Luận văn Thạc sĩ Sinh học: Xây dựng bản đồ phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở, mục đích phân vùng sinh thái môi trường đất nuôi tôm càng xanh phục vụ định hướng phát triển kinh tế xã hội và đồng thời thành phong trào mang tính phổ biến ở HTN, tỉnh Đồng Tháp; phân cụ thể vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh HTN.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN VÙNG SINH THÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT PHỤC VỤ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM CÀNG XANH HUYỆN TAM NÔNG,
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS-TSKH LÊ HUY BÁ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2007
Trang 2đã nhiệt tình hỗ trợ và cung cấp tài liệu, số liệu tham khảo quí báo, hữu ích để tôi thực hiện đề tài Cuối cùng tôi xin cảm ơn bạn bè cùng người thân của tôi
Tp HCM 2007 Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Trang 3MỞ ĐẦU 1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một quốc gia hay một khu vực nào đó khi kinh tế phát triển sẽ kèm theo nạn ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng; nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy giảm, gây hậu quả xấu cho loài người, huỷ hoại nguồn thực phẩm, thuỷ sản, sinh cảnh, nguồn nước… Vậy phải làm thế nào để vừa phát triển kinh tế vừa chống ô nhiễm Đây thật sự là một bài toán rất nan giải và bức bách của tỉnh Đồng Tháp,
để góp phần giải quyết vấn đề này thì việc phân vùng sinh thái môi trường đất trong tỉnh Đồng Tháp nói chung huyện Tam Nông nói riêng rất quan trọng để giúp nền kinh tế của tỉnh phát triển bền vững
Tam Nông là một trong những huyện của tỉnh Đồng Tháp thuộc vùng trũng Đồng Tháp Mười Đồng Tháp Mười là một trong những vùng trũng của Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm ở phía bắc sông Tiền Do thế nên ngập lũ định kỳ hàng năm phù hợp với quy luật của vùng đồng bằng châu thổ Mùa lũ trùng với mùa mưa, do nước mưa theo dòng chảy từ thượng nguồn kết hợp với lượng mưa tại chỗ và kéo dài từ giữa tháng 8 đến tháng 12, bị lũ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân
Hoạt động kinh tế của huyện Tam Nông tập trung vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Nên đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất, đặc biệt là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mang tính nhỏ lẻ, phần lớn chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và chiếm tỷ trọng thấp trong nền kinh tế
Phần lớn đất đai của huyện Tam Nông có nhóm đất phèn chiếm tỷ lệ rất cao 81,97% (theo tài liệu điều tra và xác định tài nguyên đất của Phân Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam, 1999), nên chỉ thích nghi với những cây chịu phèn như: Lúa, tràm, năng… mùa lũ ở HTN nước cao hơn mặt ruộng trung bình từ 1,5 đến 2,5m, thậm chí 4,25m nên vào mùa lũ thì không thể trồng lúa Do vậy, thu nhập của người dân rất thấp Gần đây việc trồng lúa kết hợp với nuôi thuỷ sản trong mùa lũ lại là một lợi thế của huyện Tam Nông, đặc biệt là tôm càng xanh trong hai năm qua đã đem lại lợi nhuận rất cao cho người dân Nhưng diện tích nuôi TCX còn ít, chưa phát triển trên toàn huyện, việc “ Xây dựng bản đồ phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh Huyện Tam Nông” lại rất cần thiết để phát triển quy mô trên toàn huyện một cách khoa học và bền vững đây cũng
là một trong những chiến lược phát triển của tỉnh Đồng Tháp nói chung, của huyện Tam Nông nói riêng Trong đó việc bố trí mô hình thuỷ sản phù hợp với địa hình đất đai từng vùng nhằm giúp cho người dân có thể sống chung với lũ một cách căn cơ Vì thế việc phân vùng đất sẽ giúp HTN tận dụng sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản theo hướng bền vững
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Trang 4Phân vùng sinh thái môi trường đất làm cơ sở khoa học và thực tiễn xác định khu vực cụ thể canh tác, sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, bảo tồn, lâm, ngư nghiệp trên địa bàn huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp một cách hợp lý và bền vững
Xây dựng cơ sở, mục đích phân vùng sinh thái môi trường đất nuôi tôm càng xanh phục vụ định hướng phát triển kinh tế xã hội và đồng thời thành phong trào mang tính phổ biến ở HTN, tỉnh Đồng Tháp
Phân cụ thể vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh HTN
Lên bản đồ các vùng sinh thái môi trường đất theo các tiêu chí thích hợp nuôi tôm càng xanh và không thích hợp nuôi tôm càng xanh
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Khảo sát và lấy mẫu đất, nước trên địa bàn HTN
Tìm hiểu về tình hình nuôi tôm càng xanh trên toàn huyện trong những năm qua
Nghiên cứu về các đối tượng có liên quan đến việc phân vùng sinh thái môi trường đất với mục đích phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh, các loại bản đồ của huyện
Thu thập, đánh giá các yếu tố tự nhiên, đặc điểm môi trường sinh thái trong mối tương quan đến đất và nghề NTTS ở HTN
Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên: Khí tượng, thủy văn, thổ nhưỡng và các điều kiện liên quan đến việc nuôi TCX (chất lượng nguồn nước, đất đai, chế độ thủy văn, tính chất đất, hệ thực vật, nguồn thức
ăn tự nhiên…) trong HTN
Điều tra, thu thập và xây dựng các bản đồ với các nội dung sau:
Bản đồ Địa hình địa mạo
Bản đồ Phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh Đánh giá và xây dựng cơ sở dữ liệu về các yếu tố môi trường Từ đó, lập các lớp bản đồ của các yếu tố tự nhiên có liên quan đến phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ nuôi tôm càng xanh
Chồng xếp bản đồ theo phương pháp GIS kết hợp với viễn thán CRS để xác định tính tối ưu hoá, sử dụng đất theo quan điểm sinh thái
Kiểm tra thực địa đối chiếu với lý thuyết
Trang 5Sử dụng phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh HTN
Không phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ các linh vực khác ngoài việc nuôi tôm càng xanh
Không đi sâu vào chuyên đề xây doing bản đồ
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Giải quyết vấn đề xác định các vị trí tiểu vùng cơ bản đặc trưng cho việc nuôi tôm càng xanh của huyện TN
Xác định điều kiện sinh thái môi trường để định ra vùng cụ thể thích hợp cho nuôi tôm càng xanh
Nâng cao tính khoa học phong trào nuôi tôm càng xanh ở HTN, giúp cho phong trào nuôi tôm thêm thành công và bền vững
Xây dựng bản đồ cụ thể từng tiểu vùng phát triển nuôi tôm càng xanh ở HTN
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Được thể hiện qua hình 1, gồm các phương pháp sau
5.1 Phương pháp luận
Trang 6Hình 1: Sơ đồ khối nghiên cứu Phân Vùng Sinh Thái môi trường Đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh ở huyện Tam Nông, Tỉnh Đồng Tháp Tỷ Lệ Bản Đồ 1/25.000
Dựa vào quan điểm sinh thái môi trường, có sự liên quan chặt chẻ giũa các yếu tố thành phần với nhau trong đó đất là thành phần chủ đạo, trong quá trình nghiên cứu xác định sự tương quan giữa các thành phần đất, nước, khôngkhí, sinh vật, con người , yếu tố chủ đạo mang tính diễn thế đặc trưng của hệ sinh thái
Phương pháp lấy mẫu
Phân tích, xử lý
số liệu
Thành lập các loại bản đồ
Phương pháp phân tích mẫu
Biện pháp cải tạo
sử dụng hợp lý vùng đất nuôi tôm càng xanh
Nêu các đặc trưng của từng tiểu vùng sinh thái
Hoàn thành
đề tài Tổng hợp
Phương pháp luận
Trang 7Trong hệ sinh thái có nhiều phân hệ khác nhau, nhiệm vụ của chúng tôi là phân thành từng vùng sinh thái với sự đặc trưng cho việc nuôi tôm càng xanh, phân định vùng, ranh giới vùng, xác định đặc thù theo những chỉ tiêu đánh giá nhất định chủ yếu là sử dụng phân loại đất
Quá trình nghiên cứu xây dựng phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh ở HTN được thể hiện theo sơ đồ hình 1
5.2 Phương pháp cụ thể
5.2.1 Phương pháp tổng hợp và biên hội tài liệu
Điều tra và biên hội số liệu, dữ liệu đã có ở các cơ sở ban ngành của huyện về các điều kiện tự nhiên Sử dụng phương pháp “Tiếp cận cập nhật thông tin dữ liệu”, phương pháp “Tổng hợp dữ liệu” (sách “Phương pháp nghiên cứu khoa học” Lê Huy Bá, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Tp Hồ
Chí Minh, 2005) Phương pháp tập hợp, tổng hợp các tài liệu, số liệu có liên quan đến môi trường vùng
nuôi thủy sản; trong đó, bao gồm các điều kiện đất đai, chế độ và chất lượng nước, địa hình của HTN Dựa trên tổ hợp các đặc điểm phù hợp về đất đai, nguồn nước, … các vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản được xác lập Phương pháp này được sử dụng kết hợp với phương pháp GIS Các tài liệu này được thu thập từ các báo cáo tổng kết về hiện trạng môi trường, quy hoạch tổng thể về nuôi trồng thủy sản của huyện Nguồn tài liệu trên là từ các sở, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; phòng Tài nguyên môi trường của huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp và Viện Nuôi trồng Thủy Sản II
Điều tra và biên hội tài liệu về các điều kiện kinh tế- xã hội theo chủ đề của đề tài và bằng phiếu điều tra theo phương pháp “Tổng luận”, sách “Phương pháp nghiên cứu khoa học” - Vũ Cao Đàm, NXB Khoa Học và Kỹ thuật, 2005
Bảng 1: Phân loại đất đai HTN
Phân loại Việt Nam Theo hệ thống FAO/ Unesco
Trang 8Nguồn: Báo cáo tổng hợp Đồng Tháp Mười sau 10 năm khai thác và phát triển kinh tế – xã hội (1985 -
vụ việc xây dựng bản đồ phân vùng sinh thái và các nội dung có liên quan đến đề tài
Thu thập các bản đồ hành chánh, giao thông, thổ nhưỡng, sông suối của huyện nhằm phục vụ đề tài Qua phương pháp này và theo bản đồ đất với tỷ lệ 1:100.000 [24], Bảng 1: Phân loại đất đai HTN (phân loại theo hệ thống FAO)
5.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa, lấy mẫu và phân tích mẫu
* Khảo sát thực địa:
Tiến hành khảo sát sơ bộ trên toàn huyện vào năm 2006 để xác định các khu vực, các tuyến, các điểm Sau đó dựa vào bản đồ (bản đồ hành chính và bản đồ đất) sử dụng cho việc lấy mẫu đất và mẫu nước
Khảo sát, lấy mẫu đất tại các vùng được phân vùng theo TCVN 1995 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá đất ô nhiễm phèn, theo “Soil Analyse Method”, EPA, 1995 và TCVN 1995
Khảo sát, điều tra hiện trạng họat động bảo vệ môi trường tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp theo phương pháp tiếp cận chọn lọc và điểm điển hình
Khảo sát đánh giá tình hình nuôi tôm càng xanh ở HTN về:
-Điều tra phiếu hỏi về thực tế nuôi tôm càng xanh của dân
Sd
Thionic Fluvisols
-ProtothioniThionic Fluvisols
-Epi Protothioni Thionic Fluvisols
-Orthithioni Thionic Fluvisols
-Epi Orthithioni Thionic Fluvisols
-Endo Orthithioni Thionic Fluvisols
-Arenithioni Thionic Fluvisols
FLt.p FLt.pep FLt.o FLt.oep FLt.oen FLt.a
Trang 9-Lấy ý kiến của kỹ sư thuỷ sản của HTN về tình hình nuôi, dịch bệnh của TCX cũng như hướng phát triển trong thời gian tới Trong năm 2006 huyện thực hiện “ Dự án đầu tư thí điểm hạ tầng thuỷ lợi phục vụ nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng, xã Phú Thành B”
* Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu:
Mẫu đất: Việc lấy mầu là rất cần thiết để kiểm chứng lại tính chất đất trong các tiểu vùng được dự
kiến phân theo quan điểm sinh thái Việc lấy mẫu được chọn theo lưới toạ độ (sử dụng máy GPS) và đánh dấu toạ độ lên bản đồ bằng phần mềm Mapinfo
Do kinh phí hạn hẹp nên trong mỗi vùng lấy ba mẫu đất mặt, mỗi mẫu được lấy theo đặc điểm đất và vị trí địa lý của vùng Như vậy tổng cộng có 5 vùng, nên số lượng mẫu được lấy trên toàn HTN
sẽ là 3 mẫu x 5=15 mẫu đất được lấy để phân tích đánh giá, vị trí lấy mẫu (xem hình 2: Bản đồ lấy mẫu đất và mẫu nước)
Dụng cụ lấy mẫu được làm bằng sắt, có dạng hình trụ hở rỗng ở giữa, dài1,5m, đường kính 50
cm, phía trên có hai tay cầm giúp lấy mẫu dễ hơn Dùng tay cầm này để ấn dụng cụ xuống đất sâu từ
50 đến 60 cm trong đất, xoay tròn dụng cụ để nó cắt đứt phần đất cần lấy sau đó rút dụng cụ lên dùng dao gọt cho mặt cắt bằng phẳng, lấy thước đo bỏ lớp mặt 30 cm, lấy lớp đất kế tiếp từ 30 – 40 cm cách
từ mặt xuống, với khối lượng 1 kg đất, cho vào túi nhựa đen đánh dấu kí hiệu mẫu, tiếp theo cho vào thùng xốp giữ lạnh đưa đi phân tích
Các chỉ tiêu cần phân tích: Fe; Al; SO4; pH
Mẫu nước: Lấy mẫu nước cần thiết để đánh giá chất lượng môi trường nước tại các tiểu vùng, qua
đó đánh giá được chất lượng nước của từng tiểu vùng phục vụ cho việc nuôi tôm càng xanh
Mỗi tiểu vùng lấy 2 mẫu nước, ta có 5 tiểu vùng, như vậy có 2 mẫu x 5 =10 mẫu nước được lấy trên địa bàn HTN
Lấy mẫu theo mặt cắt dọc, cách mặt nước 30 – 40 cm, miệng can đựng mẫu hướng về phía dòng nước tới, tránh các chất rắn có kích thước lớn như rác, lá cây, xác chết sinh vật Thể tích nước lấy là 0,5 lít, bảo quản mẫu trong thùng nhựa và giữ lạnh trong thùng đá
Các chỉ tiêu phân tích: nhiệt độ; pH; Fe; Al.
Ngoài ra còn lấy 8 mẫu nước trong ao nuôi thuỷ sản, 28 mẫu nước trên sông, kênh rạch vào các mùa khác nhau trong năm: Đầu mùa mưa, đầu mùa lũ, đỉnh lũ, mùa khô, phân bố mẫu tuỳ thuộc vào hệ thống thuỷ văn và điều kiện canh tác (hình 2) [7] Các chỉ tiêu phân tích mẫu nước này nhằm xác định các chỉ số: Nhiệt độ (0 C); pH; SS (mg/l); DO (mg/l); BOD5 (mg/l)
5.5 Phương pháp GIS
Đây là phương pháp kết hợp giữa dữ liệu thông tin địa lý được nối kết với các lớp thông tin môi trường có liên quan đến tính chất đất, chất lượng nước, chế độ nước (ngập lũ, phèn hóa), khu dân cư, khu công nghiệp, …
Trang 10Tất cả dữ liệu đầu vào được xử lý bằng máy tính để đưa ra kết quả trực quan phục vụ cho việc xây dựng bản đồ phân vùng sinh thái môi trường đất Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi xây dựng các cơ sở dữ liệu và bản đồ phân vùng trên nền bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 Việc số hoá các lớp thông tin từ các bản đồ nền trong khu vực nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ phân vùng sinh thái dựa trên các tiêu chí thực thông qua việc chồng lớp các dữ liệu liên quan
Bản đồ địa hình địa mạo
-Điều tra, thu thập số liệu và hệ thống hóa các dữ liệu thông tin về:
Phát triển kinh tế xã hội giai đoạn năm 2002 đến năm 2010 và định hướng 2020
Và các lớp thông tin khác: Lũ lụt, sử dụng đất, giao thông, địa chất,…
Số hoá bản đồ: chủ yếu bằng phần mềm GIS: Mapinfor 7.5[ 25 ]
-Thiết kế cơ sở dữ liệu thuộc tính: Dữ liệu kết quả phân tích mẫu được nhập theo bảng dữ liệu -Xây dựng các bản đồ chuyên đề về phân vùng sinh thái môi trường đất Việc ứng dụng GIS vào nghiên cứu đề tài cho phép chúng ta thực hiện công việc thu thập và tổng hợp dữ liệu một cách nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn Các bản đồ hiện trạng môi trường: đất, nước, cũng như bản đồ dự báo (sau khi chạy mô hình dự báo và phân tích) được xây dựng giúp cho việc đánh giá và phân vùng sinh thái môi trường đất được trực quan, chính xác và tổng quát hơn
Bên cạnh đó, việc quản lý cơ sở dữ liệu thông tin môi trường bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS) rất có hiệu quả và có thể cập nhật số liệu mới khi cần
Chập bản đồ: quy trình tổng hợp dữ liệu không gian, kỹ thuật này gồm có 4 bước:
- Xác định các yếu tố sẽ được đưa vào phân tích
- Liệt kê bản đồ cho từng yếu tố đã xác định
- Chồng xếp và phân tích các bản đồ thành phần và xây dựng các bản
đồ tổng hợp
-Phân tích bản đồ tổng hợp để xác định khả năng sử dụng
Trang 11Hình 3: Qui trình thực hiện thành lập dữ liệu hệ thống thông tin địa lý ( GIS)
5.4 Phương pháp xử lý số liệu
Nhập, xử lý các số liệu phân tích bằng phần mềm Excel: Nhập các kết quả thống kê điều tra đã thực hiện ở trên; các kết quả phân tích mẫu và xử lý để đưa ra các sai số, độ tin cậy (f), độ tương quan (r) của các dãy số liệu,
Xử lý dữ liệu đã số hóa và xây dựng bản đồ bằng Mapinfo, Arcinfo
Quản lý và truy vấn số liệu các lớp thông tin trên Arcview
5.5 Phương pháp chuyên gia
Dựa vào điều kiện của địa phương, xây dựng trong việc lựa chọn các các vấn đề chính, xây dựng khung phân vùng, lựa chọn phân vùng và cuối cùng là vạch ra phân vùng chi tiết…
Tham khảo ý kiến:
- Kỹ sư thuỷ sản: Nguyễn Văn Thông , chức vụ Phó phòng Nông nghiệp phát triển nông thôn HTN
-Tiến sĩ: Hà Nhựt Long, chúc vụ Trưởng bộ môn Thuỷ sản nước ngọt của trường Đại học Cần Thơ
5.6 Phương pháp xây dựng vùng thích hợp điều kiện sinh thái môi trường đất để phục vụ quy hoạch phát triển nuôi TCX
Hiệu chỉnh dữ liệu, biên tập và in ấn bản
đồ chuyên đề
Hiệu chỉnh dữ liệu
Sử dụng phần mềm Mapinfo
Bản đồ lưu trong máy tính, có thể cập nhập sửa chữa
bổ sung, ứng dụng trong các mục đích khác
Trang 12Trên cơ sở hiện trạng, xác định các vùng dẫn dụng các mục tiêu cụ thể cho từng vùng sinh thái môi thái môi trường đất , vạch ra những nét chính cho từng vùng nuôi TCX để đem lại sự phát triển bền vững cho huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Thực hiện đường lối đổi mới, TĐT đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực, nhất là sản xuất Nông – Lâm – Ngư nghiệp đã góp phần phát triển kinh tế ổn định xã hội, đạt mức tăng trưởng cao so với trung bình cả nước Trong đó hoạt động sản xuất thuỷ sản
đã góp phần không nhỏ, chiếm một tỷ trọng cao trong cơ cấu Nông – Lâm – Ngư nghiệp của tỉnh Đặc biệt trong nuôi trồng thuỷ sản có bước phát triển nhanh về diện tích, năng suất và sản lượn, cung, cấp một lượng hàng hoá lớn cho tiêu dùng và xuất khẩu Mặt khác nuôi trồng thuỷ sản cũng đã góp phần đáng kể vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn Tuy nhiên trong quá trình phát triển vẫn còn đan xen những khó khăn bất cập làm hạn chế sự tăng trưởng trong sản xuất thuỷ sản bền vững [31]
Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh Uỷ, Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn TĐT đã nghiên cứu xây dựng “Đề án quy hoạch phát triển sản xuất thuỷ sản đến năm 2010” Đề án quy hoạch phát triển thuỷ sản là sự tập hợp những ý tưởng, nguyện vọng phát triển thuỷ sản thông qua các chương trình hành động, các mục tiêu phát triển cụ thể nhằm tạo
sự phát triển bền vững trong tương lai Đề án quy hoạch phát triển thuỷ sản sẽ tìm ra những phương pháp tiếp cận hợp lý các phương án sản xuất hiệu quả cao [31, tr 2]
Đề án quy hoạch phát triển sản xuất thuỷ sản đến năm 2010 của TĐT thực hiện thành công thì không thể thiếu được phân vùng sinh thái môi trường nuôi trồng thuỷ sản Phân vùng sinh thái môi trường nuôi trồng thuỷ sản, ngoài việc nó liên quan chặt chẽ đến phân vùng chất lượng nước phục vụ nuôi trồng thuỷ sản nó còn liên quan đến phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ nuôi trồng thuỷ sản
NTTS đã trở thành thế mạnh kinh tế quan trọng của ĐBSCL Tổng diện tích có khả năng phát triển NTTS của vùng năm 2001- 2005 lên đến 1.304.530 ha, với nhiều loại hình nuôi, khả năng nuôi mặn lợ mặn 826.780 ha, diện tích có khả năng nuôi nước ngọt là 77.740 ha Diện tích nuôi của vùng tăng từ 510.160 ha năm 2001 lên 708.300 ha năm 2005 [10]
Theo số liệu thống kê, năm 1990 ở Việt Nam có hơn 96.000 ha diện tích mặt nước nuôi tôm, với sản lượng gần 33.000 tấn/năm Đến năm 1995, diện tích mặt nước nuôi tôm tăng lên hơn 216.657ha, với sản lượng là 55.593 tấn/năm, và đến năm 2004 diện tích mặt nước nuôi là 587.426ha, với sản lượng trên 290.000 tấn/năm Trong đó, diện tích nuôi công nghiệp và bán
Trang 14công nghiệp là 42.31ha (chiếm khoảng 7, 2% diện tích); còn lại là quảng canh, quảng canh cải tiến (báo cáo NTTS năm 2004, Bộ Thủy sản)
1.1 SINH THÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT LÀ GÌ?
C.Linne – nhà khoa học tự nhiên vĩ đại, người cha đẻ của khoa học phân loại và hệ thống sinh vật học đã từng chia thế giới thành ba thể tự nhiên là: khoáng vật, thực vật, động vật Đến cuối thế kỷ XIX, nhà khoa học Nga V Dokuchaev, người khai sinh khoa học thổ nhưỡng học lại phân biệt thêm một thể thứ tư là đất Sống trong đất, đó là cuộc sống âm thầm trong bóng tối của muôn vàn sinh vật nhỏ bé và bí ẩn Đây là một môi trường sống đặc thù, với cấu trúc ba thể rắn, lỏng, khí mà trong đó mang chứa cả một thế giới sinh vật vô cùng đa dạng và phong phú, từ đơn bào đến đa bào như các nhóm vi khuẩn, tảo, nấm, nhiều vi sinh vật, vi thực vật, động vật không xương sống và các nhóm động vật có xương sống khác [17]
Theo Dokuchaev mỗi loại môi trường đất bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên (Nature body) phân bố trong một không gian nhất định, được hình thành bởi các nhân tố đá mẹ, sinh vật, địa hình và tác động của con người [2] Dokuchaev (1897) định nghĩa đất: ” Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu
tố hình thành gồm: Đá, động vật, thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian” [ Cục môi trường (1997), Tài liệu tập huấn về quản lý và kinh tế môi trường, cục Môi Trường Hà Nội]
Jofte và cộng sự đã phát triển: Hệ sinh thái môi trường đất như là một hệ tự nhiên bao gồm sinh vật và các vật chất vô sinh, mỗi hệ có một đặc trưng nhất định [2]
Winkler (1968) xem đất “Là một vật thể sống” hay “Một môi trường sinh thái hoàn chỉnh”
GS- TSKH Lê Huy Bá cũng đã nhận định: Cũng như mọi môi trường sinh thái khác, môi trường sinh thái đất cũng có những hệ thống riêng biệt của nó Mỗi môi trường sinh thái đất cũng có thể có một hay nhiều hệ sinh thái tồn tại mà trong đó các nhân tố sinh vật như vi sinh vật phân giải yếm khí, háo khí, thiếu khí, vi sinh vật tổng hợp, thực vật không diệp lục, rễ cây, động vật sống trong đất và trên mặt đất Tất cả tạo nên một hệ, liên quan khăng khít với nhau, cùng tồn tại và phát triển trong môi trường đất Hệ sinh thái này
bị phá huỷ khi các mắt xích quan trọng trong hệ bị tiêu huỷ [2], mối quan hệ giữa đất với các yếu tố khác trong môi trường theo quan điểm đất là một môi trường sinh thái có thể minh hoạ qua hình 1.1
Từ các nghiên cứu khu hệ sinh vật đất sẽ có những đề xuất góp phần cải tạo và tăng độ phì của đất, đất hoang, đất bạc màu, góp phần đánh giá sắp xếp các vùng địa lý tự nhiên, các vùng sinh thái, quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp [17], lâm nghiệp, thuỷ sản
Trang 15Cấu tử đất Môi trường vật lý
Tác động của con người Hệ động vật
Các nguồn năng lượng Hệ thực vật
Tầng mùn
Mẫu chất
Đá mẹ
Hình 1.1: Sơ đồ biểu thị khái niệm đất là một môi trường sinh thái
1.2 PHÂN VÙNG SINH THÁI
Khi nó đến phân vùng thì có rất nhiều kiểu phân vùng như: phân vùng văn hoá, phân vùng đánh bắt cá bờ biển, phân vùng động đất, phân vùng hành chánh, phân vùng kinh tế – xã hội, phân vùng nước, phân vùng sinh thái…
Trong phân vùng sinh thái lại có rất nhiều kiểu vì trong tự nhiên và hoạt động sống của con người có rất nhiều hệ sinh thái như: HST nông nghiệp, HST môi trường đất, HST nuôi trồng thuỷ sản, HST rừng ngập mặn, HST nhiệt đới,… Mỗi kiểu phân vùng hệ sinh thái, đều có đặc thù riêng để làm tiêu chí, cơ sở xem xét để phân vùng sinh thái
- Viện quy hoạch thiết kế nông nghiệp (1996), dựa vào các tiêu chí: Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thuỷ văn, thổ nhưỡng, khả năng sử dụng đất đã phân vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam thành 5 miền sinh thái: Miền sinh thái nông nghiệp phía bắc; Miền sinh thái nông nghiệp Bắc trung bộ – đông Trường Sơn; Miền sinh thái nông nghiệp Tây Trường Sơn – Nam
Đất
Trang 16bộ; Miền sinh thái nông nghiệp Bắc biển Đông; Miền sinh thái nông nghiệp Nam biển Đông [5, phụ lục]
- Một nghiên cứu mới được công bố vào ngày 2, tháng 07, năm 2007 trong tạp chí Bioscience, báo cáo này có tiêu đề “ Các vùng sinh thái biển của thế giới: Phân vùng sinh học các khu vực ven bờ và thềm lục địa - Marine Ecoregions of the World: A bioregionalization of coast and shelf areas”, do nhà khoa học về hải dương học Mark Spalding của The Nature Conservancy và Helen Fox, cùng với nhà sinh vật học biển làm việc cho tổ chức World Wildlife Fund cùng với nhiều người khác cùng nghiên cứu
- Cho đến nay, trên thế giới đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phân vùng nuôi thuỷ sản, đặc biệt vấn đề phân vùng chất lượng nước cho việc nuôi thuỷ sản nhằm mang lại môi trường tối ưu cho các loài thuỷ sản Các nghiên cứu môi trường đưa ra các tiêu chuẩn thích hợp cho từng loại thuỷ sản đặc trưng như: Tôm, cá,… trong đó bao gồm tiêu chuẩn môi trường cơ bản như: Nhiệt độ, pH, hàm lượng oxy hoà tan trong nước, các chất độc [7] Bên cạnh đó, tuỳ từng loài thuỷ sản, tuỳ tính chất của từng vùng và môi trường khu vực mà từng quốc gia, từng khu vực có lĩnh vực nghiên cứu đặc thù riêng
- Về việc phân vùng sinh thái môi trường nuôi tôm càng xanh chưa có nghiên cứu cụ thể
mà chỉ lồng ghép chung trong chương trình phân vùng sinh thái môi trường nuôi trồng thuỷ sản song song đó khu vực phân bố của TCX trên thế giới có phần hạn chế ( xem phần 3.1 của chương 3), nên việc phân vùng sinh thái môi trường nuôi tôm càng xanh trên thế giới chưa được nghiên cứu sâu
Việt Nam, TCX là một trong những loài thuỷ sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao nên rất được trú trọng Có rất nhiều nghiên cứu về TCX cũng như có nhiều dự án về phân vùng phát triển như: TCX và tôm Sú của Dương Tấn Lộc (2001), của Lê Văn An, Nguyễn Trung Nghĩa Kết quả nghiên cứu công nghệ di truyền điều khiển giới tính TCX nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm( GS TS Trần Mai Thiên và các cộng sự năm 2006)… Còn những vấn đề liên quan đến việc quy hoạch hợp lý và phát triển bền vững nghề nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam còn rất hiếm Trước đây có Lê Xuân Thuyên (2001), nghiên cứu về phân vùng sinh thái nuôi tôm cho bán đảo Cà Mau Gần đây những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi thuỷ sản ở vùng Đông Nam Bộ của Viện Thuỷ Sản II cũng đã bước đầu nghiên cứu phân vùng thuỷ sản cho các tỉnh ven biển ĐBSCL (Lê Huy Bá và cộng tác viên, 2003)
Trang 17Nuôi trồng thuỷ sản đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hoá chủ lực, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang tiến đến xây dựng các vùng sản xuất tập trung ở nước ta nói chung và ở TĐT nói riêng Thời kỳ này thuỷ sản trở thành ngành sản xuất hàng hoá đã được khẳng định từ giữa những năm 80 và gặt hái thành quả Từ năm
1990 trở lại đây nuôi tôm cho xuất khẩu là một đột phá quan trọng, do đó phân vùng nuôi tôm rất thiết yếu [7] Tuy nhiên, việc phát triển diện tích nuôi trồng với tốc độ nhanh hoàn toàn mang tính tự phát Các nghiên cứu về hình thức nuôi cũng như vùng nuôi chưa được quan tâm
và đầu tư đúng mức Do đó vấn đề phân vùng quy hoạch phát triển chưa kịp thực tế nuôi nên làm cho hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản chưa cao song song đó ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái khu vực Để thúc đẩy nghề nuôi thuỷ sản phát triển theo hướng tăng hiệu quả, đảm bảo môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, đòi hỏi phải quan tâm đến một số yêu cầu nghiên cứu khoa học trọng điểm liên quan đến vấn đề phân vùng sinh thái nuôi tôm và quy hoạch vùng nuôi
Trong xu thế hội nhập kinh tế, quốc tế, đòi hỏi hàng hoá phải có chất lượng cao, sản phẩm khối lượng lớn ổn định, đáp ứng tiêu dùng và xuất khẩu Vấn đề bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản là một vấn đề có tầm chiến lược cần trú trọng quan tâm Để bảo vệ môi trường trong phát triển nuôi trồng thuỷ sản HTN, cần: Tiến hành quy hoạch phát triển NTTS và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của huyện Phân chia vùng sinh thái trọng điểm vùng nuôi trồng thuỷ sản đặc biệt nuôi TCX, phân vùng sinh thái ngập lụt, phân vùng sinh thái đầm trũng chua phèn để có thể đầu tư đồng bộ phát triển kinh tế nuôi trồng thuỷ sản của huyện
Việc phân vùng nuôi trồng thuỷ sản ĐBSCL nói chung HTN nói riêng không thể tách rời tính chất của đất đặc biệt là những vùng đất phèn vùng ĐTM, Tứ Giác Long Xuyên,…
Khi nói đến phân vùng đất lại có rất nhiều nghiên cứu về phân vùng đất, với các mục đích khác nhau như: Phân vùng đất nông nghiệp, phân vùng đất để xây dựng, phân vùng đất để phát triển kinh tế,… Ví dụ: Đề tài khoa học “ Thu thập, kiểm chứng các tài liệu đã có, nghiên cứu bổ sung lập bản đồ phân vùng đất yếu Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô” [8] Do
đó đề tài “ Phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp”, sẽ kế thừa các đề tài, các nhiên cứu, các dự án có liên quan đến sinh thái môi trường đất; phân vùng sinh thái; thuỷ sản, điều kiện tự nhiên – xã hội của khu vực nghiên cứu Một số đề tài, dự án có liên quan đến phân vùng sinh thái môi trường
đất phục vụ nuôi tôm càng xanh: “Phương án quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên thuỷ sản
Trang 18Vườn Quốc Gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp”, Vườn Quốc Gia Tràm Chim, năm 1999; “Dự án phát triển tổng hợp thuỷ lợi vùng Bắc Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp”, Phân Viện khảo sát quy
hoạch thuỷ lợi Nam Bộ, năm 1999; Dự án đầu tư (2006), “Dự án đầu tư thí điểm hạ tầng thuỷ lợi phục vụ nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng đại điểm- xã Phú Thành B – huyện Tam Nông”, Đồng Tháp …
Để phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ nuôi trồng thuỷ sản ở HTN một cách khoa học cần phải có những nghiên cứu đầy đủ về tính chất, đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình - địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, lũ lụt, chất lượng nước, chế độ mưa, thảm thực vật… Trong đó đất
và nước là hai yếu tố quan trọng nó đáp ứng những nhu cầu sản xuất khác nhau Định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội TĐT nói chung, HTN nói riêng thời kỳ 2001 – 2010, trong
đó xác định “ Phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh “có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phục vụ quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản [7][38] Việc phân vùng sinh thái môi trường đất liên quan đến các tài liệu đã có, khảo sát bổ sung lập bản đồ phân vùng đất, điều kiện tự nhiên, số liệu cần thiết phục vụ công tác chỉ đạo, quản lý, xây dựng cơ chế quản lý, khai thác bản đồ, tài liệu phân vùng đất của HTN nhằm phục
vụ kịp thời định hướng phát triển của toàn xã hội
Trang 19
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VỀ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ
KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN TAM NÔNG
2.1 TÌM HIỂU VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Ranh giới hành chánh của HTN được phân chia như sau (Bản đồ hành chánh huyện Tam Nông):
Phía Bắc giáp hai huyện Hồng Ngự và Tân Hồng
Phía Nam giáp huyện Thanh Bình
Phía Đông giáp huyện Cao Lãnh, huyện Tháp Mười và tỉnh Long An
Phía Tây giáp sông Tiền
HTN nằm ở trung tâm phía bắc của tỉnh Đồng Tháp, có đoạn sông Tiền và Quốc lộ 30 đi
ngang qua, trên khắp địa bàn của huyện đều có mạng lưới giao thông đường bộ, đường thuỷ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá và phát triển kinh tế [13], [29]
Toàn huyện có diện tích tự nhiên là 46.081,860 ha đựơc chia thành 11 xã và 1 thị trấn, với 48 khóm ấp thể hiện qua bảng 2.1 Đặc biệt trên địa bàn huyện có Vườn Quốc Gia Tràm Chim thuộc địa phận 5 xã: Xã Tân Công Sính, xã Phú Đức, xã Phú Thọ, xã Phú Thành B, xã Phú Hiệp và thị trấn Tràm Chim [13],[29]
Trang 20
Bảng 2.1: Đơn vị hành chánh – Diện tích các xã trong HTN
Diện tích tự nhiên (Km 2 )
Diện tích (%)
76,33 60,54 55,96 50,41 49,66 48,36 31,21 25,04 20,53 17,15 13,57 12,05
16,56 13,14 12,14 10,94 10,78 10.49 6,77 5,43 4,46 3,72 2,95 2,62
Nguồn: Niên Giám Thống Kê HTN, năm 2004
2.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình toàn HTN mang tính chất của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long tương đối bằng phẳng, không có chênh lệch lớn về độ cao Tuy nhiên HTN lại nằm trong vùng trũng ĐTM nên địa hình toàn huyện tương đối thấp Có thể chia địa hình HTN thành 3 nhóm chính [13]:
Nhóm 1: Nhóm địa hình cao: Có độ cao + 2,0 m tập trung chủ yếu ở các xã ven sông Tiền và rải rác một số nơi trong huyện theo dạng gò đồi
Nhóm 2: Nhóm địa hình trung bình, có độ cao từ +1,5m đến +2,0 m phần lớn tập trung ở phía đông kênh 2/9 và phía bắc của huyện, một số ít rải rác trên địa bàn huyện Trong nhóm địa hình trung bình này HTN có xây dựng “Dự án đầu tư thí điểm hạ tầng thuỷ lợi phục vụ nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng”
Nhóm 3: Nhóm địa hình thấp, có độ cao phổ biến từ + 0,9 m đến 1,5m chiếm hơn 60% diên tích của toàn huyện
Mặc dù có ba nhóm địa hình như vậy, nhưng trên từng tiểu vùng được giới hạn bởi các kênh rạch chính và các kênh nhánh, chính vì thế mà trên từng tiểu vùng có địa hình tương đối bằng phẳng,
Trang 21độ chênh lệch về độ cao rất thấp từ 10 cm đến 20 cm nên rất thuận lợi cho việc bố trí hệ thống tưới tiêu
và nuôi trồng thuỷ sản
2.1.3 Các yếu tố khí hậu thuỷ văn [13], [29]
HTN có khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, một
-Cao nhất theo trung bình năm
-Thấp nhất theo trung bình năm
Độ ẩm trung bình (%)
27 37,2 18,5
1.500 2.300-3.000 1.000-1.600
83
Nguồn: Báo cáo hiện tượng khí hậu ,thuỷ văn HTN năm 2002
năm có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa , mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng
12 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ: Tương đối cao và khá ổn định, giữa các tháng nhiệt độ chênh lệch nhau trung bình từ
10C – 30C Các tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 (18,50C), các tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 3 và tháng 4 (37,20C)
Độ ẩm : Độ ẩm không khí phụ thuộc vào các mùa , mùa mưa có độ ẩm cao (từ tháng 5 đến
tháng 11) 83%-86%, các tháng mùa khô độ ẩm thấp 73% -76%
Chế độ gió: Chế độ gió ở HTN phân bố theo 2 mùa
Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc chiếm tầng suất 60%-70% Do gió này xuất phát từ lục địa nên khô và hanh, làm tăng độ bóc hơi và lượng mưa giảm rõ rệt
Mùa mưa từ tháng 5 đến thánh 11, hướng gió thịnh hành là gió mùa Tây Nam chiếm tầng suất 70% gió theo hướng từ biển vào nên mang theo nhiều hơi nước gây mưa, vào các tháng mùa mưa tốc
độ gió trung bình lớn hơn mùa khô, nhưng chênh lệch về tốc độ gió giữa các tháng trong năm không nhiều Tốc độ gió trung bình các tháng trong năm từ khoảng 2-2,5 m/s, mạnh nhất 2,6 m/s, yếu nhất 2 m/s Tuy nhiên tốc độ gió mạnh nhất quan trắc được có thể đạt vào khoảng 30 m/s – 40 m/s và thường xảy ra trong cơn giông và phần lớn các cơn giông thường xảy ra trong mùa mưa với hướng gió Tây hoặc gió Tây Nam
Trang 22Tốc độ gió có ảnh hưởng đến việc nuôi thuỷ sản do làm tăng khả năng bốc hơi và làm thay đổi chất lượng nước trong các thuỷ vực nuôi thuỷ sản Tuy nhiên đến nay chưa có nghiên cứu nào về mối quan hệ giữa gió với sự sinh trưởng và phát triển của các loài thuỷ sản
Độ bốc hơi: Lượng bốc hơi phân bố theo mùa khá rõ và ít biến động theo không gian, lượng
bốc hơi trung bình hàng năm trong huyện 1.657 mm/ năm (chiếm 111% lượng mưa trung bình hàng năm)
Mùa mưa lượng bốc hơi khoảng 2 -3 mm/ngày
Mùa khô lượng bốc hơi khoảng 4 -5 mm/ngày
Chế độ mưa:
Mùa mưa từ tháng 5 đến thánh 11 với lượng mưa tương đối ổn định qua các năm Lượng mưa trung bình trong năm 1.500mm, qua các năm lượng mưa dao động từ 1.300 -1.700 mm Hệ số biến động lượng mưa không lớn đạt trên dưới 2 Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 đến tháng 10
Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau lượng mưa thấp
Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều giữa các năm, giữa các vùng lượng mưa có xu hướng giảm dần từ Tây Nam sang Đông Bắc
Hệ thống sông rạch : Toàn huyện có 277,7 km sông rạch, trong đó có
Sông Tiền chảy qua phía tây của huyện dài 12 km, mặc dù chảy qua huyện chỉ có 12km nhưng nó có vai trò rất quan trọng đối với đời sống, sinh hoạt, kinh tế của người dân, đại đa số các kênh rạch của HTN đều đổ ra sông Tiền
Kênh Đồng Tiến do trung ương quản lý dài 28km nằm ở phía nam của huyện và chạy dài từ Đông sang Tây, từ thị trấn Tràm Chim chảy qua các xã Phú Thọ, Phú Thành A, Phú Ninh, An Long, sau đó đổ ra sông Tiền
Kênh An Bình dài 30 km nằm ở phía bắc của huyện cũng chạy từ Đông sang Tây qua các xã Hoà Bình, Tân Công Sính, Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Thành B, An Long, An Hoà và cuối cùng đổ ra sông Tiền
Kênh Cà Dâm ( kênh Hoà Bình) dài 15km chạy dài từ hướng Tây Bắc chạy xuống phía nam của huyện qua các xã Hoà Bình, Tân Công Sính, đến thị trấn Tràm Chim tiếp tục đổ vào kênh Đường Gạo thuộc địa bàn xã Thanh Bình và đổ ra sông Tiền Ngoài ra còn có rất nhiều kênh, rạch nhỏ khác như: Kênh Phú Hiệp, kênh Phú Thành II, kênh kháng Chiến, kênh Tân Công Sính, rạch Ba Răng nối liền các con kênh trên còn có rất nhiều kênh, mương nhỏ khác được phân bố trên khắp địa bàn của HTN tạo nhiều thuận lợi cho việc cấp, thoát nước phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống con người
Chế độ thuỷ văn: Chịu ảnh hưởng chung của chế độ bán nhật triều không đều biển Đông, chế
độ thuỷ văn của sông Tiền và chế độ mưa trong khu vực Phân thành hai mùa
Trang 23 Mùa kiệt: Trùng với mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6 trong mùa này nước sông xuống thấp, đạt mức thấp nhất vào khoảng tháng 4
Mùa lũ: Từ tháng 7 đến tháng 12, đáng chú ý nhất là từ tháng 8 đến tháng 10 do mưa tại chổ cùng với lũ thượng nguồn sông Mê Kong tràn về gây ngập úng trên diện rộng, ảnh hưởng đến sản xuất
và đời sống nhân dân Việc tăng cường và hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi là biện pháp quan trọng để khắc phục những khó khăn này
2.1.4 Tài nguyên nước
2.1.4.1.Tài nguyên nước mặt
Nguồn nước mặt chủ yếu được cung cấp bởi sông Tiền qua các hệ thống kênh rạch, nguồn nước ngọt này rất dồi dào, chất lượng nước đảm bảo cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển nuôi thuỷ sản, nhu cầu tưới tiêu các loại cây trồng, ngay cả những vùng đất bị nhiễm phèn Nguồn nước trong các kênh rạch có thể sử dụng được nhờ sự lưu thông, trao đổi nước ngọt với sông Tiền đây là điều rất thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản cũng như sản xuất nông nghiệp [29]
Nước lũ hàng năm mang đến cho ĐTM nói chung và HTN nói riêng cả hai mặt tích cực và tiêu cực [24]
-Tích cực: Đem lại cho đồng ruộng lượng phù sa khổng lồ, cung cấp cho đất đai thêm màu mỡ, đem lại nguồn thức ăn tự nhiên cho các loài thuỷ sản trong suốt thời gian lũ Nên việc bố trí nuôi tôm càng xanh trong mùa lũ rất thích hợp vì vừa tận dụng được nguồn phụ phẩm thức ăn tự nhiên vừa có nguồn nước dồi dào chảy tràn, chất lượng nước lại tốt, tôm phát triển nhanh giảm nhẹ chi phí thức ăn
và chí phí cho việc bơm nước vào vuông nuôi
- Tiêu cực: Những trận lũ lớn gây thiệt hại tính mạng con người, sạt lở đất đai, thất thoát tài sản
của người dân, ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến sản xuất
2.1.4.2 Tài nguyên nước ngầm
Trên địa bàn HTN có nhiều vỉa nước ngầm, các vỉa nước ngầm ở nhiều độ sâu khác nhau, trong
đó có nhiều tầng đã bị nhiễm phèn nên không sử dụng được Những nơi khai thác ở độ sâu từ 50 – 100m thì sử dụng cho sinh hoạt, còn ở độ sâu 300m vừa phục vụ cho sinh hoạt, vừa có thể sử dụng cho
sản xuất nông nghiệp [29]
2.1.5 Tài nguyên sinh vật [13], [24], [29]
Rừng Tràm (Melaleuca cajuputi) chiếm diện tích lớn nhất ở HTN Do tác động con người, hầu
hết những cánh Tràm nguyên sinh đã biến mất và hiện nay chỉ còn lại là những cánh rừng Tràm trồng
thuộc loài Melaleuca cajuputi (họ Myrtaceae), nhưng nhờ được bảo tồn nhiều năm nên có những cụm
Tràm phân bố theo kiểu tự nhiên Hiện nay HTN có 7.000 ha rừng chũ yếu là rừng thứ sinh đang phát triển trở lại thông qua công tác khoanh nuôi và bảo vệ rừng, trong đó có khoảng 1.000 ha rừng sản xuất
và 6.000 ha rừng đặc dụng của Vườn Quốc Gia Tràm Chim Ngoài ra còn có các cây đặc trưng của
Trang 24vùng ĐTM Đây chính là những loài thực vật hoang dại có giá trị thích nghi lâu đời ở vùng này như:
Năng (Eleocharis sp.); Súng (Nymphaea lotus); Lúa ma ( Oryzae rufipigon); Sậy(Phragmites karka) ; Sen ( Nelubium nelumbo); Nghễ (Polygonum tomentosum wild); Mồm mốc ( Ichaemum indicum Hort
Mers) Và những loài này là nguyên liệu thủ công như: Năng có thể phơi khô làm đệm ghế, đệm
giường; Sậy; cỏ Mồm làm bột giấy, tinh dầu Tràm dùng làm dược liệu, nhiều loài cỏ mọc tự nhiên làm thức ăn cho trâu bò có chất lượng về dinh dưỡng rất tốt Ngoài ra thực vật còn có tác dụng giúp cho đất tăng lượng mùn, độ xốp đất và là nơi cư trú của các loài động vật
Đặc biệt Vườn Quốc Gia Tràm Chim còn là nơi cư trú trên 100 loài động vật có xương sống, 40
loài cá, 147 loài chim trong có Sếu đầu đỏ( Grus antigone sharpii) là loài chim quí hiếm, hiện nay
chúng chỉ có ở nước ta và đang được quan tâm nghiên cứu, bảo vệ nghiêm ngặt Đây chính là nguồn tài nguyên quí giá có thể đầu tư xây dựng thành khu du lịch sinh thái[29], [40]
Theo Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ sản II, khu vực Vườn Quốc Gia Tràm Chim và khu vực ruộng lúa rất phong phú về nguồn thức ăn cho tôm, cá
2.1.6 Tài nguyên đất [24], [29]
Theo tài liệu điều tra và xác định tài nguyên đất của Phân Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam và tài liệu điều tra đất vùng ĐTM của Phân viện quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, đất của HTN được chia thành 3 loại chính sau:
Loại đất phù sa: 3.035 ha chiếm 6,59%
- Đất phù sa không được bồi sông Cửu Long
- Đất phù sa không được bồi loang lổ sông Cửu Long
Trang 25- Than bùn lòng sông cổ có trữ lượng 390.000 m3 và chất lượng tốt, phân bố ở Trà Mơn gần kênh Gáo Đôi
- Than bùn vỉa trong các bưng lầy cổ, trữ lượng 1.500.000 m3, chất lượng kém
Than bùn ở đây có nhiệt lượng cháy từ 4.100 – 5.700 Kcalo/ kg nên thuận lợi cho việc khai thác
ly trích chất kích thích tăng trưởng cho cây trồng hoặc chế biến phân bón Đến nay nguồn nguyên liệu này vẫn chưa có kế hoạch khai thác
2.1.7.2 Cát sông
Có ở dọc sông Tiền từ xã An Hoà đến xã Phú Ninh, dạng trầm tích theo dòng chảy
Được khai thác sử dụng trong công nghiệp xây dựng, gồm cát san lấp mặt bằng và cát xây dựng
2.1.7.3 Sét
Sét keolin được phân bố ở xã An Long, Phú Cường, Phú Đức, Phú Hiệp có nguồn gốc trầm tích sông Đây là nguồn nguyên liệu phát triển sành sứ, đồ mỹ nghệ nhưng chưa được khai thác sử dụng
Sét gạch ngói hiện có ở hầu hết ở các xã trong huyện, có trữ lượng lớn có tầng dầy hơn 10 mét,
đã được khai thác sử dụng trong sản xuất gạch ngói
2.1.8 Đánh giá điều kiện tự nhiên [29, tr.11]
HTN có hệ thống giao thông thuỷ, bộ phân bố đều trên địa bàn toàn huyện nên rất thuận lợi trong việc lưu thông hàng hoá tiếp cận thị trường
Khí hậu tương đối ôn hoà nền nhiệt độ cao đều trong năm thuận cho sinh trưởng và phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi
Địa hình bằng phẳng, hệ thống thuỷ lợi tốt thuận lợi cho việc canh tác và nuôi trồng thuỷ sản Đặc biệt trong huyện còn có Vườn Quốc Gia Tràm Chim, đây chính là một ĐTM thu nhỏ với lịch sử tự nhiên của vùng sinh thái tổng hợp, có nhiều loài động, thực vật Nơi đây có thể xây dựng thành khu du lịch sinh thái thu hút khách trong và ngoài nước
Ngập lũ hàng năm mang lại lượng phù sa và nguồn thuỷ sản tự nhiên dồi dào và rất thuận lợi nuôi tôm mùa lũ
Tuy nhiên huyện lại nằm sâu trong vùng ĐTM nên chưa thật sự thu hút các nhà đầu tư , lũ lụt cũng gây ra nhiều thiệt hại tài sản, công trình công cộng Đất đai phần lớn còn bị ảnh hưởng của phèn nên năng xuất còn thấp so với một số huyện trong tỉnh, mùa kiệt nước sông xuống thấp dưới mặt đất tự nhiên nên không khai thác tưới tự chảy Vì vậy, để có thể khai thác, tận dụng những thuận lợi và hạn chế tác hại của thiên nhiên, đảm bảo ổn định sản xuất và sinh hoạt, cần phải có hệ thống công trình
thuỷ lợi cơ bản hoàn chỉnh[13, tr.11]
2.2.TÌM HIỂU VỀ HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN TAM NÔNG
Trang 262.2.1 Dân số và nghề nghiệp
Lịch sử hình thành vùng đất và con người HTN gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển vùng ĐTM, HTN có hơn 80% diện tích đất phèn và lại thuộc vùng chiến tranh nên kinh tế xã hội trong khu vực này có phần lạc hậu hơn so với các khu vực khác trong tỉnh Đồng Tháp [12]
Toàn HTN có 4 dân tộc anh em sinh sống, gồm: Kinh, Khơ me, Hoa, An Độ, trong đó phần lớn
là dân tộc Kinh chiếm 99,9% mật độ phân bố dân cư trong huyện không đều, nơi nào kinh tế phát triển dân cư tập trung nhiều, nhiều nhất là thị trấn Tràm Chim ( 792 người/ km2 ), nơi đây cũng chính là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và cũng là địa bàn trụ sở khối cơ quan của huyện [12], [29]
Đến tháng 07 năm 2002 toàn huyện có 56.385 lao động chiếm 59% dân số, chủ yếu là lao động nông nghiệp chiếm 84,79% Trình độ lao động phổ thông là chủ yếu chiếm 91,11%, lao động có trình
độ cao chỉ chiếm 2,89% Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, nên lao động nông nghiệp bị dư thừa, việc mở mang sản xuất các ngành thương mại, dịch vụ sẽ tận dụng được số lao động
dư thừa này [29, tr 22]
Dân số trung bình năm 20004 ước tính là 97.433 người với 22.238 hộ, mật độ dân số trung bình
là 211người/ km2, được phân bố không đều giữa các xã, thị trấn ( bảng 2.3) [29, tr 22]
Trong thương mại để đáp ứng nhu phát triển kinh tế xã hội của huyện, thì việc đào tạo nâng cao chất lượng, trình độ lao động là vấn đề được quan tâm để đáp ứng cho sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá [29]
Bảng 2.3: Dân số trung bình và mật độ dân số năm 2004 phân theo xã – thị trấn
Trang 27Trong những năm gần đây mức sống của dân cư có sự tiến bộ rõ rệt nhờ vào sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước ta với những chính sách cụ thể kịp thời cùng với sự nổ lực của nhân dân ta Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những vấn đề khó khăn, nhất là nhà ở, vốn đầu tư sản xuất, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn (16,53%) [12]
1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
1.2.2.1 Khái quát về hiện trạng kinh tế xã hội [11], [12], [29]
Trong những năm qua, thiên tai, lũ lụt xảy ra liên tiếp đã ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng kinh tế của huyện, năm 1996 tốc độ tăng trưởng đạt 6,45% (tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Đồng Tháp đạt 7,15%), năm 2000 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 5,06% (tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Đồng Tháp đạt 5,54%), bình quân tốc độ tăng trưởng kinh tế 1996-2000 là 5,81%, năm 2001 tốc độ tăng trưởng 6,19% Nếu xét về tốc độ tăng trưởng kinh tế qua từng năm và xét chung cả giai đoạn thì đây là tốc độ tăng trưởng không ổn định và thấp hơn so với tỉnh (tỉnh đạt 6,86%) (Bảng 2.4)
Bảng 2.4: Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế
Qua các năm
Chỉ tiêu Đơn vị tính
1996 2000
BQ 1996-
2000 2001
1.Tổng GDP Triệu đồng 279.836 348.656 - 370.250 2.Tốc độ tăng
a.Nông - Lâm – ngư nghiệp
%
4,57 4,23 4,71 4,72
b Công nghiệp –xây dựng % 11,89 9,95 12,48 18,00
c thương mại – dịch vụ % 25,63 9,40 14,01 14,00
3 cơ cấu kinh tế % 100,00 100,00 100,00 100,00 a.Nông - Lâm –
ngư nghiệp % 86,09 83,21 - 84,13
b Công nghiệp –xây dựng % 2,59 3,23 - 3,05
c thương mại – dịch vụ
4 GDP/ người 1000đ/ người 3,342 4,077 - 3,880
Trang 28Bảng 2.5 : Cơ cấu ngành nông nghiệp 1995 ,2000, 2001 HTN
Năm Trồng trọt (tỷ lệ%) Chăn nuôi (tỷ lệ%)
Nguồn : Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn HTN,2003
Trồng trọt vẫn còn ở thế độc canh cây lúa, phát triển trồng trọt chưa cân đối đối với chăn nuôi, thuỷ sản và dịch vụ nông nghiệp
Chăn nuôi phát triển theo hướng đa dạng hoá vật nuôi tăng dần sản phẩm hàng hoá Tuy nhiên giai đoạn 1996 - 2000 phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của huyện Năm 2001và 2002 đàn bò, đàn heo và gia cầm đã phát triển mạnh
+Thuỷ sản:
Trang 29Nghề nuôi thuỷ sản được xác định là thế mạnh thứ hai sau cây lúa ở HTN, vì có nhuồn thủy vực rộng lớn nhất là vào mùa lũ nên nhân dân đã tận dụng nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tự nhiên
Năm 1991- 1995 phong trào nuôi trồng thuỷ sản chưa phát triển, nhân dân khai thác chủ yếu là đánh bắt tự nhiên
Giai đoạn 1996- 2002 việc nuôi trồng khai thác thuỷ sản phát triển rõ nét Về diện tích năm 1996 là 137,5 ha 3.073 tấn; năm 2000 là 108,92 ha; năm 2002 là 141,24 ha Về sản lượng 1996 là 3.073 tấn ; năm 2000 là 7.300 tấn ; năm 2002 là 7.973,6 tấn
Bảng 2.6: Sản lượng thuỷ sản qua các năm
Năm
Chỉ tiêu Đơn
vị tính
Nguồn: Niên giám thống kê HTN, năm 2004
Năm 2004, diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 176 ha Sản lượng thuỷ sản đạt 8.992 tấn tăng 17,83% so với năm 2003, trong đó sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt 7.045 tấn, tăng 55,39 % so với năm 2003 Gía tri sản xuất năm 2004 hiện thực 89.243 triệu đồng ( theo giá thực tế ), tăng 16% so với năm 2003
Nhìn chung tình hình sản xuất Nông – Lâm – Thuỷ sản của HTN có bước chuyển biến tích cực, cùng với việc đẩy mạnh và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đã đưa nền nông nghiệp sản xuất luơng thực phát triển tương đối toàn diện cả nông – thuỷ sản liên tục đạt đỉnh cao về diện tích, năng suất và sản luợng (cụ thể qua bảng 2 7) [12]
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu về phát triển nông - lâm - thuỷ sản thời kỳ
Trang 30-
30.287 23.939
-
30.151 26.082
-
30.416 28.000
- Sản lượng
-Đông xuân
-Hè thu
- Thu đông
Tấn Tấn Tấn Tấn
242.100 176.326 65.774
-
279.002 182.852 96.150
-
295.093188.444106.649
-
38.710 185.963 132.747
- Năng xuất bình quân Tạ/ Ha 49,77 51,45 52,48 54,56
Sản lượng lúa bình
quân đầu người Kg/người 2.538 2.900 3.053 3271
Diện tích cây ăn trái Ha 63 69 70 70
1996 toàn huyện có 27 trường với 275 phòng học; năm 2000 có 32 trường với 385 phòng học; năm
2002 có 41 trường với 397 phòng học Số học sinh đến trường ngày một tăng lên ,năm 1996 có 16.035 học sinh; năm 2000 có 17.037 học sinh; năm 2002 có 20.393 học sinh
Về chất lượng giáo dục cũng tăng dần, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp tăng qua các năm, chất lượng giáo viên cũng được tăng lên, hơn 90% giáo viên đã được chuẩn hoá về sư phạm ở tất cả các ngành các bậc học
Công tác phổ cập giáo dục và chống mù chữ có nhiều chuyển biến tích cực, toàn huyện có 12/12 xã, thị trấn đạt chuẩn về giáo dục tiểu học và chống mù chữ
Trang 31Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể so với những năm trước đây, nhưng cơ sở vật chất một số trường còn chưa đạt chuẩn: Diện tích không đủ đảm bảo có khu vui chơi cho học sinh, phòng học hai
Giao thông thuỷ:
Toàn huyện có 277,7 km sông ngòi, kênh rạch trong đó đoạn sông Tiền đi qua là 12 km Ngoài
ra còn có các kênh rạch tự nhiên, kênh đào liên xã, huyện, tỉnh, khu vực tạo điều kiện phát triển vận tải thuỷ Tuy nhiên có nhiều đường thuỷ bị phá huỷ do lũ lụt bồi lắng hàng năm cản trở dòng chảy và lưu thông
Những vấn đề kinh tế – xã hội gây áp lực đối với đất đai HTN [29]:
Tam Nông thường xảy ra lũ lụt, để đảm bảo cho người dân sống chung với lũ, ổn định lâu dài phù hợp với khu vực phải giành một quỹ đất rất lớn để xây dựng các cụm và tuyến dân cư vượt lũ
Dân số của huyện vẫn tăng lên theo quy luật tự nhiên, sức ép của sự gia tăng dân số lên đất đai rất lớn, ngoài diện tích đất để sản xuất còn phải giành quỹ đất để xây dựng nhà cửa và các công trình phục vụ đời sống của nhân dân
Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện đến năm 2010 phải giành ra một quỹ đất tương đối lớn để xây dựng công trình công nghiệp, phát triển mạng lưới thương mại, dịch vụ và các công trình hạ tầng như: Giao thông, thuỷ lợi, điện, nước… Hầu hết các công trình trên đều phải lấy từ đất nông nghiệp, vì vậy diện tích đất nông nghiệp sẽ giảm nên xây dựng phải tiết kiệm, hợp lý, tận dụng không gian
Trang 32CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NUÔI TÔM CÀNG XANH HUYỆN TAM NÔNG
3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM CÀNG XANH
Ba loài tôm nước ngọt có giá trị kinh tế ở nước ta là: Tôm càng xanh (Macrobrachium
Rosenbergii); tôm càng sông hay tôm chà (Macrobrachium Nipponensi );tôm riu chà (Caridina Flavineat ), chúng sống phổ biến trong các ao hồ, sông ngòi, ruộng lúa ở hầu hết các địa phương trong
cả nước Tôm nước ngọt có màu sắc khác nhau, tôm càng sống trong ao, hồ có vỏ màu vàng tối sẫm, còn tôm ở sông thường có vỏ màu sáng Tôm càng nước ngọt sống chủ yếu dưới dáy ao, hồ, ít khi lên mặt nước Thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ và động vật thuỷ sinh nhỏ Hiện nay, ngoài khai thác tự nhiên, TCX đang là đối tượng nuôi phổ biến trong cả nước và nhiều nhất là vùng ĐBSCL [ 26]
Tôm nước ngọt là thực phẩm phổ biến và quen thuộc ở nước ta, nó được bán quanh năm ở các chợ, các khu thương phẩm Thịt tôm ngọt mềm, thơm, ngon dễ chế biến nhiều món ăn Tôm càng xanh trong nhiều năm qua là một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao
3.1.1.Vùng phân bố tôm càng xanh
Trên thế giới TCX phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Nhưng tập trung chủ yếu là ở vùng nam và Đông Nam châu Á, một phần Đại Tây Dương và một vài bán đảo ở Thái Bình Dương Ở Việt Nam TCX phân bố rộng ở các vùng nước ngọt và lợ Phân bố chủ yếu ở các tỉnh Nam bộ, đặc biệt
là các vùng nước ngọt Đồng Bằng Sông Cửu Long Tuy nhiên những vùng nhiễm mặn ven biển vẫn có thể gặp TCX phân bố Việt Nam là một trong những nước có sản lượng TCX trong tự nhiên rất cao, ví dụ: Trong năm 1980, Việt Nam đã khai thác ngoài tự nhiên khoảng 6.000 tấn/năm; Campuchia 100-
200 tấn/năm; Malaysia 120 tấn/năm; Thái Lan 400- 500 tấn/năm [21], [27]
TCX có thể di chuyển giống từ vùng này sang vùng khác của thế giới, những nước không có TCX phân bố trong tự nhiên có thể chuyển giống về nuôi như: Đài Loan, Pháp, Mỹ TCX là một trong những loài thuỷ sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao [27]
Trang 333.1.3.Tập tính sống của tôm càng xanh [9], [21]
TCX trưởng thành sống ở vùng nước ngọt, thành thục và giao vĩ trong nước ngọt, nhưng sau đó
di cư ra nước lợ ( có nồng độ mặn 6 - 18‰ ) đẻ trứng, ấu trùng nở ra và sống phù du trong nước lợ Khi hoàn thành 11 lần lột xác để trở thành tôm bột thì nó di cư vào trong nước ngọt Nếu trong môi trường nước ngọt, tôm đẻ trứng và trứng vẫn nở ra ấu trùng, nhưng 4- 5 ngày sau ấu trùng sẽ chết hết
Thực tế kết quả nghiên cứu tôm nuôi của các nhà nuôi trồng thuỷ sản: Wicking(1972), trong khi thí nghiệm nuôi TCX, ông chuyển một số ấu trùng vào nuôi trong môi trường có độ mặn là 2(ppt)
và giữ lại một số ấu trùng nuôi trong môi trường có độ mặn chuẩn 15(ppt) Kết quả nghiên cứu trong
21 ngày cho thấy các ấu trùng tôm nuôi trong môi trường có độ mặn là 2(ppt) có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn so với ấu trùng nuôi trong môi trường có độ mặn chuẩn; Perdue và Nakamura(1976), thử nghiệm nuôi tôm càng xanh giống ở môi trường nước ngọt trong 3 tuần , sau đó đưa một số tôm vào môi trường nuôi có điều chỉnh hàm lượng của muối trong phạm vi: 2- 8,5‰ và 15‰, một số giữ lại trong môi trường nước ngọt Sau hơn bảy tuần kết quả cho thấy: Phần trăm phát triển về trọng lượng và
tỷ lệ tăng trưởng cao nhất vẫn là số tôm nuôi trong môi trường nước ngọt và nuôi trong môi trường nước lợ có nồng độ muối 2‰[trích từ báo TTKHCN TS- 8/ 2003, do Hương Linh dịch từ International N04/2003]
TCX có tập tính ban ngày sống ẩn náu, ít hoạt động và chỉ hoạt động linh hoạt vào ban đêm Chúng thường sống ven bờ, bò và bám vào rong cỏ
Nhiệt độ thích nghi TCX với phạm vi nhiệt độ rộng từ 18 - 340C, nhưng nhiệt độ tốt nhất là 28 -
310C giới hạn nhiệt độ thấp nhất là 140C giới hạn nhiệt độ cao nhất là 350C
Hàm lượng oxy trong nuớc từ 4mg/lít trở lên là thích hợp Oxy hoà tan trong nước dưới mức 1mg/lít tôm sẽ nổi đầu và ở 0,7 mg/lít tôm trưởng thành bắt đầu chết
pH thích hợp cho TCX là 6,5- 8,5, ngoài khoảng này tôm có thể sống được nhưng sinh trưởng kém, pH dưới 5,5 tôm hoạt động yếu và chết
Tôm thích hợp nồng độ muối từ 0 - 10 ‰, tôm trưởng thành sinh trưởng tốt ở vùng cửa sông ven biển
Tôm thích hợp ánh sáng vừa ( khoảng 400 lux), ánh sáng cao sẽ ức chế hoạt động của tôm
Do vậy ban ngày khi ánh sáng mạnh tôm xuống đáy ao trú ẩn và ban đêm hoạt động tìm mồi tích cực Tôm có tính hướng quang vào ban đêm, ban đêm khi có luồng sáng thì tôm sẽ tập trung lại, tôm lớn có tính hướng quang kém hơn tôm nhỏ
TCX phân đàn khá rõ, kể cả trong cùng một nhóm giới tính
3.1.4 Hình thái và tăng trưởng[20],[21],[26],[40]
Trang 34Hình 3.1 : Hình thái bên ngoài của tôm càng xanh
TXC ở nước ta có trọng lượng khá lớn, con đực có kích cở lớn hơn đạt 450g/1 cá thể, đầu ngực to, khoang bụng hẹp, đôi càng thứ hai to dài và thô, có nhánh phụ đực mọc kế nhánh trong của chân bụng thứ hai, nhánh phụ đực xuất hiện khi tôm đạt kích cở 30mm TCX thân tương đối tròn; Chũy phát triển nhọn và cong lên, nửa bề dài của chũy, trên mắt chuỹ có 11- 15 răng (3- 4 răng sau hốc mắt), mặt dưới thường có 12- 15 răng Chiều dài chũy của cá thể trưởng thành ở con cái thường bằng hoặc ngắn hơn vỏ đầu ngực, chiều dài chũy của cá thể trưởng thành ở con đực thường dài hơn chiều dài vỏ ngực Cơ thể cá thể trưởng thành có màu xanh đậm Chân ngực thứ hai luôn luôn phát triển hơn các chân khác , nhất là con đực trưởng thành, đôi chân ngực thứ hai
có hình dạng và kích thước giống nhau ở hai phía ( phải và trái) Ở con cái có 3 tấm chân bụng đầu tiên rộng và dài tạo thành khoang bụng rộng và tạo thành buồng ấp trứng
Trong quá trình tăng trưởng, con đực thường lớn nhanh hơn con cái, khi chiều dài bình quân đạt 8-14
cm, trọng lượng cơ thể đạt 10 - 20g, TXC phát triển tương đương giữa con đực và con cái
3.1.4 Vòng đời của tôm càng xanh
chuỹ
Thị giác
Chân Mang
Chân bò râu
Chân bụng
Trang 35Trong quá trình tăng trưởng và phát triển, tất cả các loài tôm cũng như các loài giáp xác khác đều phải lột bỏ lớp vỏ bên ngoài theo một thời gian nhất định, quá trình này gọi là quá trình lột xác, cùng với quá trình lột xác là sự lớn lên về thể xác và trọng lượng, khi tôm trưởng thành ở con cái còn có dạng lột xác sinh sản
Trong vòng đời của TCX có 4 giai đoạn chủ yếu sau: Trứng - ấu trùng (Larvae) - Tôm bột (postlavrae) -Tôm trưởng thành (adul) Mỗi giai đoạn, đòi hỏi môi trường và điều kiện sống khác
nhau (hình 3.2) [21], [27]
Hình 3.2: Vòng đời phát triển của tôm càng xanh
Trứng:
Khi con đực và con cái trưởng thành, con cái trứng chín hiện tượng lột xác xảy ra, con đực
và con cái tiến hành giao vỹ Sau khi giao vỹ hai giờ tôm cái đẻ trứng, trứng được chứa ở khoang bụng bằng bốn đôi chân bụng Nếu tôm cái không được giao vỹ, nó vẫn đẻ trứng, nhưng sau hai đến ba ngày trứng sẽ rụng và rời khổi khoang bụng , trứng được thụ tinh được giữ lại ở khoang bụng Trứng được ấp 17- 18 ngày ở nhiệt độ 27 –28 0C, trong quá trình ấp trứng các đôi chân bụng hoạt động liên tục để cấp dưỡng khí cho trứng phát triển, trứng nào bị hư sẽ bị loại ra bằng đôi chân ngực thứ hai, từ khi đẻ trứng đến trứng nở trong vòng 17- 23 ngày
Số lượng trứng được đẻ ra tỷ lệ thuận với trọng lượng con caí, trung bình 1g tôm cái cho 700- 1000 trứng TCX có đặc điểm mắn đẻ, gặp điều kiện thuận lợi, thức ăn đầy đủ, tôm có thể đẻ 4- 6 lần trong năm Khi tôm đang ấp trứng, buồng trứng vẫn phát triển, phóng thích ấu trùng ở bụng vì thế sau 2- 5 ngày lột xác, giao vỹ và đẻ tiếp
Trang 36Trứng tôm đẻ ra có hình elip, dài 0,6- 0,7 mm, trứng mới đẻ có màu vàng, trong quá trình
ấp màu sẽ chuyển dần sang xám đậm trước khi nở
Ấu trùng (Larvae):
Trứng nở ra ấu trùng sống trôi nổi, có tính hướng quang mạnh và cần nước lợ Mỗi lần lột xác hình thành thêm những bộ phận mới đến khi biến thái hoàn chỉnh thành tôm bộ, giai đoạn này kéo dài 25- 30 ngày
Ở giai đoạn này tôm nhạy cảm với ánh sán, ấu trùng bơi lội suốt ngày, đuôi hướng về phía trước bụng ngửa lên trên, tôm hoàn toàn sống trong nước lợ duy trì trong phạm vi 12 }2 ppt
Ấu trùng nở ra sống phù du và trải qua 11 lần biến thái để trở thành tôm bột
Tôm bột (postlavrae):
Đặc tính giống tôm trưởng thành, cơ thể có màu trong mờ, phía đầu có màu hơi đỏ Lúc này tôm có xu hướng tiến vào vùng nước ngọt và lớn lên
Tôm trưởng thành: Tôm cái thành thục lần đầu khoảng 3- 3,5 tháng kể từ lúc tôm bột
Khi tôm cái thành thục có khối noãn hoàn màu da cam bên trong giáp đầu ngực
3.1.5 Tập tính bắt mồi [21], [26]:
TCX là loài ăn tạp nghiêng về động vật, trong tự nhiên khi kiểm tra dạ dày của TCX thức ăn gồm có: Nguyên sinh động vật; Giun nhiều tơ; Giáp xác; Côn trùng; Nhuyễn thể; Các mảnh cá vụn; Các loài tảo; Các mùn bã hữu cơ; Cát min TCX xác định thức ăn bằng mùi và màu sắc nên màu, mùi
vị thức ăn đóng vai trò rất quan trọng trong việc hướng tôm đến bắt mồi Điều này rất quan trọng trong việc chế thức ăn cho tôm
Tôm tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác (râu), nó dùng chân ngực thứ nhất kẹp thức ăn đưa vào miệng, hàm trên và hàm dưới của tôm cấu tạo bằng chất kitin nên nó nghiền được các loại thức ăn cứng
Tôm thường bắt mồi vào chiều tối và sáng sớm, nó thường bò trên mặt đáy ao, dùng càng nhỏ đưa mồi vào miệng Đặc tính của loài TCX nếu không đủ thức ăn, chúng sẽ ăn thịt lẫn nhau khi lột xác Trong nuôi tôm cần phải chú ý đến hiện tượng này, dùng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau của tôm
3.2 TÌNH HÌNH NUÔI TÔM CÀNG XANH CỦA HUYỆN TAM NÔNG
3.2.1.Cơ sở quy hoạch nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng mùa lũ
3.2.1.1 Đặc điểm tình hình
Trong chủ trương thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện đến năm
2010 Thuỷ sản được xem là thế mạnh trong cơ cấu ngành nông nghiệp, trong đó đối tượng TCX là một trong những đối tượng đang được huyện quan tâm trú trọng TCX phù hợp với môi trường, thổ nhưỡng, nguồn nước ở HTN; TCX nuôi thử nghiệm trên chân ruộng mùa lũ vẫn cho năng suất
Trang 37cao bằng hoặc hơn một số nơi trong tỉnh, bên cạnh đó TCX là đối tượng có giá trị về mặt kinh tế trong tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Vì thế, TCX có khả năng thay thế một số đối tượng thuỷ sản khác có giá trị kinh tế thấp Vì những vấn đề vừa nêu trên nên TCX sẽ là mục tiêu ưu tiên được nhân rộng từ năm 2005 đến năm 2010 [33]
3.2.1.2 Cơ sở quy hoạch [36, tr.1- 4]
Việc định hướng quy hoạch vùng nuôi dựa trên các yếu tố cơ bản sau:
-Diện tích nuôi TCX bình quân của từng hộ trong HTN tương đối lớn, diện tích nuôi nhỏ nhất là 5.000 m2 và cao nhất trên 10 ha Do vậy, rất thuận lợi trong việc vận động chuyển dịch cơ cấu kinh tế
-Huyện có nguồn nước tốt và kéo dài trong mùa lũ từ tháng 7 đến tháng 12 thích nghi cho việc bố trí nuôi tôm
-Mật độ dân cư trong huyện tương đối thưa
Các xã Phú Thành A, Phú Thành B, Phú Thọ là những xã thuộc vùng sâu của HTN, có địa hình từ trung bình đến thấp, hàng năm vào mùa lũ bị ngập sâu, nhưng dòng chảy của lũ lại ôn hoa, đáp ứng dươc yêu cầu thuận lợi cho việc quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong mùa lũ, đặc biệt là đối tượng TCX Cụ thể xã Phú Thành B diện tích 1.250 ha, Cù Lao Chim diện tích 60
ha, xã Phú Thọ diện tích 1040 ha, xã Phú Thành A diện tích 350 ha
Do các yếu tố thuận lợi nêu trên, trong 2 năm 2004 và 2005 huyện đã chủ động thí điểm các
mô hình nuôi TCX thử nghiệm theo cơ cấu lúa Đông – xuân và TCX mùa lũ và kết quả đạt được khả quan
3.2.1.3 Cơ sở nguồn thức ăn tự nhiên
Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II cơ sở thức ăn tự nhiên ở ruộng lúa và khu vực Vườn Quốc Gia Tràm Chim thuộc vùng ĐTM rất phong phú
Thực vật nổi ( Phytoplankton) xác định được có 69 loài tảo, trong đó tảo Lục (Chlorophyta)
có 42 loài chiếm 60,87%; tảo Silic ( Bacillariophyta) có 10 loài chiếm 14,49% là nguồn thức ăn rất tốt cho động vật thuỷ sản [28] Khu vực ruộng lúa do chất lượng nước tốt hơn khu vực rừng Tràm cao hơn ở khu vực rừng Tràm( 7 – 20 loài)
Động vật đáy (Zooplankton) có 52 loài thuộc 4 ngành Trong đó ngành Protozoa ( Nguyên sinh động vật) có 7 loài chiếm 13,46%; ngành Aschelmin với lớp Rotatoria ( Trùng bánh xe) có 22 loài chiếm 42,30%; ngành Arthropoda với 23 loài chiếm 44,23% trong đó bộ Cladoceta (Giáp xác râu ngành) có 14 loài chiếm 26,92%, lớp phụ Copepoda ( Giáp xác râu ngành) có 6 loài chiếm 11,53% và bộ Ostracoda (giáp xác) có 3 loài chiếm 5,76% và cũng như thực vật nổi thành loài động vật ở khu vực ruộng lúa luôn cao hơn khu vực rừng Tràm
Trang 38Sinh vật đáy ( Zoobenhos) xác định được có 13 loài thuộc 5 lớp, 3 ngành, gồm: ngành Mollusca ( thân mềm) có lớp Gastropoda ( chân bụng) có 4 loài chiếm 30,77%, lớp Bivlia có 11 loài chiếm 7,69%; ngành Annelida có lớp Oligochaeta( giun ít tơ) có 2 loài chiếm 7,69%, lớp Insesta có 5 loài chiếm 38,48% [ 13, tr.13]
Clarias fuscus); cá sặc rằn ( Trichogaster pectoralis); cá thác lác ( Notopterus chitala) có khả năng
sinh sản mạnh vào đầu mùa mưa, sinh trưởng và phát triển mạnh khi lũ tràn về
* Nhóm cá sông: Ưa nước chảy, xuất hiện với sản lượng lớn vào mùa lũ, khi nước lũ tràn đồng, nhờ nguồn thức ăn phong phú như lúa chét, mùn bã hữu cơ, thực vật chìm trong nước… Nhóm này có các loài với số lượng nhiều như: cá Linh; cá Mè vinh; cá Ét mọi; cá Chốt; cá Trèn; cá Lăng; cá Tra; Tôm càng xanh
3.2.2 Mô hình nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng mùa lũ
Mùa vụ tôm thường bắt đầu vào tháng 5 dương lịch, sau khi thu hoạch vụ lúa Hè – Thu, người dân huyện Tam Nông tiến hành thiết kế ruộng nuôi Diện tích ruộng nuôi có thể thay đổi từ 0,5 – 1
ha, cải tạo mặt ruộng, lên bờ bao lửng (cao 0,8 - 1,5 mét so với mặt ruộng) chắc chắn, giữ nước được tốt, thường có mương bao quanh ruộng ( tổng diện tích mương thường chiếm 15 – 20 % diện tích ruộng nuôi và sâu 0,8 đến 1,0 m so với mặt ruộng ) Tát cạn ruộng, bắt hết cá dữ, cá tạp, dọn cỏ xung quanh, vét bùn đáy mương, lắp các lỗ mội hang cua nếu có và dùng vôi bột bón 8 – 10 kg/100 m2 sau
đó phơi nắng 2 – 3 ngày rồi cho nước vào, nước được lọc qua lưới dầy Khoảng 5 – 7 ngày sau khi cho nước vào tiến hành thả tôm giống [21], [38]
Lúc đầu thả Tôm ở giai đoạn con Post và thả trong vèo ( Vèo làm bằng lưới cước may dạng giống như mùng ngủ ) để tôm ít bị hao hụt do các loài khác ăn đồng thời giúp tôm từ từ thích nghi với môi trường, lúc này cho tôm ăn 4 lần trong ngày Tôm được 40 ngày thả tôm ra vuông nuôi, trước khi thả tôm ra vuông nuôi tiến hành diệt cá lóc, cá trê, ếch, rắn trong vuông nuôi để hạn chế sự hao hụt về con giống bên cạnh dó luôn theo dỏi và điều chỉnh pH ao nuôi thích hợp (7,5 – 8,3), lúc này giảm số lần ăn cho tôm ăn 3 lần/ ngày Thức ăn được sử dụng chủ yếu là thức ăn công nghiệp dạng viên hiệu MEGA ( có nồng độ đạm cao ) và thức ăn tự chế
Khi mùa lũ tràn đồng, người nuôi tôm càng xanh chân ruộng dùng cọc tràm hoặc tre cắm dọc bờ bao làm hàng rào và dùng lưới cước bao quanh toàn bộ vuông nuôi, như vậy nước trong vuông nuôi và
Trang 39bên ngoài có tính chất hoàn toàn giống nhau, (hình 3.3) đây cũng chính là hình thức khá đặc biệt của việc nuôi tôm mùa lũ Lúc này nguồn thức ăn tự nhiên do nước lũ đem lại khá dồi dào, người nuôi bắt cua, ốc, cá tạp xay nhuyển trộn với cám, khoai lang, khoai mì… ( tỷ lệ 2/3) nhằm giúp tôm tăng trọng nhanh [9], [21]
Ngoài hình thức nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng mùa lũ, người dân ở HTN còn nuôi tôm càng xanh đăng quần, hình thức này có thể nuôi ở bờ sông, kênh rạch, đồng ruộng
Hình 3.3: Vuông nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng mùa lũ ở HTN
Từ mô hình nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng mùa lũ ở HTN, ông Lê Hoàng Nam, Phó chủ tịch UBND huyện Tam Nông cho biết “Mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng mùa nước nổi ở huyện Tam Nông cho thấy kết quả rất khả quan, mở ra triển vọng khai thác tiềm năng của địa phương Trước hết khai thác tiềm năng về mặt nước trong mùa lũ, đưa vòng quay của đất tăng từ hai đến ba lần trong năm, tăng giá trị sử dụng đất và tăng độ phì nhiêu của đất, giảm sự thoái háo đất đai và bảo vệ môi trường Mặt khác nuôi tôm càng xanh trên ruộng mùa nước nổi còn góp phần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nhàn rỗi ở địa phương, mở ra triển vọng xoá đói giảm nghèo cho ngườidân”[40]
3.2.3 Kết quả các mô hình nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng mùa lũ [34],[36]
Trang 40
Bảng 3.1: Kết quả mô hình nuôi TCX, năm 2005 (Kết quả bình quân 5 hộ nuôi năm2005)
Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân HTN,2005
Hộ nuôi
Hiền Sĩ
Nguyễn Văn Dọn
Hứa Văn Điển
Kiều Văn Hinh
Lê Công Chiến
Tổng cộng
Bình quân (1ha)