Luận án Tiến sĩ y học này được thực hiện nhằm nghiên cứu thực trạng môi trường lao động, tình trạng viêm mũi dị ứng và đánh giá mối liên quan của 1040 công nhân nhà máy may công nghiệp Hoàng Thị Loan. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
ĐINH VIẾT TUYÊN
THỰC TRẠNG VIÊM MŨI DỊ ỨNG CỦA CÔNG NHÂN DỆT MAY CÔNG NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP
Trang 2Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án này , tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ , tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo , các nhà khoa học , các cán bộ Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ và gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Tập thể Ban lãnh đạo , Phòng đào tạo sau đại học , Bộ môn Dịch tễ học của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tập thể thầy giáo hướng dẫn khoa họcđã hết lòng giúp đỡ , hướng dẫn và động viên cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin gửi lời cám ơn tới tập thể lãnh đạo, đồng nghiệp của Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi , chia sẻ công việc trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cám ơn tới tập thể lãnh đạo, cán bộ, người lao động của Công
ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan , anh chị em cộng tác viên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Sau cùng, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới gia đình , bố mẹ, anh chị em , bạn bè và người vợ yêu quý đã luôn ở bên cạnh động viên , chia sẻ khó khăn cũng như giúp đỡ tôi để hoàn thành luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Đinh Viết Tuyên
Trang 3Tên tôi là Đinh Viết Tuyên, Nghiên cứu sinh khóa 32 chuyên ngành Dịch Tễ Học, Viện vệ sinh dịch tễ trung ương
1 Đây là Luận án do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Lê Minh Kỳ; GS.TSKH Vũ Minh Thục
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực
và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sở nơi nghiên cứu Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Người viết cam đoan
Đinh Viết Tuyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1.THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG, BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 3
1.1.1 Môi trường lao động công nhân dệt may 3
1.1.2 Tình hình bệnh viêm mũi dị ứng 6
1.1.3 Một số yếu tố liên quan đến bệnh viêm mũi dị ứng ở công nhân dệt may 12
1.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG 19
1.2.1 Đặc điểm lâm sàng 19
1.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng 22
1.3 CÁC GIẢI PHÁP DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG DO DỊ NGUYÊN BỤI BÔNG 26
1.3.1 Các giải pháp dự phòng 26
1.3.2 Các giải pháp điều trị viêm mũi dị ứng 32
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 39
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 39
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 40
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 40
2.1.4 Các giai đoạn của nghiên cứu 41
Trang 52.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 42
2.2.3 Nội dung nghiên cứu 45
2.2.4 Biến số, chỉ số nghiên cứu 50
2.2.5 Phương pháp, kỹ thuật thu thập thông tin: 52
2.2.6 Khống chế sai số 61
2.3 QUẢN LÝ, XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 61
2.4 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 61
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62
3.1 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG, BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 62
3.1.1 Môi trường lao động 62
3.1.2 Thực trạng bệnh viêm mũi dị ứng tại Công ty Hoàng Thị Loan 66
3.1.3 Một số yếu tố liên quan đến bệnh viêm mũi dị ứng 72
3.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG VIÊM MŨI DỊ ỨNG 77
3.2.1 Triệu chứng lâm sàng 77
3.2.2 Kết quả cận lâm sàng 79
3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP 82
3.3.1 Hiệu quả lâm sàng 82
3.3.2 Hiệu quả cận lâm sàng 90
Chương 4: BÀN LUẬN 91
4.1 VỀ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG, BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 91
4.1.1 Về thực trạng môi trường lao động 91
4.1.2 Về thực trạng bệnh viêm mũi dị ứng 95
4.1.3 Về một số yếu tố liên quan 97
4.2 VỀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG VIÊM MŨI DỊ ỨNG 106
Trang 64.3 HIỆU QUẢ CAN THIỆP 110
4.3.1 Hiệu quả lâm sàng 110
4.3.2 Hiệu quả cận lâm sàng 120
4.4 MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 123
KẾT LUẬN 124
1 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG, BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG DO DỊ NGUYÊN BỤI BÔNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÔNG NHÂN MAY CÔNG NGHIỆP 124
1.1 Thực trạng môi trường lao động 124
1.2 Thực trạng bệnh viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông và các yếu tố liên quan 124
2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG 125
2.1 Đặc điểm lâm sàng 125
2.2 Đặc điểm cận lâm sàng 125
3 HIỆU QUẢ CAN THIỆP 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7VMDƢNN Viêm mũi dị ứng nghề nghiệp
WHO World Health Organization – Tổ chức y tế thế giơi
Trang 8Bảng 2.1 Biến số, chỉ số nghiên cứu 50
Bảng 2.2 Đánh giá mức phản ứng của test lẩy da 58
Bảng 3.1 Kết quả đo vi khí hậu tại các nhà máy 62
Bảng 3.2 Bụi bông trong môi trường lao động công ty 64
Bảng 3.3 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 66
Bảng 3.4 Tình trạng sử dụng khẩu trang của công nhân 67
Bảng 3.5 Thời gian tiếp xúc trong 1 ngày với bụi tại các phân xưởng của công nhân 67
Bảng 3.6 Tỉ lệ bệnh viêm mũi dị ứng 68
Bảng 3.7 Tỷ lệ công nhân mắc bệnh mũi họng chung 68
Bảng 3.8 Phân bố đối tượng viêm mũi dị ứng từng nhà máy theo giới tính 69
Bảng 3.9 Phân bố đối tượng mắc viêm mũi dị ứng theo lứa tuổi 70
Bảng 3.10 Phân bố đối tượng mắc viêm mũi dị ứng theo tuổi nghề 70
Bảng 3.11 Kiến thức thái độ thực hành về bệnh VMDƯ trong công nhân 71
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa viêm mũi dị ứng và giới tính 72
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa viêm mũi dị ứng và lứa tuổi (n=1040) 72
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa viêm mũi dị ứng và tuổi nghề (n=1040) 73
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tình trạng sử dụng khẩu trang của công nhân và viêm mũi dị ứng (n=1040) 74
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc trong 1 ngày với bụi của công nhân và viêm mũi dị ứng (n=1040) 75
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tiền sử bị hen phế quản và viêm mũi dị ứng (n=1040) 75
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tiền sử nổi dát đỏ và viêm mũi dị ứng (n=1040) 76
Bảng 3.19 Kết quả phân tích đa biến mối liên quan giữa viêm mũi dị ứng và một số yếu tố nguy cơ (n=1040) 76
Bảng 3.20 Mức độ biểu hiện các triệu chứng tại mũi (n=317) 77
Trang 9Bảng 3.23 Tỷ lệ công nhân bị polype mũi (n=317) 79
Bảng 3.24 Kết quả Prick test với dị nguyên bụi bông (n=317) 79
Bảng 3.25 Kết quả xét nghiệm IgE bệnh nhân viêm mũi dị ứng 80
Bảng 3.26 Kết quả xét nghiệm IgG toàn phần bệnh nhân viêm mũi dị ứng 81
Bảng 3.27 Hiệu quả can thiệp về mức độ triệu chứng hắt hơi của 2 nhóm nghiên cứu trước và sau điều trị 83
Bảng 3.28 Hiệu quả can thiệp về mức độ triệu chứng ngứa mũi của 2 nhóm nghiên cứu trước và sau điều trị 84
Bảng 3.29 Hiệu quả can thiệp về mức độ triệu chứng nghẹt tắc mũi của 2 nhóm nghiên cứu trước và sau điều trị 85
Bảng 3.30 Hiệu quả can thiệp về mức độ triệu chứng chảy nước mũi của 2 nhóm nghiên cứu trước và sau điều trị 86
Bảng 3.31 Hiệu quả can thiệp về mức độ triệu chứng mất/giảm ngửi của 2 nhóm nghiên cứu trước và sau điều trị 87
Bảng 3.32 Hiệu quả can thiệp về tình trạng niêm mạc mũi giữa 2 nhóm trước và sau điều trị 88
Bảng 3.33 Hiệu quả can thiệp về tình trạng quá phát cuốn dưới giữa 2 nhóm trước và sau điều trị 89
Bảng 3.34 Nồng độ IgE trước và sau can thiệp 90
Bảng 3.35 Nồng độ IgG trước và sau can thiệp 90
Hình 1.1 Dây chuyền may công nghiệp và các yếu tố nguy hiểm, có hại 4
Hình 1.2 Vai trò của dị nguyên bụi bông trong cơ chế bệnh lý 16
Hình 1.3 Sử dụng bình netti pot 31
Hình 1.4 Máy Súc Rửa Mũi Xoang theo xung nhịp 31
Hình 2.1 Vị trí Công ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan 39
Hình 3.1 Kết quả nồng độ bụi bông tại các nhà máy (mg/m3) 65
Trang 10Hình 3.4 Kết quả Hàm lượng IgG toàn phần 81 Hình 3.5 Kết quả lâm sàng sau can thiệp 82 Hình 4.1 Các yếu tố môi trường và di truyền liên quan đáp ứng IgE với dị nguyên121
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở nước ta ngành công nghiệp dệt may ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Theo số liệu thống kê năm 2001, toàn ngành có 1.031 doanh nghiệp thì đến năm 2017, số lượng doanh nghiệp trong ngành khoảng 8770 doanh nghiệp Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 17%/năm trong giai đoạn từ 1998 đến nay Toàn ngành dệt may Việt Nam thu hút khoảng 2.5 triệu lao động với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2017 đạt xấp xỉ 31 tỷ USD [3][77]
Bên cạnh những thành tựu rất lớn lao trong tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân thì vấn đề ô nhiễm môi sinh, ô nhiễm môi trường lao động tác động tới sức khỏe bệnh tật của người lao động đang là một vấn đề rất được Đảng và Nhà nước quan tâm.Đặc thù của ngành dệt may là sử dụng máy theo dây chuyền công nghệ, mức độ lao động tuy không quá nặng nhọc nhưng
gò bó, đòi hỏi nhịp độ công nghiệp nhanh, Tỷ lệ lao động nữ rất cao, chiếm khoảng 80 – 90% và phần lớn ở độ tuổi 20 – 35 tuổi, thời gian làm việc trung bình trên 8h/ngày, nhiều khi lên tới 10 – 12h/ngày[12][13][29][66]
Đặc thù của loại hình lao động này là môi trường lao động không thuận lợi, thường xuyên phải tiếp xúc với bụi bông trong một thời gian liên tục làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, gây ra một số bệnh nghề nghiệp, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe công nhân như các bệnh dị ứng đường hô hấp: Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp, hen nghề nghiệp, viêm mũi dị ứng Mặc dù các yếu tố bệnh căn của dị ứng rất đa dạng, dị ứng với bụi bông là một lĩnh vực đặc biệt thú vị và có triển vọng trong dị ứng học hiện đại Sự quan tâm tới dị nguyên này không ngừng tăng lên, trước hết do sự mẫn cảm với dị nguyên bụi bông là một trong những nguyên nhân thông thường nhất của các bệnh dị ứng nghề nghiệp (Hen, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, bệnh bụi phổi bông) chiếm tỷ lệ không nhỏ trong bệnh dị ứng chung [16][17][19][21][31][96]
Trang 12Đã có nhiều nghiên cứu khảo sát môi trường lao động và tình hình sức khỏe của công nhân dệt may trong những năm gần đây[16][17][19][22][28][30].Tuy nhiên, các bệnh dị ứng: viêm mũi dị ứng, hen phế quản, viêm kết mạc, mề
đay…đặc biệt là viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông (DNBB) đặc trưng
cho ngành dệt may còn chưa được đánh giá đầy đủ Hơn nữa, chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của việc rửa mũi bằng nước muối sinh lý cũng như xịt mũi bằng Avamys trong việc phòng và điều trị viêm mũi dị ứng do bụi bông
Nghệ An là một trong những thành phố có ngành dệt may phát triển sớm
và tạo một nguồn công việc lớn cho người lao động tại địa phương và các tỉnh lân cận Trong đó, hàng đầu kể đến là Công ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan Đặc thù của ngành dệt may thì nhóm bệnh hô hấp chiếm một tỉ lệ khá cao, tiêu biểu là tình trạng viêm mũi dị ứng Vấn đề nghiên cứu thực trạng bệnh viêm mũi dị ứng và hiệu quả một số giải pháp can thiệp là rất quan trọng
và cấp thiết nhằm bảm đảm tốt nhất về mặt sức khỏe cho người lao động khi làm việc và sinh hoạt tại công ty Từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài:"Thực trạng viêm mũi dị ứng của công nhân dệt may
công nghiệp và hiệu quả một số giải pháp can thiệp"với các mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng môi trường lao động, bệnh viêm mũi dị ứng và một
số yếu tố liên quan đến bệnh của công nhân Công ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan, Nghệ An, năm 2016
2 Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh viêm mũi dị ứng của công nhân Công ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan, năm 2016
3 Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp trong phòng chốngvà điều trị bệnh viêm mũi dị ứng của công nhân Công ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan
Từ đó đề xuất áp dụng các giải pháp can thiệp nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe người lao động một cách khả thi và có cơ sở khoa học
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG, BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
1.1.1 Môi trường lao động công nhân dệt may
- Mô tả dây chuyền cung bông và chải dệt [41]
Từ bông kiện Phá kiện bông Xé tay Đưa vào máy xé trộn
Đưa sang xé 6 trục (Đánh tơi bông với tốc độ cao để tạp rơi ra ngoài) Đưa
về hòm tổng chuyển ra 2 đầu cân cuộn thành quả bông cấp cho máy chải
Đánh xé bông với tốc độ cao Cuộn thành cúi thô Đưa vào máy ghép Ghép 5,6 cúi (tăng độ săn của sợi thô) Ra máy thô (ghép 3,4 sợi
để tiếp tục tăng độ săn) Máy xe sợi con Máy ống (đánh thành quả sợi to) Buồng chuẩn bị dệt Sâu go Máy mắc Máy hồ Máy dệt
- Qui trình may công nghiệp [45]:
+ Công đoạn may chiếm một vị trí rất quan trọng trong quá trình sản
xuất Nhiệm vụ chính của công đoạn này là từ nhiều chi tiết bán thành phẩm lắp ráp thành sản phẩm duy nhất (sản phẩm hoàn thiện) Lực lượng lao động trực tiếp ngồi may chiếm khoảng 80% số lượng lao động trong xưởng Máy móc sử dụng chính trong công đoạn này chủ yếu là máy may 1 kim, 2 kim, máy vắt sổ, máy thùa khuy, đính bọ… Các máy móc đều là thiết bị bán tự động và chạy bằng điện, NLĐ chỉ cần đạp bàn đạp và giữ nguyên bàn đạp được gắn với máy may thì máy may sẽ chạy tự động, và khi nhả bàn đạp thì máy may sẽ dừng hoạt động
+ Đặc điểm của may công nghiệp theo dây chuyền là mỗi công nhân trong một dây chuyền sẽ thực hiện một công đoạn may các chi tiết và lắp ghép các chi tiết để đến khi hoàn thành sản phẩm ở cuối dây chuyền Người công nhân may ở đầu dây chuyền khi thực hiện xong chi tiết của sản phẩm sẽ
Trang 14chuyển cho người may công đoạn tiếp theo, mỗi công đoạn, vị trí trong chuyền được phân công công việc cụ thể cho NLĐ để chuyên môn hóa Cuối chuyền sẽ có bàn kiểm tra sản phẩm nếu phát hiện sản phẩm có lỗi, sai sót ở
công đoạn nào thì sẽ chuyển lại cho người ở công đoạn đó thực hiện sửa lại
- Các yếu tố nguy hiểm, có hại xuất hiện trong qui trình sản xuất:
Hình 1.1 Dây chuyền may công nghiệp và các yếu tố nguy hiểm, có hại
Các công đoạn và khu vực trong dây chuyền may công nghiệp phát sinh các yếu tố có hại chủ yếu như bụi, ồn, nhiệt, thiếu sáng hoặc chói lóa có nguy
- Bụi, ồn
- Nguy cơ tai nạn lao động chấn thương
- Nhiệt độ,
- Nguy cơ tai nạn lao động và mắc bệnh
do các tác hại nghề nghiệp, ecgônômi
Trang 15cơ gây ảnh hưởng sức khỏe NLĐ và mắc bệnh do nghề nghiệp, tập trung ở cắt, may, là hơi
Một số đặc trưng chủ yếu của may công nghiệp phát sinh những yếu tố nguy hiểm, có hại chính như sau:
Vi khí hậu:do điều kiện nhà xưởng may công nghiệp của các công ty có
qui mô lớn thường thiết kế rộng và lớn để sắp xếp từ 300-500 lao động tương
ứng với 10-12 dây chuyền (mỗi dây chuyền có từ 30-40 bàn may), có nơi còn
bố trí lên tới 600-700 lao động trong một xưởng may Do thiết kế nhà xưởng rộng và dài nên dẫn đến các hệ thống thông hút gió hoạt động không hiệu quả,
do vậy tốc độ lưu chuyển không khí trong xưởng sẽ kém, gây ngột ngạt, khó thở và ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ [17][42] Ở các nhà xưởng may chỉ lắp đặt hệ thống thông gió tự nhiên thì có khoảng 50% vị trí lao động có nhiệt độ vượt TCVSLĐ, còn nhà xưởng lắp đặt hệ thống giàn mát bằng hơi nước thì con số này giảm còn khoảng 21%, nhà xưởng lắp đặt hệ thống điều hòa thì tỷ
lệ này là bằng 0… Các yếu tố như bụi, ồn phát sinh trong hoạt động sản xuất
may công nghiệp thì hầu hết là đảm bảo TCVSLĐ
Bụi: đối với may công nghiệp, loại bụi đặc trưng là bụi bông có lẫn tạp
chất đọng trên vải phát sinh trong quá trình sản xuất Bụi phát sinh trong quá trình sản xuất có thể ảnh hưởng rất nhiều đến cơ quan hô hấp của NLĐ, dễ gây nên các bệnh như Viêm mũi dị ứng, Hen phế quản, Bệnh phổi bụi bông[74] Qua một số kết quả nghiên cứu trước đây đánh giá chung về môi trường lao động may công nghiêp cơ bản như sau: kết quả đánh giá chung về môi trường may công nghiệp 2 miền Bắc Nam ở thời điểm năm 2001 cho thấy nhiệt độ trong các xưởng may cao hơn TCVSLĐ và cao hơn nhiệt độ ngoài trời từ 1,2 đến 2,60C, độ ẩm thường đạt TCVSLĐ; đối với bụi và tiếng ồn thì
ở tất cả các vị trí trong dây chuyền may hầu hết là đạt và nằm trong giới hạn TCVSLĐ Tác giả Nguyễn Thế Công cũng cho biết kết quả nghiên cứu môi trường lao động trong xưởng may công nghiệp ở năm 2002 thấy tốc độ gió nhiều vị trí làm việc tuy đạt TCVSLĐ nhưng chỉ dao động từ 0,55-
Trang 160,62m/s.Nguyễn Thị Bích Liên (2003) [Trích dẫn từ 21], khi nghiên cứu về môi trường lao động và sức khỏe của công nhân Công Ty Dệt 8/3, đã cho kết quả: Tại một số khu như khu máy cung bông, khu máy kéo sợi thụ nhiệt độ cao hơn bên ngoài từ 2-5 độ, trong những ngày nóng, nhiệt độ trong những nơi này có thể lên tới 37- 40 độ Tốc độ gió tại hầu hết các điểm sản xuất được nghiên cứu đều thấp hơn Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, những yếu tố này đều có ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân Tuy nhiên, theo đánh giá môi trường lao động và ĐKLĐ trong ngành may ở khu vực phía Bắc, kết quả quan trắc vào thời điểm năm 2007 cho thấy nhiệt độ trong các công ty may dao động từ 28-320C, đối với môi trường lao động may công nghiệp có nhiều bụi nhẹ, nếu độ ẩm quá thấp sẽ giảm khả năng kết dính của bụi, bụi dễ dàng phát tán trong không khí Theo kết quả nghiên cứu về ĐKLĐ, môi trường lao động
cụ thể tại một nhà máy may công nghiệp thuộc Công ty Dệt May Hà Nội (2005) cho thấy nhiệt độ trong xưởng từ 29,7-31,00C đạt và thấp hơn TCVSLĐ (do nhà xưởng lắp đặt hệ thống giàn mát), nồng độ bụi hô hấp dao động từ 0,01-0,03mg/m3, và nồng độ bụi toàn phần chỉ từ 0,2-0,35 mg/m3(các loại bụi đo được đều đạt và thấp hơn TCVSLĐ) Nghiên cứu, đánh giá môi trường lao động tại Công ty May Đồng Nai (2007) cũng cho thấy tại một
số vị trí sản suất trong xưởng may có một số yếu tố có hại trong môi trường lao động chưa đạt TCVSLĐ như: nhiệt độ, tốc độ gió, cường độ chiếu sáng, cường
Trang 171.1.2.2 Dịch tễ học bệnh viêm mũi dị ứng
VMDƯ là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại viêm mũi, nó cũng là một trong những dạng dị ứng phổ biến nhất trong các rối loạn về dị ứng Ở Việt Nam, theo nhiều nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ VMDƯ chiếm từ 10 -18% dân số Ở Nhật, thường xuyên có 20% dân số bị mắc chứng VMDƯ [41][83] Với tỷ lệ mắc bệnh cao, dịch tễ học của VMDƯ đang được quan tâm rất nhiều Song sự nắm bắt về dịch tễ học của VMDƯ trên thực tế rất rời rạc vì những thông tin chăm sóc sức khoẻ ban đầu đều khó tìm và ít nhiều đều bị thiếu hụt Trong khi đó, những nghiên cứu rộng rãi ở cộng đồng đôi khi do nhiều lý do, đã không làm test dị ứng Vì vậy, việc chẩn đoán phân biệt VMDƯ và viêm mũi không dị ứng thường khó
* Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong mấy thập kỷ gần đây, những nghiên cứu trong cộng đồng ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của VMDƯ nói riêng và bệnh dị ứng hô hấp nói chung Theo Kim BK và cộng sự (2014) điều tra tại Hàn Quốc cho thấy tỷ lệ VMDƯ là 13,3% và ngày càng tăng ở trẻ em [81] Ngoài ra, tuy số liệu không đủ song người ta cũng thấy được tỷ lệ VMDƯ ngày một tăng dần ở các nước đang phát triển và công nghiệp hóa [26][32] Ở một số nước châu Á như Hồng Kông, Trung quốc có một số nghiên cứu đưa
ra tỷ lệ VMDƯ vào khoảng 40% [39][90][111][119]
Các quốc gia có tỷ lệ mắc VMDƯ thấp như: Indonexia, Anbani, Romani, Georgia và Hy Lạp Trong khi đó các nước có tỷ lệ rất cao là Australi a, New Zealan và Vương quốc Anh Những năm 90 của thế kỷ XX, theo điều tra quốc gia cho thấy VMDƯ ở người lớn chiếm 25,9 % tại Pháp và 29% tại Vương quốc Anh trong đó viêm mũi mạn tính ở người lớn phổ biến hơn ở trẻ em [26] Năm 2006 - 2007, Masafumi Sakashita và cộng sự đã nghiên cứu VMDƯ ở Nhật Bản đã chỉ ra tỷ lệ VMDƯ ở người trưởng thành (20 - 49 tuổi)
là 44,2% và không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi [90] Tại Trung quốc,
Trang 18nghiên cứu Su N, Lin J và cộng sự trên 47216 người tại 18 thành phố thông qua phỏng vấn cho thấy tỷ lệ viêm mũi dị ứng là 17,6% [111]
* Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Là một đất nước nhiệt đới, tỉ lệ bệnh nhân bị VMDƯ quanh năm ở Việt Nam khá cao Ô nhiễm môi trường và sự xuất hiện của những dị nguyên mới đóng vai trò tác nhân quan trọng Dù chưa có số liệu thống kê
cụ thể nhưng VMDƯ có xu hướng ngày càng tăng cao tại thành phố và
phát triển nhanh trong những năm gần đây
Ở Việt Nam từ năm 1969, VMDƯ đã được đề cập đến trong chẩn đoán
và điều trị Tuy nhiên thời kỳ này, chủ yếu dừng ở mức độ chẩn đoán lâm sàng và điều trị triệu chứng Những năm sau đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu về VMDƯ của các tác giả Nguyễn Năng An, Nguyễn Văn Hướng
Vũ Minh Thục, Phan Quang Đoàn, Phạm Văn Thức, Trịnh Mạnh Hùng đã góp phần làm rõ thêm về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, đưa ra các phương pháp chẩn đoán và MDĐH [2][19][20][24][25][26][27][34]
Khoảng 20% dân số trên toàn cầu đang chịu ảnh hưởng của căn bệnh VMDƯ Ở Việt Nam tỉ lệ mắc căn bệnh này ở mức cao với khoảng 12,3 - 18% dân số và đang có xu hướng gia tăng bởi ô nhiễm môi trường, chuyển mùa cộng với sự xuất hiện những kháng nguyên lạ
Viêm mũi dị ứng bắt nguồn từ những nguyên nhân di truyền, dị ứng với các dị nguyên là phấn hoa, mùi vị, bụi, nấm, hóa chất, lông thú hay lệch lạc cấu trúc vách ngăn mũi Khi tiếp xúc với các dị nguyên, cơ thể sẽ giải phóng histamin gây viêm và tiết dịch ở niêm mạc hốc mũi, khoang họng, kết mạc mắt gây ra các triệu chứng dị ứng như ngứa mũi, hắt hơi liên tục Bệnh không nghiêm trọng đến tính mạng nhưng theo các chuyên gia tai mũi họng, bệnh gây ra rất nhiều phiền toái, ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ, giấc ngủ, học hành, công việc của người bệnh Nó cũng là một trong số các nguyên nhân chính dẫn đến viêm xoang mạn tính [10]
Trang 19Theo Võ Thanh Quang (2011): Lượng bệnh nhân VMDƯ đến khám tại Bệnh viện Tai Mũi Họng T.Ư ngày càng gia tăng và mức độ của bệnh ngày càng khó kiểm soát hơn [Trích dẫn từ 26] Phan Dư Lê Lợi (2011) cho biết, ngoài tình trạng ô nhiễm không khí do khói bụi khiến VMDƯ, lượng bệnh nhân bị căn bệnh này đến khám gia tăng vào những thời điểm thời tiết chuyển mùa với những thay đổi thất thường Cũng theo Phan Dư Lê Lợi (2011): triệu chứng rõ ràng nhất của viêm mũi dị ứng là ngứa mũi, hắt hơi thành tràng dài, không thể kiểm soát được [Trích dẫn từ 39] Khi hắt hơi nhiều thì sẽ kéo theo cảm giác đau đầu do các cơ phải co thắt Nghiên cứu của tác giả Vũ Trung Kiên (2013) cho thấy tỷ lệ học sinh viêm mũi dị ứng tại Hải Phòng và Thái Bình 24% và 23% [26]
1.1.2.3 Viêm mũi dị ứng nghề nghiệp
Viêm mũi dị ứng nghề nghiệp là bệnh thường gặp trong các bệnh lý hô hấp do nghề nghiệp (chiếm 10 - 15% bệnh lý đường hô hấp trên) [55][60] Tần suất mắc bệnh thay đổi theo tính chất gây bệnh, điều kiện làm việc
và phương pháp điều tra
* Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Slavomír Perečinský và cộng sự (2014) nghiên cứu kéo dài 5 năm cho thấy viêm mũi dị ứng là bệnh nghề nghiệp hay gặp nhất trong các nghành công nghiệp sau: thực phẩm, dệt may và nông nghiệp [108] Tần suất mắc bệnh còn phụ thuộc vào nồng độ bụi trong không khí Khi nồng độ bụi từ 1 -
2 mg/m3 có thể gặp dưới 5% số công nhân mắc bệnh hen phế quản nghề nghiệp Nếu nồng độ bụi giảm hơn (0,7 mg/m3) có thể gặp dưới 1% số công nhân mắc bệnh Theo Schilling, tần suất mắc bệnh có thể tới 89% công nhân nếu nồng độ bụi là 6 mg/m3
[31]
Chaari và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 600 công nhân học việc trong ngành dệt may tại khu vực Monastir, Pháp năm 2009 đã cho thấy 120 công nhân học việc (20%) có phản ứng dị ứng khi tiếp xúc với bông trong
Trang 20thời gian học nghề [60] Các biểu hiện thường gặp nhất là viêm kết mạc (14,3%) và viêm mũi dị ứng (8,5%) Ngoài ra, có 28 người (4,6%) có các triệu chứng của bệnh hen xuyễn Có tới 45% các học viên mắc hen phế quản
có viêm mũi dị ứng Chaari cũng thấy rằng các triệu chứng dị ứng phát triển dần theo thời gian học nghề, cường độ tiếp xúc với bụi bông [60]
Cũng theo Chaari, một nghiên cứu tổng hợp năm 2011 dựa trên 21 nghiên cứu trước đó cho thấy, tỷ lệ viêm mũi dị ứng trong công nhân có liên quan tới nghề nghiệp là 9-15% và tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản nghề nghiệp
trong ngành dệt may ước khoảng 8% [59]
Nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy công nhân dệt may thường bị nhiều các chứng bệnh đặc thù so với các ngành, nghề khác Nafees AA và cộng sự (2013)cho thấy công nhân dệt may dễ bị các bệnh lý đường hô hấp như bệnh phổi bụi bông, ho kéo dài [94] Nghiên cứu của các tác giả khác như Ozkurt S và cộng sự (2012); Minov J và cộng sự (2006); Mberikunshe J và cộng sự (2010) cũng cho kết quả tương tự Các giả giải thích là nguyên nhân do nồng độ bụi cao và lao động gò bó thường xuyên tạo
ra các stress nghề nghiệp và bệnh lý nghề nghiệp Nghiên cứu của Chaari N
và cộng sự (2011) cho thấy có sự gia tăng VMDƯ và HPQ ở công nhân dệt may [59] Nghiên cứu của Antoine Vikkey Hinson và cộng sự (2016) cho thấy có 36,9% công nhân may ở Benin bị bệnh đường hô hấp, 44,1% bị Byssinosis, ngoài ra còn bị các bệnh mũi họng như : Viêm mũi xoang, viêm mũi dị ứng, hen phế quản [52] Nghiên cứu của Fartema Tania và cộng sự (2014) ở Bangladesh cũng cho thấy viêm mũi dị ứng là bệnh thường gặp ở công nhân dệt may [70]
Tương tự như thế, tại Thái Lan, nghiên cứu của Chumchai P (2015) và Silpasuwan P (2016) cho thấy các triệu chứng dị ứng đường hô hấp tăng cao ở các công nhân dệt may [64][107] Vì vậy cần có chương trình hỗ trợ phòng chống bệnh dị ứng do bụi bông ở công nhân nghành dệt may [64]
Trang 21* Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trước đây, ở nước ta công nghệ kéo sợi còn rất lạc hậu vì vậy điều kiện lao động rất xấu, tình trạng bụi vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) lên tới hàng chục, hàng trăm lần, càng ở đầu dây chuyền nồng độ bụi càng cao, nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp càng lớn [27][31][45] Hiện nay
do chính sách mở cửa của nhà nước nên dây chuyền công nghệ đã được cải thiện và đầu tư nhiều Qua khảo sát thấy kết quả nồng độ bụi giảm rất nhiều Nồng độ bụi trọng lượng tại các vị trí đều thấp hơn TCVSCP Nghiên cứu của Bùi Thị Tuyết Mai (1983) cho thấy hàm lượng bụi tổng hợp đo đạc được là 12mg/m3 không khí Nghiên cứu của Nguyễn Huy Đản (1988) cho thấy hàm lượng bụi môi trường lao động thường là dao động từ 2,2 đến 56 mg/m3
[27] Nồng độ bụi cao nên nguy cơ gây bệnh phổi bụi bông, hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp luôn hiện hữu Nguy cơ dị ứng với bụi bông là rất cao Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huy Đản, Bùi Thị Tuyết Mai năm 1983 là 15,9% và theo nghiên cứu của Vũ Văn Sản, Vũ Minh Thục, Phạm Văn Thức năm 2002 tỷ lệ viêm mũi dị ứng nghề nghiệp do bụi bông là 32,5% [31] Nghiên cứu của Nguyễn Đình Dũng và cộng sự năm 2005 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh phổi bụi bông là 12,5% vã các
bệnh dị ứng mạn tính là 34% [17]
Cũng theo tác giả Nguyễn Đình Dũng, khi nghiên cứu trên 403 công nhân tiếp xúc với bụi bông cho thấy số lượng mẫu bụi vượt TCVSCP chiếm 7,1%, sức khoẻ công nhân tại dây chuyền sợi loại I, II, III chiếm 96,77% Tuổi đời công nhân rất trẻ, chủ yếu từ 30-39 (tỷ lệ 54,1%), tuổi nghề từ 11-20 năm (tỷ lệ 60,6%) Tỷ lệ bệnh bụi phổi bông giai đoạn I: 24,8% (tăng theo tuổi nghề), giai đoạn II: 13,6%, giai đoạn III: 5,4% (trong đó 3,23% có hồi phục, 2,23% không hồi phục) Tỷ lệ bệnh viêm phế quản mạn tính ở công nhân phân theo các giai đoạn: giai đoạn I: 31,7%, giai đoạn II: 10,7%, tỷ lệ giảm từ đầu đến cuối dây chuyền [17]
Trang 22Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình tại ba làng nghề Đa Hội, Minh Khai và Phong Khê thì các bệnh về hô hấp, tai mũi họng, da liễu và thần kinh
là phổ biến nhất Tuỳ theo từng loại hình lao động với các yếu tố độc hại khác nhau mà sức khoẻ của người lao động tại các nhà máy bị ảnh hưởng khác nhau Bệnh về đường hô hấp chiếm 44,4%, bệnh da liễu 13,15% trong tổng số người được điều tra (năm 1999) Tình hình bệnh tật ở nhóm người lao động trực tiếp có tỷ lệ mắc cao hơn so với các nhóm khác Chủ yếu là dị ứng 20%,
hô hấp 18,57% và các bệnh còn lại có tỷ lệ 1,5%-3,5% [41]
Tóm lại, viêm mũi dị ứng nghề nghiệp vẫn được nhiều tác giả thừa nhận
là có tỷ lệ mắc cao hơn và cũng dễ chẩn đoán hơn so với VMDƯ do nguyên nhân khác Theo một số tác giả, lý do trước hết là do sự tập trung, ổn định của đối tượng nghiên cứu, sự khu trú của môi trường lao động và sau đó là sự bộc
lộ rõ rệt của nguồn dị nguyên gây bệnh [2][19][41]
1.1.3 Một số yếu tố liên quan đến bệnh viêm mũi dị ứng ở công nhân dệt may
1.1.3.1 Dị nguyên bụi bông trong bệnh dị ứng
1.1.3.1.1 Vai trò của dị nguyên bụi bông trong bệnh dị ứng
Dị ứng do bụi bông là một đề tài đáng được chú ý ở Việt Nam do sự phát triển của ngành dệt may, số lượng công nhân dệt may ngày một tăng, sợi bông lại là nguyên liệu chủ yếu Sợi bông ở dạng nguyên liệu thô, là những chất liệu nhỏ như sợi tơ, được hình thành trong quá trình phát triển của quả bông trên cây bông Bản chất của sợi bông này chỉ đơn thuần là cellulose, nhưng trong quá trình phát triển, môi trường sinh học tổng hợp trong quả bông và môi trường ô nhiễm ở bên ngoài mà quả bông tiếp xúc khi mở ra đã làm tính chất sợi bông không còn thuần khiết như vậy Trong quá trình sản xuất, bụi bông được sinh ra với một lượng khá lớn, là nguyên nhân gây bệnh viêm mũi
dị ứng, hen phế quản, bệnh phổi bụi bông cho những công nhân phải tiếp xúc hàng ngày với chúng [76][78]
Trang 23Bụi bông thực ra không phải đơn giản chỉ là một chất, mà là sự pha trộn tổng hợp của nhiều chất Đa số trong đó là những chất có hoạt tính sinh học Điều này được phản ánh tại Hiệp hội Y tế và an toàn lao động ở Mỹ (The U.S
OSHA) với định nghĩa bụi bông là ‘Bụi xuất hiện trong không khí trong quá
trình gia công, điều chế bông Bụi này có thể chứa một hỗn hợp nhiều chất, bao gồm cả bụi đất, sợi, mảnh thực vật khác, vi khuẩn, nấm mốc, các chất bẩn và các thành phần khác nhau, được tích luỹ trong quá trình gieo trồng, chăm bón, thu hoạch, lưu kho hoặc chế biến tiếp theo’
Ngay từ 1937 các tác giả nghiên cứu về vấn đề này đã cho rằng trong bụi bông có yếu tố làm giải phóng histamin ở phổi Năm 1920, Bouhyys đã khí dung bụi bông cho bệnh nhân và phát hiện có sự giải phóng histamine [39].Evaro và Nicholls (1974) bằng phương pháp sắc ký trên giấy đã tìm thấy trong DNBB 3 phân đoạn đều có bản chất là glycoprotein
Sự đánh giá hoạt tính kháng nguyên của dịch chiết bông cho thấy trong bụi bông có một số thành phần dị nguyên và một số trong đó có nguồn gốc nấm Sử dụng kháng huyết thanh thỏ trong điện dị miễn dịch chéo có thể khẳng định rằng kháng huyết thanh kháng lại dịch chiết nước của bụi bông không phản ứng với dịch chiết của đế hoa, lá, bao tươi và khô Thành phần có hoạt tính dị nguyên từ lá bao cây bông chịu được nhiệt, không mất hoạt tính trong môi trường axit hoặc kiềm, không tách ra được bằng nhựa trao đổi ion, không chưng cất được bằng hơi nước và không chiết xuất được bằng ete Nó hấp thụ tốt than hoạt tính và hoà tan tốt trong nước Như vậy, bụi bông có đặc tính
DN và là nguyên nhân của các hội chứng và bệnh dị ứng: “sốt nhà máy”,
“chứng ho của thợ dệt”, “phổi bụi bông”, hen phế quản, viêm mũi dị ứng, mày đay, mẩn ngứa [41]
Tùy theo kích thước, bụi bông được chia thành 3 loại: bụi trung bình đường kính <2, Bụi thô đường kính từ 2m đến 7m và Bụi lớn > 7m.Chỉ có
bụi thô và bụi trung bình là gây ra bệnh, còn bụi > 7m không gây bệnh Nồng độ
Trang 24của bụi trong không khí cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh Nồng độ bụi càng cao, tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp cũng như VMDƯ càng tăng
Khả năng gây mẫn cảm của DNBB đã được xác nhận từ lâu, vai trò của DNBB trong chẩn đoán và điều trị bệnh dị ứng đã được công nhận ở nhiều nước cùng với sự ra đời của các chế phẩm thương mại của nó Ở Việt Nam, DNBB do Khoa Miễn dịch – Dị nguyên, Viện Tai Mũi Họng Trung ương sản xuất được sử dụng để làm các test chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân dị ứng bằng phương pháp điều trị MDĐH tại Khoa Dị ứng lâm sàng- Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, Khoa Dị ứng - Miễn dịch- Bệnh viện Bạch Mai, Bộ môn Dị ứng- Đại học Y Hà Nội, Đại học Y Hải Phòng, Khoa Miễn dịch – Dị ứng - Viện Y học Biển [39][41]
Điều tra của R.G Love T.A Smith trong 2153 công nhân dệt ở 15 phân xưởng tại Anh thấy VMDƯ là 18%, thở khò khè 31% Một nghiên cứu ở ấn
Độ trong số 929 công nhân dệt, các tác giả J.R Parikh, L.J Bhagia, P.K Majumdar, đã đưa ra tỷ lệ mắc bệnh bụi bông phổi ở phân xưởng sấy là 29,6% và phân xưởng chải là 37,8% [41] Nghiên cứu trong nước của các tác giả Phan Quang Đoàn, Vũ Minh Thục và Nguyễn Thị Vân ở nhà máy Dệt 8-3
Hà Nội thấy tỷ lệ mắc VMDƯ đạt đến 31,02% [19] Tại Hải Phòng, khi điều tra ở các công ty dệt, các tác giả Vũ Văn Sản, Vũ Minh Thục, Phạm Văn Thức và các cộng sự cũng thấy có đến 36% mắc VMDƯ [31] Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khác trên thế giới và trong nước của Vũ Minh Thục, Vũ văn Sản, Phạm Văn Thức và một số tác giả khác về sự biến đổi miễn dịch ở những bệnh nhân VMDƯ do DNBB là công nhân dệt bông và vải sợi cũng khẳng định được đặc tính kháng nguyên rất cao của bụi bông [41]
1.1.3.1.2 Cơ chế bệnh sinh Viêm mũi dị ứng do bụi bông[1][39][80][85]
+ Giai đoạn mẫn cảm: DN bụi bông lần đầu tiên xâm nhập vào cơ thể
mẫn cảm tạo ra các kháng thể IgE đặc hiệu với DN bụi bông Giai đoạn này chưa có biểu hiện triệu chứng lâm sàng
Trang 25+ Giai đoạn tức thì: xảy ra trong 10 – 15 phút khi cơ thể tiếp xúc lại với
DN bụi bông đã gây mẫn cảm Các triệu chứng như hen, ngạt mũi là do kết quả gắn kết giữa IgE và DN bụi bông làm hoạt hóa tế bào mast ở niêm mạc mũi Các chất trung gian hóa học giải phóng ra từ các hạt trong tế bào như histamin, tryptaza Các chất trung gian mới hình thành có nguồn gốc từ màng
tế bào như leucotrien, prostaglandin Các chất trung gian có nguồn gốc lipit như yếu tố hoạt hóa tiểu cầu cũng xuất hiện Đặc tính sinh học của tất cả các chất này là gây giãn mạch, tăng tính thấm thành mạch dẫn đến phù nề, ngạt mũi Các tuyến nhầy mũi tăng tiết Các dây thần kinh hướng tâm bị kích thích làm ngứa mũi, hắt hơi Các chất trung gian, đặc biệt là histamin, kích thích sợi thần kinh hướng tâm và sợi trục giải phóng các nơropeptit tại chỗ (chất P và tachykinin) Những chất này lại kích thích tế bào mast thoát hạt Ngoài ra, DN bụi bông làm lympho bào T (CD4+Th0) hoạt hóa thành lympho T (CD4+Th2)
+ Giai đoạn muộn: xảy ra từ 2 – 48 giờ Đáp ứng tế bào chiếm ưu thế do
sự tương tác giữa các tế bào dưới ảnh hưởng của các cytokin Tính chất đặc trưng của HPQ, VMDƯ là sự tích tụ tại chỗ các tế bào viêm như lympho TCD4, eosinophil, basophil, neutrophil Trong đó, eosinophil giải phóng ra một lượng rất lớn các protein cơ bản gây độc tế bào biểu mô đường hô hấp và
sự có mặt của các ion kích thích tế bào mast thoát hạt
Tất cả các biểu hiện trên đều do các cytokin điều biến Ngoài các tế bào lympho T, cytokin còn được tiết ra từ các tế bào mast, basophil, đại thực bào
và tế bào biểu mô IL-4 kích thích lympho B tăng sản xuất IgE, tăng bộc lộ các phân tử kết dính (ICAM) ở thành mạch để thu hút các eosinophil đến mô
tổ chức, chuyển lympho Th0 thành lympho Th2, bộc lộ các thụ thể IgE có ái lực thấp (CD23), ức chế tạo thành IFN, kích thích các tế bào mono biệt hóa thành tế bào trình diện kháng nguyên IL-13 kích thích lympho B sản xuất IgE, bộc lộ thụ thể IgE có ái lực thấp CD23), hoạt hóa tế bào nội mô bộc lộ
Trang 26phân tử kết dính để thu hút các tế bào viêm tới tổ chức IL-5 có đặc tính chọn lọc đối với eosinophil, bao gồm kích thích biệt hóa và trưởng thành của các eosinophil từ tủy xương, hoạt hóa các eosinophil và làm tăng thời gian sống của nó ở tổ chức
Hình 1.2 Vai trò của dị nguyên bụi bông trong cơ chế bệnh lý
1.1.3.2.Các yếu tố ảnh khác liên quan đến Viêm mũi dị ứng ở công nhân dệt may
Giới tính: do đặc thù của ngành dệt may, có những công đoạn đòi hỏi phải có
sự khéo léo, tỉ mỉ, vì vậy mà lượng công nhân là nữ giới chiếm tỉ lệ cao hơn Tuy nhiên, nữ giới lại là nhóm người lao động có tình trạng thể lực chung yếu hơn nam giới, dễ bị cảm nhiễm với các yếu tố tác động từ bên ngoài Vì vậy, các nghiên cứu mô hình bệnh tật ở công nhân dệt may đều cho thấy nữ công nhân có tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp (VMDƯ, HPQ, bệnh phổi bụi bông) cao hơn nam giới [17][21][70]
Tuổi đời, tuổi nghề: Tuổi đời của công nhân thường gắn liền với kinh
nghiệm nghề nghiệp và là vấn đề có liên quan đến khả năng lao động Khi tuổi đời và tuổi nghề càng cao, thời gian tiếp xúc với các yếu tố có hại từ môi trường lao động kéo dài, tỷ lệ công nhân mắc các bệnh đường hô hấp tăng lên Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thi Thúy Hà (2015) cho thấy có mối liên quan giữa suy giảm chức năng hô hấp và tuổi nghề (p<0,05) Tương tự như vậy,
Trang 27nghiên cứu của các tác giả khác về bụi bông như Phan Quang Đoàn và cộng
sự (1999), Vũ Văn Sản (2002), Nguyễn Đình Dũng (2005), Vũ Minh Thục (2006) cũng đều cho thấy có mối liên quan giữa tỷ lệ mắc VMDƯ và tuổi đời,
tuổi nghề của công nhân dệt may [19][31][17][39]
Vi khí hậu: lao động của ngành dệt may nhìn chung là loại lao động có
nhiều yếu tố bất lợi cho sức khỏe Theo kết quả nghiên cứu của Satalop, Artamonova, Izmerop (1985-1995) cho thấy có tới 23,8% công nhân ngành sợi có sự gia tăng các bệnh thường gặp ở hô hấp và mũi họng so với cộng đồng, 6,3 -8,4% người lao động bị các ảnh hưởng của hóa chất mạn hoặc cấp tính [16] Người lao động ngành dệt thường phải tiếp xúc với môi trường vi khí hậu xấu đặc biệt là nhiệt độ cao và độ ẩm cao Thông thường ở các nước Châu Âu về mùa đông độ ẩm thường dưới 50%, trong khi ở các phân xưởng dệt, nhuộm độ ẩm luôn luôn ở mức trên 90% Do vậy sự gia tăng độ ẩm trong môi trường lao động sẽ là tác hại rất lớn đối với các tế bào niêm mạc ở mũi họng và hô hấp thậm chí toàn bộ da của người lao động cũng dễ bị tổn thương Ở các nước khu vực nhiệt đới, sự kết hợp với độ ẩm cao cũng là trở ngại rất lớn cho quá trình điều nhiệt của cơ thể Độ ẩm cao sẽ làm khả năng thoát nhiệt khó khăn, gây nên tình trạng tích nhiệt dẫn đến rối loạn các quá trình điều hòa sinh lý, bài tiết của cơ thể Thông thường nhiệt độ trong các phân xưởng cao sẽ tác động lên quá trình điều hòa nhiệt độ, cụ thể là quá trình thải nhiệt Nếu nhiệt độ cao, độ ẩm cao trong điều kiện không thông thoáng thì sự trao đổi nhiệt sẽ bị cản trở rất nhiều Nghiên cứu của Galanina, Andreieva, Izmerop (1978-1995) cho thấy có tới 19,34% người lao động trong các công đoạn có vi khí hậu nóng của môi trường tẩy nhuộm có rối loạn điều hòa thân nhiệt ở mức độ có thể phát hiện thông qua các phản ứng sinh lý sinh hóa [Trích dẫn từ 21]
Thời gian lao động: theo qui định chung thì người lao động làm việc
mỗi ngày 8 giờ Tuy nhiên, trên thực tế thì thời gian lao động của công nhân
Trang 28may công nghiệp thường phải lao động trên 8 tiếng do đơn hàng lớn, yêu cầu
về thời gian trả hàng hàng đúng tiến độ, yêu cầu chất lượng cao và chủ doanh nghiệp chịu sức ép bị phạt nếu không thực hiện đúng đơn hàng đã ký kết Do
sự đòi hỏi của yếu tố điều kiện người lao động sẽ ép buộc người công nhân thường xuyên chịu đựng ở tư thế gò bó và mệt mỏi trường diễn Thời gian lao động và nghỉ ngơi không hợp lý sẽ gây nên sự xáo trộn các hoạt động tâm, sinh lý của người lao động gây nên các rối loạn bệnh lý, stress nghề nghiệp, giảm khả năng đề kháng, dễ mắc các bệnh hô hấp như VMDƯ, HPQ Nghiên cứu đánh giá về điều kiện lao động ở các công ty may Hưng Yên của tác giả Bùi Hoài Nam (2017) cho thấy số công nhân làm việc 10 giờ/ngày chiếm tới 20% [29] Tương đương kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Dũng và cộng
sự (2010) cho thấy thời gian làm việc của công nhân may công nghiệp chủ yếu là 8-10 giờ/ngày [16].Cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của Shakila Matin Mridula (2009) cũng cho biết nữ công nhân may công nghiệp ở Bangladesh chủ yếu là làm việc >8 tiếng/ngày người công nhân dệt may thường phải lao động theo dây chuyền đơn điệu với thời gian làm việc nhiều hơn 8 giờ/ngày và ít khi là 5 ngày trong tuần [Trích dẫn từ 21]
Khẩu trang: nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thúy Hà (2015) cho
thấy tỷ lệ mắc các bệnh viêm mũi họng của công nhân may Thái Nguyên có liên quan rõ rệt với việc sử dụng khẩu trang hợp cách Tỷ lệ mắc bệnh giữa hai nhóm có sử dụng khẩu trang hợp cách và không hợp cách khác nhau rõ rệt, có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) là liên quan cần được lưu ý [21] Nghiên cứu của Wanpen Song Kham, Thanee Kaewthummanukul và cs (2005) về các tác hại nghề nghiệp và các vấn đề chăm sóc sức khoẻ ở những công nhân may tại nhà ở Thái Lan cho thấy, nếu họ sử dụng khẩu trang tốt, đạt tiêu chuẩn, hợp cách sẽ giảm thiểu được nhiều bệnh hô hấp nói chung, các bệnh viêm mũi họng nói riêng xuống còn 1/5 [Trích dẫn từ 21]
Trang 29Kiến thức thái độ thực hành (KAP): nhiều nghiên cứu về kiến thức,
thái độ và thực hành đảm bảo ATVSLĐ ảnh hưởng đến sức khỏe đã được tiến hành John Birchall và cộng sự khi nghiên cứu về hành vi đảm bảo ATVSLĐ
ở công nhân dệt may Ấn độ cũng cho thấy vai trò này khá quan trọng trong dự phòng các bệnh nghề nghiệp ở công nhân dệt may [Trích dẫn từ 21] Ở nước
ta, nghiên cứu gần đây nhất của tác giả Bùi Hoài Nam (2017) và Hoàng Thị Thúy Hà (2015) cũng cho thấy, khi can thiệp làm thay đổi KAP của công nhân giúp làm giảm các bệnh mắc phải do nghề nghiệp như bệnh phổi bụi bông, HPQ, VMDƯ cũng như các bệnh cơ xương khớp khác
Có rất nhiều yếu tố chủ quan, khách quan có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và bệnh tật ở người lao động dệt may Các yếu tố liên quan, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe công nhân cần được chú ý giải quyết đầy đủ trong công tác chăm sóc sức khỏe người lao động Tùy thuộc vào điều kiện lao động, dây chuyền sản xuất của mỗi nước mà các yếu tố ảnh hưởng nào có vai trò, mức độ khác nhau Ở nước ta, những vấn đề này đang tồn tại nhiều bất cập và chưa giải quyết, cải thiện được nhiều Có nhiều yếu tố liên quan, ảnh hưởng nên cần thiết phải có sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành Tất cả các nhà khoa học, các doanh nghiệp phải cùng nhau phối hợp nghiên cứu, giải quyết theo phương châm: tất cả vì mục tiêu sức khoẻ cho người lao động mới của đất nước
1.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG
1.2.1 Đặc điểm lâm sàng
Viêm mũi dị ứng đặc trưng biểu hiện ở các triệu chứng sau: ngứa mũi, hắt xì hơi, chảy nước mũi trong và ngạt tắc mũi Tuy nhiên, ở mỗi bệnh nhân thì mức độ biểu hiện các triệu chứng là khác nhau
Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Cao Thiện (1999) trên 57 bệnh nhân viêm mũi dị ứng thì 100% đều có tam chứng hắt hơi, chảy mũi và ngạt tắc
Trang 30mũi[20] Trong đó nổi bật nhất là triệu chứng ngạt tắc mũi từng lúc cả hai bên (46%), rồi tới chảy mũi (35%) và hắt hơi (19%) Nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Thanh Hà (2002) trên 80 bệnh nhân được chẩn đoán viêm mũi dị ứng có 84% bệnh nhân có từ 3 triệu chứng trở lên, 16% có từ 2 triệu chứng[20] Nghiên cứu của Gazel P và Moneret D (1982) trên 405 bệnh nhân thấy ngạt tắc mũi chiếm 86%, chảy mũi trong chiếm 80% và hắt hơi thành tràng chiếm 77%[20] Demoly P và Bousquet J (1998) triệu chứng điển hình của viêm mũi
dị ứng quanh năm là ngạt tắc mũi[20] Nghiên cứu của tác giả Vũ Trung Kiên (2013) cho thấy ở các bệnh nhân VMDƯ thì ngứa mũi chiếm 53% các trường hợp, hắt xì hơi và chảy mũi xảy ra ở tất cả 100% trường hợp và ngạt tắc mũi gặp ở ngạt tắc mũi 84% các trường hợp[26] Nghiên cứu của tác giả Phạm văn Thứcvà cộng sự(1999) cho thấy 100% bệnh nhân VMDƯcó tam chứng ngứa mũi, hắt hơi, ngạt tắc mũi[34]
Qua thăm khám lâm sàng bệnh nhân VMDƯ, đặc biệt là sử dụng máy nội soi, thấy có các biểu hiện sau: niêm mạc mũi biến đổi từ tím nhạt đến nhạt màu; cuốn mũi dưới nề, quá phát; hốc mũi có nhiều dịch tiết Ngoài ra có thể quan sát thấy các biểu hiện dị hình vách ngăn và polip mũi
Nghiên cứu của Gazel P và Moneret D (1982 ) cho thấy niêm mạc mũi không bình thường là 71%, hay gặp quá phát cuốn mũi chạm tới vách ngăn mũi, tăng tiết dịch mũi: niêm mạc nhạt màu chiếm (24%), niêm mạc màu tím nhạt (42%), xung huyết đỏ (20%) [26] Theo Wayoff M (1988) hình ảnh hay gặp là phù nề cuốn dưới ít nhiều dối xứng hai bên, cuốn giữa ít khi nhìn thấy, màu sắc thay đổi từ đỏ sẫm, tím nhạt đến trắng nhợt[26] Nghiên cứu của Klosseck.J.M (1997) trên các bệnh nhân viêm mũi dị ứng kèm hen phế quản, hay gặp nhất là đổi màu niêm mạc mũi thành tím nhạt hoặc trắng nhợt, dịch mũi nhiều và trong, đôi khi có polip rất nhỏ khe giữa[26] Nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Thanh Hà (2002) trên 80 bệnh nhân thấy 65% có niêm mạc nhợt
Trang 31màu, xuất tiết; 26% có niêm mạc xung huyết, khô: 9% niêm mạc nề, xung huyết nhưng đầu cuốn giữa nhợt màu, thoái hóa nhẹ[20]
Nghiên cứu của Sumit Prasad và cộng sự (2013) trên 120 bệnh nhân viêm mũi dị ứng có 52,5% trường hợp có lệch vách ngăn mũi [112].Nghiên cứu của
An SY và cộng sự (2015) trên 31217 được phỏng vấn từ năm 2008 đến năm
2011 cho thấy lệch vách ngăn mũi, hen phế quản, viêm da dị ứng, trầm cảm làm tăng nguy cơ mắc viêm mũi dị ứng [49] Nghiên cứu của Ahn JC và cộng
sự (2016) trên 35511 người tham gia từ năm 2008 đến năm 2011 cho thấy có 48% người tham gia có lệch vách ngăn mũi và có mối liên quan giữa lệch vách ngăn với viêm mũi dị ứng và viêm mũi xoang mạn tính [51] Nghiên cứu của Rhee CS và cộng sự (2014) cho thấy so với nhóm người khỏe mạnh, ở các bệnh nhân HPQ, polip mũi, viêm mũi xoang mạn tính và rối loạn khứu giác, tỷ
lệ viêm mũi gia tăng với OR lần lượt là 4,77; 3,44; 13,93; 4,88[101]
Ở các bệnh nhân dị ứng, viêm mũi dị ứng thường kết hợp với biểu hiện
dị ứng ở các cơ quan khác như: viêm kết mạc dị ứng (ngứa mắt, chảy nước mắt, đỏ mắt, sưng mắt), hen phế quản và chàm thể tạng (nổi các ban đỏ dạng
dị ứng)
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hướng (1991) có 51% VMDƯ kèm theo HPQ[25] Nghiên cứu củaVũ Cao Thiện (1999) trên 57 bệnh nhân VMDƯ có 23% kèm HPQ Nghiên cứu của Huỳnh Khắc Cường, Phạm Kiên Hữu (2001), có khoảng 28-78% bệnh nhân HPQ có kèm theo VMDƯ và ngược lại, chỉ có khoảng 5-15% bệnh nhân VMDƯ được chẩn đoán có HPQ kèm theo [14] Nghiên cứu của Settipane RJ và cộng sự (1994) kéo dài 23 năm trên 2000 sinh viên cho thấy ở các sinh viên có viêm mũi dị ứng, tỷ lệ kèm hen phế quản cao gấp 3 lần các sinh viên không bị viêm mũi dị ứng[105] Nghiên cứu của Huovinen E và cộng sự(1999) ở Finnish cho thấy
có sự gia tăng HPQ gấp 4-6 lần ở nhóm ngiên cứu có VMDƯ so với nhóm không mắc VMDƯ[75] Nghiên cứu của Michael R Perkin và cộng sự (2015)
Trang 32trên 1043 gia đình có các cháu độ tuổi từ 5-11 cho thấy có 13% trường hợp vừa viêm kết mạc dị ứng và VMDƯ [92] Nghiên cứu của Stipić-Marković A
và cộng sự (2003) trên 3000 đối tượng kéo dài 12 tháng ở thành phố Zagreb cho thấy có 12,13% trường hợp có viêm mũi dị ứng phối hợp với kết mạc dị ứng và 7,83%trường hợp có viêm mũi-kết mạc dị ứng kèm chàm thể tạng[110] Nghiên cứu của Asher MI, Barry D và cộng sự (2001) trên 37592 người tham gia ở 6 thành phố của newzealand cho thấy có 25% HPQ, 19% viêm mũi-kết mạc dị ứng và 15% chàm thể tạng[53] Tương tự như thế, báo cáo tổng kết năm 2017 của ARIA cho thấy ở các bệnh nhân HPQ có 15-38%
có biểu hiện VMDƯ kèm theo [54] Nghiên cứu của Dorothée Provost, Yuriko Iwatsubo và cộng sự (2015) tại Pháp cũng cho thấy có 72,5% trường hợp HPQ bị viêm mũi dị ứng kèm theo [67] Và cuối cùng, tại Hàn Quốc, tác giả An So Jang (2013) nhận thấy rằng viêm mũi xoang thường làm cho hen phế quản biểu hiện nặng lên [48]
1.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng
1.2.2.1 Các test da
Đây là phương pháp phát hiện sự mẫn cảm của cơ thể bằng cách đưa dị nguyên qua da, sau đó đánh giá kích thước, đặc điểm nốt sẩn và phản ứng viêm tại chỗ [11][26][104][114][117] Dị nguyên cho kết quả dương tính có thể coi là nguyên nhân gây bệnh khi kết hợp với khai thác tiền sử dị ứng có kết quả phù hợp Nếu còn nghi ngờ, cần tiến hành thêm test kích thích mũi hoặc định lượng IgE đặc hiệu
Có các loại test da như sau:
- Test lẩy da (prick test)
- Test áp da (patch test)
- Test rạch bì (scratch test)
- Test nội bì (intraderma test)
- Phản ứng Prausnitsz-Kusner
Trang 33Hiện nay, test lẩy da (Prick test) là test còn được áp dụng rộng rãi, còn các loại test khác ít khi được sử dụng Test lẩy da là xét nghiệm cơ bản và được thực hiện đầu tiên để chẩn đoán viêm mũi dị ứng Dị nguyên được đưa qua da bằng kim chích chuẩn (đầu nhọn của kim chỉ dài 1mm không gây tổn thương lớp hạ bì) không gây chảy máu Nếu các tế bào mast ở đưới da của bệnh nhân mang trên bề mặt chúng các IgE đặc hiệu với di nguyên này thì các
tế bào sẽ thoát hạt gây ra phản ứng sẩn ngứa trong 10-15 phút sau khi lẩy da Đây là test rất chính xác và có độ nhạy cao nếu thực hiện đúng tiêu chuẩn [26][85]
Trong nghiên cứu của Nancy.M.G và Cs (1995), tất cả 99 bệnh nhân VMDƯ và HPQ do bụi nhà có test lẩy da dương tính đường kính trung bình trước điều trị là 6,31 ± 0,37 mm tương đương với dương tính (++)[26] Kết quả nghiên cứu của Trịnh Mạnh Hùng (1999) cho thấy 100% bệnh nhân có test lấy da dương tính trong đó 60% có dương tính (+) và 10% dương tính (++++)[24] Nghiên cứu Vũ Cao Thiện, 79% bệnh nhân có test lẩy da dương tính mức (++) và (+++)[26] Đoàn Thị Thanh Hà (2001) trên 80 bệnh nhân
VMDƯ có 90% dương tính ở mức độ nhẹ và vừa[20]
1.2.2.2 Test kích thích mũi
Test kích thích mũi với dị nguyên nhằm tái tạo lại bệnh cảnh lâm sàng viêm mũi dị ứng Từ nhiều năm gần đây, test kích thích mũi được dùng trong nghiên cứu hoặc để chẩn đoán các trường hợp viêm mũi dị ứng [26]
Dị nguyên kích thích mũi sử dụng bằng các cách: nhỏ mũi, xịt mũi, khí dung mũi hoặc áp đĩa giấy có tẩm dị nguyên vào cuốn mũi
Theo Jamet O (1997) [20]kết quả được đánh giá theo:
- Biểu hiện các triệu chứng lâm sàng (hắt hơi, chảy mũi, ngạt tắc mũi) Đánh giá số lượng dịch tiết mũi và sự thay đổi các thành phần trong dịch tiết mũi (histamin, prostagglandin, tế bào eosinophil )
Trang 34- Đánh giá tình trạng viêm niêm mạc mũi qua các phép đo nhiệt mũi (rhinothermometrie), lực cản mũi (rhinomamometrie)
Nghiên cứu của Do Youn Kim và cộng sự (2018) ở 78 bệnh nhân viêm mũi dị ứng cho thấy test kích thích mũi có độ nhạy là 73,4% và độ đặc hiệu là 95,3% [68]
1.2.2.3 Phương pháp gián tiếp định lượng IgE
Có nhiều phương pháp khác nhau gián tiếp định lượng IgE
- Phản ứng phân hủy mastocyte
- Phản ứng ngưng kết hồng cầu thụ động
- Phản ứng phân hủy basophil (phản ứng Shelley)
- Phản ứng ngưng kết bạch cầu
- phản ứng chuyển dạng lympho
- Phản ứng giải phóng đặc hiệu histamin
Trong các phương pháp nêu trên, phản ứng phân hủy mastocyte được tiến hành phổ biến nhất ở các trung tâm chẩn đoán và điều trị dị ứng đường hô hấp ở nước ta hiện nay Đây là phương pháp đơn giản, ít tốn kém, có độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao từ 72% - 78% [26]
* Phản ứng phân hủy mastocyte
IgE trong huyết thanh người thử sẽ gắn chặt vào thụ thể trên tế bào mast trong ống nghiệm Khi thêm dị nguyên đặc hiệu vào thì sự kết hợp dị nguyên và IgE đặc hiệu gây ra phản ứng kích hoạt làm vỡ tế bào mast Phản ứng phân hủy mastocyte được tiến hành phổ biến nhất ở trung tâm chẩn đoán và điều trị bệnh dị ứng đường hô hấp ở nước ta hiện nay Đây là phương pháp đơn giản ít tốn kém lại có độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao từ 72% - 78% [26]
1.2.2.4 Phương pháp trực tiếp định lượng IgE
Do vai trò của kháng thể IgE găn liền với bệnh lý dị ứng tuýp I ( theo phân loại của Gells và Coomb) gồm các bệnh như VMDƯ, HPQ, viêm kết
Trang 35mạc mùa xuân, viêm da dị ứng nên việc định lượng IgE là cần thiết [56] Theo báo cáo của Nguyễn Thị Hương và Nguyễn Huy Thông (2011) giá trị qui chiếu của IgE ở người bình thường là 8-316 IU/ml, ở bệnh nhân VMDƯ có hàm lượng IgE trung bình là 714,85 IU/ml [26] Nghiên cứu Đoàn Thị Thanh
Hà, hàm lượng IgE người bình thường dưới 100 IU/ml, trong khi đó hàm lượng IgE ở bệnh nhân VMDƯ tăng cao [20] Kết quả của Vũ Cao Thiện (1999) ở 57 bệnh nhân VMDƯ thì hàm lượng IgE trung bình là 1144,07 IU/ml, Đoàn Thanh Hà (2011) hàm lượng IgE là 370,26 ± 277,15 IU/ml Hàm lượng IgE dao động rất lớn: khoảng 20% người bình thường có hàm lượng IgE > 150 IU/ml Theo Gamero R và Zamacona G (1989) hàm lượng IgE thay đổi ở bệnh nhân dị ứng, đặc biệt tăng cao ở nam giới hút thuốc
lá Ngoài ra IgE tăng cao ở người nhiễm ký sinh trùng như giun, sán [26] Nghiên cứu của Trương Thị Thanh Tâm trên 47 người bình thường khỏe mạnh có nồng độ Ig E huyết thanh trung bình là 187 ± 206 UI/ml, trên 47 bệnh nhân viêm mũi xoang dị ứng có chỉ định phẫu thuật có nồng độ Ig E huyết thanh trung bình là 373 ± 383 UI/ml[32] Kết quả định lượng Ig E của Phạm Văn Thức và cộng sự trên 30 người bình thường là 146 ± 59 UI/ml, trên
43 bệnh nhân viêm mũi dị ứng do lông vũ là 583 ± 389 UI/ml [33]
1.2.2.5 Phương pháp định lượng trực tiếp Ig G
Ig G là kháng thể bảo vệ thay thế cho kháng thể dị ứng IgE Các IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể: ngăn không cho IgE gắn vào các tế bào mast và basophil, do đó không gây ra hiện tượng thoát hạt của tế bào
Sự thay đổi nồng độ IgG huyết thanh là một chỉ tiêu nghiên cứu của điều trị Corticoid xịt mũi Một số nghiên cứu về IgG trong huyết thanh trước và sau điều trị chỉ ra mối liên quan giữa cải thiện triệu chứng lâm sàng và tăng nồng độ IgG huyết thanh sau điều trị[26]
Theo nghiên cứu của Đoàn Thanh Hà (2002) trên 30 bệnh nhân VMDƯ nồng độ IgG huyết thanh trung bình trước điều trị miễn dịch liệu pháp là 1128
Trang 36± 138 mg/dl, sau điều trị lượng IgG tăng lên 1637,56 ± 236,93 mg/dl[20] Cũng tương tự vậy, nghiên cứu của Vũ Trung Kiên (2013) cho thấy trước điều trị, hàm lượng IgG trung bình là 923 ± 149 mg/dl và sau điều trị 24 tháng miễn dịch liệu pháp thấy IgG tăng 1347 ± 153 mg/dl[26]
1.3 CÁC GIẢI PHÁP DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG DO DỊ NGUYÊN BỤI BÔNG
1.3.1 Các giải pháp dự phòng
1.3.1.1 Giải pháp về chế độ chính sách
Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều chế
độ chính sách cho người lao động đã được ban hành bao gồm: Luật về an toàn
vệ sinh lao động, các quy định về giám sát môi trường lao động, khám tuyển, khám định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp tiến tới đưa bệnh viêm mũi xoang – viêm mũi dị ứng nghề nghiệp vào danh mục các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm, chế đội bồi dưỡng độc hại[4][5][6][23][45]
1.3.1.2 Giải pháp công nghệ và điều kiện lao động
Để kiểm soát và giảm thiểu các yếu tố độc hại phát sinh trong quy trình dệt may tác động lên sức khỏe người lao động tốt nhất là sử dụng quy trình công nghệ sản xuất hiện đại tự động hóa trong từng khâu…, nhưng biện pháp này không phải lúc nào cũng thực hiện được nên các biện pháp kĩ thuật về sinh VSAT như: che chắn, thông gió, hút bụi thường được áp dụng nhằm giảm thiểu các yếu tố độc hại (Vi khí hậu, bụi, hơi khí độc…) xuống dưới
mức TCVSCP[43]
1.3.1.3 Giải pháp thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức
Giải pháp thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người lao động, người sử dụng lao động, nhân viên y tế, đội ngũ an toàn viênđóng vai trò trong vấn đề phòng chống tác hại của môi trường đến sức khỏe người lao động nói chung, các tác hại từ môi trường lao động như bụi, hơi khí độc, nhiệt độ tới mũi xoang[8][106]
Trang 371.3.1.4 Biện pháp dự phòng cá nhân (Biện pháp cách lý, giảm thiểu bụi, hơi khí độc trực tiếp)
Là một trong những biện pháp giúp phòng ngừa các yếu tố có hại ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ NLĐ Các phương tiện bảo vệ cá nhân như khẩu trang, mặt nạ phòng độc, nút tai chống ồn, quần áo, găng tay bảo hộ v.v… Tuỳ từng vị trí lao động, đặc thù loại hình sản xuất mà NLĐ được cấp phát phương tiện phù hợp để ngăn ngừa các tác hại tới NLĐ Nếu doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân đúng chủng loại và đảm bảo chất lượng, đồng thời NLĐ thực hiện sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân đúng cách thì đây cũng là một trong những biện pháp giúp ngăn ngừa bệnh tật, TNLĐ do các yếu tố có hại là có hiệu quả rất cao [44]
Theo tiêu chuẩn việt nam 2010 về khẩu trang y tế thì mỗi khẩu trang bao gồm: 2-4 lớp vải lớp vải không dệt, dạng phẳng, có gấp nếp;lớp vi lọc; thanh nẹp mũi; dây đeo [9] Hiện nay, đa phần công nhân may mặc khi làm việc đã
có ý thức đeo khẩu trang Tuy nhiên khẩu trang thường dung đều không đạt chuẩn Nghiên cứu của Wanpen Song Kham, Thanee Kaewthummanukul và cộng sự (2005) về các tác hại nghề nghiệp và các vấn đề chăm sóc sức khoẻ ở những công nhân may tại nhà ở Thái Lan cho thấy, nếu họ sử dụng khẩu trang tốt, đạt tiêu chuẩn, hợp cách sẽ giảm thiểu được nhiều bệnh hô hấp nói chung, các bệnh viêm mũi họng nói riêng xuống còn 1/5 [Trích dẫn từ 21] Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu Khoa học kỹ thuật-Bảo hộ lao động đánh giá hiệu quả các giải pháp can thiệp, áp dụng NLĐ đeo khẩu trang các loại đảm bảo đủ tiêu chuẩn vệ sinh của sản xuất trong chương trình phòng chống bệnh bụi phổi-silic kết hợp sử dụng các hệ thống thông hút gió, hút bụi, dập bụi bằng nước và duy tu, cải thiện qui trình công nghệ (áp dụng cho các ngành khai thác than, đá, cơ khí luyện kim, đóng tàu, xây dựng) cho thấy: sau can thiệp sử dụng khẩu trang ngăn ngừa bụi hô hấp, giảm tỷ lệ mắc các bệnh về đường hô hấp và bệnh phổi ở công nhân tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên với bụi[29]
Trang 38Theo Trần Vũ Liệu và Nguyễn Đức Trọng (2007) việc phòng ngừa bụi bông trong môi trường lao động cho NLĐ bằng biện pháp cá nhân thì NLĐ cần phải được trang bị khẩu trang, mặt nạ có khả năng lọc bụi hô hấp (loại bụi có kích cỡ ≤0,5µm), ngoài ra nơi nào có nồng độ bụi quá cao mà buộc NLĐ phải tiếp xúc thì nên tổ chức để công nhân làm việc từng giai đoạn ngắn ở đó, có thời gian nghỉ ngơi và thay đổi vị trí sản xuất [43][45]
Tuy nhiên, nhược điểm của đeo khẩu trang là phải được thay thế thường xuyên tùy thuộc điều kiện lao động để đảm bảo chức năng lọc bụi của khẩu trang dẫn đến các chi phí tốn kém Ngoài ra, đối với lao động dệt may, những công nhân đã mắc bệnh viêm mũi dị ứng, triệu chứng ngạt tắc mũi là triệu chứng thường thấy Do vậy, khi dùng khẩu trang liên tục trong ngày dễ dẫn đến tình trạng thiếu ô xy, ngạt thở
1.3.1.5 Biện pháp y tế
a Quản lý sức khỏe và chăm sóc y tế
- Khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp để phát hiện sớm các bệnh liên quan đến nghề nghiệp do điều kiện lao động đặc thù gây ra[4][5][6][10]
- Khám các chuyên khoa sâu, dùng các phương pháp chẩn đoán hiện đại trong thăm khám, chẩn đoán sớm từ đó đưa ra các biện pháp can thiêp cụ thể làm giảm nhẹ hậu quả của bệnh tật trong đó có bệnh viêm mũi dị ứng
- Quản lý tốt các ca bệnh, phân loại bệnh, áp dụng các biện pháp điều trị kịp thời: điều trị tích cực với các bệnh nhân được phát hiện VMDƯ, áp dụng các biện pháp dự phòng cá nhân và tư vấn sức khỏe thường xuyên là giải pháp tích cực giải quyết đáng kể bệnh VMDƯ nhưng trên thực tế việc áp dụng giải pháp tổng thể về y tế chưa thực sự được áp dụng trong các cơ sở y tế nhà máy
do còn nhiều bất cập
Trang 39b.Rửa mũi:
Đây là biện pháp được áp dụng từ lâu và rộng rãi trên thế giới Biện pháp này được coi là biện pháp hàng đầu để dự phòng và điều trị bệnh VMDƯ đặc biệt là các trường hợp VMDƯ do tác hại của môi trường làm việc
Rửa mũi (Nasal Irrigation) là một thủ thuật vệ sinh cá nhân thực hiện bằng cách bơm đầy hốc mũi bằng nước muối ấm Mục đích của rửa mũi là làm sạch bụi bẩn, các chất nhầy dư thừa, các mảnh mô nhỏ và làm ẩm hốc mũi Đối với những người làm việc trong điều kiện khói bụi, hơi khí độc, rửa mũi là biện pháp thải loại giúp hệ thống tiết nhầy và lông chuyển của niêm mạc mũi xoang trong trường hợp quá tải chức năng của hệ thống này, thiết lập
lại trạng thái sinh lý của hệ thống[95][99]
* Tác dụng của rửa mũi
Rửa mũi bằng dung dịch muối sinh lý giúp mũi khỏe mạnh Rửa mũi có thể được áp dụng cho những bệnh nhân VMDƯ Một nghiên cứu cho thấy
“rửa mũi có tác dụng điều trị triệu chứng gần như tương đương với các loại thuốc men” [104] Một số nghiên cứu khác, “rửa mũi hằng ngày với dung dịch muối ưu trương cải thiện chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân VMDƯ, giảm bớt triệu chứng và giảm lượng thuốc men dùng ở những bệnh nhân VMDƯ tái phát thường xuyên” [99] Và rửa mũi được khuyên dùng như
“một điều trị bổ trợ hiệu quả cho các triệu chứng VMDƯ” [84]
Rửa mũi có thể giúp đề phòng cảm cúm, ngoài ra nó còn giữ gìn vệ sinh mũi tốt bằng cách rửa sạch những ngóc ngách trong mũi, giảm nghẹt mũi, khô mũi và các triệu chứng của dị ứng
Đối với những bệnh nhân VMDƯ, rửa mũi là một phương pháp nhanh
và ít tốn kém để thúc đẩy chức năng của các nhung mao mũi và làm tan dịch nhầy, giảm phù nề, cải thiện dẫn lưu qua lỗ thông tự nhiên các xoang (sinus ostium)
Trang 40Kết quả của nhiều nghiên cứu quy mô lớn do King D và cộng sự 2015 trên tạp chí Cocharane – Anh, nghiên cứu của Tomooka LT và cộng sự (2000) cũng như thực tế điều trị chuyên khoa đều ghi nhận lợi ích của việc sử dụng phối hợp dung dịch vệ sinh mũi nước muối sinh lý như sau: cân bằng độ ẩm
tự nhiên của niêm mạc mũi xoang, do vậy giảm được kích thích mũi khi mũi
bị khô, ngứa, rát, ngăn ngừa sự xâm nhập của vi khuẩn và virus gây bệnh do
có tính kháng khuẩn tự nhiên[84][112] Việc dùng nước muối biển còn được
bổ sung và cân đối hàm lượng các chất khoáng vi lượng (K, Mg, Zn, Ca, Flo, Iod…) giúp tăng cường sức đề kháng, tăng tính kháng viêm và kháng dị ứng của niêm mạc mũi xoang Sử dụng nước muối sinh lý giúp làm loãng đờm và dịch tiết ứ đọng, nhờ vậy dễ được đẩy ra ngoài, giúp thông thoáng đường thở
và phòng ngừa được nguy cơ viêm nhiễm do sự ứ đọng các dịch này gây ra [98] Nghiên cứu của Nguyen SA và cộng sự (2014) cho thấy rửa mũi bằng nước muối là phương pháp bổ trợ hiệu quả cho thuốc xịt mũi corticoid khi điều trị viêm mũi dị ứng [95] Rabago.D và cộng sự khi nghiên cứu về tác dụng của rửa mũi đối với viêm mũi xoang mạn tính và bệnh lý đường hô hấp trên cũng cho thấy rửa mũi giúp giảm tỷ lệ các bệnh lý này [99] Tương tự như thế, Chen JR và cộng sự (2014) nghiên cứu ở trẻ em cho thấy rửa mũi bằng nước muỗi biển là một phương pháp bổ trợ giúp giảm tỷ lệ viêm mũi dị
ứng [62]
* Các phương pháp rửa mũi
+ Phương pháp rửa mũi do thầy thuốc tiến hành
Ở Phương Tây, các bác sĩ đã biết rõ những lợi ích của rửa mũi trên một thế kỷ nay Alfred Laskiewicz – Trưởng khoa Tai Mũi Họng của bệnh viện Pozna mô tả những đóng góp của rửa mũi từ vấn đề chăm sóc về sinh cơ thể chung co đến việc điều trị xơ cứng bì Thủ thuật Proetz đã được các bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng dùng rửa mũi xoang từ rất lâu và ngày nay vẫn là phương pháp đầu tay của các bác sĩ [98][99]
+ Các phương pháp tự rửa mũi