Sự tồn tại và phát triển của ngành Du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các tài nguyên trong môi trường xung quanh. Chính vì vậy, du lịch phát triển, môi trường du lịch cũng sẽ bị suy thoái. Ngày nay, nhu cầu của khách đi du lịch ngày càng cao và xu hướng lựa chọn điểm đến môi trường an toàn luôn là tiêu chí hàng đầu của du khách đặc biệt là các loại hình du lịch gắn với thiên nhiên. Tuy nhiên, môi trường du lịch tại cù lao An Bình tỉnh Vĩnh Long hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề thách thức cần được quan tâm, nghiên cứu và quản trị. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi phân tích, đánh giá đồng thời đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường du lịch cù lao An Bình tỉnh Vĩnh Long theo hướng bền vững.
Trang 1371
TỪ THỰC TẾ KHAI THÁC DU LỊCH NÔNG THÔN
BƯỚC ĐẦU ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÙ LAO AN BÌNH - TỈNH VĨNH LONG
TÓM TẮT
Sự tồn tại và phát triển của ngành Du lịch luôn gắn liền với việc khai thác
các tài nguyên trong môi trường xung quanh Chính vì vậy, du lịch phát triển,
môi trường du lịch cũng sẽ bị suy thoái Ngày nay, nhu cầu của khách đi du lịch
ngày càng cao và xu hướng lựa chọn điểm đến môi trường an toàn luôn là tiêu
chí hàng đầu của du khách đặc biệt là các loại hình du lịch gắn với thiên nhiên
Tuy nhiên, môi trường du lịch tại cù lao An Bình tỉnh Vĩnh Long hiện nay đang
phải đối mặt với nhiều vấn đề thách thức cần được quan tâm, nghiên cứu và
quản trị Trong phạm vi bài viết, chúng tôi phân tích, đánh giá đồng thời đề
xuất giải pháp bảo vệ môi trường du lịch cù lao An Bình tỉnh Vĩnh Long theo
hướng bền vững
Từ khóa: du lịch nông thôn, chính sách và giải pháp bảo vệ môi trường,
bảo vệ môi trường du lịch
1 Đặt vấn đề
Cù lao An Bình hay “cồn” như người dân ở đây thường gọi thuộc huyện
Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, với diện tích hơn 6.000 hecta là kết quả của sự bồi tụ
theo thời gian của phù sa sông Tiền và sông Cổ Chiên (nhánh của sông Mekong
từ thượng nguồn chảy xuống hạ lưu) tạo thành Do đó, đất đai nơi đây màu mỡ,
trù phú thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển trồng trọt, chăn nuôi nhiều
loại động thực vật như: chôm chôm, nhãn, vú sữa, mận, ổi, cá điêu hồng, cá
basa … tạo nên miệt vườn xanh tốt, hấp dẫn khách du lịch tham quan và thưởng
Trang 2
372
thức Đây là nơi thu hút khoảng 90% lượng khách du lịch đến tỉnh Vĩnh Long hằng năm
Bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng trong việc phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch nông thôn Bảo vệ môi trường du lịch đã và đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Hệ thống các văn bản pháp luật qui định về bảo
vệ môi trường đã được hình thành để tạo một hành lang pháp lý nhằm phát triển
du lịch theo hướng bền vững
Tại điều 8 của Luật du lịch năm 2017 do Quốc hội nước Việt Nam ban hành ngày 19/6/2017 theo luật số 09/2017/QH14, đã qui định trách nhiệm của các cơ quan ban ngành, tổ chức cá nhân có liên quan về bảo vệ môi trường du lịch gồm: Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương, tổ chức, cá nhân kinh doanh, khách du lịch và cộng đồng dân cư
Theo Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành ngày 30/12/2013, về việc Hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích
Quyết định số 1355/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành ngày 12/4/2012 về Bộ tiêu chí Nhãn du lịch bền vững Bông sen xanh làm công cụ để đánh giá, quản lý công tác bảo vệ môi trường đối với hệ thống
cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam
Văn bản số 2694/BNN-TCLN ngày 30/3/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Kiểm tra hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên
Thông tư số 47/2014/TT-BYT ngày 11 tháng 12 năm 2014 của Bộ Y Tế về việc hướng dẫn quản lý an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống
Như vậy, có thể nhận thấy, việc bảo vệ môi trường du lịch là một nội dung quan trọng của du lịch Việt Nam nói chung và cù lao An Bình tỉnh Vĩnh Long nói riêng trong việc phát triển du lịch theo hướng bền vững
Trang 3373
2 Cơ sở lý luận
2.1 Du lịch nông thôn
“Du lịch nông thôn là loại hình du lịch khai thác các vùng nông thôn
như một nguồn tài nguyên và đáp ứng nhu cầu của cư dân đô thị trong việc tìm
kiếm không gian yên tĩnh và giải trí ngoài trời hơn là liên quan đến thiên
nhiên Du lịch nông thôn bao gồm chuyến thăm các vườn quốc gia và khu vực
công cộng, du lịch di sản trong khu vực nông thôn, các chuyến đi tham quan
danh lam thắng cảnh và thưởng thức cảnh quan nông thôn, và du lịch nông
nghiệp” [8, tr.10]
Như vậy, có thể nói rằng du lịch nông thôn là loại hình du lịch sử dụng
các tài nguyên du lịch như: Sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt văn hóa cư dân địa
phương, làng nghề truyền thống, cảnh quan thiên nhiên phục vụ khách du lịch
được trải nghiệm với đời sống nông thôn tại điểm đến Điều này gắn liền với
hình ảnh một người thành thị hóa thân thành nông dân để tát mương bắt cá, gặt
lúa hay được tự tay tạo nên một sản phẩm truyền thống tại làng nghề, ăn thức
ăn tươi ngon từ các loại rau trái sạch do tự tay mình hái, hít thở không khí trong
lành, được tìm hiểu nền văn hóa nông thôn từ cư dân địa phương… Du lịch
nông thôn giúp gia tăng thu nhập cho địa phương hay nói cách khác, du lịch
nông thôn góp phần mở rộng kinh doanh ở khu vực nông thôn thông qua hoạt
động du lịch
Tuy nhiên, khi du lịch phát triển mạnh sẽ dẫn đến việc khai thác quá mức
nguồn tài nguyên, làm thay đổi về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại
địa phương đó Vì thế, cần phải có một chính sách và giải pháp thích hợp nhằm
bảo vệ môi trường du lịch từ phương diện xã hội và tự nhiên khi phát triển du
lịch nông thôn
2.2 Môi trường du lịch
Theo Phạm Trung Lương, “Theo nghĩa rộng, Môi trường Du lịch là các
nhân tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn trong đó, hoạt động du lịch tồn
tại và phát triển” [4, tr.16]
Theo điều 3, luật Du lịch năm 2017, “Môi trường du lịch là môi trường tự
nhiên, môi trường xã hội nơi diễn ra các hoạt động du lịch”
Du lịch và môi trường (môi trường tự nhiên và xã hội nhân văn) có mối
quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau:
Trang 4374
Xét về mặt tích cực :
- Du lịch góp phần bảo tồn thiên nhiên thông qua việc bảo vệ và qui hoạch các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên phục vụ du khách
- Tăng cường chất lượng môi trường thông qua các chương trình và luật bảo vệ môi trường du lịch
- Tăng cường sự hiểu biết về môi trường đối với cộng đồng địa phương và khách du lịch giúp làm tăng nhận thức về những hậu quả mà họ có thể gây ra cho môi trường
- Bên cạnh đó, khi du lịch phát triển góp phần làm tăng thu nhập, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế… đóng góp GDP góp phần phát triển kinh tế địa phương, vùng và cả nước
- Bảo tồn và khôi phục các di tích lịch sử, khảo cổ đang có nguy cơ bị tàn lụi
- Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu đất nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc… [2, tr.22 – 26]
Môi trường tự nhiên và xã hội nhân văn là đối tượng khai thác trực tiếp của hoạt động du lịch Do đó, khi du lịch phát triển mạnh kéo theo tiêu cực sau :
- Nhu cầu đảm bảo số lượng và chất lượng nguồn nước vì khách du lịch lúc nào cũng sử dụng nước nhiều hơn người dân địa phương Một du khách trung bình ở Barbados tiêu thụ lượng nước gấp 8 lần một người địa phương [2, tr.22] Lượng lớn nước thải ra nếu chưa được xử lý tốt thì sẽ gây ô nhiễm nguồn nước xung quanh các khu du lịch, đe dọa sức khỏe con người và động – thực vật tại địa phương và du khách
- Việc xử lý chất thải rắn không phù hợp sẽ gây ra các hậu quả nghiêm trọng về cảnh quan: thay đổi hướng dòng chảy, biến đổi đường bờ… chất thải
từ các phương tiện vận chuyển du lịch góp phần ô nhiễm không khí… Từ đó sinh ra nhiều loại dịch bệnh do lượng nước – rác - chất thải ra quá nhiều mà chưa được xử lý tốt
- Sự rối loạn kinh tế có thể xảy ra khi hoạt động du lịch chỉ tập trung vào một hoặc vài khu riêng biệt của đất nước hoặc vùng không được ghép nối tương xứng với các vùng khác Dẫn đến sự bùng phát giá đất, hàng hóa, dịch
vụ, gây sức ép tài chính lên cư dân trong vùng; Trong một số trường hợp có thể gây xói mòn bản sắc văn hóa, lòng tự tin do sự vượt trội hơn của bản sắc văn
Trang 5375
hóa ngoại lai du khách mang đến so với nền văn hóa bản địa… [2, tr.26 – 30]
2.3 Bảo vệ môi trường du lịch
Theo Lê Văn Thắng, “Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực Du lịch là các
hoạt động cải thiện và tôn tạo môi trường du lịch, phòng ngừa, khắc phục suy
thoái môi trường, ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường xảy ra trong lĩnh
vực du lịch” [4, tr.16]
Bảo vệ môi trường là vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển của
Việt Nam và cả thế giới trước tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày
càng gay gắt và quan điểm phát triển bền vững là xu hướng hiện nay đang được
quan tâm hàng đầu, trong đó có ngành du lịch Bảo vệ môi trường là tiêu chí
hàng đầu được đặt ra trong việc phát triển du lịch bền vững
Khái niệm du lịch bền vững được hình thành đã mở ra hướng đi mới cho
ngành du lịch nhằm giải quyết tình trạng bế tắc trong việc giải quyết mâu thuẫn
giữa sự phát triển du lịch và bảo vệ môi trường
Theo Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC), 1996 thì : “Du lịch
bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà
vẫn đảm bào khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai” [2,
tr.38]
Bảo vệ môi trường du lịch nhằm phát triển du lịch theo hướng bền vững
cần phải đảm bảo hài hòa ba yếu tố hay còn gọi là ba chân kiềng trong du lịch
bền vững: Kinh tế, xã hội và môi trường Bên cạnh đó, yếu tố quan trọng nhất
là xác định sức chứa du lịch
“Sức chứa du lịch là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả nhất nhu cầu
tối đa của một lượng khách tham quan nhất định, trong giới hạn nguồn tài
nguyên và dịch vụ cho phép tại nơi khách đến Nó được quyết định bởi ba yếu
tố chính đó là: lượng nguồn tài nguyên sẵn có, số lượng khách tham quan và
lượng tài nguyên và dịch vụ mà mỗi cá nhân đó sử dụng”
Xác định được sức chứa du lịch tại một không gian du lịch giúp các cơ
sở cung cấp dịch vụ đảm bảo tối đa hiệu suất, duy trì sự cân bằng giữa nguồn
cung và cầu dịch vụ hàng hóa đáp ứng nhu cầu du khách, tránh tình trạng quá
tải, dẫn đến sự suy giảm chất lượng dịch vụ, dư thừa hoặc thiếu hụt về các
nguồn lực cần huy động, sự xuống cấp về cơ sở hạ tầng, môi trường tại không
gian du lịch đó Có 3 loại sức chứa (C) DL: kinh tế Ckt, xã hội Cxh và sinh thái
Trang 6376
Cst
3 Hiện trạng môi trường du lịch cù lao An Bình tỉnh Vĩnh Long
Tính đến thời điểm hiện nay, Cù lao An Bình có khoảng 25 điểm du lịch nông thôn đang hoạt động kinh doanh du lịch trong lĩnh vực homestay, ăn uống
và vận tải đường thủy du lịch Trong đó, tất cả hộ kinh doanh du lịch đều có đăng ký hồ sơ bảo vệ môi trường và được kiểm tra định kỳ 2 lần/năm Tuy nhiên, vấn đề môi trường tại các điểm du lịch trong khu vực nghiên cứu chưa được quan tâm đúng mức:
- Nguồn điện: Chỉ sử dụng điện lưới của tỉnh Vĩnh Long, một vài điểm du
lịch có sử dụng thêm máy phát điện Tuy nhiên nguồn điện không đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng người dân và hộ kinh doanh Vào thời điểm đông khách nhất như mỗi cuối tuần vẫn xảy ra tình trạng cúp điện, gây khó khăn cho hoạt động
du lịch tại địa phương Hầu như mỗi điểm thực hiện tiết kiệm điện bằng cách sử dụng đèn compact, phòng ngủ phục vụ khách du lịch thường được xây nhiều cửa sổ, lỗ thông gió tạo sự thông thoáng và đón gió thiên nhiên, ghi nhận các chỉ số tiêu thụ điện hàng tháng để theo dõi, quản lý việc tiêu thụ điện, theo dõi tắt các thiết bị điện ở khu vực không có khách
- Nước sạch: Sử dụng từ nhà máy nước Vĩnh Long Tất cả điểm vườn có
nguồn nước máy sử dụng Tuy nhiên, nguồn nước máy không đủ cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của cộng đồng địa phương và khách du lịch, mỗi cuối tuần (thời điểm khách du lịch đông nhất) vẫn xảy ra tình trạng cúp nước Các hộ kinh doanh du lịch xử lý bằng cách dự trữ nước máy trong những chiếc bồn to để nấu thức ăn và sử dụng nước sông hoặc nước đã qua xử lý để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày Việc tiết kiệm nước sạch được đa số các điểm du lịch thực hiện bằng cách: lắp đặt vòi sen trong khu vực nhà tắm, tưới cây vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối, ghi chép và theo dõi việc tiêu thụ nước hằng tháng
- Nước thải: Một vài cơ sở kinh doanh có hầm tự thấm, hầu hết các cơ sở
còn lại nước thải đều được xả thẳng ra ao hồ, sông rạch Một vài điểm du lịch thu hồi sử dụng nước xám: tái chế nước đã sử dụng không bao gồm chất thải của nhà vệ sinh
- Rác thải: Rác thải sau khi thu gom đa số được xử lý bằng 2 cách: đào hố
Trang 7377
chôn và vứt xuống sông Một số điểm du lịch còn lại có sự phân loại rác thải:
chất thiêu hủy được thì đốt, chất thải tự phân hủy thì chôn làm phân bón cho
cây, phần còn lại để bán phế liệu Trong khu vực công cộng dành cho khách du
lịch đa số chưa bố trí số lượng thùng rác thích hợp để du khách tiện bỏ rác vào,
một số điểm có thùng rác hợp vệ sinh chủ yếu được đặt tại nhà vệ sinh và
phòng ngủ nhưng số lượng vẫn chưa đủ đáp ứng cho du khách Tại các điểm
vườn đều chưa có qui định bảo vệ môi trường Theo các thông tin từ các chủ hộ
kinh doanh du lịch Homestay cho biết: Đa số khách du lịch quốc tế (nguồn
khách chính của loại hình du lịch Homestay) đều có ý thức rất cao trong vấn đề
bảo vệ môi trường nên việc xây dựng nội qui môi trường là không cần thiết
Việc giảm thiểu lượng rác thải được thực hiện tại một số các điểm du lịch bằng
cách: mua sản phẩm đóng gói với số lượng lớn nhằm giảm lượng rác thải, tận
dụng các vật dụng cũ: chăn, ga, đệm vỏ bao gối cũ để bán, tái sử dụng vỏ đựng
dầu gội, dầu xả, sữa tắm…
- Tiếng ồn: Tiếng ồn ảnh hưởng đến sự nghỉ ngơi của khách du lịch đặc
biệt là khách du lịch homestay Ở Cù lao, tiếng ồn được phát ra từ các nguồn
sau: các tàu ghe di chuyển trên kênh Đồng Phú – đoạn kênh lưu thông huyết
mạch của cù lao An Bình, sinh hoạt của người dân địa phương, loa phát thanh
địa phương…
- An toàn vệ sinh thực phẩm: Sử dụng nguồn năng lượng từ than (củi hoặc
than đá) và gas Thực phẩm tại các nhà hàng du lịch đều được mua từ chợ Cái
Bè tỉnh Tiền Giang hoặc chợ Vĩnh Long (hàng tự do không có nguồn gốc xuất
xứ rõ ràng) Khu chế biến + khu bếp được bố trí trong cùng một không gian,
100% cơ sở phục vụ ăn uống du lịch đều được cấp giấy chứng nhận vệ sinh an
toàn thực phẩm và các nhân viên làm dịch vụ ăn uống đều được khám sức khỏe
định kỳ 1 năm 1 lần Tính đến nay chưa xảy ra trường hợp khách du lịch bị ngộ
độc thức ăn
- Giao thông vận tải đường thủy du lịch: Có khoảng 150 tàu vận chuyển
du lịch trên tuyến du lịch đường sông tại cù lao An Bình của các đơn vị kinh
doanh vận tải tỉnh Vĩnh Long và huyện Cái Bè (Tiền Giang) Công suất tàu <
40CV hoạt động thường xuyên, sử dụng dầu DO vận chuyển khách du lịch Hầu
hết các phương tiện được thực hiện đăng kiểm tra định kỳ, báo cáo đánh giá tác
động môi trường mỗi năm một lần; thực hiện kiểm soát ô nhiễm định kỳ 6
tháng một lần Cặn dầu từ các phương tiện vận chuyển khách du lịch đều được
xử lý bằng cách đổ thẳng ra sông Hiện nay, các biện pháp tiết kiệm chi phí
Trang 8378
xăng dầu của các phương tiện chưa được áp dụng
4 Phân tích, đánh giá vấn đề phát triển du lịch tại cù lao An Bình theo hướng bền vững (áp dụng Quy trình DPSIR)
4.1 Phân tích Lực điều khiển hoạt động du lịch tại cù lao An Bình theo định hướng phát triển ngành du lịch tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của UBND tỉnh Vĩnh Long [9, tr.137 – 141]
Định hướng phát triển ngành du lịch Vĩnh Long nói riêng và Quy hoạch kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long nói chung đã được thủ tướng chính phủ nước CHXHCNVN phê duyệt theo Quyết định số 195/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 2 năm
2012 đã xác định một số chỉ tiêu như sau:
- Dự kiến ngày lưu trú trung bình: khách quốc tế và khách nội địa sẽ tăng 1,4 ngày năm 2020
- Dự kiến doanh thu du lịch: 2020 là 450 – 500 tỷ đồng;
- Dự kiến số lượng khách du lịch: 2,6 triệu lượt khách năm 2020
4.2 Phân tích Sức ép lên hoạt động du lịch tại cù lao An Bình
Bảng 1: Doanh thu du lịch cù lao An Bình giai đoạn 2013 – 2017
Đơn vị tính : tỷ đồng
Năm 2013 2014 2015 2016 2017 Doanh thu 200 210 220 280 340
Nguồn: Sở VH, TT và DL tỉnh Vĩnh Long
Tốc độ tăng trưởng về doanh thu trung bình hằng năm trong giai đoạn 5 năm từ 2013 – 2017 khoảng 14,5% Trong đó, giai đoạn tăng trưởng cao nhất vào năm 2016 (tăng khoảng 27%)
Theo qui oạch ngành du lịch tỉnh Vĩnh Long, chỉ tiêu dự kiến doanh thu
du lịch năm 2020 khoảng trên 450 – 500 tỷ đồng Như vậy, để đạt mục tiêu đề
ra, đến 2020 tốc độ tăng trưởng trung bình doanh thu ngành du lịch sẽ là 32% -
47%, tăng gấp 2,2 – 3,2 lần tốc độ tăng trưởng trung bình trong 5 năm qua
Trang 9379
C xh = P x r (số du khách)
4.3 Phân tích hiện trạng hoạt động du lịch tại cù lao An Bình
4.3.1 Lượng khách du lịch
Bảng 2 : Lượng khách du lịch đến cù lao An Bình giai đoạn 2013 – 2017
Đơn vị tính: khách
Tổng lượng khách 940.000 950.000 960.000 1.000.000 1.250.000
Nguồn: Sở VH, TT và DL tỉnh Vĩnh Long
Giai đoạn 2013 – 2017 lượng khách tăng trung bình mỗi năm khoảng
7,7%, trong đó tăng cao nhất là năm 2017 (25%) Số lượng khách đến Vĩnh
Long chủ yếu là khách nội địa (chiếm khoảng 70%), khách quốc tế chỉ chiếm số
lượng ít (khoảng 30%)
Khu vực 4 xã cù lao An Bình là nơi thu hút khoảng 90% lượng khách du
lịch trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Khách du lịch đến cù lao An Bình rải rác quanh năm nhưng tập trung
nhiều nhất vào mùa nắng, bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến tháng 5 năm sau
Vào mùa du lịch, lượng khách đến Cù lao khá lớn chiếm khoảng 80% tổng
lượng khách trong năm
4.3.2 Nguồn nhân lực du lịch
Nguồn nhân lực du lịch tại cù lao An Bình nói riêng và tỉnh Vĩnh Long nói
chung hầu như chưa qua đào tạo nghiệp vụ, kinh doanh chủ yếu theo kiểu
truyền thống gia đình Đây là một thách thức rất lớn trong công cuộc phát triển
du lịch tỉnh Vĩnh Long
4.4 Phân tích tác động của hoạt động du lịch tại cù lao An Bình (tính
toán sức chứa du lịch)
❖ Sức chứa xã hội
❖ Trong đó P: dân số địa phương của cù lao An Bình = 42.000 (người)
r: tỷ lệ tối đa số du khách /1 người dân địa phương = 10 (du khách / người dân)
C xh = P x r = 42.000 x 10
= 420.000 (du khách)
Trang 10380
C st max =(A/a) x(T/t) = AT/at
Như vậy, lượng khách du lịch đến cù lao An Bình trong 5 năm qua đều vượt quá sức chứa xã hội từ 2,2 – 2,9 lần
❖ Sức chứa sinh thái
• Xác định Cstmax (người/ngày đêm)
Trong đó: A: là yếu tố sinh thái nhậy cảm nhất (nhỏ nhất)
= diện tích cho sử dụng công cộng tại 25 điểm du lịch cù lao An
Bình = 150.000 m2
a: tiêu chuẩn của yếu tố sinh thái nhạy cảm cho 1 DK theo tiêu chuẩn TCDL VN - 2002
= Diện tích cho nghỉ dưỡng: 30 - 40 m2/người T: thời gian mở cửa điểm DL = 24 giờ
t: thời gian dành cho 1 (1 nhóm) DK sử dụng yếu tố sinh thái nhạy cảm
= số ngày lưu trú trung bình của 1 (1nhóm) DK = 20 giờ
C st max = ( A / a ) x ( T / t ) = AT / at
= ( 150.000 / 40 ) x ( 24 / 20 ) = 4.500 người / ngày đêm = 1.642.500 người / năm
Đối sánh với lượng khách đến cù lao An Bình giai đoạn 2013 – 2017 cho thấy, lượng khách vẫn chưa vượt qua sức chứa sinh thái tối đa tại địa phương
• Sức chứa sinh thái thực tế:
Trong đó: i : bất cứ tham số sinh thái nào gây khó khăn cho hoạt động du lịch
= vấn đề cúp điện, cúp nước (2 ngày / tuần) tại cù lao An Bình
ri : độ giảm bớt = 8 ngày / tháng
C sttt = C stmax x [ 1 - ( r i / R i ) ]