1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lượng vi khuẩn trong nước bọt trước và sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch, ngầm

8 120 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 329,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh số lượng vi khuẩn trong nước bọt giữa 2 nhóm bệnh nhân sử dụng kháng sinh Amoxicillin theo phác đồ phòng ngừa 1 liều (2g trong 30 đến 60 phút) và phòng ngừa thông thường (500mg mỗi lần, mỗi ngày 3 lần trong 5 ngày) trong phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch, ngầm.

Trang 1

LƯỢNG VI KHUẨN TRONG NƯỚC BỌT TRƯỚC

VÀ SAU PHẪU THUẬT NHỔ RĂNG KHÔN HÀM DƯỚI LỆCH, NGẦM

Việt Thanh Nhã*, Tạ Tố Trân**

TÓM TẮT

Mở đầu: Nhiễm trùng sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới mọc lệch ngầm thường được đánh giá gián tiếp

dựa vào các dấu hiệu lâm sàng như sưng, đau, khít hàm hoặc đánh giá trực tiếp thông qua lượng vi khuẩn hình thành sau nuôi cấy

Mục tiêu: So sánh số lượng vi khuẩn trong nước bọt giữa 2 nhóm bệnh nhân sử dụng kháng sinh

Amoxicillin theo phác đồ phòng ngừa 1 liều (2g trong 30 đến 60 phút) và phòng ngừa thông thường (500mg mỗi lần, mỗi ngày 3 lần trong 5 ngày) trong phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch, ngầm

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng so sánh trên 68 bệnh

nhân Đối tượng được lấy nước bọt 3 lần (lần 1: trước khi bắt đầu phẫu thuật; lần 2: 2 ngày sau phẫu thuật và lần 3: 7 ngày sau phẫu thuật) Mẫu nước bọt được giữ trong lọ vô khuẩn và chuyển ngay đến labo vi sinh để cấy trên đĩa thạch máu cừu; sau đó ủ trong môi trường 37 o C trong 18 giờ đến 24 giờ Sau thời gian ủ, đếm số khúm

vi khuẩn, từ đó suy ra số đơn vị khúm trong 1 ml dung dịch nước bọt

Kết quả: Số đơn vị khúm vi khuẩn giữa 2 nhóm tại các thời điểm đánh giá khác biệt không có ý nghĩa

thống kê

Kết luận: Bệnh nhân sử dụng thuốc Amoxicillin 1 liều 2g trước phẫu thuật hay 15 liều 500mg sau phẫu

thuật không có sự khác biệt về số đơn vị khúm vi khuẩn trong nước bọt

Từ khoá: Kháng sinh phòng ngừa, vi khuẩn, nước bọt, Amoxicillin

ABSTRACT

THE NUMBER OF SALIVARY BACTERIA BEFORE AND AFTER SURGERY

OF IMPACTED MANDIBULAR THIRD MOLAR

Viet Thanh Nha, Ta To Tran * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 62 - 69

Background: Infection could occur after surgery of impacted mandibular third molar Amoxicillin

prophylaxis is usually prescribed to prevent this complication The drug could be taken preoperatively (2g single-dose in 30 to 60 mn before surgery) or postoperatively (500mg per time, thrice a day in 5 after surgery)

Objectives: To compare the number of colony forming unit (CFU) of salivary bacteria between 2 groups

received Amoxicillin prophylaxis pre and post-operation in surgery of impacted mandibular third molar

Method: This study was designed as a clinical trial involving 68 patients under third lower molar surgery

Patients were devised into 2 groups using Amoxicillin before or after surgery Saliva of each patient had been taken out in day 1 (day of surgery), day 2 (2 days after surgery) and day 7 (7 days after surgery) by rinsing sodium chloride solution 0.9% Salivary solution was kept in a sterilized pot and cultured immediately on sheep blood agars, then incubated at 37 o C in incubator for 18 to 24 hours The number of bacteria colony was counted to evaluate the number of CFU in 1 ml of salivary solution

*Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

**Bộ môn Phẫu Thuật Miệng, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS Tạ Tố Trân ĐT: 091363252 Email: totrandent@yahoo.com

Trang 2

Result: There were no significant differences of the CFU in 1 ml salivary solution in day 1, day 2 and day 7

between 2 groups

Conclusion: Patients receiving single dose preoperational or several doses postoperation of Amoxicillin did

not have the same number of bacterial CFU in saliva under surgery of impacted mandibular third molar

Key word: Antibiotic prophylaxis, saliva, bacteria, Amoxicillin

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch,

ngầm can thiệp đến mô mềm và mô xương nên

thường gây sưng, đau, cứng khít hàm, đặc biệt là

nhiễm trùng(4) Do đó, kháng sinh thường được

chỉ định để phòng ngừa biến chứng này sau

phẫu thuật

Amoxicillin là thuốc kháng sinh thường sử

dụng trong Nha khoa từ rất lâu và cho đến nay

vẫn cho thấy có hiệu quả trong việc kiểm soát

nhiễm khuẩn vùng răng miệng Trong phẫu

thuật nhổ răng khôn hàm dưới, Amoxicillin là

kháng sinh thường được chỉ định trên lâm sàng

để phòng ngừa nhiễm trùng sau phẫu thuật theo

2 phác đồ trước hoặc sau phẫu thuật Đối với

người trưởng thành bình thường, Amoxicillin

được chỉ định với liều lượng 1500 mg/ngày,

uống trong 5-7 ngày hoặc Amoxicillin 2 g trước

phẫu thuật 30 đến 60 phút

Trong Nha khoa, nước bọt thường được sử

dụng làm nghiên cứu do tính chất thường

xuyên và tính phổ biến của nước bọt trong

môi trường miệng Thông qua nước bọt

nghiên cứu viên có thể đánh giá được tình

trạng môi trường quanh vùng cần khảo sát

Mặt khác, nước bọt là một loại mẫu dễ lấy

mẫu và không xâm lấn Nước bọt cũng có thể

được sử dụng trong nghiên cứu các bệnh lý

răng miệng để khảo sát vi khuẩn, trong đó, xét

nghiệm định lượng vi khuẩn trong nước bọt

được sử dụng nhằm đánh giá tình trạng viêm,

nhiễm trùng trong môi trường miệng

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác

định và so sánh số lượng vi khuẩn trong nước

bọt trước và sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới

lệch, ngầm, giữa 2 nhóm bệnh nhân sử dụng

Amoxicillin theo 2 phác đồ khác nhau

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mẫu nghiên cứu

68 bệnh nhân đến nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm, từ 20 đến 30 tuổi tại bộ môn Phẫu Thuật Miệng, khoa Răng Hàm Mặt, trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân có răng khôn hàm dưới lệch ngầm có độ khó thuộc loại II, III và độ sâu B, C dựa theo phân loại của Pell và Gregory, 1933

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân dị ứng với bất kỳ thuốc nào thuộc nhóm β- lactam

- Bệnh nhân đang sử dụng bất kỳ một loại thuốc nào khác trong thời gian nghiên cứu hay bệnh nhân đã sử dụng một loại kháng sinh toàn thân trong vòng 2 tuần trước khi sử dụng thuốc trong nghiên cứu hoặc sử dụng một loại thuốc kháng sinh đường tiêm có tác dụng kéo dài như Penicillin G Benzathine trong vòng 4 tuần trước khi sử dụng thuốc trong nghiên cứu

- Bệnh nhân có bệnh toàn thân: tim mạch, cao huyết áp, tiểu đường…

- Bệnh nhân có thai hoặc cho con bú

- Bệnh nhân đang có tình trạng nhiễm trùng tại chỗ

- Bệnh nhân không thể hoặc không chịu hợp tác trong việc cung cấp những thông tin cần thiết theo yêu cầu của nghiên cứu hay theo các chỉ định của phẫu thuật viên

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên

Trang 3

Phương tiện nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu

Amoxicillin 500 mg dạng viên nén

Mẫu bệnh phẩm

Dung dịch nước bọt

Xét nghiệm vi khuẩn

- Đĩa thạch máu cừu (Sheep blood agar)

- Que cấy 1 μl

- Tủ ủ 37oC

- Ống chân không

- Kim tiêm 1ml, 5ml

- Ống nghiệm vô khuẩn 12 ml

- Pipette nhựa 1 ml tiệt trùng

Quy trình nghiên cứu

Phân nhóm nghiên cứu

Bệnh nhân bốc thăm số thứ tự đã được phân

nhóm trước bằng phần mềm Excel

- Nhóm A: Nhóm sử dụng Amoxicillin 2 g

30-60 phút trước phẫu thuật

- Nhóm B: Nhóm sử dụng Amoxicillin 500

mg mỗi 6 - 8 giờ trong 5 ngày sau phẫu thuật, bắt

đầu uống sau phẫu thuật 3 giờ

Các bước tiến hành trước phẫu thuật

- Bệnh nhân được khám tổng quát, chụp

phim toàn cảnh, xét nghiệm thường quy

- Bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên

cứu được giải thích, thông báo đầy đủ về mục

đích nghiên cứu, bệnh nhân đồng ý hợp tác để

thực hiện nghiên cứu và ký tên vào mẫu đồng ý

tham gia nghiên cứu

- Nghiên cứu viên ghi nhận những thông tin

hành chính: số bệnh án, tên, tuổi, giới tính, cân

nặng, địa chỉ trong phiếu thu thập dữ liệu

- Mỗi bệnh nhân chọn vào trong nghiên cứu

được mã hóa bằng một mã số

Các bước tiến hành trong phẫu thuật

Phẫu thuật được tiến hành theo một quy

trình phẫu thuật chuẩn bởi 1 phẫu thuật viên có

kinh nghiệm, tại bộ môn Phẫu thuật miệng,

Khoa Răng Hàm Mặt, trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh:

- Sát trùng với dung dịch sát khuẩn Povidine 10% ngay trước khi phẫu thuật

- Gây tê vùng bằng thuốc tê Lidocaine 2% với epinephrine 1:100000

- Tạo vạt

- Mở xương

- Chia cắt răng

- Nhổ răng

- Làm sạch vết thương

- Khâu đóng Bệnh nhân chỉ bắt đầu uống thuốc sau phẫu thuật 3 giờ và tất cả bệnh nhân đều được sử dụng thuốc Ibuprofen 400 mg ngày 3 lần trong 3 ngày đầu sau phẫu thuật

Thu thập số liệu

Thu thập nước bọt

Bệnh nhân được súc miệng trong vòng 30 giây với 10 ml dung dịch nước muối sinh lý rồi nhả vào lọ vô khuẩn sau đó đem chuyển vào phòng thí nghiệm vi sinh để làm xét nghiệm định lượng vi khuẩn ngay lập tức

Thời điểm lấy mẫu nước bọt

- Ngày 1: (Ngày thực hiện phẫu thuật) + Nhóm A: được lấy nước bọt trước khi dùng thuốc

+ Nhóm B: được lấy nước bọt trước khi tiến hành phẫu thuật

- Ngày 2:

+ Nhóm A và nhóm B: được lấy nước bọt 2 ngày sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới

- Ngày 7:

+ Nhóm A và nhóm B: được lấy nước bọt 7 ngày sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới

Quy trình cấy vi sinh

- Cấy VK trên thạch máu: Pha loãng 1 ml dung dịch X 100 lần Dùng pipette hút 10μl dung dịch pha loãng nhỏ lên thạch máu Tráng đều

Trang 4

mặt thạch, sau đó ủ hộp thạch trong môi trường

37oC trong vòng 24 giờ

- Sau thời gian ủ, đếm số khúm VK mọc trên

mặt đĩa thạch Sau đó, tính ra số đơn vị khúm

trong 1 ml dung dịch nước bọt (CFU/ml) bằng

cách lấy số đơn vị khúm đếm được nhân cho 105

Xử lý số liệu thống kê

- Các số liệu được xử lý bằng phần mềm

SPSS 22.0

- Sử dụng phép kiểm thống kê χ 2 để so sánh các giới tính, loại răng, độ khó của răng cần nhổ giữa hai nhóm, phép kiểm Mann-Whitney và T-test để so sánh số lượng khúm vi khuẩn giữa 2 nhóm ở các ngày đo

Vấn đề đạo đức

Nghiên cứu đã được xét duyệt và được sự chấp thuận của hội đồng Y đức trường Đại học Y dược TPHCM

KẾT QUẢ

Bảng 1 Phân bố giới tính, tuổi, loại răng, thời gian phẫu thuật, số lượng thuốc tê giữa nhóm A và nhóm B

Giới tính Nam 17 (50) 16 (47,1) 0,5(*)

Nữ 17 (50) 18 (52,9) Tuổi 23,76 ± 2,641 23,29 ± 1,931 0,405(**) Loại răng 38 19 (55,9) 15 (44,1) 0,234(*)

48 15 (44,1) 19 (55,9) Thời gian phẫu thuật (phút) 18,21 ± 9,96 22,09 ± 9,063 0,097(**)

Số lượng thuốc tê (ml) 2,7 ± 0,37 3 ± 0,64 0,079(**)

(*) : Phép kiểm χ 2 (**) : Phép kiểm T-test cho 2 mẫu độc lập

Giới tính và tuổi

Mẫu nghiên cứu gồm 68 bệnh nhân đến

phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới trong đó có

33 nam và 35 nữ Tỷ lệ nam: nữ ở nhóm A và

nhóm B lần lượt là 1:1và 8:9, tỷ lệ nam nữ giữa

nhóm A và nhóm B khác biệt không có ý nghĩa

thống kê

Tuổi trung bình ở 2 nhóm lần lượt là 23,76

± 2,641 và 23,29 ± 1,931 Sự phân bố tuổi ở

nhóm A và nhóm B khác biệt không có ý nghĩa

thống kê (Bảng 1)

Bảng 2 Phân bố loại răng giữa nhóm A và nhóm B

IIA 13 (38,2) 6 (17,6)

0,176(*)

IIIA 8 (26,5) 6 (17,6)

IIB 9 (23,5) 17 (50)

IIIB 4 (11,8) 4 (11,8)

IIC 0 (0) 1 (2,9)

Tổng 34 34

(*) : Phép kiểm χ 2

Loại răng và mức độ khó nhổ

Trong 68 bệnh nhân nghiên cứu có 19 bệnh

nhân nhóm A và 15 bệnh nhân nhóm B đến nhổ

răng 38 Ngược lại, có 15 bệnh nhân nhóm A và

19 bệnh nhân nhóm B đến nhổ răng 48 Sự phân

bố của 2 răng này ở 2 nhóm A và nhóm B khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Mức độ khó nhổ của răng khôn hàm dưới trong nghiên cứu này được phân loại theo Pell

và Gregory, 1933 Đa số bệnh nhân nhóm A thuộc nhóm IIA (38,2%) và bệnh nhân nhóm B thuộc loại IIB (50%) Tuy nhiên, mức độ khó nhổ

ở 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (Bảng 2)

Thời gian phẫu thuật và số lượng thuốc tê

Thời gian phẫu thuật được tính từ khi bệnh nhân bắt đầu thấy tê môi cho đến khi kết thúc mũi khâu cuối cùng

Thời gian phẫu thuật trung bình ở nhóm A là 18,21 ± 9,96 phút và nhóm B là 22,09 ± 9,063 phút Thời gian phẫu thuật trung bình ở nhóm A và nhóm B khác biệt không có ý nghĩa thống kê (Bảng 1)

Lượng thuốc tê được tính theo số lượng và phần trăm sử dụng của ống thuốc tê trong suốt quá trình phẫu thuật Lượng thuốc tê trung bình được sử dụng ở nhóm A và B lần lượt là 2,74 ±

Trang 5

0,4 và 3 ± 0,6 Sự khác biệt về lượng thuốc tê

được sử dụng trong 2 nhóm không có ý nghĩa

thống kê

Số lượng khúm vi khuẩn trong 1 ml dung dịch

nước bọt (CFU/ml)

Bảng 3 Số lượng khúm VK trung bình trong 1 ml

dung dịch nước bọt giữa nhóm A và B ở ngày 1,2 và 7

Ngày

đo

Số lượng khúm VK

1 237,94 ± 179,31 222,12 ± 199,46 0,294(*)

2 274,68 ± 162 238,62 ± 134,11 0,312(**)

7 229,06 ± 180 228,59 ± 165,81 0,917(*)

(*): Phép kiểm Mann-Whitney cho 2 mẫu độc lập

(**) : Phép kiểm T-test cho 2 mẫu độc lập

Vào thời điểm trước phẫu thuật, số lượng

khúm vi khuẩn trung bình ở nhóm A là 237,94 ±

179,31 x 105 và nhóm B là 222,12 ± 199,46 x 105

CFU/ml, khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Vào thời điểm 2 ngày và 7 ngày sau phẫu thuật,

số lượng khúm vi khuẩn trung bình ở nhóm A

và nhóm B lần lượt là 274,68 ± 162 x 105,229,06 ±

180 x 105 và 238,62 ± 134,11 x 105, 228,59 ± 165,81

x105 CFU/ml khác biệt cũng không có ý nghĩa

thống kê (Bảng 3)

Biểu đồ 1: Sự thay đổi số lượng khúm VK trung bình

trong 1 ml dung dịch nước bọt giữa nhóm A và B ở

các ngày đo

Biểu đồ 1 cho thấy số lượng khúm vi khuẩn

của 2 nhóm đều tăng vào ngày thứ 2 và giảm

dần đến ngày thứ 7 sau phẫu thuật Số lượng vi

khuẩn ở nhóm A luôn cao hơn nhóm B ở cả 3

thời điểm đánh giá, tuy nhiên sự khác biệt đều

không có ý nghĩa thống kê

BÀN LUẬN Tuổi và giới tính

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tuổi và giới tính có ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm trùng sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới(6,8) Đối với những bệnh nhân lớn tuổi thường có thời gian nhai nhiều trên răng khôn đã mọc làm cho lực gắn dính giữa răng

và xương ổ thông qua dây chằng nha chu càng chặt chẽ(7) Thêm vào đó, tuổi tác càng cao càng làm tăng mật độ xương(5) Chính vì vậy, phẫu thuật nhổ răng khôn ở những bệnh nhân này đòi hỏi tính xâm lấn nhiều hơn Đối với những bệnh nhân nhỏ tuổi, dưới 18 tuổi, đang trong giai đoạn hình thành và mọc răng nên chưa thể xác định được khả năng lệch, ngầm của răng cũng như khó xác định vị trí tương quan răng và hàm theo các phân loại Vì vậy, nghiên cứu này cũng không chọn những bệnh nhân ở độ tuổi dưới 18 Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ chọn những bệnh nhân trong độ tuổi 20-30 tuổi và không có sự khác biệt về tuổi vàgiới tính giữa nhóm A và nhóm B để đồng nhất về tính xâm lấn của phẫu thuật

Loại răng và mức độ khó nhổ

Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều không đề cập đến ảnh hưởng của loại răng lên phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới do tính chất đối xứng của răng hàm dưới bên phải và trái Tuy nhiên, đối với một số bệnh nhân có thói quen cận chức năng như nghiến răng hay ăn nhai 1 bên làm cho mức độ gắn dính giữa răng

và xương ổ răng thông qua dây chằng nha chu càng chặt chẽ gây khó khăn cho việc lấy răng ra trong phẫu thuật Theo kinh nghiệm của phẫu thuật viên, vị trí răng khôn hàm dưới bên phải thuận lợi hơn trong khi quan sát, từ đó giúp phẫu thuật viên dễ dàng thao tác, dẫn đến giảm thời gian phẫu thuật trên lâm sàng Trong nghiên cứu này, tỷ lệ phân bố các răng ở phần hàm phải và trái giữa nhóm A và nhóm B không

có sự khác biệt

Trang 6

Răng khôn càng khó nhổ càng đòi hỏi những

kỹ thuật phức tạp trong quá trình phẫu thuật

như phải chia cắt răng, lật vạt và mở xương để

có thể lấy răng ra Điều này làm tăng mức độ

xâm lấn của phẫu thuật, tạo điều kiện cho vi

khuẩn tăng trưởng Vì vậy, chúng tôi đánh giá

mức độ khó nhổ của răng khôn hàm dưới theo

phân loại của Pell và Gregory, 1933(9) Trong

nghiên cứu này, mức độ khó nhổ của răng khôn

hàm dưới ở nhóm A và nhóm B là không có sự

khác biệt

Thời gian phẫu thuật và số lượng thuốc tê

Thời gian phẫu thuật trong nghiên cứu được

tính từ khi bệnh nhân bắt đầu tê môi cho đến khi

hoàn tất mũi khâu cuối cùng Nhiều nghiên cứu

trên thế giới cho thấy thời gian phẫu thuật có

ảnh hưởng đến các biến chứng sau phẫu thuật

nhổ răng khôn hàm dưới Nghiên cứu của Seidu

A Bello và cộng sự, 2011(2), cho rằng thời gian

phẫu thuật nhổ răng khôn kéo dài làm tăng mức

độ sưng, đau và khít hàm sau phẫu thuật Trên

thực tế, từ khi bắt đầu phẫu thuật, vùng thao tác

đã tiếp xúc với môi trường bên ngoài Tiếp xúc

càng lâu với môi trường bên ngoài thì càng dễ

dàng tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và

tăng trưởng Trong nghiên cứu này, thời gian

phẫu thuật trung bình giữa nhóm A và nhóm B

không có sự khác biệt

Thuốc tê được sử dụng trong nghiên cứu

này cho tất cả bệnh nhân là Lidocain 2% Đây là

loại thuốc tê thuộc nhóm ester, rất ít gây dị ứng

và có hiệu quả tê kéo dài và thời gian bắt đầu tê

ngắn(9) Trong nghiên cứu này, lượng thuốc tê

trung bình được sử dụng giữa nhóm A và nhóm

B không có sự khác biệt (Bảng 1)

Vật liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng Amoxicillin

Amoxicillin là kháng sinh thuộc họ Penicillin

hay họ β-lactam có tính diệt khuẩn Amoxicillin

có tác dụng kháng khuẩn với hầu hết các VK

Gram + cocci và một số VK Gram - hiếu khí và kỵ

khí(15) Streptococcus viridans là 1 cocci Gram +

cũng nhạy cảm với kháng sinh này(11) VK này

thuộc vi khuẩn thường trú trong miệng nhưng vẫn được tìm thấy thường xuyên với tỷ lệ 45% trong các sang thương nhiễm trùng ở vùng miệng mặt và là tác nhân hàng đầu gây nhiễm trùng sau phẫu thuật nhổ răng khôn(1) Chính vì vậy, Amoxicillin là thuốc kháng sinh thường được chỉ định để đề phòng nhiễm trùng sau phẫu thuật nhổ răng khôn Liều lượng kháng sinh được sử dụng trong trường hợp này ở người lớn là từ 5 đến 7 ngày, mỗi ngày 500 mg 3 lần tuỳ theo nguy cơ nhiễm khuẩn Amoxicillin còn là kháng sinh thường được chỉ định trước phẫu thuật ở những bệnh nhân có nguy cơ để

phòng ngừa viêm nội tâm mạc mà Streptococcus viridans là tác nhân chính Amoxicillin được sử

dụng trong trường hợp này với liều lượng 50mg/kg, uống 1 giờ đến 1 ngày trước khi phẫu thuật và 25mg/kg, uống mỗi 6 giờ sau liều đầu tiên Ngoài ra, một số nghiên cứu cho rằng Amoxicillin dùng với 1 liều duy nhất 2 g 30 - 60 phút trước phẫu thuật, trong đó có phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới cũng có tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng như phác đồ trên(10,13) Trong nghiên cứu này, Amoxicillin được sử dụng ở dạng viên nang, liều lượng của mỗi viên

là 500 mg Bệnh nhân ở nhóm A sử dụng 4 viên trước phẫu thuật 1 giờ và bệnh nhân nhóm B sử dụng thuốc 1 ngày 3 lần, mỗi lần 1 viên sau phẫu thuật 6 giờ trong 5 ngày

Mẫu bệnh phẩm

Bệnh phẩm sử dụng trong nghiên cứu là nước bọt Việc lấy nước bọt là một thủ thuật không xâm lấn và có thể thực hiện được dễ dàng trên lâm sàng Do tính chất thường xuyên và phổ biến của nước bọt trong miệng nên nước bọt thường được sử dụng làm bệnh phẩm cho một

số nghiên cứu có liên quan đến các chỉ số trong môi trường miệng, trong đó có việc xác định số lượng vi khuẩn trong nước bọt Có nhiều phương pháp định lượng vi khuẩn trong nước bọt Trong nghiên cứu sử dụng phương pháp cấy vi khuẩn trên môi trường thạch máu, là một môi trường không chọn lọc giàu dinh dưỡng

Trang 7

thích hợp cho vi khuẩn phát triển; cho phép xác

định số vi khuẩn bằng cách đếm khuẩn lạc

Bệnh nhân được yêu cầu không ăn uống gì

trong vòng 1 giờ trước khi được lấy mẫu để

tránh việc nhiễm khuẩn ngoại lai làm sai lệch kết

quả nghiên cứu Ngoài ra, nước bọt được lấy

bằng cách cho bệnh nhân súc miệng với 10 ml

nước muối sinh lý vô trùng và được giữ trong 1

lọ vô khuẩn

Số lượng khúm vi khuẩn trong 1 ml dung dịch

nước bọt (CFU/ml)

Môi trường miệng là môi trường thích hợp

cho nhiều loại vi khuẩn sinh sôi và phát triển

Trung bình có khoảng 106 vi khuẩn trên 1 ml

nước bọt Trong nghiên cứu này, số lượng vi

khuẩn trung bình trong 1 ml dung dịch nước

bọt ở nhóm A và B lần lượt là là 237,94 x 105 ±

179,31 và 222,12 ± 199,46 x 105 CFU Ở trạng

thái bình thường, môi trường miệng là nơi trú

ngụ của những vi khuẩn thường trú không

gây bệnh, bao gồm một số loài trong đó có

Gram + như Streptococci, Peptostreptococci,

Eubacteria, Lactobacillus, Gram - như

Porphyromonas, Prevotella hay Fusobacterium

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự hiện

diện của Gram + và Gram - như trên Nghiên

cứu còn cho thấy có sự hiện diện của liên cầu

khuẩn Gram + là hình dạng tiêu biểu của

Streptococci, ngoài ra, Streptococci cũng thuộc

loại vi khuẩn có khả năng gây tiêu huyết α và

β (không được trình bày trong kết quả)

Bình thường môi trường miệng ở trạng thái

cân bằng đa vi khuẩn, tạo thành 1 hệ tạp khuẩn

Khi có sự thay đổi làm mất cân bằng hệ sinh thái

trong môi trường miệng, sẽ tạo điều kiện cho

nhiều loại vi khuẩn tăng sinh và gây nhiễm

trùng miệng Nhiễm trùng trong miệng không

có vi khuẩn đặc hiệu mà là sự kết hợp của nhiều

loại vi khuẩn khác nhau Phẫu thuật nhổ răng

khôn hàm dưới lệch, ngầm là một phẫu thuật có

tính xâm lấn và có thể gây thay đổi môi trường

miệng Các thủ thuật gây tê và phẫu thuật đều

làm gia tăng số lượng vi khuẩn từ 15% đến

97%(14) Những yếu tố nguy cơ gây nhiễm trùng của phẫu thuật này bao gồm các dị vật tại vết thương như chỉ khâu, mô hoại tử, thiếu máu nuôi dưỡng hay do những biến chứng trong quá trình phẫu thuật như kim nhiễm khuẩn hoặc tạo vạt không đúng cách(9) Nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng nhiễm trùng của bệnh nhân sau phẫu thuật này(4,5) Trong nghiên cứu này, số lượng vi khuẩn ở 2 ngày sau phẫu thuật ở nhóm

A và B lần lượt là 274,68 ± 162 x 105 và 238,62 ± 134,11 x 105 cao hơn so với trước khi phẫu thuật Ngoài ra, những nghiên cứu trên còn cho thấy số lượng vi khuẩn giảm dần theo thời gian sau phẫu thuật(4,5) Trong nghiên cứu này số lượng vi khuẩn 7 ngày sau phẫu thuật ở nhóm A và B lần lượt là 229,06 ± 180 x 105 và 228,59 ± 165,81 x 105 hay có sự giảm vi khuẩn so với ngày thứ 2 sau phẫu thuật

Vì đây là một phẫu thuật có nguy cơ nhiễm trùng nên thường có chỉ định kháng sinh trong phẫu thuật để phòng ngừa biến chứng này Amoxicillin là kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong Nha khoa vì có khả năng diệt được nhiều chủng vi khuẩn gây bệnh phổ biến trong môi trường miệng Việc sử dụng Amoxicillin sau phẫu thuật để phòng ngừa nhiễm trùng đã được đưa vào phác đồ điều trị ở các thủ thuật nhổ răng khôn ở Việt Nam Trên thế giới, các nghiên cứu trên thế giới đều khẳng định hiệu quả phòng ngừa nhiễm trùng sau phẫu thuật của Amoxicillin(3,11) Amoxicillin phòng ngừa, sử dụng 1 liều duy nhất trước phẫu thuật răng khôn lệch, ngầm là một phác đồ mới, chưa được chỉ định rộng rãi tại Việt Nam Trên thế giới nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả phòng ngừa nhiễm trùng của phác đồ này(12,13) Trong nghiên cứu này, kết quả cho thấy sự thay đổi số lượng khúm vi khuẩn trước và sau phẫu thuật ở nhóm dùng kháng sinh 1 liều duy nhất trước phẫu thuật và nhiều liều sau phẫu thuật là như nhau Điều này cho thấy hiệu quả kiểm soát nhiễm trùng của phác đồ 1 liều trước phẫu thuật tương

tự như hiệu quả của phác đồ sau phẫu thuật Phác đồ kháng sinh một liều trước phẫu thuật

Trang 8

còn có những ưu điểm khác như giảm thiểu số

lần dùng thuốc, giảm chi phí điều trị và quan

trọng hơn là giảm nguy cơ quên liều hoặc không

tuân thủ phác đồ điều trị, lạm dụng thuốc Đây

là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng

kháng thuốc kháng sinh Do đó, phác đồ kháng

sinh 1 liều duy nhất trước phẫu thuật nên chỉ

được chỉ định trong một số trường hợp nhất

định trong phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới

lệch, ngầm

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy số lượng vi khuẩn

trước và sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm

dưới lệch, ngầm ở nhóm sử dụng kháng sinh

Amoxicillin 1 liều trước và nhiều liều sau phẫu

thuật là như nhau Tuy nhiên, việc không thay

đổi số lượng vi khuẩn không đánh giá được ảnh

hưởng của kháng sinh đến nguy cơ nhiễm

khuẩn sau phẫu thuật của bệnh nhân mà điều

này chịu chi phối của những yếu tố khác như

sức đề kháng, tình trạng nhiễm trùng tại chỗ

trước khi phẫu thuật, quy trình vô trùng cũng

như tình trang vệ sinh răng miệng của bệnh

nhân Do đó, để đánh giá chính xác hiệu quả của

kháng sinh một liều hay nhiều liều đến sự nhiễm

trùng sau phẫu thuật cần nghiên cứu sâu hơn về

dược động lực học của kháng sinh đến khả năng

gây nhiễm trùng của vi khuẩn gây ra do quá

trình phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bahl R et al (2014) "Odontogenic infection: Microbiology and

management", Contemp Clin Dent Vol 5, pp 307-311

2 Bello SA et al (2011) “Effect of age, impaction types and

operative time on imflammatory tissue reactions following

lower third molar surgery”, Head and Face Medecine, 7, 8-15

3 Bresco Salinas M et al (2006) "Susceptibilidad antibiótica de

las bacterias causantes de infecciones odontogénicas", Med

Oral Patol Oral Cir Bucal, 11, pp 51-6

4 Bui CH et al (2003) “Types, frequencies, and risk factors for

complications after third molar extraction”, J Oral Maxillofac

Surg, 61(12), pp 1379-89

5 Chiapasco M et al (1993) “Side effects and complications

associated with third molar surgery”, Oral Surg Oral Med Oral

Pathol, 76, pp 412-420

6 Chuang SK et al (2007) “Age as a risk factor for third molar

surgery complication”, J Oral Maxillofac Surg, 65(9), pp

1685-92

7 Cotran RS et al., (1999), “Robbins pathologic basis of disease”,

W.B Sanders Company, Philadenphia, 6, pp 50-87

8 Francois Blondeau và Nach G Daniel (2007) "Extraction of impacted mandibular third molars: Postoperative

complications and their risk factor", Journal of Canadian Dental

Association Vol 73, pp 325-325e

9 Lê Đức Lánh (2011) Phẫu thuật miệng Tập 1, Nhà xuất bản Y

học, Thành phố Hồ Chí Minh

10 López Cedrún JL et al (2011) " Efficacy of Amoxicilline treatment in preventing postoperative complications in patients undergoing third molar surgery: a prospective,

randomized, double-blind controlled study.", J Oral Maxillofac

Surg Vol 69, pp e5-14

11 Maestre JR et al (2005) "Odonntopathogen susceptibility too

amoxicillin clavulanic acid and other common antibiotics used in odontology", European congress of chemotherapy and

infection, pp 209

12 Monaco G et al (2009) "Evaluation of antibiotic prophylaxis

in reducing postoperative infection after mandibular third

molar extraction in young patients J Oral Maxillofac Surg", J

Oral Maxillofac Surg, 67, pp 1467-1472

13 Olunsanya AA et al (2011) "Prophylaxis versus pre-emptive

antibiotics in third molar surgery: a randomised control study",

Niger Postgrad MJ, 18, pp 105-10

14 Robert RJ et al (1997) "Dental bacteremia in children", Pediatr Cardiol, 18, pp 24-27

15 Trần Thu Hằng (2012) Dược lực học, Nhà xuất bản Phương

Đông, Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày nhận bài báo: 24/01/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/02/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 16/01/2020, 03:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w