Luận văn Thạc sĩ Địa lí học: Nghèo đói và giải pháp giảm nghèo đói ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tìm hiểu những cơ sở lý luận về vấn đề nghèo đói, thực trạng và giải pháp giảm nghèo đói ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành luận văn này:
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, TS Trịnh Thanh Sơn đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Địa lí, Quý Thầy, Cô giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học Địa lí KT – XH khóa 19, Phòng Sau đại học – trường Đại
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các phòng, ban trực thuộc UBND huyện Định Quán đã giúp đỡ tận tình trong thời gian tác giả thực hiện đề tài tại địa phương
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Quý Thầy, Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành
thời gian quý báu của mình để đọc đề tài và đóng góp ý kiến giúp đề tài của tác giả hoàn thiện hơn
Xin chia sẻ niềm vui và lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tác giả trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Đào Thị Thu
Trang 4MỤC LỤC
L ời Cảm Ơn 3
M ỤC LỤC 4
DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH M ỤC BẢNG 8
DANH M ỤC HÌNH 9
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Nhiệm vụ của đề tài 2
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài 2
5 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc của đề tài 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1 Quan niệm về nghèo đói 8
1.2 Tiêu chuẩn xác định nghèo đói 9
1.3 Nguyên nhân nghèo đói 15
1.3.1 Nhóm nguyên nhân ch ủ quan 15
1.3.2 Nguyên nhân khách quan 16
1.4 Thực trạng nghèo đói của thế giới và Việt Nam 17
1.5 Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 21
1.5.1 Kinh nghi ệm giảm nghèo ở Trung Quốc 21
Trang 51.5.2 Kinh nghi ệm giảm nghèo ở Mê-hi-cô 22
1.5.3 Kinh nghi ệm giảm nghèo ở Uganđa 23
1.5.4 Kinh nghi ệm giảm nghèo của Việt Nam 24
Chương 2: THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI 26
2.1.Khái quát về huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 26
2.2 Thực trạng nghèo đói và công tác xóa đói, giảm nghèo ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 36
Chương 3 : GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, T ỈNH ĐỒNG NAI 65
3.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của chương trình giảm nghèo bền vững ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 65
3.1.1 Quan điểm 65
3.1.2 Định hướng 66
3.1.3 M ục tiêu, đối tượng của chương trình giảm nghèo bền vững 66
3.1.4 Nhi ệm vụ 67
3.2 Giải pháp giảm nghèo bền vững ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 68
3.2.1 Chuy ển dịch cơ cấu kinh tế 68
3.2.2 Đầu tư cơ sở hạ tầng 69
3.2.3 D ạy nghề và hỗ trợ việc làm 69
3.2.4 H ỗ trợ vốn cho hộ nghèo 71
3.2.5 H ỗ trợ giáo dục 72
3.2.6 H ỗ trợ y tế 73
3.2.7 Nhân r ộng mô hình giảm nghèo 74
3.2.8 Nâng cao năng lực và nhận thức của đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo 75
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
KẾT LUẬN 76
Trang 6KIẾN NGHỊ 77
PH Ụ LỤC 78 TÀI LI ỆU THAM KHẢO i
Trang 7UBND: Ủy ban nhân dân
UNDP: Chương trình phát triển Liên hợp quốc
XĐGN: Xóa đói, giảm nghèo
Trang 8DANH MỤC BẢNG
B ảng Trang
1 Bảng 1.1: Tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam thời kỳ 1993 – 2010 22
222 Bảng 1.2: Tình trạng nghèo đói theo vùng của Việt Nam qua một số năm
23
3 Bảng1.3: Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 1 với nhóm 5 qua một số năm 24
4 Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu khí hậu tại trạm khí tượng thủy văn La Ngà – Định Quán
33
5 Bảng 2.2: Cơ cấu các nhóm đất chính của huyện Định Quán 34
6 Bảng 2.3: Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Định Quán qua một số năm 37
7 Bảng 2.4: Hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo của huyện Định Quán thời kỳ 2001 – 2011 48
8 Bảng 2.5: Phân bố hộ nghèo theo đơn vị hành chính của huyện Định Quán năm 2011 49
9 Bảng 2.6: Nhân khẩu bình quân của hộ gia đình nghèo huyện Định Quán đầu năm
2011 52
10 Bảng 2.7: Lao động và tỉ lệ lao động của hộ nghèo huyện Định Quán năm 2011 53
11 Bảng 2.8: Tình trạng hoạt động của lao động nghèo huyện Định Quán năm 2011 54
12 Bảng 2.9: Trình độ văn hóa của người nghèo huyện Định Quán năm 2011
55
13 Bảng 2.10: Tình hình thu nhập của người nghèo huyện Định Quán năm 2011 57
14 Bảng 2.11: Hộ nghèo huyện Định Quán phân theo giá trị tài sản năm 2011
60
15 Bảng 2.12: Tình hình nhà ở của hộ nghèo huyện Định Quán năm 2011 63
16 Bảng 2.13: Hộ nghèo huyện Định Quán phân theo điều kiện sinh hoạt và đời sống năm 2011 65
17 Bảng 2.14: Hộ nghèo huyện Định Quán phân theo một số nguyên nhân trực tiếp năm
2011 69
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1: Tỉ lệ nghèo khu vực nông thôn, thành thị ở Việt Nam từ năm 1993 – 2010 22
2 Hình 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Định Quán năm 2000, 2010 38
3 Hình 2.2: Tỉ lệ hộ nghèo huyện Định Quán giai đoạn 2001 – 2010 49
4 Hình 2.3: Cơ cấu nhà ở của hộ nghèo huyện Định Quán năm 2011 64
5 Bản đồ đơn vị hành chính huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 31
6 Bản đồ nghèo huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 51
7 Bản đồ cơ cấu giá trị tài sản hộ nghèo huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 59
8 Bản đồ cơ cấu thu nhập của hộ nghèo 62
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói là một trong những vấn đề nan giải của mọi thời đại và mọi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đều phải quan tâm và tìm cách giải quyết
Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bên cạnh phải lo đối phó với thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt chú ý tới vấn đề xóa đói Người cho rằng “giặc đói” là một trong ba loại giặc mà Chính phủ và toàn dân
phải tập trung đánh đuổi Nối tiếp chủ trương của Người, hơn nửa thế kỷ qua công tác xóa đói, giảm nghèo (XĐGN) đã trở thành một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững gắn
với thực hiện công bằng xã hội Vì vậy, trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã
tập trung chỉ đạo, ưu tiên mọi nguồn lực thực hiện tốt mục tiêu XĐGN, đưa tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc tế giảm từ 58% xuống còn 10,7% trong giai đoạn 1993 – 2010
Mặc dù Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ra sức phấn đấu, song với một nước sản
xuất nông nghiệp là chủ yếu, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, lại bị chiến tranh tàn phá ác liệt và thiên tai liên tiếp, nên cuộc chiến đấu chống nghèo đói của nhân dân ta còn hết sức khó khăn, gian khổ, đặc biệt là đối với các nông hộ trong khu vực nông nghiệp và nông thôn
Trong xu thế đất nước hội nhập sâu hơn với thế giới và những yêu cầu trong
tiến trình thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN (CPRGS) được Chính phủ phê duyệt vào tháng 5 năm 2002, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đã và đang chú trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế ở địa phương đi đôi với việc thực hiện XĐGN Vì vậy công tác XĐGN ở huyện Định Quán đã đạt được những thành tựu đáng kể trong những năm qua Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói vẫn còn rất nghiêm
trọng và công tác XĐGN của huyện vẫn còn nhiều khó khăn
Trước tình hình thực tế của địa phương, với mong muốn góp phần vào giảm nhanh tình trạng nghèo đói và nâng cao đời sống của người dân huyện Định Quán tôi đã
Trang 11chọn đề tài luận văn: “Nghèo đói và giải pháp giảm nghèo đói ở huyện Định Quán,
t ỉnh Đồng Nai”
2 Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu những cơ sở lý luận về vấn đề nghèo đói
- Tìm hiểu thực trạng nghèo đói và công tác XĐGN ở huyện Định Quán, tỉnh
Đồng Nai
- Các giải pháp giúp XĐGN hiệu quả và bền vững
3 Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện được mục tiêu đã nêu trên thì nhiệm vụ của đề tài cần giải quyết các
- Đưa ra các giải pháp nhằm góp phần vào công tác XĐGN; hỗ trợ cho thoát nghèo bền vững ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là tình hình nghèo đói trên địa bàn huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- V ề không gian : Địa bàn nghiên cứu là huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
- Về thời gian: Từ năm 2000 đến đầu năm 2011
5 Lịch sử nghiên cứu đề tài
5.1 Trên th ế giới
Trang 12Nghèo đói là một hiện tượng mang tính chất toàn cầu, không chỉ tồn tại ở những nước nghèo và các nước đang phát triển mà cả ở các nước phát triển trên thế giới Do đó, XĐGN đã trở thành chương trình hành động của Liên Hợp Quốc và các quốc gia trên thế
giới, thu hút các nhà khoa học, các tổ chức tham gia nghiên cứu nhằm xây dựng hệ
thống cơ sở lý luận về nghèo đói, tìm hiểu thực trạng và các bài học kinh nghiệm để đưa
ra các giải pháp XĐGN hiệu quả Các chuyên viên của Ngân hàng thế giới trong cuốn
“T ấn công nghèo đói” đã sử dụng những bằng chứng mới cùng với phương pháp tư duy
đa ngành để mở rộng khả năng lựa chọn cách hành động phát triển nhằm giảm bớt nghèo đói trên tất cả các phương diện của nó, trong đó tập trung phân tích các cách tiếp cận vấn
đề nghèo đói, trên cơ sở đưa ra những kiến nghị hành động trên 3 lĩnh vực: mở rộng cơ
hội cho người nghèo; tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao quyền nhằm tăng cường sự tham gia của người nghèo trong quá trình chính trị và ra quyết định; tăng cường an sinh
nhằm giảm bớt nguy cơ dễ bị tổn thương cho người nghèo trước các cú sốc bất lợi do ốm đau, khủng hoảng, thiên tai,… Trong khi đó, Hafiz A.Pasha và T.Planive, trong khi nghiên cứu về “Chính sách tăng trưởng vì người nghèo: Kinh nghiệm của Châu Á”
lại tập trung phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng và nghèo đói ở các nước Châu Á trong một thời gian dài và phân tích ảnh hưởng của các loại chính sách khác nhau tới các
yếu tố xác định nghèo đói…
5.2 Vi ệt Nam
Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định nghèo đói và dốt là những thứ giặc như giặc ngoại xâm Người yêu cầu Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành phải: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn Người đủ ăn thì khá, giàu Người khá, giàu thì giàu thêm” Vì thế, trong thời gian qua, Đảng và Nhà
nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, dự án nhằm XĐGN hiệu quả như Chương trình 135; Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN nghèo; Chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo; Dự án dạy nghề cho người nghèo,…
Bên cạnh việc hỗ trợ Đảng và Chính phủ hoàn thiện các chính sách, chương trình,
dự án XĐGN, các nhà khoa học Việt Nam; các ban, ngành của Nhà nước; các tổ chức
quốc tế, đã có những công trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về nghèo đói; phân tích bức tranh nghèo đói của cả nước nói chung, một số vùng và địa
Trang 13phương nói riêng để đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho công cuộc XĐGN,… Chẳng
hạn như trong cuốn “Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay”, trên
cơ sở nghiên cứu về vấn đề nghèo đói ở các chế độ xã hội và ở nước ta, quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, mục tiêu lý tưởng của
chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, tác giả Nguyễn Thị Hằng đã góp phần hoàn thiện cơ sở
lý luận về nghèo đói; nêu lên tính chất tất yếu khách quan của việc XĐGN; thực trạng nghèo đói và một số phương hướng, biện pháp XĐGN ở nông thôn nước ta Hay trong
cuốn “Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức” của Viện Khoa học và xã
hội Việt Nam, các tác giả đã phân tích khá sâu về thực trạng nghèo đói của Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, từ đó đưa ra
những thành tựu và hạn chế trong công cuộc XĐGN của nước ta Còn TS Nguyễn Thị Hoa trong cuốn “Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015” đã giới thiệu đến
người đọc hệ thống những chính sách hiện hành đang áp dụng ở Việt Nam, trong đó tập trung vào 4 chính sách chủ yếu: Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách hỗ trợ giáo dục và y tế cho người nghèo; tác động của các chính sách này (theo cả 2 hướng đồng thuận và không đồng thuận) đến thực trạng nghèo đói của Việt Nam thời gian qua; đồng thời đề xuất quan điểm và nội dung hoàn thiện các chính sách này theo những yêu cầu mới hơn, cao hơn, triệt để hơn, xem xét như những bước rút hoàn thành mục tiêu của Tuyên bố thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết…
Trong bối cảnh chung của cả nước, vấn đề XĐGN trên địa bàn huyện Định Quán,
tỉnh Đồng Nai đã được các cấp chính quyền, các cơ quan, đoàn thể và nhân dân trong vùng quan tâm, tập trung mọi nguồn lực góp phần đưa tỉ lệ hộ nghèo của huyện giảm
xuống đáng kể trong thời gian qua Tuy nhiên cho đến nay vấn đề này vẫn chưa có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống, phần nhiều được thể hiện trên các văn bản của các ban, ngành của UBND huyện, xã, TT Vì thế, với mong muốn góp
phần vào công cuộc giảm nghèo của huyện, tác giả đã tiến hành nghiên cứu về thực
trạng nghèo đói và công tác XĐGN của huyện trong thời gian qua, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm giảm nghèo hiệu quả Trong quá trình thực hiện luận văn của tác giả, các đề tài nghiên cứu của các tác giả đi trước đã trở thành nguồn tư liệu tham khảo quý giá và
thực sự bổ ích
Trang 146 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6 1 Phương pháp luận
Quan điểm triết học Mac – Lênin
Quan điểm triết học Mac – Lênin là sự kết tinh của các thành tựu khoa học và các
tư tưởng triết học nhân loại, là cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu tính toàn
diện, tính phát triển của các hiện tượng trên thế giới, quan điểm này đã được áp dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài nhằm hiểu rõ về nguồn gốc, diễn biến và xu hướng phát triển của tình trạng nghèo đói ở một bộ phận dân cư huyện Định Quán, tỉnh Đồng
Nai
Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Quan điểm tổng hợp lãnh thổ là quan điểm mang tính chất đặc trưng và là quan điểm truyền thống của khoa học địa lý Vận dụng quan điểm tổng hợp lãnh thổ cho phép
nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố tự nhiên
và các yếu tố KT - XH huyện Định Quán đến tình trạng nghèo đói ở một bộ phận dân cư
của huyện Đồng thời xem xét tình trạng nghèo đói của huyện Định Quán trong bối cảnh chung của tỉnh Đồng Nai cũng như của cả nước nhằm đánh giá một cách khách quan hơn về những nhân tố trội tác động tới tình trạng nghèo đói ở huyện Định Quán, từ đó có
thể đưa ra các giải pháp tối ưu góp phần XĐGN hiệu quả hơn
Quan điểm hệ thống
Nghèo đói là một phân hệ nằm trong hệ thống KT - XH của huyện Định Quán Vì
vậy trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã vận dụng quan điểm hệ thống để xem xét
sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tình trạng nghèo đói với các nhân tố khác nằm trong hệ
thống KT - XH huyện Định Quán nói riêng, tỉnh Đồng Nai và cả nước nói chung
Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Nghèo đói là một trong những vấn đề xã hội nhức nhối của mọi thời đại, tuy nhiên
ở từng thời điểm khác nhau tỉ lệ nghèo đói, nguyên nhân và đặc trưng của nghèo đói lại khác nhau Chính vì vậy trong quá trình nghiên cứu về vấn đề XĐGN ở huyện Định Quán – Đồng Nai tác giả đã vận dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh, qua đó có thể nhìn
nhận, đánh giá nguyên nhân dẫn tới nghèo đói ở một bộ phận dân cư huyện Định Quán
Trang 15cũng như thành tựu và hạn chế của công tác XĐGN trong giai đoạn từ 2001 – 2010, từ
đó đề xuất những giải pháp XĐGN hiệu quả và bền vững trong thời gian tới
Quan điểm kinh tế
Quan điểm kinh tế được coi trọng trong nghiên cứu địa lý KT - XH Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và tạo việc làm được coi là những chính sách quan trọng
nhất mà chính phủ có thể làm để giảm nghèo, tuy nhiên cần tránh xu hướng phát triển kinh tế bằng mọi giá mà phải đảm bảo sự bền vững về cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường
6 2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Thu thập và xử lý số liệu, tài liệu vừa giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu, tổng
hợp tài liệu một cách khách quan hơn, vừa là những dẫn chứng minh họa cho vấn đề nghiên cứu Vì vậy, trong quá trình làm luận văn tác giả đã thu thập các tài liệu liên quan đến cơ sở lý luận về nghèo đói, cũng như các tài liệu, số liệu liên quan đến tình hình nghèo đói ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, từ đó tổng hợp và xử lý cho phù hợp với tình hình và nội dung nghiên cứu của đề tài
Phương pháp phân tích, so sánh
Phương pháp phân tích, so sánh các tài liệu, số liệu giúp chúng ta có thể chọn ra
những thông tin quan trọng phục vụ cho vấn đề nghiên cứu, đồng thời có thể xem xét lại các hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận và tìm ra các giải pháp hoàn thiện hơn cho vấn đề XĐGN ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học là phương pháp được sử dụng khá phổ biến với các nghiên cứu địa lý KT - XH Thông qua phương pháp điều tra cho ta những thông tin
có ích, cập nhật và có độ tin cậy nhất định Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra xã
hội học để có thể nắm bắt rõ hơn thực trạng cũng như nguyên nhân gây nên tình trạng nghèo đói ở một bộ phận dân cư huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và những nguyện
vọng của người dân đối với các chính sách công về XĐGN
Trang 16 Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát thực địa là phương pháp cần thiết để kiểm chứng những tài
liệu đã thu thập được tránh được những kết luận chủ quan, vội vàng, thiếu cơ sở thực
tiễn; đồng thời bổ sung thêm những thông tin mới giúp cho đề tài được nghiên cứu hoàn thiện hơn Vì vậy trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã đi đến các xã, hộ gia đình nghèo nằm trên địa bàn huyện Định Quán nhằm kiểm chứng và bổ sung thêm một số thông tin cho đề tài nghiên cứu
7 Cấu trúc của đề tài
Đề tài “Nghèo đói và giải pháp giảm nghèo đói ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng
Nai”, ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm có 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng nghèo đói và công tác xóa đói, giảm nghèo ở huyện Định Quán,
tỉnh Đồng Nai Chương 3: Giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Quan niệm về nghèo đói
1.1.1 Quan niệm về nghèo đói của thế giới
Nghèo đói là một hiện tượng KT - XH mang tính chất toàn cầu, không chỉ diễn ra
ở các quốc gia kém phát triển, mà nó còn tồn tại ở cả các quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, KT - XH của mỗi quốc gia vào mỗi thời kỳ mà tính chất, mức độ nghèo đói lại có sự khác nhau Vì vậy, cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm về nghèo đói được các nhà nghiên cứu, các quốc gia và các tổ chức quốc tế đưa ra
Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban KT - XH khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức ở Băng Cốc (Thái Lan) vào tháng 9 năm 1993 đã đưa ra định
nghĩa về nghèo đói như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT - XH và phong tục tập quán
c ủa địa phương”
Nhu cầu cơ bản ở đây được hiểu là những nhu cầu tối thiểu về vật chất như thức
ăn, quần áo, nhà ở và các nhu cầu như văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp,… để con người có thể tồn tại ở mức bình thường
- Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức ở Copenhagen (Đan
Mạch) vào năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói: “Người nghèo
là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người,
số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”
Ngân hàng thế giới (WB) coi nghèo đói là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội Ở đây thiếu hụt về sinh lý học là sự không đáp ứng đủ nhu cầu về vật chất và sinh học như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục và nhà ở Thiếu hụt về mặt xã hội liên quan đến các khái niệm như bình đẳng, rủi ro và được tự chủ, tôn trọng trong xã hội
Trang 18Chia sẻ những quan điểm trên, nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay cả khi được xem là thích đáng
để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi đó họ không
có những thứ gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết để sống một cách đúng
mực
Còn ông Abapia Sen, người đoạt giải Nôben về kinh tế năm 1998, là chuyên gia
hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại quan niệm: “Nghèo đói là sự thiếu cơ
h ội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”
Như vậy, người nghèo là những người không được thụ hưởng những nhu cầu cơ
bản ở mức tối thiểu dành cho con người, có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư, thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
1.1.2 Quan niệm về nghèo đói của Việt Nam
Cũng như trên thế giới, quan niệm về nghèo đói ở Việt Nam cũng khá phong phú
Để thống nhất về mặt lý luận, trong “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN”
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo đói được đưa ra tại Hội nghị chống nghèo đói do Ủy ban KT - XH khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại
Băng Cốc – Thái Lan vào năm 1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không
được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT - XH và phong tục tập quán c ủa địa phương”
Ngoài ra, trong công tác XĐGN ở Việt Nam còn tồn tại các khái niệm hộ đói, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo, tỉnh nghèo và vùng nghèo Trong đó, khái niệm về hộ đói, hộ nghèo và xã nghèo được dùng phổ biến hơn
1.2 Tiêu chuẩn xác định nghèo đói
1.2.1 Tiêu chuẩn xác định nghèo đói trên thế giới
Nghèo được thể hiện ở nhiều khía cạnh: Thiếu ăn, thu nhập thấp, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những biến cố bất
lợi, thiếu tiếng nói trước cộng đồng,… Để đo được từng khía cạnh đó một cách nhất quán là điều rất khó, còn gộp tất cả những khía cạnh đó thành một chỉ số nghèo hay
Trang 19thước đo nghèo đói duy nhất là chuyện không thể Song, nhằm thông tin cho các chính sách công và để đánh giá mức độ thành công của các chính sách đó cần phải có các tiêu chí cụ thể Vì vậy, để đánh giá mức độ nghèo đói, các quốc gia và các tổ chức nghiên
cứu đã sử dụng 2 tiêu chí là: Mức thu nhập bình quân đầu người trong một năm (hoặc tháng hoặc ngày) và mức tiêu dùng Kcalo bình quân hàng ngày của mỗi người
Ngân hàng th ế giới (WB): Ngân hàng thế giới đã đưa ra tiêu chuẩn xác định thu
nhập ở mức nghèo là 1,25 USD/người/ngày (năm 2005), tức là thu nhập cần thiết để duy trì 2.100 Kcalo mỗi ngày
T ổ chức Lao động quốc tế (ILO): Theo Tổ chức Lao động thế giới, lương thực,
thực phẩm là nhu cầu thiết yếu nhất trong các nhu cầu tối thiểu của con người và và cũng chiếm phần lớn thu nhập của người nghèo Do vậy, mức nghèo được ILO chọn là một rổ lương thực, thực phẩm đang có sẵn mà mọi người thừa nhận để tính toán là 2.100 Kcalo/người/ngày
Bên cạnh các chuẩn nghèo được các tổ chức quốc tế đưa ra, tùy vào điều kiện cụ
thể của mỗi quốc gia ở từng thời điểm khác nhau mà có những mức chuẩn khác nhau, ví
dụ theo tiêu chí mức thu nhập thì chuẩn nghèo ở Malaysia là 28 USD/người/tháng, lip-pin: 85 USD/tháng; theo tiêu chí mức tiêu dùng Kcalo thì các nước công nghiệp ở Châu Âu là 2.570 Kcalo/người/ngày, Châu Đại dương là 2.660 Kcalo/người/ngày,…
Phi-1.2.2 Tiêu chuẩn xác định nghèo đói ở Việt Nam
1.2.2.1 Tổng cục thống kê
Từ năm 1993 với sự tài trợ của SIDA (Thụy Điển), Chương trình Phát triển Liên
hợp quốc (UNDP) và Ngân hàng Thế giới, Tổng cục thống kê Việt Nam đã tiến hành điều tra mức sống dân cư Dựa vào các thông tin chi tiết về chi tiêu của hộ gia đình ở các
cuộc điều tra này, Tổng cục thống kê đã đưa ra hai chuẩn nghèo: chuẩn nghèo lương
thực, thực phẩm và chuẩn nghèo chung
Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm xác định theo chuẩn đã được Tổ chức Y tế
thế giới và các cơ quan khác xây dựng, theo đó những người có mức chi tiêu cho lương
thực, thực phẩm thiết yếu đảm bảo khẩu phần ăn dưới 2.100 Kcalo/ngày - mức Kcalo tối
Trang 20thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người thì được gọi là nghèo lương thực, thực phẩm
Mức chi tiêu này được cập nhật theo biến động của giá ở các năm có khảo sát mức sống
Phương pháp xác định chuẩn nghèo chung là tính thêm chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm Tính cả chi phí này với chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm
ta có chuẩn nghèo chung
Từ 2 chuẩn nghèo này, tỉ lệ hộ nghèo cũng được xác định ở 2 mức là: Tỉ lệ nghèo lương thực, thực phẩm (tỉ lệ % số hộ có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm), tỉ lệ nghèo chung (tỉ lệ % số người có mức chi tiêu bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo chung)
Bằng phương pháp trên, Tổng cục thống kê đã đưa ra chuẩn nghèo lương thực,
thực phẩm qua một số năm như sau: 749 nghìn đồng/người/năm (1993), 1.286 nghìn đồng/người/năm (1998), 1.344 nghìn đồng/người/năm (2002), 1.488 nghìn đồng/người/năm (2004)
Chuẩn nghèo chung là 1.160 nghìn đồng/người/năm (1993), 1.790 nghìn đồng/người/năm (1998), 1.920 nghìn đồng/người/năm (2002), 2.076 nghìn đồng/người/năm (2004), 2.556 nghìn đồng/người/năm (2006) và 3.360 nghìn đồng/người/năm (2008)
Do có xu hướng tiếp cận với chuẩn nghèo quốc tế nên với chuẩn nghèo mà Tổng
cục thống kê đưa ra thì số hộ nghèo đói sẽ rất lớn Bên cạnh đó, các cuộc điều tra chỉ
thống kê, đánh giá và theo dõi diễn biến nghèo đói chứ không có được một danh sách cụ
thể các hộ nghèo đói, đồng nghĩa với việc không xác định được nguyên nhân gây nghèo đói ở các hộ gia đình Một khi đã không xác định được nguyên nhân thì không thể đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế, từ đó làm giảm hiệu quả của công tác XĐGN
1.2.2.2 Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (Bộ LĐTBXH)
Căn cứ vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam với mục tiêu là xác định rõ, cụ thể ai là người nghèo, xóm ấp nghèo, xã nghèo và huyện nghèo, từ đó làm cơ sở để xác định giải pháp và chính sách XĐGN phù hợp, Bộ LĐTBXH đã đưa ra chuẩn nghèo dựa trên các
số liệu về thu nhập của hộ gia đình và nhu cầu năng lượng bình quân 2.100
Trang 21Kcalo/người/ngày (quy gạo) Theo đó tỉ lệ nghèo của Bộ LĐTBXH được xác định bằng
tỉ lệ dân số có thu nhập dưới chuẩn nghèo Chuẩn nghèo của Bộ LĐTBXH cũng thay đổi theo từng giai đoạn cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước Cụ thể:
Năm 1993, Bộ LĐTBXH đề nghị áp dụng tiêu chí về nghèo và đói ở thời điểm này là:
- Hộ đói: Thu nhập đầu người quy gạo dưới 13 kg gạo/người/tháng đối với khu
vực thành thị và dưới 8 kg gạo/người/tháng đối với khu vực nông thôn
- Hộ nghèo: Thu nhập đầu người quy gạo dưới 20 kg gạo/người/tháng đối với khu
vực thành thị và dưới 15 kg gạo/người/tháng đối với khu vực nông thôn
Ngày 29 tháng 8 năm 1995, Bộ LĐTBXH đã đưa ra chuẩn nghèo mới như sau:
- Hộ đói: là hộ có mức thu nhập dưới 13 kg gạo/người/tháng cho mọi vùng
Ngày 20 tháng 05 năm 1997, theo Quyết định (QĐ) số 1751/LĐTBXH, Việt
Nam đã đưa ra chuẩn nghèo đói thuộc phạm vi của Chương trình quốc gia áp dụng cho
thời kỳ 1996 - 2000 như sau:
- Hộ đói: mức thu nhập < 13 kg gạo/người/tháng (xấp xỉ 45.000 đồng/người/tháng) tính cho mọi vùng
Trang 22+ Vùng thành thị: mức thu nhập < 25 kg gạo/người/tháng (xấp xỉ 90.000 đồng/người/tháng)
Ngoài việc đưa ra tiêu chí hộ nghèo, tháng 2 năm 1997 Bộ LĐTBXH còn xác định tiêu chí xã nghèo với mục đích ưu tiên tập trung các nguồn lực của Nhà nước và
của cộng đồng để sớm XĐGN ở các xã đó Các tiêu chí đó là:
+ Tỉ lệ hộ nghèo chiếm từ 40% trở lên so với tổng số hộ trong xã
+ Cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm y tế, nước sạch,…) không có hoặc rất thiếu về số lượng và về chất lượng, không đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH ở địa phương
+ Trình độ dân trí thấp; tỉ lệ mù chữ chiếm từ 40% trở lên tổng số người trong
+ Khu vực nông thôn: mức thu nhập < 200.000 đồng/người/tháng
+ Khu vực thành thị: mức thu nhập < 260.000 đồng/người/tháng
Ngày 30 tháng 01 năm 2011, Thủ tướng chính phủ vừa ban hành QĐ số 09/2011/QĐ-TTg về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 –
2015 như sau:
- Hộ nghèo:
Trang 23+ Nông thôn: mức thu nhập < 400.000 đồng/người/tháng
Cách xác định hộ nghèo đói của Bộ LĐTBXH theo chuẩn nghèo đói đã được công bố như sau:
Bước 1: Phổ biến hướng dẫn chuẩn nghèo theo phương pháp kết hợp hộ tự kê khai và rà soát của Ban XĐGN Tiến hành tập huấn, hướng dẫn biểu mẫu cho các cán bộ địa phương và cho các hộ
Bước 2: Thôn bản, tổ chức điều tra, khảo sát lên danh sách các hộ nghèo đói, tổ
chức rà soát lại việc kê khai của hộ, đưa ra hội nghị thôn, bản thảo luận, lập sổ hộ nghèo đói
Bước 3: Ban XĐGN xã, phường kiểm tra xác định lại lần cuối để báo cáo lên UBND huyện Huyện tổng hợp báo cáo lên Sở LĐTBXH Bộ LĐTBXH tổng hợp từ báo cáo của Sở để trình Chính phủ
Theo Bộ LĐTBXH, trên cơ sở chuẩn nghèo quốc gia, các tỉnh có thể đưa ra chuẩn nghèo riêng cho địa phương mình nhưng phải thỏa mãn 3 điều kiện:
- Thu nhập bình quân đầu người của địa phương đó phải cao hơn thu nhập đầu người của cả nước
- Có tỉ lệ hộ nghèo đói thấp hơn tỉ lệ bình quân cả nước
- Có đủ nguồn lực cân đối cho các giải pháp XĐGN ở địa phương
Trang 241.3 Nguyên nhân nghèo đói
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo ở một bộ phận dân cư tuy nhiên
có thể xếp các nguyên nhân thành 2 nhóm: Nhóm nguyên nhân khách quan và nhóm nguyên nhân chủ quan
1.3.1 Nhóm nguyên nhân chủ quan
Là những nguyên nhân do bản thân người lao động, phổ biến là:
1.3.1.1 T hiếu vốn và không có khả năng tiếp cận nguồn tín dụng
Đây là nguyên nhân số một làm cho các hộ nghèo còn luẩn quẩn trong nghèo đói, vươn lên thoát nghèo Không có vốn, người nghèo thường phải đi làm thuê, thu nhập
thấp và không ổn định, không có khả năng tích lũy vốn nên chất lượng cuộc sống thấp,
dễ bị tổn thương trước những yếu tố bất lợi như thiên tai, dịch bệnh, mất sức lao động, Bên cạnh đó, người nghèo cũng khó tiếp cận với ngân hàng vì họ không có tài sản thế
chấp, họ chỉ nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước hay các tổ chức phi chính phủ nhưng nguồn vốn này lại rất hạn chế Do vậy người nghèo thiếu vốn sản xuất không có cơ hội đầu tư sản xuất, mở rộng sản xuất và dẫn đến không thể thoát nghèo
1.3.1.2 Trình độ học vấn thấp, không có kinh nghiệm làm ăn
Người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp Họ phải tốn nhiều thời gian cho việc tăng thêm thu nhập cho gia đình nên hầu như không có điều kiện nâng cao trình độ của mình để thoát khỏi cảnh nghèo Bên cạnh đó, công việc của họ thường không ổn định, hay thay đổi nên không có cơ hội tích lũy kinh nghiệm và rèn luyện kỹ năng làm việc, vì vậy mà người nghèo khó có cơ hội việc làm nhất là đối với những ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao Mặt khác, trình độ học vấn thấp còn ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái, không
những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai, làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục càng trở nên khó khăn hơn
1.3.1.3 Đông con, ít lao động
Đông con là một trong những đặc điểm của hộ nghèo, đây vừa là nguyên nhân,
vừa là hệ quả của nghèo đói Đông con dẫn đến trong một hộ gia đình người làm thì ít
Trang 25mà người ăn theo lại nhiều do đó thu nhập bình quân thấp, mức sống thấp và không có
khả năng tích lũy vốn Mặt khác, do họ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận
với các biện pháp sức khoẻ sinh sản nên tỉ lệ sinh trong các gia đình nghèo thường cao – vòng tròn luẩn quẩn của nghèo đói lại lặp lại
1.3.1.4 Sức khỏe yếu và bệnh tật
Sức khỏe yếu, bệnh tật và nghèo đói thường tác động qua lại với nhau Sức khỏe yếu,
bệnh tật ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của người nghèo do họ vừa mất đi thu
nhập từ lao động, vừa phải chi tiêu cho việc khám chữa bệnh, do vậy đây là nguyên nhân xô đẩy một hộ gia đình xuống dốc nghèo khó và nợ nần, ít có cơ hội để thoát nghèo Đến lượt
nó, khi nghèo đói đã ngự trị thì không thể cải thiện sức khỏe tốt hơn do thời gian nghỉ ngơi
ít, bữa ăn thường xuyên không đủ chất, khả năng tiếp cận với các dịch vụ phòng bệnh (nước
sạch, các chương trình y tế,…) cũng hạn chế, làm tăng khả năng mắc bệnh của người nghèo
Ngoài các nguyên nhân chính trên thì còn một số nguyên nhân chủ quan khác đẩy con người tới tình trạng nghèo đói như ăn tiêu lãng phí lại lười lao động, gia đình neo đơn,…
1.3.2 Nguyên nhân khách quan
1.3.2.1 Nghèo đói do thiếu đất
Trong một nền kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, đất đai và khả năng tiếp cận đất đai có tác động lớn đến đời sống của những người sử dụng nó, vì vậy không có đất hay ít đất sản xuất cũng là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Không có đất thì không thể
trồng trọt hay chăn nuôi, họ buộc phải đi làm thuê cho người khác, hay đất sản xuất quá
ít hoặc đất xấu sẽ ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo, cũng như khả năng đa dạng hoá sản xuất, hướng tới sản xuất các loại cây trồng với giá
trị cao hơn và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói
1.3.2.2 Nghèo đói do thiên tai và các rủi ro khác
Một bộ phận dân cư có nguồn thu nhập thấp, không ổn định, khả năng tích lũy
vốn ít chỉ cần có những biến động bất thường xảy ra với cá nhân, gia đình hay cộng động
như thiên tai, mất mùa, mất việc làm, mất sức khỏe, mất nguồn lao động,… sẽ tạo ra
Trang 26những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ Nếu không kịp thời có biện pháp khắc phục thì
những người này sẽ rơi vào tình trạng nghèo đói
1.3.2.3 Nghèo đói do những tác động của chính sách Nhà nước
Các chính sách KT - XH của Nhà nước và địa phương cũng là một trong những nguyên nhân tác động tới tình trạng nghèo đói Nếu các chính sách phù hợp với điều
kiện tự nhiên, KT - XH của địa phương nói riêng và quốc gia nói chung thì sẽ thúc đẩy
nền KT - XH phát triển, góp phần XĐGN Trái lại, chính sách đưa ra không khoa học, mang tính phong trào, thiếu tính khả thi, gây lãng phí nghiêm trọng, tệ nạn quan liêu, tham nhũng diễn ra nhiều nơi,… lại trở thành nguyên nhân làm cho những người nghèo càng ít có cơ hội thoát nghèo, thậm chí có thể làm cho một bộ phận dân cư cận nghèo rơi vào tình trạng nghèo đói
Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác cũng làm cho một bộ phận dân cư sống trong nghèo đói chẳng hạn như khu vực sinh sống ở vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông đi
lại khó khăn, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế…
1.4 Thực trạng nghèo đói của thế giới và Việt Nam
1.4.1 Thực trạng nghèo đói của thế giới
Trong vòng 25 năm, tỉ lệ người nghèo trên thế giới đã giảm đáng kể từ 50% (1981) xuống còn 25% (2005) Tuy nhiên, trên thế giới vẫn còn khoảng 1,4 tỉ người sống
với mức thu nhập dưới 1,25 USD/người/ngày (năm 2005) Phần lớn người nghèo sinh
sống ở Châu Á (khoảng 900 triệu người nghèo năm 2005) nhưng mức độ nghèo trầm
trọng nhất lại diễn ra ở Châu Phi – mặc dù chỉ có khoảng 380 triệu người nghèo của thế
giới sinh sống ở châu lục này nhưng trung bình mỗi người nghèo ở đây chỉ thu nhập 70 xu/ngày Bên cạnh đó, theo báo cáo của FAO, Châu Phi cũng chính là nơi phải đối mặt với nạn đói nghiêm trọng nhất, với 30% dân số phải sống trong tình trạng thiếu lương thực trong khi con số này tại các nước đang phát triển khác là 13% Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói trầm trọng của Châu Phi là do nơi đây khí hậu khô hạn, trong khi sản xuất nông nghiệp lại phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên dẫn đến mất mùa hay năng suất thu hoạch thấp; thêm vào đó lại thường xuyên xảy ra sự bất ổn về chính trị
Trang 27Nạn nghèo không chỉ tồn tại ở các nước đang và chậm phát triển mà ngay cả những nước phát triển trên thế giới nạn nghèo cũng tồn tại Tại Hoa Kì – cường quốc số
1 thế giới về kinh tế - năm 2009 có 39,8 triệu người nghèo, đưa tỉ lệ người nghèo ở quốc gia này lên 14,3% Hay như ở Nhật Bản số người nghèo tính đến thời điểm tháng 6 năm
2010 cũng lên tới 1,907 triệu người,…
1.4.2 Thực trạng nghèo ở Việt Nam
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trên mọi lĩnh vực nhưng ấn tượng hơn cả với bạn bè quốc tế đó là thành tích về XĐGN
Bảng 1.1: Tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam thời kỳ 1993 – 2010
Bảng số liệu 1.1 cũng cho thấy, mặc dù trong những năm qua tỉ lệ nghèo ở khu vực nông thôn đã giảm nhanh chóng nhưng người nghèo ở Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nông: Năm 1993 tỉ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn là 66,3%, năm 2010 xuống còn 13,2%; Trong khi đó, tỉ lệ hộ nghèo ở khu vực thành thị giảm từ 25% (năm 1993)
xuống còn 5,1% (năm 2010)
Trang 28Hình 1.1 T ỉ lệ nghèo khu vực nông thôn, thành thị ở Việt Nam
t ừ năm 1993 đến năm 2010
Bên cạnh đó, bức tranh phân bố nghèo cũng có sự khác biệt giữa các vùng trong cả
nước Theo kết quả từ cuộc tổng điều tra hộ nghèo cả nước giai đoạn 2011 – 2015, cuối
năm 2010 Tây Bắc là vùng có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất nước (32,7%), kế đến là Bắc Trung
Bộ (19,3%), Đông Bắc (17,7%), Tây Nguyên (17,1%), Duyên hải Nam Trung Bộ
(12,7%), Đồng bằng sông Cửu Long (8,9%), Đồng bằng sông Hồng (6,5%) và thấp nhất
là Đông Nam Bộ (2,2%) Như vậy những vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi,
KT - XH chậm phát triển và là nơi có đông đồng bào dân tộc sinh sống cũng chính là nơi
%
Trang 29Mặc dù tỉ lệ hộ nghèo không ngừng giảm xuống trong những năm qua nhưng khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam lại tăng lên Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 1 với nhóm 5 trên phạm vi cả nước tăng từ 8,1 lần (năm 2002) lên 9,2 lần (năm 2010) Trong khi thành thị có xu hướng giảm khoảng cách giàu nghèo (8,0 lần (năm 2002) xuống 7,9
lần (năm 2010)) thì ở nông thôn khoảng cách này lại tăng lên (6,0 lần (năm 2002) lên 7,5
lần (năm 2010)) Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo ở khu vực nông thôn là do sự di cư
của một bộ phận dân cư nông thôn ra thành thị tìm kiếm việc làm, một số mạnh dạn đầu
tư phát triển kinh tế hộ… đã giúp cho những hộ này có thu nhập cao hơn so với mặt
bằng thu nhập chung ở khu vực nông thôn
Bảng1.3: Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 1 với nhóm 5 qua một số năm
Đông Nam Bộ 9,0 8,7 8,8 8,7 8,4 Tây Nam B ộ 6,8 6,7 6,8 7,3 7,4
(Ngu ồn: Tổng cục Thống Kê – Điều tra mức sống hộ dân cư năm
2002, 2004, 2006, 2008, 2010)
Bảng số liệu 1.3 cũng cho thấy, ngoài Đông Nam Bộ là vùng có xu hướng giảm khoảng cách giàu nghèo từ 9,0 lần (năm 2002) xuống còn 8,4 lần (năm 2010) thì 7 vùng còn lại đều có xu hướng tăng khoảng cách giàu nghèo Trong 8 vùng, Đông Nam Bộ là vùng có khoảng cách giàu nghèo lớn nhất nước (8,4 lần năm 2010), Bắc Trung Bộ là vùng có khoảng cách giàu nghèo nhỏ nhất nước (6,8 lần năm 2010)
Trang 301.5 Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nước trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Trung Quốc
Ở Trung Quốc, ngay từ năm 1978 Chương trình XĐGN đã được xem là một trong
những chương trình hành động quốc gia quan trọng Từ đó đến nay, dưới sự quan tâm
chỉ đạo thực hiện của chính phủ, nỗ lực của bản thân người nghèo và sự giúp đỡ của
cộng đồng, số người nghèo ở Trung Quốc không ngừng giảm xuống: từ 260 triệu người năm 1978 xuống còn 35,97 triệu người năm 2009 Chương trình XĐGN ở Trung Quốc được chia thành nhiều giai đoạn với những bước đi phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước Cụ thể:
Ở giai đoạn 1978 - 1985, Trung Quốc đã thực hiện một loạt các chính sách cải cách như cải cách hệ thống quản lý ruộng đất, nới lỏng kiểm soát giá nông sản phẩm, tập trung phát triển các xí nghiệp ở các trấn nhằm mở rộng các hướng mới giải quyết nghèo đói ở các vùng nông thôn Những cải cách này đã đẩy nhanh tốc độ phát triển nền kinh
tế, đồng thời mang lại lợi ích cho người nghèo theo 3 khía cạnh: Nâng giá nông sản
phẩm, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tận dụng nguồn lao động phi nông nghiệp ở nông thôn, nhờ đó tạo điều kiện người nghèo thoát nghèo đói, trở nên giàu có
và góp phần giảm tỉ lệ nghèo ở các vùng nông thôn
Ở giai đoạn 1986 - 1993, bên cạnh việc xác định vùng thuộc phạm vi được hỗ trợ
trực tiếp của chính phủ, chính phủ Trung Quốc đã thực hiện hàng loạt các chương trình như: Chương trình viện trợ trực tiếp bằng việc đưa kinh phí từ chính quyền trung ương
xuống các vùng được lựa chọn; Chương trình “Lao động đổi lấy lương thực” đã sử dụng lao động người nghèo để xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng; Chương trình vay vốn bao cấp – hộ gia đình nghèo được vay khoản vốn nhỏ với điều kiện ưu đãi Các chương trình này đều có điểm chung là chú trọng đến việc hỗ trợ thôn nghèo và hộ nghèo, trong đó ưu tiên cho các nhóm đặc biệt khó khăn như dân tộc thiểu số, người tàn
Trang 31đồng quốc tế trong nỗ lực XĐGN Một loạt các chính sách cụ thể được triển khai như tăng cường huy động và tổ chức mọi thành phần xã hội tham gia hỗ trợ người nghèo; đẩy nhanh hợp tác khu vực Đông và Tây trong công tác hỗ trợ người nghèo; kết hợp
giảm nghèo với bảo vệ môi trường sinh thái và kế hoạch hóa gia đình; thúc đẩy trao đổi
quốc tế và hợp tác trong công tác hỗ trợ người nghèo Đặc biệt để nâng cao hiệu quả đầu
tư cho giảm nghèo, Trung Quốc đã chú trọng đến phương thức giảm nghèo Kinh nghiệm của Trung Quốc là giảm nghèo theo hình thức cuốn chiếu trên cơ sở đúng đối tượng hỗ trợ Xác định đối tượng hỗ trợ là huyện nghèo bao gồm huyện nghèo trọng điểm quốc gia và huyện nghèo trọng điểm tỉnh giúp cho việc phân cấp hỗ trợ thuận lợi hơn Cụ thể, ngân sách trung ương hỗ trợ cho các huyện/thôn nghèo quốc gia Các huyện/thôn nghèo cấp tỉnh do ngân sách tỉnh hỗ trợ [12; tr 39, 40]
1.5.2 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Mê-hi-cô
Năm 1997, tình trạng người nghèo được tiếp cận với dịch vụ y tế rất thấp; tỉ lệ trẻ
em thất học và tình trạng trốn học, bỏ tiết ở các vùng nghèo rất cao, Chính phủ Mê-hi-cô
đã đưa ra Chương trình giáo dục, y tế và dinh dưỡng nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo đói hiện tại và tăng đầu tư vào vốn con người, chấm dứt nghèo đói thường xuyên qua nhiều thế hệ, đặc biệt là các gia đình nghèo ở khu vực nông thôn Phương thức thực
hiện chương trình là chuyển giao tiền mặt trực tiếp cho các gia đình với điều kiện các thành viên của gia đình phải đi khám sức khỏe, các bà mẹ phải tham gia các buổi phổ
biến thông tin về vệ sinh, dinh dưỡng và trẻ em phải đến trường
Cụ thể, chương trình giáo dục, y tế và dinh dưỡng trợ cấp cho những gia đình nghèo để cho con em dưới 18 tuổi được đi học từ lớp thứ 3 bậc tiểu học đến lớp thứ 3
bậc trung học Mức trợ cấp tăng theo cấp học và các bé gái được nhận cao hơn một chút
so với các bé trai Đối với học sinh năm thứ 3 trung học, trợ cấp bằng 46% mức thu nhập trung bình của một người làm nông nghiệp Những gia đình có trẻ em đã bị bỏ học hơn 15% số ngày đến trường trong một tháng hoặc bị lưu ban quá 1 lần sẽ không được nhận
trợ cấp tiền của tháng đó Các gia đình trong diện nghèo đói được nhận mức trợ cấp nếu các thành viên đi khám sức khỏe thường xuyên và các bà mẹ tham gia các buổi phổ biến thông tin về dinh dưỡng và sức khỏe tổ chức hàng tháng
Trang 32Điều đáng lưu ý là tiền trợ cấp được trao cho người mẹ, vì họ được coi là người chịu trách nhiệm chăm sóc chính con cái Với tính tập trung cao, chương trình chỉ
có một cầu nối duy nhất giữa cán bộ chương trình và những người thụ hưởng, đó là nữ tuyên truyền viên cộng đồng – người này có thể là liên lạc viên giữa những người thụ hưởng và nhà cung ứng, do một hội đồng các hộ gia đình tạo ra Chương trình này có
một loạt các ưu điểm như chống lại xu hướng trong các gia đình nghèo thiên về tiêu dùng hiện tại bằng các khuyến khích đầu tư vào vốn con người; chương trình này đã
nhận thức được mối quan hệ giữa giáo dục, y tế và dinh dưỡng; để dàn rộng nguồn lực
có hạn của chính phủ, chương trình đã gắn việc trợ cấp tiền mặt với hành vi của hộ gia đình, nhằm mục đích thay đổi thái độ; với mục đích, quy chế và yêu cầu của chương trình cũng như phương pháp đánh giá đã được công bố rộng rãi đã giảm bớt sự can thiệp chính trị
Kết quả của chương trình giáo dục, y tế và dinh dưỡng đã làm tăng số lượng
học sinh đi học ở tất cả các cấp, đặc biệt tỉ lệ nhập học của các bé gái Ngoài ra chương trình đã cải thiện được tình trạng còi xương, suy dinh dưỡng của các trẻ em hộ nghèo
Cuối cùng, chương trình không chỉ tạm thời tăng thu nhập mà nó còn giúp tăng năng
suất và thu nhập trong tương lai của những đứa trẻ thụ hưởng [12; tr 51, 52]
1.5.3 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Uganđa
Sau nhiều thập kỷ chiến tranh và tàn phá kinh tế, tăng trưởng đã quay trở lại ở Uganđa trong thập kỷ 1990 với mức trung bình hơn 5% một năm Chỉ trong vòng 6 năm (1992 – 1998), tỉ lệ nghèo đói ở Uganđa đã giảm từ 56% xuống còn 44% Lợi ích của tăng trưởng đã được chia sẻ giữa các nhóm thu nhập, các hộ gia đình nông thôn và thành thị, và
gần như tất cả các ngành kinh tế Mức tiêu dùng thực tế trên đầu người đã tăng trong tất cả các nhóm dân cư, có nghĩa là nghèo đói đã giảm, cho dù có sử dụng tiêu chuẩn ngưỡng nghèo nào đi chăng nữa
Bất bình đẳng thu nhập giảm được chút ít đã khiến tăng trưởng đặc biệt có tác dụng trong việc giảm nghèo đói, với hệ số GINI giảm từ 0,36 xuống 0,34 trong vòng
5 năm Mức sống của tất cả các hộ gia đình nghèo đều được cải thiện Tiêu dùng (tính tương đương cho một người lớn) đã tăng 27% trong nhóm một phần mười dân số nghèo
Trang 33nhất, còn các hộ gia đình trong nhóm một phần mười dân số giàu nhất thì tăng được 15% Trong nhóm những người sản xuất nông sản thương phẩm – nhất là người trồng cà phê, vốn trước đây cũng nghèo như số đông những người Uganđa – nghèo đói đã giảm nhanh hơn 2 lần so với mức chung của cả nước [17, tr 62]
1.5.4 Kinh nghiệm giảm nghèo của Việt Nam
Mặc dù nguồn lực có hạn nhưng qua 10 năm thực hiện Chiến lược toàn diện
về tăng trưởng và giảm nghèo với nhiều chính sách, chương trình, dự án, số hộ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 29% (năm 2002) xuống còn 10,7% (năm 2010), chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn đã giảm từ 2,3 lần (năm 1999) xuống còn 2 lần (năm 2008) Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã vượt qua mốc của một nước nghèo (1.000USD) và trở thành nước có thu nhập trung bình Cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống và sản xuất của nhân dân ở khu vực các xã đặc biệt khó khăn đã được cải thiện đáng kể với hàng vạn công trình điện, đường, trường, trạm, thủy lợi,… được xây dựng
và đưa vào sử dụng Đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa đã có nhiều thay đổi căn bản Quan trọng hơn, các chính sách đúng đắn và kịp thời cùng nỗ lực kiên trì XĐGN của Đảng và Nhà nước
đã kích thích, khơi dậy ý chí, năng lực vươn lên thoát nghèo của nhân dân, giúp một bộ phận không nhỏ người nghèo thoát ra khỏi tình trạng nghèo cùng cực Cùng với những thành tựu này, Việt Nam đã tích lũy được những bài học kinh nghiệm quan trọng về giảm nghèo, đó là:
- Giảm nghèo ở Việt Nam không đơn thuần là một chính sách xã hội mà đã được nâng lên thành mục tiêu quốc gia Chính sách giảm nghèo luôn được đặt trong mối quan hệ hài hòa với tăng trưởng kinh tế Bởi vậy, một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận là trong khi bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định thì đồng thời Việt Nam cũng hạn chế được tốc độ gia tăng bất bình đẳng xã hội
- Dựa trên ý chí quyết tâm và sự đồng thuận của toàn bộ hệ thống chính trị, các cơ chế, chính sách giảm nghèo được ban hành một cách tích cực và có tính toàn diện, phù hợp với đặc điểm, bản chất nghèo của đối tượng thụ hưởng, đồng thời hướng
Trang 34trọng tâm đến các cơ chế, chính sách tạo ra tiền đề cần thiết giúp người nghèo phát huy năng lực bản thân để tự vươn lên cải thiện đời sống, quyết tâm thoát nghèo (đầu tư cơ sở
hạ tầng, vay vốn phát triển sản xuất, dạy nghề, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, văn hóa giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, )
- Quá trình điều hành, tổ chức thực hiện các chương trình, dự án giảm nghèo năng động, linh hoạt với các mục tiêu cụ thể và nhiều giải pháp phù hợp có tính đến yếu
tố vùng miền, tập quán dân cư, cộng đồng; (các chương trình giảm nghèo ngành, các chương trình phát triển KT - XH vùng,…)
- Việc xác định đối tượng nghèo, phân loại nguyên nhân nghèo và diễn biến nghèo của các nhóm dân cư khác nhau giúp cho các chính sách giảm nghèo được xây dựng có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với đối tượng và mang lại hiệu quả tác động thực tế
- Sự nghiệp giảm nghèo của Việt Nam đã huy động được sự tham gia của các cấp, các ngành, của toàn xã hội với nhiều hình thức huy động nguồn lực tham gia rất phong phú, từ nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau; đồng thời tranh thủ được sự giúp đỡ
và các nguồn lực hỗ trợ của cộng đồng quốc tế cả về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm [37]
Trang 35Chương 2: THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
2.1.Khái quát về huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
- Về ranh giới địa lí : Huyện Định Quán tiếp giáp với các huyện, thị sau:
+ Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tân Phú (Đồng Nai)
+ Phía Đông Nam giáp huyện Đức Linh (Bình Thuận)
+ Phía Nam giáp các huyện Thống Nhất, Xuân Lộc và thị xã Long Khánh (Đồng Nai)
+ Phía Tây giáp huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai)
Huyện Định Quán nằm dọc theo tuyến quốc lộ 20 – trục đường bộ nối quốc lộ 1A
với thành phố Đà Lạt, cách trung tâm thành phố Biên Hòa (Đồng Nai) khoảng 80 km, Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 110 km và thành phố Đà Lạt khoảng 185 km nên có vị trí thuận lợi trong việc giao lưu với các vùng trong tỉnh và một số tỉnh lân cận Bên cạnh
đó, Định Quán là một huyện của tỉnh Đồng Nai, một trong những tỉnh thuộc vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam, nên có điều kiện thuận lợi cho cho huyện phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Địa hình
Huyện Định Quán có độ cao trung bình so với mặt nước biển là 180m, đây là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên và trung du do đó địa hình không bằng phẳng, có
Trang 36những vùng gò đồi lượn sóng tập trung ở các xã La Ngà, Ngọc Định, Gia Canh, Thanh Sơn, Phú Vinh,… và những vùng dốc thoải Địa hình của huyện bị chia cắt bởi sông Đồng Nai và sông La Ngà tạo nên ba tiểu vùng có các đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng khác nhau bao gồm: Tiểu vùng phía Nam (gồm các xã La Ngà, Phú Túc, Túc Trưng, Phú Cường và Suối Nho), tiểu vùng Thanh Sơn và phần còn lại
2.1.2.2 Khí hậu
Khí hậu của huyện Định Quán mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa
có sự phân hóa thành mùa mưa và mùa khô rõ nét Nhiệt độ trung bình năm là 26,90C, chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng không cao Tổng số giờ nắng trong năm
là 2.502 giờ Do ảnh hưởng của vùng cao nguyên Bảo Lộc – Lâm Đồng là sườn
chắn gió Tây Nam mang nhiều hơi ẩm từ biển Ấn Độ Dương nên lượng mưa ở Định Quán tương đối lớn từ 2.500 – 2.800 mm/năm, số ngày mưa trong năm từ 150 – 170 ngày Độ ẩm trung bình năm là 80%
B ảng 2.1 Một số chỉ tiêu khí hậu tại trạm khí tượng thủy văn La Ngà – Định Quán
361 ,1
297 ,4
109,
6 44,5
S ố giờ nắng
(Gi ờ/tháng) 238 248 259 253 202 190 166 166 167 196 214 203
S ố ngày mưa (Ngày) 2 2 5 10 19 20 23 24 24 22 12 6
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Đồng Nai)
Trang 37Đặc trưng khí hậu theo mùa của Định Quán như sau:
- Mùa khô (Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau): Nhiệt độ trung bình các tháng mùa khô là 26,90C, số giờ nắng trung bình là 7,77 giờ/ngày Lượng mưa mùa khô chỉ chiếm
10 – 15% tổng lượng mưa năm
- Mùa mưa (Từ tháng 5 đến tháng 10): Nhiệt độ trung bình các tháng mùa mưa là
26,80C, số giờ nắng trung bình là 5,97 giờ/ngày Lượng mưa chiếm 85 – 90% tổng lượng mưa năm Mưa lớn cộng với địa hình dốc làm rửa trôi và xói mòn mạnh dẫn đến tình
trạng phân hoá vỏ thổ nhưỡng nhanh
Tuy có một số bất lợi do sự phân hóa khí hậu theo mùa nhưng nhìn chung khí hậu huyện Định Quán tương đối thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh tế và sinh hoạt đời
sống của người dân
B ảng 2.2: Cơ cấu các nhóm đất chính của huyện Định Quán
STT Tên đất Việt Nam Tên đất theo
FAO/UNESCO
Di ện tích (ha)
T ỉ lệ (%)
(Ngu ồn: Phòng Tài nguyên môi trường - UBND huyện Định Quán)
- Nhóm đất xám (Acrisols): Đây là nhóm đất chính của huyện có diện tích
49.962,68 ha (chiếm 51,45% diện tích tự nhiên của huyện) Đất đa phần phát triển trên
đá phiến và đá granit, nghèo mùn, các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu thấp Đất chua,
Trang 38nghèo cation trao đổi, CEC thấp Đất nhẹ đến trung bình, thích hợp cho trồng cây mía,
bắp, đậu xoài, nhãn, điều,
- Nhóm đất đá bọt (Andosols): Diện tích 427,33 ha (chiếm 0,44% diện tích tự
nhiên của huyện) Đất này được hình thành trên đá Bazan, tầng đất lẫn nhiều đá, có khi
có kết von Do tầng đất hữu hiệu có lẫn nhiều đá cục nên nhóm đất này ít có ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp Thường được tận dụng trồng chuối, bắp, đậu
- Nhóm đất đỏ (Ferrasols): Diện tích 12.796,55 ha (chiếm 13,18% diện tích tự
nhiên của huyện Được hình thành trên mẫu chất Bazan, tầng đất dày, thành phần cơ giới
nặng, cấu tượng viên tơi xốp, giàu đạm và lân, các cation trao đổi cao Đất đỏ rất thích hợp
với cây lâu năm nhất là cao su, cà phê và cây ăn quả
- Nhóm đất Gley (Gleysols): Diện tích 608,86 ha (chiếm 0,62% diện tích tự nhiên
của huyện) Đa phần được trồng lúa và cây hoa màu ngắn ngày, một số nơi được lên líp
trồng cây ăn trái
- Nhóm đất đen (Luvisols): Diện tích 16.986,51 ha (chiếm 17,49% diện tích tự
nhiên của huyện) Đất được hình thành trên mẫu chất Bazan, với đặc tính giàu chất dinh dưỡng và chất hữu cơ dễ tiêu, đặc biệt là hàm lượng lân tổng số và canxi, magiê cao nên nhìn chung đất đen rất thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng trong nông nghiệp
2.1.2.4 Tài nguyên nước
- Tài nguyên nước mặt
Tài nguyên nước mặt của huyện Định Quán tương đối dồi dào, ngoài một số suối như suối Tam Bung, suối Son, suối Sà Mách, suối Thuỷ Nhập Sơn… trên địa bàn huyện
có 2 sông lớn là sông Đồng Nai và sông La Ngà – đây là nguồn cung cấp nước chính cho sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn huyện Tuy nhiên, mực nước biến đổi theo mùa với biên độ rất lớn, mùa khô hầu như không có nước, mùa mưa có một số vùng bị ngập úng gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp
+ Sông Đồng Nai bắt nguồn từ vùng núi phía Bắc thuộc cao nguyên Lang Biang (Nam Trường Sơn) chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Đoạn chảy qua huyện Định Quán có chiều dài 32 km, lưu lượng nước trung bình là 470 m3
/s
Trang 39+ Sông La Ngà là phụ lưu của sông Đồng Nai, phần chảy qua huyện có chiều dài 46,6 km, lưu lượng nước trung bình là 144 m3
/s
- Tài nguyên nước ngầm
Trữ lượng nước ngầm trên địa bàn phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở phía Tây Nam và phía Bắc của huyện Độ sâu khai thác từ 6 – 30m (cá biệt có những nơi từ
70 – 80m như ở Phú Ngọc, Ngọc Định), chất lượng nước tốt Nguồn nước ngầm hiện đang được khai thác nhưng với quy mô nhỏ (quy mô hộ gia đình) để phục vụ cho sinh
hoạt và một phần cho sản xuất nông nghiệp
2.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản
Qua khảo sát, trên địa bàn huyện có một số loại tài nguyên khoáng sản như vàng (Suối Nho, La Ngà), đá quý (La Ngà), đất sét (Phú Cường), nhôm (La Ngà), nước khoáng (Gia Canh), đất sét (Phú Cường), đá xây dựng (có ở hầu hết huyện Định Quán), cát xây dựng (dọc sông Đồng Nai, sông La Ngà),… Tổng số các mỏ và điểm khoáng sản
đã được phát hiện lên tới 20 điểm, tuy nhiên đa phần có trữ lượng nhỏ lại nằm ở địa hình đồi núi khó khăn cho việc khai thác nên hiện nay trên địa bàn huyện chỉ có những khoáng sản phục vụ cho ngành xây dựng (cát, đá, đất sét) được tiến hành khai thác
2.1.2.6 Tài nguyên rừng
Tỉ lệ che phủ rừng trên địa bàn huyện đạt 75,2% Theo số liệu thống kê năm 2010,
diện tích đất rừng của huyện là 35.549,32 ha, trong đó diện tích đất rừng phòng hộ là 18.626,63 ha, đất rừng sản xuất là 15.555,69 ha và đất rừng đặc dụng là 1.367 ha
Diện tích rừng chủ yếu do các lâm trường quản lý (35.261,33 ha), còn lại 287,99
ha do hộ gia đình và cá nhân sử dụng Rừng đóng vai trò quan trọng trong tạo cảnh quan môi trường và bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Tổng quan về kinh tế huyện Định Quán
Trong những năm qua, tình hình kinh tế của huyện Định Quán dần đi vào ổn định
và phát triển theo chiều hướng tích cực Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá thực tế tăng
từ 697.072 triệu đồng năm 2000 lên 1.066.999,3 triệu đồng năm 2010 Tốc độ tăng trưởng
Trang 40GDP mặc dù không ổn định nhưng vẫn khá cao, thời kì 2000 - 2010 mỗi năm tăng 8,26%/năm (Trong đó, nông – lâm – thủy sản tăng 7,15%/năm, công nghiệp – xây dựng tăng 13,14%/năm, dịch vụ tăng 8,55%/năm) Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người của huyện Định Quán cũng không ngừng tăng lên từ 3,407 triệu đồng/người/năm (2000), lên 5,93 triệu đồng/người/năm (2005) và 15,018 triệu đồng/người/năm (2010)
B ảng 2.3: Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Định Quán qua một số năm
(Đơn vị:%)
Nông – lâm – th ủy sản 52,93 51,62 50,49
Công nghi ệp – Xây dựng 13,25 15,62 19,6
(Ngu ồn: Phòng thống kê, UBND huyện Định Quán)
Cơ cấu kinh tế của huyện trong những năm qua đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: tăng tỉ trọng ngành công nghiệp – xây dựng (từ 13,25% năm 2000 lên 19,6% năm 2010), giảm tỉ trọng của ngành nông – lâm – thủy sản (từ 52,93% năm 2000 xuống còn 50,4% năm 2010) Tuy nhiên, ngành nông – lâm – thủy sản vẫn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, ngành công nghiệp – xây dựng tăng không đáng kể Năm 2010, tỉ
trọng ngành nông – lâm – thủy sản là 50,49%, ngành công nghiệp – xây dựng là 19,6%
và ngành thương mại – dịch vụ là 29,91%
Hình 2.1: C ơ cấu kinh tế huyện Định Quán năm 2000, 2010