1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả bước đầu can thiệp nội mạch điều trị suy cầu nối thông động tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối

6 113 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 3,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Can thiệp nội mạch với lợi thế xâm lấn tối thiểu, tỉ lệ thành công cao, giúp kéo dài tuổi thọ của cầu nối thông động tĩnh mạch (CNTĐTM) là xu hướng và khuyến cáo hàng đầu trong điều trị các vấn đề liên quan đến rối loạn chức năng CNTĐTM. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này.

Trang 1

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU CAN THIỆP NỘI MẠCH ĐIỀU TRỊ SUY CẦU NỐI THÔNG ĐỘNG TĨNH MẠCH

Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI

Trần Minh Hiền*, Nguyễn Đình Luân*, Bùi Khắc Vũ*, Phương Xuân Học*, Nguyễn Duy Hoài Nam*

TÓM TẮT

Tổng quan: Can thiệp nội mạch với lợi thế xâm lấn tối thiểu, tỉ lệ thành công cao, giúp kéo dài tuổi thọ của

cầu nối thông động tĩnh mạch (CNTĐTM) là xu hướng và khuyến cáo hàng đầu trong điều trị các vấn đề liên quan đến rối loạn chức năng CNTĐTM

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định tỉ lệ thành công về lâm sàng và kĩ thuật của can thiệp nội mạch điều trị suy cầu nối động tĩnh mạch (CNTĐTM)

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, phân tích dữ liệu của 31 bệnh nhân suy CNTĐTM được điều trị bằng

phương pháp can thiệp nội mạch ở đơn trung tâm

Kết quả: Trong thời gian nghiên cứu có 31 trường hợp (trường hợp) thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh với 18

trường hợp suy cầu nối nguyên phát và 23 trường hợp thứ phát, gồm 20 nữ (64,5%) và 11(35,5%) nam Tuổi trung bình là 60,0 ± 12,8 (30 - 87t) Thành công kĩ thuật đạt 80,6%, thành công lâm sàng đạt 90% Lưu lượng trung bình của CNTĐTM trước can thiệp là 199,5 ± 152,5 ml/phút Lưu lượng trung bình của CNTĐTM trong vòng 1 tuần sau can thiệp đạt 760 ± 343,0 ml/phút Không có trường hợp nào tử vong hoặc biến chứng nặng liên quan can thiệp nội mạch

Kết luận: Can thiệp nội mạch là một phương pháp điều trị suy cầu nối thông động tĩnh mạch hiệu quả cho

nhiều bệnh nhân suy cầu nối nhằm tránh phải mổ lại, giảm thời gian phụ thuộc ống dẫn (catheter) và các biến chứng liên quan do sử dụng catheter kéo dài

Từ khóa: Bệnh thận giai đoạn cuối, suy cầu nối thông động tĩnh mạch, nong tạo hình mạch máu, can thiệp

nội mạch, ống dẫn

ABSTRACT

EARLY RESULTS OF ENDO-VASCULAR INTERVENTION TO TREATARTERIO-VENOUS FISTULAR

FAILURE IN END-STAGE RENAL DISEASE PATIENTS

Tran Minh Hien, Nguyen Đinh Luan, Bui Khac Vu, Phuong Xuan Hoc, Nguyen Duy Hoai Nam

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 6 - 2018: 170 – 175

Objectives: Endo-vascular intervention is trend and first choice treatment for arterio-venous fistular (AVF)

failure due to its high success rate, minimal invasive advantage and potential lifespan-expending The study dertermine the clinical success rate and the technique success rate of revascularization procedure for AVF failure treatment

Methods: Thirty one patients with 31 AVFs treated by endo-vascular intervention was enrolled in the

retrospective study in a single center

Results: In thirty one AVFs cases met the selected criteria, primary and secondary failure was found in

respectively 18 cases, 23 cases including 20 females (64.5%) and 11 males (35.5%) The mean age was 60.0 ± 12.8 (30 - 87) Technical success achieved 80.6%, clinical success rate reached 90% The average flow volume of

pre-*Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Đơn vị X Quang can thiệp - Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Tác giả liên lạc: BS.Trần Minh Hiền ĐT: 0977266374 Email: drtranminhhien@gmailcom

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 6 * 2018 Nghiên cứu Y học

intervention was 199.5 ± 152.5 ml / min The average flow volume of post- intervention was 760 ± 343.0 ml / min There was no death or serious complications related to procedures

Conclusion: Endo-vascular intervention is an effective method for treating AVF failure in many patients to

avoid reoperation, reduce in catheter-dependent time and related complications of long term catheter using

Key words: End stage renal disease, arterio venous fistular failure, angioplasty, endovascular treatment,

catheter

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh thận giai đoạn cuối (BTGĐC) và lọc

máu chu kỳ hiện nay đã trở thành một vấn đề

cấp thiết có tính toàn cầu Tại Mỹ, số liệu

thống kê năm 2005 cho thấy có 485,000 bệnh

nhân phải lọc máu chu kỳ Ngay cả những

trường hợp có cơ hội được ghép thận, chiếm

khoảng 10% các trường hợp BTGĐC, thì thời

gian chờ ghép thận trung bình là 2 năm và tất

nhiên trong thời gian đó những bệnh nhân này

vẫn phải lọc máu chu kỳ(11)

Lọc máu chu kỳ có thể được thực hiện qua

ống dẫn (catheter) trung tâm, qua các cầu nối

thông động tĩnh mạch (CNTĐTM) nhân tạo

hoặc cầu nối thông động tĩnh mạch (CNTĐTM)

tự thân Theo nhiều tác giả, hiện nay

CNTĐTMtự thân vẫn được coi là giải pháp tối

ưu nhất, phổ biến nhất

CNTĐTM tự thân được hình thành bằng

phẫu thuật tạo ra sự thông thương trực tiếp từ

động mạch sang tĩnh mạch Do vậy đặc điểm về

cấu trúc và huyết động của CNTĐTM không

giống như một động mạch hay một tĩnh mạch

điển hình Một điều cần chú ý rằng, CNTĐTM

không phải là một cấu trúc mạch máu có tuần

hoàn “bình thường”, mà thực tế thì đây là một

dạng tuần hoàn “bệnh lý”, thông trực tiếp từ

động mạch sang tĩnh mạch được chủ động tạo ra

nhằm mục đích lọc máu chu kỳ Trên cơ sở như

vậy, tuổi thọ của một CNTĐTMcần được duy trì

càng lâu càng tốt, chứ không phải tạo ra càng

nhiều CNTĐTMtrên cơ thể người bệnh càng tốt

Bởi vì việc tạo ra càng nhiều CNTĐTM, tức tạo

ra nhiều vòng tuần hoàn bệnh lý thì cơ thể người

bệnh càng dễ bị tổn thương, càng phát sinh

nhiều biến chứng, đặc biệt là đối với mô mềm

Kĩ thuật can thiệp nội mạch sửa chữa

CNTĐTM với lợi thế xâm lấn tối thiểu, tỉ lệ thành công cao, giúp kéo dài thời gian sử dụng của cầu nối đang là xu hướng và trở thành khuyến cáo hàng đầu trong điều trị các vấn đề liên quan đến rối loạn chức năng CNTĐTM ở các bệnh nhân chạy thận định kì Trong khi đó, tại Việt Nam, khái niệm về kĩ thuật này vẫn còn rất mới mẻ Kĩ thuật muốn thực hiện được cần

có trang thiết bị hiện đại, chuyên môn sâu và một rào cản không nhỏ là chi phí điều trị

Do đó, thông qua các tiêu chí về thành công

kĩ thuật, lâm sàng, chúng tôi thực thiện nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả ngắn hạn của kĩ thuật can thiệp nội mạch trong sửa chữa cầu nối chạy thận tại tại cơ sở Do tình hình thực tế tại bệnh viện, bước đầu chúng tôi chỉ xét đến việc can thiệp cho những bệnh nhân có CNTĐTM tự thân Trong tương lai, nếu đề tài thành công, chúng tôi hy vọng có thể phát triển và mở rộng

kĩ thuật cho nhiều trung tâm với các vấn đề liên quan đến CNTĐTM tự thân và nhân tạo

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi hồi cứu, báo cáo 31 ca bệnh phù hợp tiêu chuẩn chọn trong khoảng thời gian từ 7/2016 đến 10/2017

Kỹ thuật can thiệp nội mạch

Được thực hiện trên máy chụp mạch số hóa xóa nền ( siemensAzee) bởi 2 bác sĩ điện quang can thiệp với kinh nghiệm hơn 1500 thủ thuật can thiệp mạch máu.Tất cả các trường hợp được tiến hành dưới gây tê tại chổ Trong quá trình can thiệp, dhparin 70UI/kg được truyền vào tĩnh mạchTùy theo vi trí và mục đích can thiệp mà có thể mở đường vào lòng mạch theo vị trí hay chiều dòng chảy (xuôi dòng, ngược dòng) Sử dụng bộ kim chọc siêu nhỏ 21G chọc vào lòng mạch dưới hướng dẫn siêu âm trong trường hợp

Trang 3

mạch nhỏ, khó khăn khi chọc bằng kim thường

Đặt ống 6F đến 8F vào lòng mạch thường

quy.Dùng ống thông, dân dẫn và vi ống thông,

vi dây dẫn để đi qua vị trí hẹp - tắc lòng

mạch.Các tổn thương hẹp hoặc tắc mãn được

nong trước tiên bằng bóng bán cứng hoặc cứng

với mục tiêu hẹp tồn lưu không quá 30% (Hình

1), giá đỡ không phủ hoặc có lớp áo phủ được sử

dụng nếu nong bóng thất bại hoặc có biến chứng

chảy máy, vỡ mạch (Hình 2) Dụng cụ hút, phá

huyết khối được sử dụng cho trường hợp huyết khối cấp trong lòng mạch

Hình 1: Trường hợp suy cầu nối thông động tĩnh mạch được can thiệp

a Tắc tĩnh mạch bản lề (mũi tên) b Tĩnh mạch bản lề được nong với ống thông mang bóng l

c AVF đạt trưởng thành sau can thiệp lần 2

Hình 2: Trường hợp huyết khối AVF

a Huyết khối trên siêu âm (mũi tên) b Hút và tạo hình lại lòng mạch bằng bóng (mũi tên)

c Vỡ mạch sau nong bón., d Cầm máu bằng bóng

e Tái hẹp f Tái thông hoàn toàn sau đặt giá đỡ (stent)

Đánh giá và nhận định kết quả

Thành công kĩ thuật

Hẹp tồn lưu <= 30%

Thành công lâm sàng

Thực hiện ít nhất 1 lần lọc máu bình thường

trên cầu nối

Suy CNTĐTM nguyên phát

Không thể sử dụng để lọc máu hoặc thất bại khi lọc máu trong 3 tháng đầu sau phẫu thuật tạo

f

\

e

d

a

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 6 * 2018 Nghiên cứu Y học

Suy CNTĐTM thứ phát

Không thể sử dụng được sau thời gian lọc

máu bình thường

Biến chứng tụ máu độ I

Nhẹ, không ảnh hưởng huyết động

Biến chứng tụ máu độ II

Trung bình, ảnh hưởng huyết động

Biến chứng độ III

Thủng mạch

Công cụ thu thập và phân tích số liệu

Số liệu và biến số được thu thập và phần tích

bằng SPSS 22 Các bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn

chọn được ghi nhân lại các đặc điểm: Giới, tuổi,

đặc điểm cầu nối động tĩnh mạch, phân loại

suyCNTĐTM nguyên phát, thứ phát, nguyên

nhân suy cầu nối, lưu lượng trên siêu âm

doppler trước can thiệp, 1 tuần sau can thiệp

KẾT QUẢ

Đặc điểm lâm sàng và dạng tổn thương mạch

máu

Trong thời gian nghiên cứu có 31 trường

hợp (trường hợp) thỏa các tiêu chuẩn chọn

bệnh với 18 trường hợp suy cầu nối nguyên

phát và 23 trường hợp thứ phát, gồm 20 nữ

(64,5%) và 11 (35,5%) nam Tuổi trung bình là

60,0 ± 12,8 (30 - 87t)

Bảng 1 Đặc điểm cầu nối

Nguyên phát:Thứ phát 18:23

Đặc điểm mạch máu

Hẹp tĩnh mạch hiệu dụng 6/31 19,4

Đặc điểm cầu nối theo bảng 1, theo đó phần

lớn, 61,3% các trường hợp suy CNTĐTM là vị trí động mạch quay và tĩnh mạch đầu Theo kết quả chụp mạch số hóa xóa nền, 61,3% trường hợp suy cầu nối có 2 tổn thương mạch máu với dạng tổn thương mạch máu hay gặp nhất là hẹp tĩnh mạch bản lề,hẹp miệng nốivà tồn lưu tĩnh mạch phụ với tỉ lệ tương ứng là 61,3%, 48,4% và 38,7%

Kĩ thuật điều trị

Nong bóng đơn thuần được thực hiện ở 21 trường hợp chiếm 68%, trong khi 10 trường hợp chiếm 32% cần nong bóng kết hợp các kĩ thuật khác để điều trị

Bảng 2 Kĩ thuật điều trị

Nong bóng + Hút huyết khối 1 3,2 Nong bóng + Tắc TM phụ

+ Hút huyết khối

Nong bóng + Stent + Hút huyết khối

Thành công và biến chứng

Bảng 3:Thành công và biến chứng

Trong 31 trường hợp, 90% trường hợp chỉ can thiệp 1 lần Thành công kĩ thuật đạt 80,6%, thành công lâm sàng đạt 90% theo bảng 3 Lưu lượng trung bình của CNTĐTM trước can thiệp

là 199,5 ± 152,5 ml/phút.Lưu lượng trung bình của CNTĐTM trong vòng 1 tuần sau can thiệp đạt 760 ± 343,0 ml/phút.Tụ máu nhẹ không ảnh hưởng đến dòng chảy gặp ở 2 trường hợp, tình trạng này tự giới hạn và không cần can thiệp thêm.1 trường hợp vỡ mạch sau nong bóng được cầm máu thành công bằng kĩ thuật chẹn bóng, trường hợp còn lại được đặt giá đỡ (stent)

Trang 5

có phủ sau khi cầm máu bằng nong bóng không

hiệu quả Không ghi nhận trương hợp nào tử

vong do điều trị

BÀN LUẬN

Đặc điểm cầu nối theo bảng 1, theo đó phần

lớn, 61,3% các trường hợp suy CNTĐTM là vị

trí động mạch quay và tĩnh mạch đầu Theo

kết quả chụp mạch số hóa xóa nền, 61,3%

trường hợp suy cầu nối có 2 tổn thương mạch

máu với dạng tổn thương mạch máu hay gặp

nhất là hẹp tĩnh mạch bản lề,hẹp miệng nốivà

tồn lưu tĩnh mạch phụ với tỉ lệ tương ứng là

61,3%, 48,4% và 38,7%

Cũng như các báo cáo khác, đa số các trường

hợp suy CNTĐTM điều có thể điều trị thành

công với nong bóng đơn thuần(4,11) Điều này

giúp đơn giản hóa kĩ thuật và giảm chi phí điều

trị Tồn lưu tĩnh mạch phụ trên đoạn tĩnh mạch

bản lề và tĩnh mạch hiệu dụng cũng được cho

nguyên nhân góp phần làm suy yếu cầu nối và

rối loạn phát triển CNTĐTM Tĩnh mạch phụ có

thể được tắc bằng dụng cụ can thiệp như vòng

xoắn kim loại trong lúc thực hiện thủ thuật nong

CNTĐTM hoặc được thực hiện thắt dễ dàng nhờ

đường rạch da nhỏ và khâu lại bằng chỉ phẫu

thuật Tuy nhiên, những nhánh tĩnh mạch nằm

quá sâu có thể gây trở ngại cho kĩ thuật thắt,

ngược lại những nhánh tĩnh mạch phụ nằm quá

nông hoặc quá lớn không phải lại lựa chọn thích

hợp cho kĩ thuật tắc mạch Trong các trường hợp

được điều trị có 3 trường hợp chúng tối phải đặt

giá đỡ (stent), 2 trường hợp do mạch máu không

dãn đủ tiêu chuẩn kĩ thuật, dễ dàng co lại sau

khi xẹp bóng Stent giúp giữ khẩu kính mạch

máu để đảm bảo lưu lượng cầu nối 1 trường

hợp còn lại phải đặt stent do biến chứng liên

quan nong bóng(12,14,15) Kĩ thuật hút huyết khối

được áp dụng cho những trường hợp suy

CNTĐTM do huyết khối cấp, huyết khối có thể

được hút bằng tay hoặc bằng hệ thống hút huyết

khối chuyên dụng

Tỉ lệ thành công lâm sàng tương ứng với các báo cáo nước ngoài, trong khi tỉ lệ thành công về

kĩ thuật của tác giả nước ngoài là 80 - 89% tùy thuộc vào nguyên nhân là hẹp hay huyết khối CNTĐTM(3,5,11) Kết quả ảnh hưởng bởi các yếu tố như: dụng cụ, kĩ năng, kinh nghiệm của thủ thuật viên Mặc dù là báo cáo số lượng nhỏ, kết quả của chúng tôi cũng nằm trong nhóm tỉ lệ thành công cao

Tỉ lệ biến chứng vỡ mạch trong báo cáo tác giả khác là < 1%(8,9) Biến chứng này xảy ra thường do sử dụng bóng có đường kính lớn trên 2mm so với mạch máu tham khảo Biến chứng cũng dể dàng kiểm soát bằng kĩ thuật nong bóng cầm máu hoặc đặt giá đỡ không phủ hoặc có lớp

áo phủ(8,9,10) Tử vong liên quan can thiệp nội mạch gần như không có trong nhiều báo cáo của các tác giả nước ngoài(3,5,8,9,10,11), điều này cũng cho thấy kĩ thuật can thiệp nội mạch có mức độ an toàn cao

KẾT LUẬN

Mặc dù chỉ là báo cáo hồi cứu với 31 trường hợp và thời gian theo dõi ngắn, phương pháp can thiệp nội mạch điều trị suy cầu nối động tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cho thấy kết quả điều trị khả quan với tỉ lệ thành công cao về kĩ thuật 80,6% và lâm sàng 90,3% Đây là một phương pháp hứa hẹn là cứu cánh của nhiều bệnh nhân suy cầu nối để tránh phải mổ lại, giảm thời gian phụ thuộc catheter và các biến chứng liên quan do sử dụng catheter kéo dài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ahmed O, Patel M, Ginsburg M, Jilani D, Funaki BJ (2014) Effectiveness of collateral vein embolization for salvage of

immature native arteriovenous fistulas VascInterv Radiol

25(12):1890-4

2 Aragoncillo I, Amézquita Y, Caldés S, Abad S, Vega A, Cirugeda A et al (2016) The impact of access blood flow surveillance on reduction of thrombosis in native

arteriovenousfistula: a randomized clinical trial; The journal of

vascular access, 17(1): 13-9

3 Bittl JA (2009) Venous rupture during percutaneous treatment

of hemodialysis fistulas and grafts Catheter CardiovascInterv; 74:

1097–101

Trang 6

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 6 * 2018 Nghiên cứu Y học

4 Bookstein J, Fellmeth B, Roberts A (1989) Pulsed-spray

pharmacomechanical thrombolysis: preliminary results Am J

Roentgenol 152: 1097–1100

5 Chiba E, Hamamoto K, Nagashima M, Matsuura K, Okochi T,

Tanno K, Tanaka O (2016) Efficacy of Ultrasound-Guided

Axillary Brachial Plexus Block for Analgesia During

Percutaneous Transluminal Angioplasty for Dialysis Access

CardiovascIntervent Radiol; 39(10): 1407-12

6 Funaki B, Szymski GX, Leef JA, Rosenblum JD, Burke R,

Hackworth CA (1997) Wallstent deployment to salvage dialysis

graft thrombolysis complicated by venous rupture: early and

intermediate results AJR Am J Roentgenol; 169: 1435-7

7 Neuen BL, Gunnarsson R, Baer RA, Tosenovsky P, Green SJ,

Golledge J, Mantha ML (2014) Factors associated with patency

following angioplasty of hemodialysis fistulae J VascInterv

Radiol; 25(9): 1419-26

8 Nguyễn Hồng Quân, Phạm Ngọc Huy Tuấn, Lê Việt Thắng

(2013) Nghiên cứu suy chức năng đường thông tĩnh mạch ở

bệnh nhân suy thận mạn tính chạy thận nhân tạo chu kỳ Tạp chí

y – dược học quân sự số 1

9 Nguyễn Sanh Tùng (2010) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật

tạo rò động - tĩnh mạch ở cẳng tay để chạy thận nhân tạo chu

kỳ Luận án tiến sỹ y khoa

10 Raynaud AC, Angel CY, Sapoval MR, Beyssen B, Pagny JY,

Auguste M (1998) Treatment of hemodialysis access rupture

during PTA with Wallstent implantation J VascIntervRadiol; 9:

437-41

11 Reffat S, Hussein H (2015) Assessment of the Effectiveness of Percutaneous Transluminal Balloon Angioplasty for Failing or

Nonmaturing Arteriovenous Fistulae for Hemodialysis Ann

Vasc Surg 29(7): 1363-7

12 Turmel-Rodrigues L, Boutin J, Camiade C (2009) Percutaneous dilation of the radial artery in nonmaturing autogenous

radial-cephalic fi stulas for haemodialysis Nephrol Dial Transplant

24:3782–3788

13 Turmel-Rodrigues L, Mouton A, Birmelé B et al (2001) Salvage

of immature forearm fistulas for haemodialysis by

interventional radiology Nephrol Dial Transplant 16:2365–2371

14 Turmel-Rodrigues L, Pengloan J, Rodrigue H et al (2000) Treatment of failed native arterio- venous fistulae for

hemodialysis by interventional radiology Kidney Int 57: 1124–

1140

15 Zeit R, Cope C (1985) Failed hemodialysis shunts: one year of

experience with aggressive treatment Radiology, 154: 353–356 Ngày nhận bài báo: 15/07/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/08/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/11/2018

Ngày đăng: 16/01/2020, 03:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w