1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả sớm phương pháp tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm năng lượng holmium laser tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017

7 116 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 320,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân và kết quả sớm phương pháp tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm sử dụng năng lượng laser tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang.

Trang 1

KẾT QUẢ SỚM PHƯƠNG PHÁP TÁN SỎI THẬN QUA DA ĐƯỜNG HẦM NHỎ DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM NĂNG LƯỢNG HOLMIUM LASER

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC GIANG

TỪ THÁNG 12 NĂM 2016 ĐẾN THÁNG 8 NĂM 2017

Đoàn Tiến Dương*, Nguyễn Văn Nguyên*, Vũ Đức Nam*, Đoàn Sơn Tùng*, Hoàng Văn Chúc*, Nguyễn Văn Đồng*, Nguyễn Đồng Hùng*, Vũ Nguyễn Khải Ca**, Đỗ Trường Thành***, Hoàng Long***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tán sỏi qua da đường hầm nhỏ đã dần trở thành phương pháp can thiệp ít xâm lấn trong điều

trị sỏi thận với nhiều ưu điểm thay thế cho mổ mở truyền thống và có khả năng áp dụng tại bệnh viện tuyến tỉnh

Mục tiêu: Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân và kết quả sớm phương

pháp tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm sử dụng năng lượng laser tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang

Đối tượng nghiên cứu: Gồm 46 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán sỏi thận được điều trị bằng tán sỏi qua da

đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm năng lượng laser từ 01/12/2016 đến 31/8/2017 tại bệnh viện đa

khoa tỉnh Bắc Giang

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu

Kết quả: Tuổi trung bình 45,87 ±18,32 tuổi, nhóm tuổi 31 – 60 chiếm 87%, nam chiếm 69,6% nữ chiếm

30,4% Tiền sử đã phẫu thuật 10,9%, TSNCT 21,8%, đã phẫu thuật và TSNCT 13% Triệu chứng lâm sàng đau mỏi thắt lưng chiếm 76% Siêu âm thận giãn độ II chiếm 76% Kích thước sỏi trung bình 2,8 ±1,8cm trong đó sỏi

bể thận đơn thuần chiếm 76 %.- Chọc dò vào đài giữa chiếm 82,7% Thời gian tán sỏi trung bình 60,7 ± 12,3 phút Biến chứng chiếm 22,1%, chỉ 1 bệnh nhân phải mổ mở Thời gian lưu dẫn lưu thận 3 ngày chiếm 44,4% Thời gian dùng thuốc giảm đau 02 ngày chiếm 86,6%, thời gian trung tiện sau tán 02 ngày chiếm 91,1% Thời gian nằm viện trung bình 4,3 ± 1,5 ngày Tỷ lệ sạch sỏi ngay sau tán sỏi là 84,4%, sau 1 tháng là 86,6%

Kết luận: Tán sỏi qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm năng lượng laser là phương pháp

điều trị sỏi thận có thể áp dụng tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang

Từ khóa: Tán sỏi qua da, siêu âm năng lượng

ABSTRACT

EARLY RESULTS OF MINI PERCUTANEOUS NEPHROLITHOTRIPSY UNDER ULTRASOUD GUIDANCE USED ENERGY THE HOLMIUM LASER FROM DECEMBER 2016 TO AUGUST 2017 IN

BAC GIANG GENERAL HOSPITAL.

Doan Tien Duong, Nguyen Van Nguyen, Vu Duc Nam, Doan Son Tung, Hoang Van Chuc, Nguyen Van Dong, Nguyen Dong Hung, Vu Nguyen Khai Ca, Do Truong Thanh, Hoang Long

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 4- 2018: 55 – 61

Introduction: Percutaneous nephrolithotripsy have become minimally invasive treatments of the kidney

stone disease with many alternative substitutions for traditional open surgery and are applicable in provincial hospitals

* Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, ** Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, *** Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức

Tác giả liên lạc: PGS.TS Hoàng Long ĐT: 0912390514 Email: hoanglong70@gmail.com

Trang 2

Objectives: To study the clinical characteristics, subclinical characteristics of patients and early results of

mini percutaneous nephrolithotipsy under ultrasound guidance used the holmium laser in Bac Giang General

Hospital

Subjects: included 46 patients kidney stones cases diagnosed and treated by mini percutaneous

nephrolithotripsy under ultrasound guidance used the holmium laser from 01/12/2016 to 31/8/2017 in Bac Giang General Hospital

Methods: Descriptive study

Results: The mean age was 45.87 ± 18.32 years, the age group 31 - 60 accounted for 87%, male accounted for

69.6% female, accounting for 30.4% The history of surgery was 10.9%, 21.8% TSW, surgery and 13% TSW Clinical manifestations of lumbar palsy accounted for 76% Phase II renal ultrasound accounted for 76% Average size of stone is 2.8 ± 1.8cm Of these, only kidney stones accounted for 76% Pebble mean time was 60.7 ± 12.3 minutes Complications accounted for 22.1%; only one patient had to open surgery 3-day kidney retention time accounted for 44.4% The duration of two-day pain relievers accounted for 86.6%; the second day of intensive care was 91.1% Average hospital stay was 4.3 ± 1.5 days The rate of clean gravel immediately after gravel is 84.4%, after 1 month is 86.6%

Conclusions: Mini percutaneous nephrolithotripsy under ultrasound guidance used the holmium laser is a

method of kidney stone disease that can be applied in Bac Giang General Hospital

Keywords: percutaneous nephrolithotripsy, the holmium laser

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, tán sỏi thận qua da (PCNL) đã dần

là phương pháp điều trị sỏi thận ít xâm lấn được

lựa chọn để điều trị sỏi thận và thể hiện nhiều

ưu điểm so với mổ mở truyền thống Trong quá

trình điều trị bằng phương pháp này việc lựa

chọn cách định vị sỏi, nguồn năng lượng phá sỏi

phụ thuộc nhiều vào điều kiện thực tế của từng

bệnh viện nhất là các bệnh viện tuyến tỉnh Bệnh

viện đa khoa tỉnh Bắc Giang với cơ sở vật chất

còn hạn chế nhưng được sự trợ giúp chuyên

môn của các chuyên gia từ bệnh viện Đại học Y

Hà Nội, bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức đã áp

dụng tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới

hướng dẫn của siêu âm năng lượng laser từ

tháng 12 năm 2016 Nhằm đánh giá kết quả sớm,

khả năng áp dụng của phương pháp điều trị này

tại bệnh viện tuyến tỉnh

Chúng tôi tiến hành đề tài nhằm hai mục

tiêu sau:

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của

nhóm bệnh nhân được tán sỏi qua da đường

hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm năng

lượng Holmium laser tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang

Nhận xét kết quả sớm phương pháp tán sỏi thận qua da bằng đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm năng lượng laser tại bệnh viện

đa khoa tỉnh Bắc Giang

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Gồm 46 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán sỏi thận được điều trị bằng tán sỏi qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm năng lượng laser từ 01/12/2016 đến 31/8/2017 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang

Chỉ định tán sỏi gồm:

Sỏi thận kích thước > 2cm

Sỏi niệu quản 1/3 trên kèm sỏi trong thận cùng bên

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả tiến cứu

Chuẩn bị bệnh nhân

Bệnh nhân được khám lâm sàng, xét nghiệm máu, siêu âm (SA) chụp cắt lớp vi tính (CLVT)

Trang 3

đánh giá toàn trạng, được tư vấn kỹ về phương

pháp điều trị tai biến, biến chứng, tự nguyện

tham gia vào nghiên cứu BN được dùng kháng

sinh trước tán sỏi 01 ngày

Phương tiện dụng cụ

Dụng cụ mổ mở truyền thống, dàn máy nội

soi tiết niệu của Karl Storz, máy siêu âm đen

trắng, máy tán sỏi Holmium laser hang

Accu-tech công suất tối đa 80w, máy bơm nước, ống

soi thận, ống soi niệu quản bán cứng, dây dẫn

đường, ống thông niệu quản, bộ nong đường

hầm vào thận

Các bước tiến hành

BN được gây mê nội khí quản hoặc gây tê

tủy sống

BN đặt tư thế sản khoa đặt ống soi niệu quản

vào bàng quang, đặt dây dẫn đường và ống

thông niệu quản vào thận cùng bên và cố định ra

ngoài niệu đạo

BN được chuyển sang tư thế nằm sấp có kê

độn ở dưới bụng hoặc nằm nghiêng 90º so với

bên đối diện có kê độn ở dưới lưng

Dưới hướng dẫn của siêu âm xác định thận,

sỏi thận và lựa chọn đường vào qua các đài thận,

rạch da 1cm chọc kim vào đài bể thận khi có cảm

giác chạm sỏi hoặc ra nước khi bơm nước vào bể

thận qua ống thông niệu quản thì đặt dây dẫn

đường sau đó nong đường hầm từ nhỏ đến lớn

18 Fr, đặt Amplazt 18Fr

Dùng ống soi thận hay ống soi niệu quản

bán cứng soi vào thận, tiếp cận đài bể thận xác

định sỏi và tán sỏi thành mảnh nhỏ, kết hợp lấy

mảnh sỏi qua Amplazt

Khi thoát nước nhiều nghi tổn thương bể

thận sẽ chuyển mổ mở, khi chảy máu nhiều hoặc

nước tiểu đục dừng tán sỏi và đặt dẫn lưu thận

14 Fr, sẽ tán sỏi sau 01 – 02 tuần sau đó

Nếu tán sạch sỏi thì đặt JJ xuôi dòng rồi dẫn

lưu thận ra da 14 Fr hoặc đặt JJ ngược dòng nếu

đặt JJ xuôi dòng khó khăn

Đặt BN về tư thế ban đầu

Theo dõi sau mổ

Theo dõi tình trạng toàn thân, huyết động Theo dõi số lượng, màu sắc nước tiểu, tình trạng nhiễm trùng

Chụp x quang sau tán sỏi ngày thứ 2, nếu sạch sỏi sẽ rút dẫn lưu thận, nếu còn sỏi sẽ tán sau 01 -02 tuần

Ống thông JJ sẽ rút sau 01 tháng

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian nghiên cứu chúng tôi ghi nhận 46 trường hợp được tiến hành tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ hướng dẫn bằng siêu âm năng lượng Holmium laser với kết quả như sau:

Đặc điểm chung

Bảng 1 Phân bố tuổi, giới

Nhận xét: Tuổi trung bình 45,9 ± 8,3 tuổi, nhỏ

nhất 25 tuổi, lớn nhất 65 tuổi Nhóm tuổi 41-60 chiếm 67,4% Nam nhiều hơn nữ, nam/nữ là: 2,3

Bảng 2 Tiền sử điều trị của thận được tán

Sỏi chưa can thiệp gì 25 54,3 Sỏi trên BN đã phẫu thuật 5 10,9 Sỏi trên BN đã phẫu thuật + SNCT 6 13 Sỏi trên BN đã TSNCT 10 21,8

Nhận xét: Bệnh nhân chưa can thiệp gì chiếm

tỷ lệ 54,3%

Đặc điểm lâm sàng

Triệu chứng đau mỏi thắt lưng là chủ yếu

chiếm 76% (bảng 3)

Trang 4

Bảng 3 Triệu chứng lâm sàng

Cơn đau quặn thận 4 8,7

Đau mỏi thắt lưng 35 76

Tình cờ phát hiện 7 15,3

Đặc điểm cận lâm sàng

Thận giãn độ 2 trên siêu âm chiếm 76%

Bảng 4 Mức độ giãn thận trên siêu âm

giãn

Giãn độ

1

Giãn độ

2

Giãn độ

Tỉ lệ % 4,4 13 76 6,6 100

Sỏi bể thận đơn thuần chiếm 76%, có 1

bệnh nhân sỏi san hô chiếm 4,2%

Bảng 5 Vị trí và hình thái sỏi

thuần

Bể + 1 nhóm đài

Bể + 2 nhóm đài

Bể + 3

Tỉ lệ % 76 10,9 10,9 4,2 100

Kích thước sỏi trung bình 2,8 ±1,8 cm

Nhóm có kích thước 2,5 – 3cm chiếm 61%

Bảng 6 Kích thước viên sỏi

Kết quả tán sỏi

Chọc dò vào đài giữa chiếm ưu thế 82,7%

Bảng 7 Vị trí chọc dò

Bảng 8 Thời gian tán sỏi

Nhận xét: Thời gian tán sỏi trung bình 60,7

± 12,3 phút Nhanh nhất 18 phút, lâu nhất 116 phút, thời gian 40 – 60 phút chiếm tỷ lệ cao nhất (42,2%)

Bảng 9 Các biến chứng trong và sau tán

Tổn thương bể thận 1 2,1 Tổn thương tạng xung quanh 0 0 Chảy máu phải truyền máu 0 0

Nhận xét: Biến chứng trong và sau tán chiếm

22,1%, trong đó sốt chiếm tỷ lệ cao nhất 20% Có

1 bệnh nhân bị tổn thương bể thận phải chuyển

mổ mở

Bảng 10: Thời gian lưu DL thận

Tỉ lệ % 11,1 44,4 35,6 8,9 100

Nhận xét: Thời gian lưu dẫn lưu thận chủ

yếu là 3 ngày chiếm 44,4%

Bảng 11 Thời gian dùng thuốc giảm đau

Nhận xét: Thời gian dùng thuốc giảm đau

ngày 1 – 2 chiếm 86,6%

Bảng 12 Thời gian trung tiện sau tán

Nhận xét: Thời gian trung tiện ngày thứ 1 -

2 chiếm 91,1%

Bảng 13 Thời gian nằm viện sau tán

Trang 5

Nhận xét: Thời gian nằm viện trung bình 4,3

±1,5 ngày ngắn nhất là 3 ngày, dài nhất là 8 ngày

Bảng 14 Tỉ lệ sạch sỏi

Tỷ lệ sạch

sỏi

Bể đơn

thuần

Bể và 1 nhóm đài

Bể và 2 nhóm đài

Bể và 3 nhóm đài

Sau mổ 35 (100%) 2 (50%) 1 (25%) 0 (0%)

Sau 1 tháng 35 (100%) 3 (60%) 1 (25%) 0 (0%)

Nhận xét: Tỷ lệ sạch sỏi sau tán là 84,4% Sau

1 tháng là 86,6%

BÀN LUẬN

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

Tuổi

Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu 45,87

± 18,32 tuổi Hoàng Long (2017) gặp tuổi trung

bình 47,13 ± 24,31 tuổi(1)

Chúng tôi gặp tuổi nhỏ nhất 25, lớn nhất 65

Vũ Nguyễn Khải Ca (2015) gặp tuổi nhỏ nhất 32,

cao nhất 62(4), Hoàng Long (2017) gặp tuổi nhỏ

nhất 22 tuổi lớn nhất 85(1)

Tuổi 31 – 60 chiếm đa số 87% là tuổi lao động

học tập chính của mỗi người

Giới

Nghiên cứu gặp nam 69,6%, nữ 30,4%

Hoàng Long (2017) gặp nam 71,5%, nữ 28,5%(1)

Tiền sử

Tán sỏi thận qua da có thể can thiệp khi bệnh

nhân đã phẫu thuật bị tái phát sỏi hay tán sỏi

ngoài cơ thể thất bại Những bệnh nhân này khi

thực hiện mổ mở sẽ rất khó khăn do quá trình

bộc lộ thận sẽ rất dính nhưng đối với TSQD việc

thực hiện chọc dò vào thận lại thuận lợi vì thận ít

di động với nhịp thở của bệnh nhân Nhóm này

của chúng tôi chiếm 45,7%

Chúng tôi gặp 54,3% bệnh nhân chưa can

thiệp gì

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng nổi bật của nhóm

nghiên cứu là đau mỏi thắt lưng cùng bên với

bên có sỏi (76%), đây là triệu chứng hay gặp

của sỏi trong thận, với đặc điểm ít di chuyển

nên triệu chứng đau thường mơ hồ làm người

bệnh chủ quan hay bỏ qua dấu hiệu này, chỉ khi có giãn thận gây ứ nước tiểu thì sỏi thận mới gây đau nhiều Chúng tôi chỉ gặp 15,3% bệnh nhân tình cờ phát hiện sỏi và 8,7% có cơn đau quặn thận

Triệu chứng cận lâm sàng

Siêu âm

Đánh giá mức độ giãn của thận trên siêu âm

là yếu tố tiên lượng giúp việc chọc dò vào đài bể thận Thận càng giãn to (độ 3, độ 4) thì khả năng chọc dò vào đài bể thận càng dễ nhưng ngược lại quá trình soi thận và tán sỏi lại gặp nhiều khó khăn do sỏi di chuyển các đài thận nên khả năng sót sỏi sẽ tăng lên

Với thận giãn độ 1, 2 việc chọc dò vào đài bể thận sẽ khó khăn nhưng khi soi thận tán sỏi sẽ thuận lợi do đài bể thận hẹp sỏi ít di động, tuy nhiên khả năng tụt amplazt sẽ cao hơn do sỏi nằm sát gần nhu mô Yếu tố khách quan khi chọc

dò vào đài bể thận là có nước tiểu hoặc nước chỉ thị bơm qua ống thông niệu quản chảy ra đầu kim chọc dò, với những sỏi có kích thước lớn chúng tôi có thể cảm nhận cảm giác chạm sỏi qua đầu kim tuy nhiên dấu hiệu này không chắc chắn và phụ thuộc vào chủ quan của từng người Với kinh nghiệm còn hạn chế chúng tôi thường lựa chọn bệnh nhân có thận giãn độ 2 vào nghiên cứu nhóm này chiếm 76%

Vị trí, hình thái sỏi và kích thước sỏi trên CLVT:

Trong nghiên cứu chủ yếu sỏi bể thận đơn thuần 76% Khi tán sỏi chúng tôi có thể đưa amplazt và ống soi thận đi khắp các nhóm đài vì làm bằng nhựa mềm và kích thước nhỏ 18Fr nên khả năng tiếp cận các nhóm đài là có thể, tuy nhiên do kinh nghiệm ban đầu còn hạn chế nên chúng tôi thường lựa chọn sỏi bể thận đơn thuần

dễ tăng khả năng tán sạch sỏi Chúng tôi chỉ có 1 bệnh nhân sỏi san hô (4,2%)

Kích thước sỏi của nhóm nghiên cứu chúng tôi là 2,8 ±1,8 cm Vũ Nguyễn Khải Ca (2015) kích thước sỏi 12,24 mm(4), Hoàng Long (2017) kích thước sỏi 2,41 ±0,86 cm(1), Li Jianxing (2014) kích

Trang 6

thước sỏi 3,2(3), Nghiên cứu của chúng tôi có kích

thước sỏi lớn hơn liên quan tới thời gian tán và

các biến chứng khác

Kết quả sớm

Vị trí chọc dò

Nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu chọc dò

vào đài giữa chiếm 82,7% Từ đài giữa có thể di

chuyển ống soi đi các nhóm đài trên và dưới

thuận lợi, khi kết thúc phẫu thuật đặt ống thông

JJ xuôi dòng cũng thuận lợi hơn khi chọc dò vào

các đài khác Nhóm nghiên cứu chủ yếu gặp sỏi

bể thận đơn thuần 76%, đường tiếp cận sỏi vào

đài giữa là con đường thuận lợi nhất

Hoàng Long (2017) chọc dò vào đài giữa

71,5%(1), Li Jianxing (2014) chọc dò vào đài giữa

56 %(3) Chúng tôi chọc dò vào đài trên chỉ có 1

bệnh nhân chiếm 2,1% cũng phù hợp với Hoàng

Long (2017) là 13%(1), và Li Jianxing (2014) là

6%(3)

Thời gian tán sỏi

Thời gian tán sỏi trung bình của nhóm

nghiên cứu là 60,7 ±12,3 phút nhanh nhất 18

phút và lâu nhất 116 phút so với Hoàng Long

(2017) và Li Jianxing (2014) thì thời gian tán sỏi

của chúng tôi có lâu hơn nhưng sỏi của chúng tôi

có kích thước lớn hơn và kinh nghiệm tán sỏi của

chúng tôi còn hạn chế

Biến chứng trong và sau tán

Biến chứng trong và sau tán sỏi phụ thuộc

rất nhiều yếu tố như lựa chọn bệnh nhân, vị trí,

hình thái sỏi, kích thước của sỏi, các trang thiết

bị, phương tiện dụng cụ tán sỏi, kinh nghiệm

của phẫu thuật viên, chúng tôi định vị sỏi và dẫn

đường khi tạo đường hầm bằng siêu âm do đó

còn phụ thuộc vào kinh nghiệm siêu âm thận,

tiết niệu của phẫu thuật viên

Chúng tôi gặp 10 bệnh nhân có biến chứng

sau mổ với tỉ lệ chung là 22,1% trong đó tổn

thương bể thận 2,1%, sốt 20%

Chúng tôi gặp biến chứng cao so với các tác

giả: Hoàng long (2017) biến chứng 4,1% gồm:

Tụt Amplatz trong mổ, chảy máu do giả phình,

tụ dịch sau phúc mạc, sốt sau mổ(1) Li Jianxing (2014) gặp: Sốt 4,7%, truyền máu 1,1%, thương tổn màng phổi 0,19%, chuyển phẫu thuật mở 0,05%, gây nghẽn động mạch 0,25%, cắt thận 0,03%(3)

Nhưng thấp hơn so với Hồ Trường Thắng (2015) tai biến 29,6% trong đó: Chảy máu phải can thiệp ngoại khoa hoặc truyền máu 7,4%, sốt 11,1%, rò nước tiểu và sốt 7,4%, tụt amplatz và sốt 3,7%(2)

Biến chứng nặng nề nhất mà chúng tôi gặp phải là một bệnh nhân nam 59 tuổi sỏi bể thận và

2 nhóm đài chúng tôi chọc kim xuyên thủng vào

bể thận và trong quá trình tán sỏi bị ngấm nước chúng tôi phải chuyển mổ mở lấy sỏi và tạo hình

bể thận bị rách, hậu phẫu bệnh nhân ổn định ra viện ngày thứ 10 sau mổ Các bệnh nhân có sốt làm kéo dài thời gian nằm viện sau tán được cấy máu, cấy niệu không có vi khuẩn được dùng kháng sinh phổ rộng, bệnh nhân đều ổn định, cá biệt có bệnh nhân sốt 5 ngày liên tục

Thời gian lưu dẫn lưu thận

Việc có đặt dẫn lưu thận ra da sau tán sỏi qua da hay không còn đang là vấn đề tranh cãi với nhiều tác giả Chúng tôi đặt dẫn lưu thận ra

da ở tất cả những trường hợp tán sỏi qua da, thời gian lưu dẫn lưu này phụ thuộc vào diễn biến lâm sàng sau tán sỏi

Thời gian lưu dẫn lưu thận của chúng tôi chủ yếu là 3 ngày chiếm 44,4% Kết quả phù hợp với

Hồ Trường Thắng (2015) thời gian lưu dẫn lưu thận là 2,96 ±0,77 ngày(2)

Thời gian dùng thuốc giảm đau, trung tiện sau tán

Trong nhóm nghiên cứu thời gian dùng thuốc giảm đau ngày 1 – 2 chiếm 86,6% Mặc dù tán sỏi không tổn thương vào ống tiêu hóa nhưng cũng ảnh hưởng tới nhu động ruột do hội chứng sau phúc mạc, tuy nhiên thời gian trở lại với lưu thông ống tiêu hóa ngày 1 – 2 của nhóm nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao 91,1% thể hiện ưu điểm vượt trội của phương pháp điều trị này so với mổ mở truyền thống

Trang 7

Thời gian hậu phẫu

Thời gian nằm viện sau tán sỏi của nhóm

nghiên cứu là 4,3 ±1,5 ngày Đây là kết quả rất

đáng khích lệ so với Li Jianxing (2014) là 4,1

ngày(3), Hồ Trường Thắng (2015) là 6,5 ± 3,44

ngày(2). Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy

bệnh nhân có sốt sau tán làm kéo dài thời gian

hậu phẫu

Tỉ lệ sạch sỏi

Tỷ lệ sạch sỏi sau tán của nhóm nghiên cứu

của chúng tôi rất đáng khích lệ đó là 84,4% ngay

sau mổ trong đó của Hoàng Long (2017) là

77,7%, sau 1 tháng đạt 86,6% của Hoàng Long

(2017) đạt 87,4%(1) Của Li Jianxing (2014) sạch sỏi

85,5%(3) Hồ Trường Thắng (2015) gặp tỷ lệ sạch

sỏi sau tán 70,4%, sau 1 tháng 74,1%(2)

Lý do chúng tôi đạt được kết quả như vậy có

thể BN của chúng tôi thường có 1 viên và sỏi bể

thận đơn thuần là chính nên khả năng tiếp cận

và xử lý trong tán thuận lợi hơn các tác giả khác

vì vậy mà tỷ lệ sạch sỏi cao hơn

KẾT LUẬN

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm

bệnh nhân

Tuổi trung bình 45,87 ±18,32 tuổi, nhóm tuổi

31 – 60 chiếm 87%, nam chiếm 69,6% nữ chiếm

30,4%

Tiền sử đã phẫu thuật 10,9%, TSNCT 21,8%,

đã phẫu thuật và TSNCT 13%

Triệu chứng lâm sàng đau mỏi thắt lưng

chiếm 76%

Siêu âm thận giãn độ II chiếm 76%

Kích thước sỏi trung bình 2,8 ±1,8cm trong

đó sỏi bể thận đơn thuần chiếm 76 %

Kết quả sớm

Chọc dò vào đài giữa chiếm 82,7%

Thời gian tán sỏi trung bình 60,7 ±12,3 phút Biến chứng chiếm 22,1%, chỉ 1 bệnh nhân phải mổ mở

Thời gian lưu dẫn lưu thận 3 ngày chiếm 44,4%

Thời gian dùng thuốc giảm đau 02 ngày chiếm 86,6%, thời gian trung tiện sau tán 02 ngày chiếm 91,1%

Thời gian nằm viện trung bình 4,3 ± 1,5 ngày

Tỷ lệ sạch sỏi ngay sau tán sỏi là 84,4%, sau 1 tháng là 86,6%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hoàng Long và CS (2017), “Tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn bằng siêu âm, lựa chọn tối ưu trong điều trị sỏi

đài bể thận", Tạp chí Y Dược học Huế số đặc biệt tháng 8 năm

2017, tr 304 - 313

2 Hồ Trường Thắng (2015) "Đánh Giá hiệu quả phương pháp tán sỏi thận qua da bằng đường hầm nhỏ tại bệnh viện Việt Đức",

Luận văn Thạc sỹ Y học Trường Đại học Y Hà Nội

3 Li J (2014) “Complication and safety of ultrasound guided

percutaneous nephrolithotomy in 8025 cases in China”Chin Med

J 2014;127(24): 4184 - 4189

4 Vũ Nguyễn Khải Ca và CS (2015) “Tán sỏi qua da bằng đường

hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm", Y học TP Hồ Chí Minh, tr

227- 281

Ngày nhận bài báo: 10/05/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/06/2018 Ngày bài báo được đăng: 20/07/2018

Ngày đăng: 16/01/2020, 03:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w