gia Long), lần đầu tiên 4 bang của người Hoa được thành lập, người Hoa sinh sống ở Việt Nam được hưởng mọi quyền lợi như người Việt, mà không phải chịu các nghĩa vụ như: đi lính, miễn thuế định kỳ Nói chung, chế độ phong kiến Việt Nam đều có những thể chế tạo điều kiện thuận lợi cho người Hoa di cư sang Việt Nam được an cư, lạc nghiệp và hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đến khi chính quyền thuộc địa Pháp cai trị:
Người Hoa sinh sống tại Việt Nam được hưởng quy chế ngoại kiều (多橋槼制)
Nhận định trên cho thấy, thế lực kinh tế của người Hoa thời kỳ này là rất lớn Vì ở đất Nam Bộ, người Hoa có mặt ngay từ buổi đầu khai phá, nên cơ sở hạ tầng cũng như quan hệ kinh tế của họ đã bén rễ từ lâu Những đặc quyền, đặc lợi dưới thời Pháp thuộc đã làm cho thế lực kinh tế của người Hoa
Trang 14ở miền Nam nói chung phát triển khá thuận lợi Một bộ phận doanh nhân gốc Hoa đã lớn mạnh lên rất nhiều, trong khi đó doanh nhân người Việt dưới thời Pháp thuộc thì hầu như vắng bóng
Vì vậy, chính quyền Sài Gòn (1954 – 1975), muốn nhanh chóng thoát khỏi tình trạng lệ thuộc kinh tế vào thế lực người Hoa ở miền Nam, nên chính quyền đã có những chính sách nhằm hạn chế ảnh hưởng kinh tế sâu rộng của người Hoa trong xã hội miền Nam
Ở tỉnh Biên Hòa, năm 1957, Hồ Văn Sĩ (tỉnh trưởng tỉnh Biên Hòa) cho áp dụng một loạt các dụ của chính quyền Sài Gòn về người Hoa như:
Điều 12 trong Dụ số 10 quy định bộ luật về quốc tịch Việt Nam ngày 07/12/1955 ghi rõ: “con chính thức mà mẹ là người Việt Nam, và cha là người Trung Hoa, nếu sinh đẻ ở Việt Nam” thì là người Việt Nam Như vậy, tất cả trẻ em gốc Hoa, kể cả con cái người Hoa kiều, đều là người Việt Nam
Thời hạn ấn định cho những Huê kiều sinh tại Việt Nam phải làm khai, để được cấp thẻ căn cước là ngày 08/04/1957, việc kiểm tra sẽ hoàn tất vào ngày 22/06/1957
Giới Huê kiều ở Biên Hòa không tỏ rõ thái độ trước việc ban hành Dụ số 12, đa số họ chờ đợi phản ứng trước từ Đô thành Sài Gòn về vấn đề nhập tịch (2/1957) Số Huê kiều đến xin nhập tịch ở Biên Hòa theo thống kê trong năm 1957, kể từ sau khi Dụ số 10 ban hành được 18 tháng như sau:
Bảng1.1: Số Hoa kiều xin nhập tịch từ tháng 3/1957 đến 6/1957
Thời gian Số Hoa kiều xin nhập tịch
03/1957 35 người 04/1957 43 người 05/1957 675 người 06/1957 1.855 người
(Nguồn: Trung tâm lưu trữ quốc gia II, TPHCM)
Dụ số 48 ngày 21/8/1956: Điều 16 quy định: Hoa kiều thổ sanh (sinh trưởng tại Việt Nam) sẽ là người Việt Nam, bắt buộc phải nhập và khai nhận quốc tịch Việt Nam, hoặc xin hồi hương (về Đài Loan), trước ngày 31/8/1957 Năm 1957, có 44.947 Huê kiều thổ sanh đã ghi tên tình nguyện về Đài Loan, chính phủ Sài Gòn đã cấp cho những người hồi hương này 400.00 $ Việt Nam theo luật định
Dụ số 53 ngày 6/9/1956: Chỉ định những nghề nghiệp mà các ngoại kiều, hay các Hội xã, công
ty ngoại quốc không được hoạt động (gồm 11 nghề) bao gồm:
- Buôn bán cá và thịt;
- Buôn bán chạp phô;
- Buôn bán than củi;
- Buôn bán xăng, dầu lửa và dầu nhớt (trừ các hãng nhập cảng);
- Cầm đồ bình dân;
- Buôn bán vải sồ, tơ lụa (dưới 10.000 thước tính chung các thứ), chỉ sợi,….;
Trang 15- Buôn bán sắt, đồng thau vụn;
- Buôn bán ngũ cốc;
- Nhà máy xay lúa;
- Buôn bán ngũ cốc;
- Chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng xe hơi, hay tàu thuyền;
- Trung gian ăn huê hồng
Thể hiện sự bất bình của mình trước những đạo dụ trên, giới Huê kiều ở miền Nam tẩy chay không hút thuốc điếu và không tiêu thụ thịt heo Chính quyền Sài Gòn đã phải xoa dịu dư luận bằng cách cấp cho 4.500 Huê kiều thất nghiệp mỗi người được 200.00$ Việc này được diễn ra tại phòng thương mại Chợ Lớn trong tháng 7/1957
Tại Đồng Nai, lệnh đình chỉ hoạt động kinh doanh của Hoa kiều được áp dụng trước ngày 06/09/1956 một ngày rưỡi, nhưng họ vẫn được quyền giữ hàng tồn kho
Dụ số 58 ngày 25/10/1956: Tạo điều kiện cho Hoa kiều dễ dàng nhập quốc tịch Việt Nam, khuyến khích họ hợp tác, hùn vốn kinh doanh hoặc sang tên cho vợ con là người Việt Chính phủ Đài Loan cũng chấp nhận cho Hoa kiều nhận Việt Nam làm quê hương, với ý ngầm cho hưởng chế độ hai quốc tịch để giữ bản sắc Trung Hoa
Qua bốn đạo dụ trên, chính quyền Sài Gòn muốn người Hoa sinh sống tại Việt Nam, trong đó
có Đồng Nai nhanh chóng hội nhập hoàn toàn vào đời sống xã hội Việt Nam Trước chính sách hội nhập của chính quyền Sài Gòn, người Hoa đã kịch liệt phản đối Giới Huê kiều đã thành lập “Việt Nam Huê kiều để chế mỹ hóa ủy viên hội” (hội Hoa kiều tẩy chay hàng hóa Mỹ tại Việt Nam) ngày 27/05/1957 để phản đối việc chính quyền Sài Gòn cho ban hành những đạo luật trên
Tóm lại, những chính sách của chính quyền Sài Gòn đối với người Hoa ở Việt Nam:
Về kinh tế, cấm Hoa kiều làm 11 nghề, nhằm hạn chế ảnh hưởng kinh tế sâu rộng của người Hoa
Về chính trị, người Hoa đang sinh sống ở Việt Nam buộc phải nhập quốc tịch Việt Nam, những Hoa kiều nào đang sinh sống tại Việt Nam mà không chịu nhập quốc tịch thì sẽ bị trục suất về Đài Loan Thực chất chính sách này nhằm ngăn chặn ảnh hưởng kinh tế sâu rộng của Hoa kiều trong xã hội miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ Nếu như ở giai đoạn trước 1954, quá trình hội nhập của người Hoa trên đất Nam Bộ nói chung và đất Đồng Nai nói riêng diễn ra một cách tự nguyện, dựa trên tinh thần tương thân, tương ái, thì đến thời điểm này, vì mục tiêu giành lại quyền chủ động trong kinh tế mà chính quyền Sài Gòn đã đẩy một bộ phận người Hoa ra khỏi xã hội Việt Nam Chính quyền thời kỳ này
đã không phát huy được sức mạnh đoàn kết của cộng đồng các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam Điều đó đồng nghĩa với việc cản trở tiến trình hội nhập một cách tự nguyện, vốn có của người Hoa vào xã hội Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng
Trang 16Tuy nhiên, là một trong những cộng đồng tộc người có công xây dựng đất Đồng Nai ngay từ buổi đầu khai phá, nên ngay trong giai đoạn khó khăn và mất lòng tin vào chính quyền nhất, thì người Hoa ở Đồng Nai vẫn xem đất Đồng Nai là mảnh đất mà cha ông họ đã khó khăn vất vả mới gầy dựng được, nên các yếu tố dân tộc vẫn tồn tại và phát triển Trong thời gian này, Đồng Nai vẫn là nơi thu hút người Hoa đến sinh cơ và lập nghiệp Điều này chứng tỏ ý thức sẵn sàng hội nhập của cộng người Hoa vào cộng đồng các dân tộc anh em ở Đồng Nai
1.1.3 Thời kỳ 1975 – 2005
Sau năm 1975, nước nhà thống nhất, người Hoa tiếp tục cùng với nhân dân các dân tộc ở Việt Nam đoàn kết dưới lá cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tích cực tham gia xây dựng chính quyền cách mạng, bảo vệ trật tự, trị an, phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội
Vấn đề về người Hoa đã được Đảng Cộng Sản Việt Nam quan tâm Ngay từ khi Đảng mới được
thành lập, Đảng nhận định: người Hoa chủ yếu là công nhân và nhân dân lao động, đã có một lịch sử
lâu đời, cùng đồng cam, cộng khổ và sát cánh cùng các dân tộc ở Việt Nam đấu tranh cách mạng chống kẻ thù chung ở Việt Nam Trong quá trình cách mạng, qua từng giai đoạn, Đảng đã đề ra những
chỉ thị, chủ trương, và chính sách cụ thể về công tác người Hoa ở Việt Nam, để các ngành, các cấp thi hành, nhằm vận động, tổ chức người Hoa cùng với nhân dân các dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam đoàn kết chặt chẽ phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Tuy nhiên, quá trình hội nhập của cộng đồng người Hoa vào xã hội Việt Nam đã từng có những thăng trầm Những năm 1978 – 1979, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc có chiều hướng xấu, vụ
“nạn kiều” đã gây nên những cản trở nhất định đối với tiến trình hội nhập của cộng đồng người Hoa vào xã hội Việt Nam Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị 53 – CT/TW về “chính sách đối với cán bộ, đảng viên người Hoa” và tiếp sau đó là Chỉ thị 74 – CT/TW cụ thể việc nhận biết người Hoa tiến bộ để bảo vệ, đồng thời đưa người Hoa đi sơ tán khỏi các địa bàn giáp biên giới Việt Nam – Trung Quốc để tránh có những thiệt hại về tính mạng khi có chiến sự xảy ra giữa hai nước
Để tiến trình hội nhập của người Hoa vào xã hội Việt Nam tiến triển một cách thuận lợi, chỉ thị 10/TW (ngày 17/11/1982) và chỉ thị 256 (ngày 11/10/1986) của chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã khẳng định: “Người Hoa là công dân Việt Nam, được hưởng mọi quyền và làm mọi nghĩa vụ của công dân Việt Nam, đoàn kết người Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa”
Theo tinh thần trên, người Hoa tại Việt Nam được hưởng quyền lợi công dân Việt Nam về đủ các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Đây là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với lợi ích của người Hoa trên khắp Việt Nam Với việc thừa nhận tính hợp pháp của người Hoa trong xã hội Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện cho người Hoa yên tâm hơn, tin tưởng hơn vào việc lựa chọn Việt Nam, trong đó có Đồng Nai là quê hương của mình
Trang 17Tiếp sau đó, ngày 8/11/1995, Ban Bí thư Trung Ương Đảng ban hành Chỉ thị số 62 – CT/TW
“Về tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới”, nêu lên 4 nguyên tắc cơ bản:
Một là, người Hoa là công dân Việt Nam Là một thành phần dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Việt Nam theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, thực hiện mọi chế độ, chính sách chung của Đảng và Nhà nước như các dân tộc khác
Hai là, tăng cường đoàn kết người Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Ba là, mục tiêu của công tác người Hoa nhằm nâng cao đời sống vật chất – tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của người Hoa
Bốn là, những Hoa kiều nhiều năm sinh sống ở nước ta, nay xin nhập quốc tịch Việt Nam hoặc những người gốc Hoa được công nhận là công dân Việt Nam xin chuyển sang quốc tịch nước ngoài thì căn cứ vào Luật quốc tịch để giải quyết
Chỉ thị cũng phân biệt rõ người Hoa (華人) và Hoa kiều (華橋) ở Việt Nam :
- “Người Hoa bao gồm những người có gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quốc đã Hán hóa di cư sang Việt Nam và con cháu của họ sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn giữ những đặc trưng văn hóa, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa”
- “Hoa kiều là những người có cùng nguồn gốc dân tộc với người Hoa, nhưng không nhập quốc tịch Việt Nam”
Nguyên tắc cơ bản từ trước tới nay, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam từ trước tới nay đối với cộng đồng người Hoa luôn thể hiện sự quán triệt quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
Một số chính sách cụ thể từ chủ trương có tính nguyên tắc: người Hoa là công dân Việt Nam là một thành phần trong cộng đồng các dân tộc Viêt Nam, được hưởng mọi quyền lợi và thực hiện mọi nghĩa vụ của công dân Việt Nam
Trong việc giải quyết mọi vấn đề của người Hoa ở Việt Nam, Đảng đều xuất phát từ quan điểm
và lập trường của giai cấp công nhân và coi đó là một bộ phận trong vấn đề chung của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc ở Việt Nam, nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập của người Hoa vào
xã hội Việt Nam
Có thể nói chủ trương, chính sách của Đảng ta đối với cộng đồng người Hoa từ trước đến nay là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quyền lợi của người Hoa và quy luật phát triển tất yếu của lịch sử Những chủ trương, chính sách ấy thể hiện sự quan tâm đặc thù đến các mặt của cộng đồng người Hoa nhằm phát huy tính tích cực, hạn chế tiêu cực trong cộng đồng người Hoa ở Việt Nam
Trang 18Ở Đồng Nai, trước sự kiện “nạn kiều”, tháng 5/1980, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai đã chỉ đạo Ban dân vận Mặt trận tỉnh tổng kết công tác người Hoa và tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành thông tri số 21 – TT/TU (ngày 30/05/1980) chỉ đạo “về một số công tác trước mặt đối với vùng Hoa, Nùng, Tày di cư ở nông thôn” và Thông tri số 43/TT – TU (ngày 17/03/1981) về “Tăng cường công tác tuyên truyền vận động đối với người Hoa” Ở vùng nông thôn, tình trạng người Hoa chỉ làm nhà tạm bợ, không kiên cố, đầu tư sản xuất không bền vững là có xảy ra, còn ở thành phố Biên Hòa cũng xảy ra tình trạng nghỉ việc, vượt biên
Mặc dầu có bị ảnh hưởng bởi sự kiện trên, nhưng trong thời gian này, Đồng Nai lại trở thành nơi tếp nhận 3.300 hộ /17.600 người Hoa từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung vào đây lập nghiệp Điều
đó cho thấy Đồng Nai là vùng đất trù phú, giàu tiềm năng và nhiều hứa hẹn
Và kể từ khi có chỉ thị 62 – CT/ TW, Tỉnh ủy Đồng Nai có công văn số 678 – CV/TU, ngày 20/11/1995, chỉ đạo các cấp ủy Đảng quán triệt chỉ thị 62 – CT/TW của Ban Bí thư; đồng thời tổ chức hội nghị quán triệt cho tất cả cán bộ chủ chốt Ban Dân vận Tỉnh ủy, cơ quan tham mưu của Tỉnh ủy về công tác dân vận, ngày 1/11/1996, đã có kế hoạch số 02 – KH/DV Hướng dẫn triển khai thực hiện Chỉ thị 62 – CT/TW của Ban Bí thư Tiếp đến, ngày 27/11/1996, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
đã ra chỉ thị số 53/CT – UBT về thực hiện một số nhiệm vụ công tác đối với người Hoa Từ đó, người Hoa ở Đồng Nai yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ Việt Nam, một bộ phận khá đông đã đầu tư sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, xây dựng nhà cửa, trường học, cơ sở tín ngưỡng…
Tóm lại, chính sách của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa đối với người Hoa ở Việt Nam :
Về chính trị : người Hoa được gia nhập các đoàn thể chính trị, kinh tế, được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam
Về kinh tế : người Hoa được hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ như mọi công dân Việt Nam
Về văn hóa : Giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc người Hoa
Về giáo dục : Có quyền và nghĩa vụ học tập như các dân tộc khác
Như vậy, người Hoa tại Việt Nam, mà đại đa số là công nhân và nhân dân lao động, có một vận mệnh gắn bó chặt chẽ với nhân dân các dân tộc Việt Nam và cách mạng Việt Nam Người Hoa ở Việt Nam đã trở thành một thành viên trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, đó là một thực tế, là sự phát triển tất yếu, khách quan của quy luật xã hội, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của bất cứ chính quyền nào trong xã hội Việt Nam
Ở mỗi giai đoạn lịch sử, các chính quyền đều có những chính sách khác nhau đối với người Hoa đã và đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Những chính sách đó đều nhằm mục đích quản lý người Hoa, khuyến khích họ hội nhập vào xã hội Việt Nam, cũng như tận dụng những ưu thế của họ trong công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam
1.2 Quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai 1954 - 2005
Trang 191.2.1 Thời kỳ trước năm 1954
Khi nhà Thanh đánh bại nhà Minh năm 1697, thống trị toàn bộ đất Trung Hoa, thì nhiều cuộc di tản lớn từ Trung Hoa đến những vùng lân cận đã xảy ra Việc xin tỵ nạn chính trị của hai vị tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch (Tổng binh quận Long Môn, tỉnh Quảng Tây, Trung Hoa) cùng phó tướng Hoàng Tiến và Trần Thượng Xuyên (Tổng binh các quận Cao - Lôi – Liêm, tỉnh Quảng Đông) cùng phó tướng Trần An Bình, không chịu hàng nhà Thanh mang 3.000 quân bản bộ là một trong những đợt
di tản đó Những người này đa số là binh lính, thương nhân và một số quý tộc phong kiến thuộc các nhóm Hải Nam, Triều Châu, Hẹ và Quảng Đông
Khi đến Đồng Nai họ đã vỡ đất phá rừng, đào kênh, cất phố, lập chợ Khi định cư, người Hoa thường chọn những vị trí thuận lợi cho việc giao thông (những vùng đất cao cạnh mé sông), để tiện lợi cho hoạt động thương mại và tập trung khai thác những vùng đất mới Nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên dẫn đầu đã nhìn thấy Cù Lao phố có những điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh, buôn bán và đã phát triển Cù Lao Phố thành một thương cảng lớn ở Nam Bộ Khi định cư ở đất Đồng Nai, người Hoa đã lấy vợ là con gái người Việt, con gái người Khơme (cư dân bản địa), sinh con và xây dựng gia đình Trong quá trình chung sống với cư dân người Việt và người bản địa, người Hoa vẫn duy trì nền văn hóa của dân tộc mình, đồng thời phổ biến nền văn hóa đó Sau khi tạm ổn định việc cư trú và muốn phát triển vùng đất mới, một số thương nhân gốc Hoa từ Singapo, Mã Lai theo lời kêu gọi của Trần Thượng Xuyên cũng đã đến Đồng Nai lập nghiệp
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc định dư lâu dài của người Hoa và người Việt ở vùng đất mới, năm 1698, chúa Nguyễn đã cho tổ chức lại xứ Đồng Nai – Gia Định Chúa Nguyễn đã xác lập được chủ quyền của mình ở đất Đồng Nai, đồng thời với việc xác lập chủ quyền đó thì chúa Nguyễn
cũng tổ chức và sắp xếp cho người Hoa tập trung tại xã Thanh Hà (清河), kéo dài từ Bàn Lân đến Bến
Gỗ, là xã đầu tiên được thành lập tại Đông phố, Trấn Biên dinh Từ đó người Hoa trở thành công dân Việt Nam với đầy đủ nhiệm vụ và quyền lợi Sau khi ổn định cuộc sống, người Hoa đã cùng với người Việt xây dựng Cù Lao Phố trở thành một thương cảng sầm uất một thời nhờ giao thương đuợc với nước ngoài
Những biến động chính trị lớn từ Trung Hoa thường là nguyên nhân của những đợt di tản lớn của người Hoa đến các nước lân cận Sau cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, nhiều nhóm người Hoa thuộc các bang Hải Nam, Triều Châu, Quảng Đông đã di cư sang Việt Nam Họ là những thương nhân, thợ thủ công đến lập nghiệp tại Biên Hòa, Đồng Nai Nhất là khi thực dân Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 – 1929), nhiều đợt di dân lớn từ Trung Hoa được Pháp cho nhập
cư vào Việt Nam để khai thác mỏ quặng tại miền Bắc và trồng cây công nghiệp tại Đồng Nai
Khác với những đợt di dân trước, lớp người Hoa này phần lớn đến đất Đồng Nai mang theo đầy
đủ thân tộc, thành phần nữ giới cũng được tăng cường hơn so với trước Và sau khi chính phủ Pháp và
Trang 20chính quyền Tưởng Giới Thạch ký thỏa ước Trùng Khánh ngày 28/2/1948, dành cho Hoa kiều quy chế
tối huệ quốc, một số người Hoa đến Đồng Nai sinh sống và cư trú ở các địa bàn: Phước Thiền (huyện
Nhơn Trạch), Bến Gỗ (Long Thành), Bến Cá (Vĩnh Cửu), Long Khánh và thành phố Biên Hòa Về sau,
do ảnh hưởng điều kiện kinh tế, xã hội, nhóm người Hoa này sinh sống tập trung tại thành phố Biên Hòa và một bộ phận ở Long Khánh
Người Hoa ở Đồng Nai là một trong những cư dân cùng với người Việt và cư dân bản địa mở mang, khai phá vùng đất ở buổi đầu hoang sơ Và cùng với quá trình ấy cộng đồng người Hoa đã được hình thành Thời kỳ này đặt nền móng cho quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai
1.2.2 Thời kỳ từ 1954 đến 1975
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954, chiến tranh chấm dứt trên toàn Đông Dương, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền Một làn sóng di cư mới của người Hoa đến các tỉnh Nam Bộ, trong đó có Đồng Nai đã diễn ra một cách ồ ạt, trên một quy mô lớn Nếu như ở thời kỳ trước nơi xuất phát của làn sóng di cư là các tỉnh cưc Nam của Trung Quốc, thì điểm xuất phát của làn sóng di cư thời
kỳ này là các tỉnh giáp biên giới phía Bắc của nước ta, chủ yếu là tỉnh Hải Ninh (nay là tỉnh Quảng Ninh)
Vào năm 1954, 1/3 dân số của tỉnh Hải Ninh, khoảng 30.000 người, đã di cư vào Nam, dưới sự chỉ huy của Voòng A Sáng (tỉnh trưởng tỉnh Hải Ninh) cùng một số binh lính Họ đã mang theo gia quyến vào miền Nam, khi vào Nam họ đã tập kết ở khu vực sông Mao (huyện Bắc Bình – Bình Thuận) Một đặc tính rất cơ bản của người Hoa khi chọn nơi sinh sống thường là những nơi có điều kiện giao thông thuận lợi, đất đai màu mỡ Trong khi đó, khu vực sông Mao (Bình Thuận) khí hậu khắc nghiệt, đất ở đây thì nhiều cát, thiếu nước tưới tiêu không phù hợp với việc làm ruộng của người Hoa khi di cư đến đây Vì vậy mà khu vực sông Mao (Bình Thuận) không phải là lựa chọn dừng chân trong quá trình di cư vào miền Nam Việt Nam của họ
Vùng đất Đồng Nai, với những thành công của những lớp người Hoa đi trước đã thu hút số người Hoa này Khi đến đây, họ sống tập trung thành từng khu vực ở xã Bàu Hàm – Sông Thao (Thống Nhất) trên 9.500 người, xã Phú Lộc trên 5.500 người, xã Cây Gáo 6.700 người Tập trung đông nhất là
ở xã Phú Hoa (nay là 3 xã: Phú Vinh, Phú Lợi, Phú Tân) thuộc huyện Định Quán gần 29.000 người Ngoài ra, họ còn tập trung ở các phường: Tân Phong, Bình Đa (Biên Hòa); xã Bảo Bình, Xuân Bảo (Cẩm Mỹ); thị trấn Xuân Lộc (Long Khánh)
Số cư dân người Hoa đến Đồng Nai trong giai đoạn này chiếm hơn 80% dân số người Hoa ở Đồng Nai hiện nay Đa số họ sống ở nông thôn, là những nông dân chuyên làm rẫy: trồng lúa, các loại đậu, thuốc lá, cây ăn trái ngắn và dài ngày Số cư dân người Hoa đến Đồng Nai giai đoạn này quyết định cả số lượng và cơ cấu dân cư người Hoa ở Đồng Nai hiện nay [64]
Trang 21Thời kỳ này đất Đồng Nai không chỉ tiếp nhận làn sóng di cư của người Hoa, mà còn có cả người Việt với một số lượng khá đông đảo Với vị trí địa lý thuận lợi, giàu tiềm năng Đồng Nai trở thành vùng đất đón nhận số lượng di dân lớn của mọi miền khi đến miền Nam
Đây là quá trình người Hoa tiếp tục hội nhập vào xã hội Đồng Nai, cũng như Việt Nam Tuy nhiên thời kỳ này, miền Nam dưới sự cai trị của chính quyền Sài Gòn, quá trình hội nhập của người Hoa có lúc bị gián đoạn do chính sách của chính quyền đối với cộng đồng người Hoa ở Việt Nam
Nếu ở thời kỳ trước 1954 là thời kỳ định hình, đặt nền móng cho quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai, thì thời kỳ này (1954 – 1975) là đỉnh cao của quá trình đó, là thời kỳ quyết định số lượng người Hoa hiện nay ở Đồng Nai
1979, tổng số người Hoa ở Đồng Nai (địa bàn rộng hơn tỉnh Đồng Nai hiện nay) là 85.000 người, chiếm 9,1% tổng số người Hoa ở Việt Nam [5, tr 49]
Sau khi chỉ thị 62 và Nghị quyết 10 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ra đời năm 1995, thì người Hoa ở Việt Nam thật sự yên tâm và tin tưởng vào chính quyền Người Hoa sinh sống ở Đồng Nai cùng với người Hoa sinh sống ở khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam đều là công dân Việt Nam, với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của công dân
Như vậy, người Hoa đến Đồng Nai vào ba thời kỳ chính, lịch sử di dân và định cư của người Hoa suốt mấy thế kỷ qua gắn liền với sự hình thành và phát triển của đất Đồng Nai Và dù ở thời kỳ nào, họ đều được nhân dân Đồng Nai đón nhận và cùng chung lưng đấu cật xây dựng một Đồng Nai giàu mạnh
Buổi đầu đến đất Đồng Nai để tỵ nạn chính trị, họ không mang theo gia quyến nên đã lấy con gái người Việt, người bản địa làm vợ, sinh con, và định cư lâu dài ở đây Vả lại, đất Đồng Nai thuở đó gần như “vô chủ”, cuộc sống của họ ở vùng đất mới này cũng có phần dễ dàng hơn Trong quá trình sống ở đất Đồng Nai, người Hoa đã cải tạo vùng đất “toàn là rừng rậm” trở thành một vùng đất màu
mỡ, sầm uất Những lớp người Hoa sau này đến đất Đồng Nai cũng bởi đây là vùng đất dễ kiếm sống Những lớp người Hoa đầu tiên đã góp phần biến đất Đồng Nai thành vùng “đất hứa” cho những người Hoa muốn an cư lập nghiệp tại Đồng Nai
Trang 22Những biến động lịch sử đã không thể cản bước của người Hoa đến với đất Đồng Nai giàu tiềm năng và nhiều hứa hẹn Ngay cả khi người Hoa trên khắp Việt Nam hoang mang tìm đến những vùng đất mới, thì Đồng Nai vẫn là vùng đất thu hút người Hoa đến an cư lập nghiệp vì thành công của những lớp người Hoa đi trước Họ đã đến và định cư tại các xã Lang Minh (huyện Bảo Lộc), xã Bảo Bình (huyện Cẩm Mỹ) Những cư dân này đến đất Đồng Nai theo thể tự do Từ 1990 – 2000, số người Hoa
ở các tỉnh phía Bắc vào Đồng Nai là 3.331 hộ, với 17.647 khẩu [67]
Dù đến Đồng Nai ở bất kỳ thời điểm lịch sử nào, dưới bất kỳ chính quyền nào, người Hoa đều được nhân dân Đồng Nai đón nhận, sát cánh, xây dựng một Đồng Nai giàu mạnh, bền vững
1.3 Dân số, dân cư trong cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai (1954 – 2005)
1.3.1 Dân số
Số người Hoa ở Đồng Nai thời kỳ trước 1954: hiện nay chưa có thống kê đầy đủ về số người Hoa ở Đồng Nai giai đoạn này Tuy nhiên, khởi đầu nhóm người Hoa đến cùng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch là khoảng 3.000 người, một số vào đất Biên Hòa, Gia Định lập nghiệp, số còn lại theo nhóm Dương Ngạn Địch định cư ở Định Tường (Mỹ Tho và Tiền Giang)
Số người Hoa ở Đồng Nai thời kỳ 1954 – 1975: Theo số liệu của Địa phương chí tỉnh Biên Hòa (1956) thì tổng số người Hoa ở đây là 7.147 người, chiếm tỷ lệ 2,4% (dân số toàn tỉnh Biên Hòa lúc ấy
là 298.653 người)
Nếu so sánh với thời kỳ trước 1954 thì tỷ lệ tăng tự nhiên của người Hoa giai đoạn này là không đáng kể, góp phần vào sự gia tăng dân số người Hoa ở Đồng Nai thời kỳ này là sự kiện năm 1954, nhóm người Hoa từ Hải Ninh đến Đồng Nai để sinh cơ, lập nghiệp
Bảng 1.2: Diễn biến dân số tộc người Hoa ở Đồng Nai 1980 - 2005
Năm Số người Hoa Dân số toàn tỉnh Tỷ lệ
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Đồng Nai)
Qua phân tích, so sánh số lượng người Hoa ở từng thời kỳ ta thấy, tỷ lệ tăng dân số của người Hoa chủ yếu là qua các đợt di dân (tăng cơ học), tỷ lệ tăng tự nhiên là không đáng kể Số người Hoa năm 1980 có giảm so với 1979 là do sự kiện “nạn kiều” Nhưng từ những năm 1990 trở đi, số di dân
Trang 23người Hoa đến Đồng Nai không đáng kể, đa số di dân đến Đồng Nai từ 1990 trở đi ở Đồng Nai là người Việt, đến Đồng Nai tập trung ở những khu công nghiệp lớn, vì vậy mà tổng số dân toàn tỉnh tăng lên Nên từ những năm 90 trở đi, tỷ lệ số dân người Hoa so với số dân toàn tỉnh có chiều hướng giảm
đi rõ rệt Ở Đồng Nai, huyện Trảng Bom là huyện có tỷ lệ tăng tự nhiên của người Hoa là đáng kể, từ năm 2001 có 19.998 người thì đến 2005 đã tăng lên 22.354 người
Ngoài thành phần kể trên, lớp người Hoa đến Đồng Nai ở những thời kỳ sau này đa số là nông dân, thợ thủ công và thương nhân, họ là dân lao động, tìm đến đất Đồng Nai với mong ước có một cuộc sống tốt đẹp hơn
Người Hoa có mặt ở hầu hết các đơn vị phường, xã, thị trấn của các huyện, thành phố thuộc địa bàn Đồng Nai Tại các huyện, số người Hoa cư trú phần lớn là cộng đồng người Hoa đến từ sau 1954 Còn số người Hoa ở Biên Hòa đa số đến Đồng Nai trước 1954 Số lượng người Hoa được phân bố ở thành phố, và các huyện như sau:
Bảng 1.3: Phân bố dân cư tộc người Hoa ở tỉnh Đồng Nai
STT Đơn vị Số người Hoa Dân số toàn
Trang 24(Nguồn: Ban Dân vận tỉnh Đồng Nai, 2005 )
Những số liệu trên đây cho thấy, người Hoa mặc dù đến vùng Cù Lao Phố nay thuộc thành phố Biên Hòa đầu tiên, nhưng số lượng người Hoa ở đây không phải là đông nhất tỉnh Đồng Nai Ở Đồng Nai, huyện Định Quán có số người Hoa đông nhất tỉnh, ít nhất là huyện Nhơn Trạch Trên toàn tỉnh có hai xã không có người Hoa cư trú là: xã Gia Tân I (huyện Thống Nhất), và xã Bình Hòa (huyện Vĩnh Cửu)
Tại huyện Định Quán có 14/14 xã, thị trấn của huyện đều có người Hoa sinh sống, nhưng 91,9% tổng số người Hoa của toàn huyện lại nằm trong 3 xã: Phú Lợi, Phú Vinh, Phú Tân (trước năm
1975 là xã Phú Hoa)
Tại huyện Trảng Bom, đây là huyện có số người Hoa đông thứ hai, sau huyện Định Quán Các
xã có số người Hoa tập trung sinh sống là: xã Bàu Hàm, Sông Thao, Cây Gáo, Thanh Bình, Sông Trầu
Tại huyện Cẩm Mỹ, huyện có số người Hoa đông thứ ba ở tỉnh Đồng Nai, cư dân người Hoa sống tập trung tại các xã: bảo Bình, Xuân Bảo, Xuân Tây Tổng số người Hoa của 3 xã này lên tới 13.588 người, chiếm 78% tổng số người Hoa trên địa bàn huyện
Tỉnh Đồng Nai có 4 xã có số người Hoa chiếm trên 50% dân số đó là các xã: Sông Thao (53,4%), Bàu Hàm (66,22%), Phú Vinh (64,38%), Phú Lợi (81,59%)
Ở mỗi huyện, tùy theo tình hình kinh tế - chính trị mà số người Hoa cũng thường xuyên biến động Huyện Định Quán từ năm 2000 đến 2005 có 2.241 người Hoa chuyển đến các tỉnh như Lâm Đồng, Bình Phước, thành phố Hồ Chí Minh sinh sống
Cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai tập trung đông ở nông thôn, sống bằng nghề làm rẫy là chủ yếu, còn người Hoa ở Biên Hòa chuyên về dịch vụ
Cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai phân bố không đều, có nơi không có người Hoa nào cư trú, ngược lại, có nơi lại có sự tập trung cư dân nhiều
Người Hoa ở Đồng Nai phân bố theo điều kiện kinh tế - xã hội “Các lớp người Hoa vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, nhập cư, giỏi nghề buôn bán, sinh sống tại các thị tứ; người Triều Châu, người Hẹ có truyền thống nghề rẫy khai thác các vùng trung du ở Định Quán, Tân Phú, Xuân Lộc….”[20, tr.34]
Đa số người Hoa ở Đồng Nai theo đạo Phật, số còn lại theo Công giáo, Cao đài, Tin lành được phân bố ở các TP, huyện như sau:
Bảng 1.4: Dân cư theo tôn giáo của tộc người Hoa ở Đồng Nai
Tôn giáo STT Đơn vị Số khẩu
Công giáo Cao đài Tin lành
1 Định Quán 34.221 0 0 102
2 Trảng Bom 22.354 0 0 0
Trang 25(Nguồn: Ban dân vận tỉnh Đồng Nai, 30/06/2005)
Người Hoa ở Đồng Nai thuộc dạng dân số trẻ Tỷ lệ lao động trong cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai:
Bảng 1.5: Tỷ lệ lao động trong cộng đồng tộc người Hoa ở Đồng Nai phân theo đơn vị hành chính
STT Đơn vị Số người Hoa Số người trong độ tuổi
(Nguồn: Ban dân vận tỉnh Đồng Nai, 30/06/2005)
Qua bảng số liệu ta thấy, tỷ lệ người Hoa trong độ tuổi lao động là trung bình, không cao, dân
số người Hoa ở Đồng Nai thuộc dạng dân số trẻ Tuy nhiên, giữa các đơn vị hành chính có sự khác biệt Nếu như ở các huyện Nhơn Trạch, Cẩm Mỹ, Tân Phú có tỷ lệ lao động trong dân số thấp, thì các huyện Xuân Lộc, Long Khánh, Vĩnh Cửu lại khá cao
Trang 26Tiểu kết
Như vậy quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai trải qua ba thời kỳ:
Thời kỳ từ cuối thế kỷ XVII đến 1954: Đây là thời kỳ đầu của quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai Đa số người Hoa đến Đồng Nai thời kỳ này là từ tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến của Trung Quốc, đến Đồng Nai bằng đường biển, hình thức khá phong phú
Thời kỳ từ 1954 – 1975: Là thời kỳ quyết định số lượng người Hoa ở Đồng Nai hiện nay, người Hoa đến Đồng Nai thời kỳ này là nhóm người Hoa từ tỉnh Hải Ninh (Quảng Ninh) di cư đến, đa số họ định cư ở nông thôn
Thời kỳ 1975 đến nay: Là thời kỳ ổn định, cộng đồng người Hoa đã và đang phát triển bền vững trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Qua quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai ta thấy nổi lên những đặc điểm sau:
1 Quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai gắn liền với tiến trình xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn ở phương Nam Trong quá trình đó, người Hoa đóng vai trò là một lực lượng quan trọng, bên cạnh lưu dân người Việt trong quá trình khai hoang, lập ấp ở đất Đồng Nai Có thể nói, người Hoa đã góp phần làm cho công cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn trở nên thuận lợi hơn Điểm đặc biệt trong quá trình Nam tiến của các chúa Nguyễn là: ở bất cứ vùng đất nào của phía Nam, các chúa đều mộ lưu dân đến khai hoang, lập ấp trước, sau đó mới đặt chính quyền sở tại ở những vùng đất vừa được lưu dân khai hoang Chính sách của nhà Nguyễn áp dụng ở những vùng đất mới là: “dân khai mở trước, nhà nước cai trị sau” Điều này vừa tránh đuợc nguy cơ chiến tranh giữa các vương triều phong kiến, vừa tạo điều kiện cho cư dân ở vùng đất mới được tự do khai hoang, an tâm phát triển kinh tế
2 Cùng với quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai, là quá trình người Hoa hội nhập vào cộng đồng Việt và cư dân bản địa một cách tích cực, chủ động Quá trình hội nhập đó bắt nguồn từ cuộc sống khó khăn ở buổi đầu đến vùng đất này, vì cùng chung hoàn cảnh, nên họ phải sống nương nhờ vào nhau, dần dần mối liên hệ đó trở thành mối dây ràng buộc những lưu dân ở vùng đất mới, lâu dần mối liên hệ đó trở thành tinh thần đoàn kết vượt qua khó khăn của mọi cư dân ở đất Đồng Nai Quá trình hội nhập ấy diễn ra một cách tự nhiên, tự nguyện Đó là
cơ sở của mối dây đoàn kết các dân tộc anh em trên đất Đồng Nai
3 Tùy vào mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai được hình thành với quy mô, mức độ và tính chất có khác nhau Một đặc điểm của cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai
là sự phân bố dân cư Người Hoa ở Đồng Nai tập trung đông ở nông thôn, điều này rất khác với cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, đa số là tập trung ở thành thị
Trang 27Chương 2 - HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI CỦA NGƯỜI HOA Ở ĐỒNG NAI
1954 – 2005
Cùng với quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai, là quá trình người Hoa thể hiện tài năng, bản lĩnh của mình trong hoạt động kinh tế Đây là hoạt động sở trường của người Hoa sinh sống khắp nơi trên thế giới Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, người Hoa ở Đồng Nai vẫn luôn cần cù, sáng tạo trong hoạt động kinh tế Vì thế, họ đã tạo nên được sắc thái riêng ở những lĩnh vực như: nông nghiệp, kỹ nghệ, dịch vụ
Vì người Hoa ở Đồng Nai đa số tập trung ở vùng nông thôn, nên hoạt động nông nghiệp là chủ yếu Đây là điểm khác biệt cơ bản trong hoạt động kinh tế của người Hoa ở Đồng Nai so với người Hoa một số nơi khác ở Nam Bộ Hoạt động kỹ nghệ và dịch vụ cũng là sở trường của người Hoa thời
kỳ 1954 – 1975
2.1 Kinh tế
2.1.1 Thời kỳ trước năm 1954
Thời gian đầu khi mới đến định cư ở Đồng Nai, người Hoa đã tiến hành khai khẩn đất hoang, làm nông nghiệp, để giải quyết nhu cầu lương thực Sau đó, nhóm cư dân người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đã nhìn thấy Cù Lao Phố là địa điểm rất thuận lợi cho việc buôn bán, phát triển kinh tế Vì thế,
họ sớm có ý thức xây dựng nơi đây thành một trung tâm thương mại Cảng thị Cù Lao Phố ra đời, nổi tiếng trong khoảng gần 100 năm tồn tại (thế kỷ XVIII- giai đoạn trước 1747, khi Lý Văn Quang khởi loạn) nhờ có buôn bán với nước ngoài
“Trần Thượng Xuyên chiêu tập người buôn nước Trung Quốc đến lập ra phố xá, mái ngói,
tường vôi, lầu quán cao ngất, dòng sông rực rỡ, ánh nhật huy hoàng, liền nhau tới năm dặm, chia thành
ba đường phố, đường phố ngang lát đá ong, đường phố nhỏ lát đá xanh, toàn thể đường bằng phẳng như đá mài, kẻ buôn tụ tập, thuyền đi biển, thuyền đi sông đều đến cuốn buồm neo đậu, đầu đuôi thuyền đậu kế tiếp nhau, thật là một chỗ đô hội Các nhà phú thương buôn to, bán lớn chỉ ở đây nhiều hơn, có người cả nước đều biết tiếng [28, tr.238] Đây là thời kỳ phát triển hưng thịnh nhất của cảng thị
Cù Lao Phố được tác giả Trịnh Hoài Đức miêu tả trong tác phẩm Gia Định Thành Thông Chí Dưới
ảnh hưởng của hoạt động thương mại do người Hoa nắm giữ, Cù Lao Phố đã nhanh chóng thay da đổi
thịt , trở thành trung tâm thương mại của vùng đất Nam Bộ: “Tàu người Hoa, người phương Tây,
người Nhật, người Chà Bà, tụ tập tấp nập, phong hóa Trung Quốc dần lan ra thấm đượm cả vùng Đông Phố” [28, tr.110]
Hoạt động thương mại của Cù Lao Phố trong giai đoạn này gồm hai việc: nhập hàng hoá, “mua bao tất cả những hàng hoá tốt xấu, không bỏ xát thứ gì” để bán ra khắp xứ từ miệt dưới Mỗi Xuy, Nhà
Bè bao gồm cả các địa phương thuộc huyện Tân Bình (hiểu là địa phận thành phố Hồ Chí Minh ngày nay), lên miệt trên bao gồm cả hữu ngạn và tả ngạn sông Đồng Nai, vùng trung lưu thậm chí bán ra cho các man sách, các dân tộc ít người ở thượng nguồn sông Đồng Nai Công việc thứ hai của hoạt động
Trang 28thương mại Cù Lao Phố là thu gom hàng hoá để cung cấp cho thị trường Nguồn xuất khẩu chính là gạo, gỗ quý, các mặt hàng lâm sản, nông sản, đồ thủ công mỹ nghệ…và nhập khẩu các mặt hàng phổ biến là đồ sứ Trung Quốc, tơ lụa, thuốc bắc, dược phẩm, nguyên vật liệu dùng để xây dựng và trang trí
Những làng cổ truyền có truyền thống buôn bán như: Cù Lao Phố, Bến đò Trạm (Biên Hòa), Bến Gỗ (Long Thành), Bến Cá (Vĩnh Cửu) càng cho thấy khả năng kinh doanh tiềm tàng của người Hoa ở Đồng Nai
Cho đến thế kỷ XVII, trung tâm thương mại phồn thịnh nhất của Gia Định vẫn là Cù Lao Phố,
sự tàn lụi của thương cảng Cù Lao Phố diễn ra một cách đột ngột và nhanh chóng, và sau đó không thể vực dậy nổi từ sau sự kiện Lý Văn Quang (1747), vai trò thương mại của khu vực này được thay thế bởi Chợ Lớn ( Sài Gòn)
2.1.2 Thời kỳ 1954 – 1975
Sau hiệp định Giơnevơ tháng 7 năm 1954 chiến tranh tạm chấm dứt trên toàn cõi Đông Dương, hòa bình được lập lại, nhưng đất nước ta tạm chia làm hai miền Miền Nam do chính quyền Sài Gòn quản lý Tình hình kinh tế miền Nam cũng như tỉnh Biên Hòa có nhiều thay đổi về mọi mặt Địa giới Đồng Nai thời kỳ này cũng thay đổi: Từ năm 1957 trên lãnh thổ thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay gồm hai tỉnh là tỉnh Long Khánh và tỉnh Biên Hòa
2.1.2.1 Nông nghiệp
Người Hoa ở Đồng Nai tập trung đông ở nông thôn trên 80% dân số, vì thế hoạt động kinh tế nông nghiệp là loại hình kinh tế phổ biến của người Hoa ở Đồng Nai
Ở thời kỳ này chính quyền Sài Gòn thực hiện chính sách cải cách điền địa trong những năm
1955 – 1957, thông qua các đạo dụ:
- Dụ số 2 (8/1/1955) với nội dung:
+ Lập khế ước tá điền loại A đối với ruộng đang thực làm
+ Thời gian khế ước là 5 năm
+ Mức tô từ 15% đến 25%
- Dụ số 7 (5/2/1955) với nội dung:
+ Trong vòng một tháng kể từ khi dụ được ban hành, địa chủ báo việc khai thác ruộng đất không trồng trọt của mình và trực tiếp cho tá điền mướn ruộng theo khế ước loại B (ruộng bỏ hoang) + Trường hợp địa chủ vắng mặt hoặc cam kết không khai thác lại thì sẽ cấp cho người di cư, cho cựu binh sĩ hoặc tá điền khai thác trong vòng 3 năm Người được cấp phải ký khế ước tá điền loại C với hội đồng hương chính, được miễn tô năm đầu, năm thứ hai phải đóng nửa tô, năm thứ ba đóng
ba phần tư
+ Địa chủ có thể trở lại bất cứ lúc nào để thi hành khế ước
+ Ruộng công của làng cũng cho mướn theo khế ước loại C (đối với ruộng hoang như trong trường hợp địa chủ vắng mặt)
Trang 29- Dụ số 57 (22/10/1956) với nội dung:
+ Mỗi địa chủ chỉ đuợc giữ lại 100 ha ruộng đất, ngoài ra có thể giữ thêm 15 ha làm ruộng hương hỏa, tùy ý lựa chọn bất kỳ thửa ruộng nào
+ Ruộng truất hữu được chính phủ bồi thường theo hiện giá, trả 10% bằng tiền mặt, số còn lại bằng tín phiếu trong 12 năm với lãi suất 5% /năm
+ Ruộng truất hữu bán cho người thiếu ruộng, mỗi hộ không quá 3 ha, người mua phải trả trong 6 năm (trong thời gian ấy, ruộng đất vẫn thuộc sở hữu của chính quyền) Trong vòng 10 năm, ruộng đất không được cho mướn hay bán
Như vậy, “Thực chất của dụ số 2 và số 7 với nội dung lập khế ước tá điền cho phép địa chủ đoạt lại ruộng đất mà chính quyền cách mạng đã chia cho nhân dân, bắt họ trở lại địa vị kẻ làm mướn với mức tô tăng lên” [3, tr.135] Và “Thực chất của dụ số 57 là vẫn duy trì đại bộ phận giai cấp địa chủ Các đồn điền trồng cây công nghiệp không nằm trong diện bị truất hữu” [3, tr.135]
Ở tỉnh Biên Hòa, nông dân trước đây bị dồn vào vùng tạm chiếm đã lần lượt trở về quê cũ khai hoang ruộng vườn Dưới ảnh hưởng của Dụ số 57, ở Biên Hòa, số địa chủ, điền chủ có trên 100 ha ruộng đất rất ít, số điền chủ có diện tích trên 10 ha tương đối đông, bộ phận này được chính quyền bảo
vệ, hòng coi đó là chỗ dựa chính trị của chế độ
Người Hoa ở hai tỉnh Biên Hòa – Long Khánh đa số là nông dân cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những đạo dụ kể trên Vì thế, trong sản xuất nông nghiệp họ tập trung trồng trọt những loại cây
có giá trị kinh tế cao như: cà phê, thuốc lá, bông vải, tiêu…chủ yếu là dùng để tiêu dùng tại chỗ
Từ 1962 nông nghiệp Biên Hòa và Long Khánh giảm sút mạnh cả về diện tích trồng trọt và sản lượng Đó là hậu quả của quốc sách “ấp chiến lược” Từ 1965 trở đi chiến tranh lan rộng ngày càng ác liệt, nên diện tích trồng trọt giảm nhiều so với giai đoạn trước
Đại bộ phận đất đai mà người Hoa khai hoang được trong thời gian này là những đất đai ở những vùng sâu, xa đường quốc lộ Một lý do cũng dễ hiểu là vì khi họ đến đây thì người Việt đã quần
tụ rất đông đúc ở thị tứ, những nơi gần trục lộ giao thông
Người Hoa ở Đồng Nai canh tác chủ yếu là trồng các loại hoa màu như: bắp, các loại đậu, khoai (lang ,mì)… và cậy ăn trái (cam, quýt, chôm chôm) và một số cây công nghiệp có giá trị cao như: thuốc lá, tiêu, cà phê…Đặc biệt, có một bộ phận rất nhỏ, người Hoa ở Biên Hòa chuyên trồng rau cải, đóng góp không nhỏ vào sản lượng nông nghiệp chung của toàn tỉnh
Thời kỳ này, người Hoa ở Đồng Nai trồng nhiều nhất là thuốc lá, kế đến là cà phê, rồi mới đến hạt tiêu
Người Hoa ở Đồng Nai vẫn lựa chọn phương thức canh tác thô sơ, đa phần lệ thuộc vào tự nhiên Vì vậy, hoạt động nông nghiệp do người Hoa làm chủ còn ở trong tình trạng bấp bênh, không
ổn định
Trang 30Sản phẩm nông nghiệp do người Hoa làm ra thường dùng để trao đổi, tiêu dùng tại chỗ, nền kinh tế hàng hóa chưa được hình thành một cách sâu rộng trong lĩnh vực nông nghiệp của người Hoa ở giai đoạn này Sản phẩm được làm ra vẫn bị lệ thuộc vào giá cả của những chủ hàng, do vậy việc ép giá mỗi khi được mùa là không thể tránh khỏi
Người Hoa ở Đồng Nai thiên về hoạt động nông nghiệp, nhưng thực ra hoạt động này không đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người Hoa ở Đồng Nai như lĩnh vực thương mại, dịch vụ ở cùng một thời kỳ
2.1.2.2 Thủ công nghiệp
Nền công nghiệp Biên Hòa thời kỳ này có những bước phát triển mới Vào đầu thập niên 60 công nghiệp Biên Hòa đã bắt đầu khởi động khi nhà máy giấy COGIDO và giấy Tân Mai COGIVINA được xây dựng Theo sắc lệnh 49 – KT ngày 21 – 05 – 1963 khu kỹ nghệ Biên Hòa do công ty quốc gia khuyếch trương các khu kỹ nghệ SONADEZI quy hoạch được thành lập Sau 10 năm thành lập, đến năm 1973 khu kỹ nghệ Biên Hòa có tổng 42 nhà máy, xí nghiệp kinh doanh những ngành nghề sau: than đá, đường, kỹ nghệ hóa học, kỹ nghệ sợi, thuốc hút và diêm quẹt, thức uống, thủy tinh, kỹ nghệ giấy, kỹ nghệ gỗ, kỹ nghệ xây cất Khu kỹ nghệ này do chính quyền Sài Gòn trực tiếp quản lý
Hoạt động của nền kỹ nghệ thời kỳ này gia tăng rõ rệt, vì thế mà nó ảnh hưởng nhất định đến nền thủ công nghiệp của người Hoa khắp miền Nam, trong đó có tỉnh Biên Hòa
Những ngành kỹ nghệ mà người Hoa ở tỉnh Biên Hòa tham gia hoạt động nhiều nhất bao gồm:
- Lò gạch in tay
- Lò lu
- Trại cưa máy
- Nhà máy xay lúa
- Lò gạch máy
- Lò than
Kỹ nghệ làm gạch, vốn là sở trường của người Hoa Ngay từ khi đặt chân đến đất Đồng Nai, họ
đã nổi tiếng với nghề làm gạch và sản phẩm gạch của họ đẹp và bền Theo địa chí tỉnh Biên Hòa (1901): “có 17 lò gạch và gốm ở các làng Tân Hòa, Tân Thiều, Tân Vạn (Tổng chánh Mĩ Thượng) và Bửu Long (Tổng Phước Vinh Trung)
Theo địa chí tỉnh Biên Hòa (1955), ở tỉnh Biên Hòa có tổng cộng 5 lò gạch in tay do người Hoa làm chủ Một trong những chủ lò gạch lớn lúc bấy giờ ở tỉnh Biên Hòa là lò gạch của ông Trần Lâm, trụ sở chính của lò gạch là ở Bình Trước, ông này có đến hai lò gạch trong cùng một khu vực, số thuế hàng năm mà ông Trần Lâm phải đóng cho chính quyền Sài Gòn ở cả hai lò gạch là 7.429.50$
Hoạt động của các lò gạch thường bị ngưng trệ ở những tháng trời mưa, khi trời nắng ráo thì hoạt động trở lại Giá gạch ngói trên thị trường năm 1959 bị sụt giảm, nên các nghiệp đoàn chủ nhân lò
Trang 31gạch đã xin giảm thuế sản xuất xin miễn thuế sản xuất 6% để họ có thể giảm giá thành mà không bị lỗ nhiều
Nghề làm lu của người Hoa ở Đồng Nai cũng nổi tiếng nhờ có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực công nghệ này Lò lu có tên tuổi của người Hoa ở Đồng Nai lúc bấy giờ đầu tiên do ông Trương
Tú Nhơn – người Hẹ, xây năm 1878 Theo gia phả, ông sinh năm 1848 ở Trương gia trang, Quan Lan thôn, Quân tử bố, huyện Đông Uyển, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) Năm 18 tuổi ông sang Nam kỳ làm ăn Trải qua nhiều nghề đến năm 1868, ông đến định cư ở Biên Hòa Mười năm sau, ông cùng hai người đồng hương hùn vốn lại mua một lò lu cũ của một nguời Tiều đã phá sản, đặt tên lò là Tứ hiệp phát 1 Sau nhờ làm ăn phát đạt, có uy tín và tiền của, ông đắc cử làm bang trưởng trong cộng đồng người Hoa ở Biên Hòa, dân thường gọi là ông bang Tú Năm 1897 ông qua đời, thi hài đưa về an táng tại Quảng Đông, nay còn mộ
Công việc kinh doanh lu, hũ lúc thịnh, lúc suy, không dễ dàng, nên con trai của ông là Trương Nam Lai đổi tên lò là Quảng Phát Long năm 1940 Lò này sau chuyển cho người em là Trương Khôn Sơn quản lí, với tài khéo léo kinh doanh của mình, ông đã trở thành đại gia ở Tân Vạn
Sau 30 năm nhu cầu về lu, khạp ở miền Nam trở nên tăng vọt Số lò lu của do người Hoa làm chủ cũng tăng theo Ngoài hai lò của nhà họ Trương thì đến những thập niên 70 có thêm hai lò nữa của
họ Lâm (người Tiều) Những lò lu này đều nằm dọc bờ sông Đồng Nai Năm 1928, họ Lâm sang lại một lò cho người Việt họ Lưu Sau đó, người con gái họ Trương mở thêm một lò, gia đình họ Lưu xây mới hai lò khác Cuối năm 1945, quân Pháp tái chiếm Biên Hòa, chúng phá lò cũ nhất ở Tân Vạn để đặt bót lính Ở Hóa An, lò lu Trần Lâm (người Phúc Kiến), được xây cũng khá sớm vào đầu thập niên
20 của thế kỷ XX Đến năm 1955, tổng số lò lu ở Biên Hòa lên đến 9 lò, trong đó có 6 lò là do người Hoa làm chủ, đều là những lò lu có tên tuổi và lâu năm ở đất Đồng Nai
Sản phẩm lu của những lò lu do người Hoa làm chủ thường có dung tích từ 60 đến 140 lít, phục
vụ cho nhu cầu dự trữ nước của cư dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long lúc bấy giờ
Trong phương thức kinh doanh lò lu của người Hoa, họ thường trả công cho số thợ mới ở Trung Quốc qua cao hơn, và họ ngầm chỉ truyền nghề cho những người đồng hương của mình Đó là luật bất thành văn của người Hoa ở Đồng Nai trong phương thức làm ăn nói chung và nghề làm lu nói riêng
Tuy nhiên, việc tranh chấp giữa chủ và thợ trong nghề làm lu xung quanh vấn đề về lương cũ và lương mới cũng ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của ngành kỹ nghệ này Các chủ lò ở 8 lò lu ở Tân Vạn cũng không xử lý được tình trạng đình công của 100 thợ làm lu tại các lò do mình làm chủ (6/1959), vì thế cả 8 lò này đều bị ngưng hoạt động cho đến khi có phán quyết của Hội đồng trọng tài
Thợ làm lu người Hoa ở Đồng Nai giỗ tổ ngày 28 tháng 4 âm lịch hàng năm Ngày 29 tháng 8
âm lịch là ngày giỗ tổ thợ đốt lò của họ Rằm tháng 7 âm lịch có lễ cúng cô hồn những thợ làm lu đã quá cố mà không có người nối dõi tông đường
Trang 32Đây là ngành kỹ nghệ duy nhất không bị ảnh hưởng của sự khủng hoảng kinh tế năm 1959, vì sức mua những sản phẩm này chưa hề bị giảm bớt từ các tỉnh miền Tây Cả người Việt và người Âu châu cũng không cạnh tranh được với người Hoa ở ngành kỹ nghệ này
Hoạt động trong lĩnh vực cưa máy của người Hoa ở tỉnh Biên Hòa không phổ biến, vì ngành kỹ nghệ này người Việt nắm phần nhiều những nhà máy Theo địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1955, cả tỉnh Biên Hòa có 6 trại cưa máy thì người Hoa chỉ chiếm có 1, đó là trại cưa máy do ông Huỳnh Sanh làm chủ, người Âu châu chiếm 1, và 4 là của người Việt
Ở ngành công nghệ cưa máy thì như vậy, còn ở ngành công nghệ xay xát thì lại là sở trường của người Hoa, đối thủ cạnh tranh của người Hoa ở lĩnh vực này là người Việt Theo Địa chí tỉnh Biên Hòa (1955), cả tỉnh Biên Hòa có 34 nhà máy xay lúa có giấy phép, chia nhau hoạt động rải rác khắp nơi trong tỉnh Hầu hết là những nhà máy nhỏ, duy chỉ có nhà máy xay lúa của một Huê kiều ở quận Châu Thành (tỉnh Biên Hòa) là lớn hơn hết Đó là nhà máy xay lúa do ông Lâm Phô làm chủ, hàng năm đã đóng mức thuế 9.982.20$ cho chính quyền, đây là mức thuế cao nhất trong tất cả các nhà máy đóng trên địa bàn lúc bấy giờ Mỗi năm năng suất của nhà máy này đạt được là 4.000 tấn lúa, chủ yếu là lúa mua từ Đô thành Sài Gòn chở về Sản phẩm của nhà máy xay lúa này thường phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cho các quận và các đồn điền cao su trong tỉnh
Đó là những ngành công nghệ phổ biến mà ở Đồng Nai không chỉ người Hoa hoạt động mà còn
có cả người Việt và người Châu Âu nữa Mặc dù vậy, những doanh nghiệp do người Hoa làm chủ vẫn cạnh tranh được và xác định chỗ đứng của mình trong giới hoạt động công nghệ lúc bấy giờ
So với nền kỹ nghệ do chính quyền trực tiếp quản lý, thì ta thấy những ngành nghề mà người Hoa tham gia trong hoạt động kỹ nghệ của tỉnh nhà mang nét đặc thù riêng, đó là những ngành nghề
mà người Hoa chiếm ưu thế nhờ kinh nghiệm làm ăn lâu năm, nắm chắc từ khâu đầu vào, đầu ra cho sản phẩm của mình Vì thế, mà những ngành nghề thủ công nghiệp do người Hoa làm chủ, có chỗ đứng vững chắc và lâu bền trong các ngành nghề kỹ nghệ của Đồng Nai hiện nay
Năm 1957 chính quyền Sài Gòn cho mở xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa (khánh thành 1961), các quốc lộ, tỉnh lộ trong tỉnh Biên Hòa đều được mở rộng và trải nhựa, phục vụ cho chiến tranh ngày càng lan rộng của Mỹ Các cầu trong các tuyến đường trong tỉnh đều được làm mới và hiện đại Sân bay Biên Hòa được xây dựng và mở rộng phục vụ cho nhu cầu chiến tranh xâm lược
Trang 33Cũng trong năm 1957, chính quyền sài Gòn ban hành Dụ số 53, cấm ngoại kiều, trong đó có người Hoa (Huê kiều) hành 11 nghề
Ở Đồng Nai, sau 6 tháng, kể từ khi Dụ số 53 được ban hành, Huê kiều làm 7 nghề đầu kể trong
dụ đã tuân lệnh nghỉ đúng kỳ hạn Trong số những người Hoa kinh doanh những ngành nghề bị cấm thì
ở Đồng Nai có 11 người bán chạp phô và 5 người bán vải đã nhập Việt tịch để giữ nghề của mình Số Huê kiều kinh doanh những ngành nghề mà trong Dụ số 53 cấm đã chuyển môn bài sang cho vợ, con hoặc thân nhân là người Việt Nam Cũng có những người nghỉ việc luôn, chuyển sang nghề làm thuê mướn hoặc trồng tỉa
Bốn nghề còn lại mà trong Dụ số 53 cấm (nhà máy xay lúa, buôn bán ngũ cốc, chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng xe hơi, tàu thuyền, trung gian ăn huê hồng), số Huê kiều làm những ngành nghề này ở Đồng Nai thời ấy rất ít Tuy nhiên, họ cũng hứa với chính quyền là đến ngày 06/09/1957 sẽ nghỉ việc, hoặc chuyển môn bài sang cho vợ, con là người Việt Nam
Với việc thi hành Dụ số 53 việc buôn bán trong tỉnh cũng ngưng trệ Vì thực chất của Dụ này là nhằm giảm bớt thế lực kinh tế của người Hoa, đồng thời tạo cơ hội cho người Việt có chỗ đứng trong những ngành nghề mà Dụ 53 đã quy định không cho Huê kiều làm Tuy nhiên, người Việt mới thay vào nghề chưa thạo buôn bán, kinh nghiệm còn kém, vả lại thiếu vốn cũng là nguyên nhân làm cho việc buôn bán của người Việt tiến triển chậm, hàng hóa khan hiếm
Với việc thi hành đạo dụ 53, hoạt động thương mại của người Hoa ở Đồng Nai cũng giảm sút đi rất nhiều, vì đa số người tiêu dùng chuyển sang mua hàng của người Việt
Hơn lúc nào hết, bản lĩnh và trí tuệ của người Hoa trong hoạt động kinh tế được thử thách Những đức tính cần có của một tiểu thương là cần cù, nhẫn nại và bền chí đã giúp họ vượt qua những khó khăn ở giai đoạn này Tính cấu kết trong cộng đồng người Hoa được thể hiện và phát huy trong hoàn cảnh khó khăn Họ sẵn sàng tương trợ lẫn nhau cả về tinh thần, vật chất, không cần phải van nài, cầu khẩn, không cần kể lể, khoe ơn Họ cho đó là một sự dĩ nhiên trong lẽ sống còn của con người Trung Hoa trên đất Việt Vì vậy, người Hoa ở Đồng Nai vẫn thể hiện được tài năng kinh doanh của mình ở những ngành nghề sau:
Trang 34- Vựa nước đá và ruợu bia
- Cung cấp vật liệu cất công sở
- Buôn bán thức ăn và uống
Tổng cộng số môn bài mà chính quyền cấp phát cho những người kinh doanh những ngành nghề kể trên ở hai tỉnh Biên Hòa là 793 môn bài
Một trong những tiệm kinh doanh nổi tiếng thời bấy giờ do người Hoa làm chủ ở tỉnh Biên Hòa
là lò bánh mì của ông Trương Chiêu, ở số 16, đường Nguyễn Thị Giang, Bình Trước, Biên Hòa Cửa hàng này đã đóng số thuế hàng năm cho chính quyền là: 6.096$ Đây là mức thuế cao thứ nhì trong tất
cả các mức thuế mà người Hoa ở Đồng Nai phải nộp cho chính quyền trong lĩnh vực thương mại Điều này cho thấy công việc kinh doanh của cửa hàng này rất phát đạt Ngoài ra, phải kể đến nhà máy xay lúa do Lâm Phô làm chủ hàng năm đã đóng mức thuế 9.982.20$ cho chính quyền, đây là mức thuế cao nhất và cửa hàng bán thực phẩm do Hồng Côn Sơn làm chủ hàng năm cũng nộp mức thuế là 6.096.00$ Đó là những cửa hàng kinh doanh rất phát đạt của người Hoa ở Đồng Nai lúc bấy giờ
Trang 35Mức thuế cao và đều đặn hàng năm mà những cửa hàng này đóng cho chính quyền sở tại cho thấy hoạt động kinh doanh của người Hoa ở Đồng Nai thời kỳ này vẫn được duy trì Mặc dù không được thuận lợi như trước, nhưng mức thuế họ đóng cho chính quyền hàng năm một cách đầy đủ và đều đặn đã nói lên sức sống mãnh liệt trong hoạt động kinh tế của người Hoa ở Đồng Nai Phải nói rằng, tính năng động trong phong cách làm ăn buôn bán của họ đã giúp họ vuợt qua mọi khó khăn, thử thách,
để thể hiện bản lĩnh kinh doanh của mình ở thời kỳ này Vì thực tế những chính sách nhằm làm giảm thế lực kinh tế của người Hoa trong xã hội Việt Nam cũng gây nên những cản trở nhất định đối với hoạt động thương mại vốn là sở trường của họ
Trong lĩnh vực thương mại, càng hoạt động thì người Hoa càng tỏ rõ thế mạnh của mình từ khâu tập trung vốn, tìm đầu vào, đầu ra cho sản phẩm, đến việc xác lập uy tín và tạo mối quan hệ với khách hàng một cách sâu rộng
Ngoài lĩnh vực thương mại, thì người Hoa ở Đồng Nai còn làm những nghề nghiệp như:
- Cho thuê xe đò, xe vận tải và xe cho thuê,
- Đấu thầu lò heo, chợ, bến đò
- Thợ làm dồ trang sức ăn công
- Đưa xe ngựa
- Tiệm may máy và thợ may
- Đưa xe xích lô đạp và máy
Tổng số môn bài mà chính quyền đã cấp cho những người hành những nghề kể trên ở hai tỉnh Biên Hòa (1955) là 126 môn bài
Dưới chế độ Sài Gòn, người Hoa ở Đồng Nai sống theo các bang, và mỗi bang có một tập quán sản xuất kinh doanh riêng
- Bang Quảng Đông: chuyên bán tạp hóa
- Bang Phước Kiến: chuyên mua bán sắt vụn, đồ tạp dụng cũ, dự đấu thầu xe cộ phế thải
- Bang Hẹ: chuyên làm nghề đá (khai thác, chế tác đá), hành nghề Đông y
Trang 36- Bang Triều Châu: chuyên trồng rau cải, bán thức ăn
- Bang Hải Nam: chuyên khai thác trà đình, tửu quán
- Bang Thượng Hải: chuyên về nha khoa
Tổ chức kinh doanh theo hình thức này là một giải pháp hữu hiệu giúp người Hoa vượt qua khó khăn trong kinh doanh dịch vụ thời kỳ này
Các trung tâm thương mại trong tỉnh Biên Hòa lúc bấy giờ là chợ Biên Hòa, chợ Bửu Hòa, chợ Hiệp Hòa, chợ Tân Vạn, chợ Bến Gỗ, chợ Tam Hiệp (quận Châu Thành), là những chợ có số người Hoa tham gia buôn bán đông
2.1.3 Thời kỳ 1975 – 2005
2.1.3.1 Nông nghiệp
Hoạt động kinh tế nông nghiệp vẫn là hoạt động phổ biến của người Hoa ở Đồng Nai
Về các loại cây trồng: Người Hoa ở Đồng Nai chọn những loại cây công nghiệp có giá trị kinh
tế cao như: càphê, thuốc lá, tiêu, điều, bông vải…để trao đổi, giải quyết lương thực tại chỗ
Về phương thức canh tác: những thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại được đưa vào sản xuất nông nghiệp, nhiều gia đình người Hoa đạt danh hiệu “nông dân sản xuất giỏi” Họ sử dụng biện pháp thâm canh, tăng vụ để tăng năng suất cây trồng Hiện nay, số hộ người Hoa ở Đồng Nai tham gia trồng rừng cũng tăng đáng kể
Một số vùng chuyên canh cao sản được xây dựng như ở xã Bàu Hàm cho năng suất từ 6 – 11 tấn/ha/vụ Được sự chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền và chức năng, hiện nay số hộ người Hoa sản xuất nông nghiệp cũng lựa chọn những biện pháp áp dụng khoa học kỹ thuật vào những vùng trọng điểm nhằm tạo ra sản phẩm chủ lực tại một số vùng như: xã Bàu Hàm chuyên về bắp, đậu nành, thuốc
lá, mì, lúa
Đứng trước yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, mô hình sản xuất kinh doanh nông nghiệp nhỏ lẻ của người Hoa tỏ ra không hiệu quả, một số hộ làm nông nghiệp chuyển sang buôn bán nhỏ và làm dịch vụ như các hộ ở huyện Định Quán Đây là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế một cách tự phát Bên cạnh đó, hiện tượng thiếu đất để sản xuất nông nghiệp trong cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai vẫn còn tồn tại như huyện Cẩm Mĩ (45 hộ), huyện Xuân Lộc (40 hộ), Long Khánh (73 hộ), những
hộ thiếu đất để sản xuất này có xu hướng chuyển sang làm nghề tự do, hoặc trở thành công nhân cho các nhà máy ở các khu công nghiệp trong tỉnh
Mặc dù vậy, số hộ người Hoa ở Đồng Nai hoạt động nông nghiệp vẫn còn chiếm một tỷ lệ đáng
kể (73,02%) trong cơ cấu ngành nghề của người Hoa ở Đồng Nai
Trang 37Bảng 2.1: Số hộ người Hoa sản xuất nông nghiệp ở Đồng Nai
STT Đơn vị Số hộ Số hộ sản xuất nông
(Nguồn: Ban dân vận Tỉnh ủy Đồng Nai, 2005)
Tình hình sản xuất nông nghiệp của người Hoa ở Đồng Nai vẫn còn phụ thuộc vào thiên nhiên, tốc độ phát triển nông nghiệp còn chậm và thiếu vững chắc, diện tích và năng suất một số cây trồng không ổn định như cây cà phê
Hoạt động nông nghiệp của người Hoa ở Đồng Nai chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, chưa ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thiếu vốn để đầu tư sản xuất lớn
Hoạt động nông nghiệp của người Hoa ở Đồng Nai giai đoạn này chịu sự tác động của việc hiện đại hóa nông nghiệp, sự tác động của nền kinh tế thị trường Đứng trước những thay đổi lớn, nền kinh
tế nông nghiệp sản xuất theo hộ gia đình tỏ ra không hiệu quả, và thực tế ở một số nơi bà con người Hoa đã có những bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách tự phát
cư trong phường gồm cả người Việt và người Hoa, ít làm nông nghiệp, họ chuyên làm gạch ngói (ngói
âm dương cong cong lòng máng kiểu Tàu, gạch thẻ và gạch vuông lớn lát sân – quen gọi là gạch Tàu)
Trang 38và nhóm người Hẹ chuyên làm đá để sinh sống Ngoài ra, còn có nhóm người Hoa ở Tân Vạn, Hóa An cũng làm gốm từ rất sớm
Những sản phẩm của nghề gốm ở Đồng Nai do người Hoa làm chủ là: gạch, ngói, lu, hũ, đồ bỏ bạch (gốm sành da lươn, siêu tráng men da lươn, da bò), và loại sành men lưu ly (màu xanh đồng hỏa biến không đều, xương gốm hóa sành)…gọi chung là gốm Cây Mai (gốm Chợ Lớn) [Ảnh 1, tr.147], [Ảnh 2, tr.147]
Vào khoảng giữa thế kỷ XIX, nguyên liệu đất sét vùng Đề Ngạn (Chợ Lớn) cạn kiệt, nhiều chủ
lò gốm Cây Mai người Hoa đã trở về Biên Hòa, Thủ Dầu Một (vùng Lái Thiêu, Búng, Tân Uyên) mở
lò gốm Họ chấp hành sự chỉ đạo phân công chung của các bang trưởng người Hoa trong sản xuất gốm: Biên Hòa làm lu, vại, hũ bằng sành nâu; Cây Mai (Chợ Lớn) làm sản phẩm mỹ nghệ (tượng, chậu…) Sách Địa chí tỉnh Biên Hòa (1924) có nói đến một thỏa thuận giữa những người cùng làm gốm, theo thỏa thuận đó, những người làm gốm Biên Hòa không được sản xuất loại sản phẩm Cây Mai, để tránh cạnh tranh với các sản phẩm gốm Cây Mai ở Chợ Lớn Thỏa thuận này kéo dài không lâu, loại gốm sành Cây Mai bắt đầu được sản xuất ở Biên Hòa, gốm Cây Mai là một trong những nguồn ảnh hưởng trực tiếp đến gốm mỹ nghệ Biên Hòa
Thợ gốm người Hoa ở Tân Vạn (tỉnh Biên Hòa) và Hóa An sống phụ thuộc vào chủ, tuân phục chủ tuyệt đối Khi hút hàng họ sẵn sàng ngày đêm làm đủ sản phẩm để giao cho khách hàng, kể cả việc
ăn uống trong những lúc bận rộn cũng hết sức tranh thủ Người ta phân ra các lò như: lò Quảng, lò Tiều, lò Phước Kiến ý chỉ gốc gác của các chủ lò
Mặc dù có những quy định riêng và rất chặt chẽ trong việc giữ bí quyết nghề nghiệp, nhưng trong quá trình làm ăn chung với người Việt, thì người Việt nhờ khôn khéo cũng đánh cắp được những
bí quyết nghề nghiệp của số thợ làm lu người Hoa này, và ra làm ăn riêng, trường hợp anh em nhà ông Bảy Vạn vào cuối thập niên 20 của thế kỷ XX ở Biên Hòa
Năm 1776, quân Tây Sơn vào đánh chúa Nguyễn ở Gia Định, các chủ lò và số thợ gốm người Hoa dạt về Đề Ngạn (Chợ Lớn) sinh sống
Nghề làm gốm sau thời kỳ phát đạt ở những thập niên 80, 90 của thế kỷ 19 với hơn 30 doanh nghiệp nằm ở các phường Tân Vạn, Bửu Hòa, Hóa An, Tân Hạnh Hiện nay, do sự biến động của thị trường mà nghề làm gốm của người Hoa ở Biên hòa chỉ còn tập trung trong 3 doanh nghiệp: Gốm Phong Sơn, gốm Trường Thạnh chuyên sản xuất các loại đất cháy, đất đen và Hợp tác xã gốm Thái Dương chuyên sản xuất các loại gốm mỹ nghệ (đất trắng, đất đỏ)
Cùng với nghề gốm, nghề đá là một trong những ngành nghề truyền thống của người Hoa ở Đồng Nai vẫn còn lưu giữ và phát triển đến ngày hôm nay
“Trong số di thần người Hoa đến cư trú ở Đồng Nai năm 1679 có một số người Hẹ vốn có nghề chế tác đá Đầu tiên có 8 gia đình thuộc các họ Lưu, Đặng, Phạm về làng Tân Lại mở hầm đá” [24, tr
Trang 3948] Theo Địa chí tỉnh Biên Hòa (1901): “Tất cả các hầm đá đều khai thác lộ thiên Nhà thầu khoán được dự do làm, chỉ phải chịu chi phí sửa và duy tu đường vì sự chuyên chở của họ dẫn đến sự xuống cấp…80 cái hầm đá granit ở các làng Bạch Khôi, Bình Điện, Tân Lại, Bình Trị, Bình Thạch Việc khai thác nằm trong tay 400 người Tàu Họ bắn đá bằng thuốc nổ rồi đập nhỏ bằng công cụ bằng sắt” Điều này cho thấy, người Hoa ở Đồng Nai đã có thâm niên trong nghề chế tác đá từ rất lâu, và họ tỏ rõ là rất
Đá ong nổi tiếng trong vùng do người Hoa khai thác và chế tác Theo địa chí tỉnh Biên Hòa năm (1901): “Cả tỉnh có 150 hầm đá, đặc biệt là các làng Bình Đa, Bình Ý, Tân Phong, Tân Bản, Nhựt Thạch, Bình Dương, Long Điềm, Tân An, Tân Mai, Vĩnh Cửu, Phước Tân, An Lợi, Phước Kiểng, người Việt khai thác hầm đá ong đem lại lợi nhuận cho các nhà thầu khoán Âu hay Tàu…Một mét khối
đá vụn giao tận chân công trình giá trung bình một đồng.”
Nhưng đến những năm 50 của thập kỷ này, thì nghề làm đá ong ở Biên Hòa đã không còn chỗ đứng Vì nhu cầu thẩm mĩ ngày càng tăng, những sản phẩm được chế tác từ loại đá ong đã không đáp ứng đựơc yêu cầu đó Người ta tìm đến một vật liệu khác vừa có thể đáp ứng đựơc thị hiếu, vừa phù hợp với nhu cầu khan hiếm đá ong lúc bấy giờ, loại đá đó chính là đá xanh hay còn gọi là đá granit
Theo địa chí tỉnh Biên Hòa (1924): “Có khoảng 90 hầm đá granit phần lớn ở các làng Bạch Khôi, Bình Điện, Tân Lại, Bình Trị, Bình Thạch Người Tàu thu lợi bằng lao động khai thác thủ công
Họ dùng thuốc nổ tách những tảng granit sau đó đẽo gọt bằng dụng cụ thép”
Người ta thường dùng đá này để xây mộ, hoặc chế tác ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như:
đá kê chân cột, đá kê máy xay sát gạo, nó cũng dùng trong các kiến trúc châu Âu Ngoài ra, đá còn được đập nhỏ ra dùng vào các công trình giao thông, xây cất nhà cửa Một trong những sản phẩm được làm từ loại đá xanh ở Biên Hòa là Tòa đô chính Sài Gòn, (đó là đá khai thác ở ba hầm đá Hóa An và Tân Bản đá dăm để trải đường phố.) Sản xuất hàng năm của các hầm đá granit khoảng 95.000 đến 100.000 mét khối đá dăm, đá xây
Nghề làm đá đỏ đến nay hầu như không còn vì nguồn cung cấp loại đá này đã cạn Hiện nay, nghề làm đá xanh vẫn còn được duy trì ở một số hộ gia đình người Hoa tập trung ở khu vực Bửu Long (Biên Hòa), nhưng không phát triển như trước, chỉ tập trung vào một số sản phẩm như tượng, bia…và
Trang 40sản xuất chỉ mang tính kinh tế hộ gia đình, không đủ sức cạnh tranh với nền sản xuất lớn như hiện nay [Ảnh 3, tr 148], [Ảnh 4, tr.148], [Ảnh 5, tr.149]
Nghề gốm và nghề đá là những ngành nghề truyền thống của người Hoa ở Đồng Nai, có lịch sử lâu đời, kể từ khi người Hoa đặt chân đến lập nghiệp ở vùng đất này Ngoài Đồng Nai, thì Bình Dương cũng là một trong những địa danh nổi tiếng về làm gốm, mà đa số chủ nhân của những lò gốm này thường là người Hoa
Bảng 2.2: Số hộ người Hoa sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Đồng Nai
STT Đơn vị Số hộ Số hộ sản xuất tiểu thủ
(Nguồn: Ban Dân vận tỉnh Đồng Nai năm 2005)
Qua bảng thống kê trên ta thấy, số hộ người Hoa sản xuất thủ công nghiệp ở Đồng Nai không còn nhiều, sản xuất thủ công nghiệp chỉ mang tính chất hộ gia đình, nhỏ lẻ, và gặp nhiều khó khăn
2.1.3.3 Thương nghiệp – dịch vụ
Hoạt động dịch vụ của người Hoa ở Đồng Nai không phổ biến, bởi đa số dân cư người Hoa tập trung đông ở nông thôn, số dân cư tập trung ở đô thị còn ít Tuy nhiên trong giai đoạn gần đây (2001 – 2005), toàn tỉnh đã có 10% dân số người Hoa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp
Bảng 2.3: Số hộ người Hoa kinh doanh dịch vụ thương mại ở Đồng Nai
STT Đơn vị Số hộ Số hộ kinh doanh dịch
vụ thương mại
Tỷ lệ (%)
1 Biên Hòa 1.354 162 11,96%
2 Long Khánh 1.388 147 10,59%