1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các trường hợp tử vong sốt xuất huyết trẻ em trên toàn quốc từ 2012-2015

8 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 331,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày mô tả phân tích đặc điểm dịch tễ lâm sàng, cận lâm sàng, các can thiệp điều trị ở trẻ sốt xuất huyết Dengue tử vong từ năm 2012 - 2015.

Trang 1

PHÂN TÍCH CÁC TRƯỜNG HỢP TỬ VONG SỐT XUẤT HUYẾT TRẺ EM

TRÊN TOÀN QUỐC TỪ 2012-2015

Nguyễn Minh Tiến* Lê Vũ Phượng Thy*, Thái Quang Tùng* Nguyễn Trọng Khoa**, Cao Đức Phương**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả phân tích đặc điểm dịch tễ lâm sàng, cận lâm sàng, các can thiệp điều trị ở trẻ sốt xuất

huyết Dengue tử vong từ năm 2012 - 2015

Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu, mô tả hàng loạt trường hợp

Kết quả: 102 trường hợp trẻ sốt xuất huyết Dengue tử vong trên toàn quốc, chẩn đoán dựa theo phác đồ Bộ

Y tế kèm hoặc không xét nghiệm NS1 hoặc MacELISA chẩn đoán SXHD IgM dương tính, tuổi trung bình 6,3 tuổi, thấp nhất 7 tháng cao nhất 14 tuổi Qua phân tích, cho thấy tử vong có liên quan đến chẩn đoán nhầm, phân

độ sai, phát hiện sốc trễ, xử trí sốc sai phác đồ, giúp thở trễ, truyền máu trễ, theo dõi không thích hợp, chuyển viện không an toàn

Kết luận: Cập nhật phác đồ, huấn luyện đào tạo, phân tuyến điều trị, cung cấp dịch truyền điện giải, cao

phân tử, trang thiết bị, thuốc, củng cố mạng lưới điều trị bệnh sốt xuất huyết Dengue hoàn chỉnh từ tuyến trung ương đến y tế cơ sở là các biện pháp giúp cải thiện tử vong

Từ khóa: sốt xuất huyết Dengue, tử vong

ABSTRACT

ANALYSIS OF DEATH CASES OF DENGUE HEMORRHAGIC FEVER/DENGUE SHOCK SYNDROME

IN CHILDREN IN NATIONWIDE VIETNAM FROM 2012 TILL 2015

Nguyen Minh Tien, Le Vu Phuong Thy, Thai Quang Tung, Nguyen Trong Khoa, Cao Duc Phuong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 4 - 2016: 16 - 23

Objective: Describe and analyze epidemic features, clinical, paraclinical findings and therapeutic

interventions in death cases of Dengue hemorrhagic fever/dengue shock syndrome in children from 2012 until

2015

Methods: Retrospective descriptive study of cases series

Results: There were 102 death cases of DHF/DSS in nationwide diagnosed clinically according to Health

ministry national guidelines with or NS1 antigen/antibody, MacELISA IgM positive for dengue, mean age of 6.3 years, youngest 7 months, oldest 14 years Analysis showed that death related factors included misdiagnosis, wrong grade classification, delayed shock recognition, inappropriate shock management, delayed mechanical ventilation, and delayed blood transfusion, unsuitable follow-up, unsafe patient transportation

Conclusion: Updated national guideline, training, delineation of treatment level, supply of crystalloid and

colloid solutions, medical instrument and medication, setup and consolidation of network for DHF/DSS management from central hospital level to basic health establishment help improvement of mortality of DHF/DSS

Key words: DHF dengue hemorrhagic fever, DSS dengue shock syndrome, mortality

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một

bệnh nhiễm trùng cấp tính do siêu vi Dengue

gây ra và truyền cho người qua muỗi vằn Aedes aegypti Phần lớn các trường hợp sốc SXHD đều

* Bệnh viện Nhi Đồng 1 ** Cục khám chữa bệnh, Bộ Y tế

Trang 2

cải thiện sau khi điều trị theo phác đồ của

TCYTTG Tuy nhiên, một số trường hợp sốc

SXHD vẫn không cải thiện sau nhiều giờ điều trị,

với biểu hiện sốc kéo dài tổn thương nhiều cơ

quan như suy hô hấp, suy gan, suy thận, rối loạn

đông máu, xuất huyết tiêu hóa, hội chứng suy đa

cơ quan đưa đến tử vong nếu không điều trị kịp

thời cũng như không có đủ phương tiện điều trị

Chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Phân tích

các trường hợp tử vong sốt xuất huyết Dengue

trên toàn quốc từ năm 2012-2015” nhằm rút ra

những nguyên nhân, yếu tố nguy cơ liên quan

đến tử vong, từ đó đề xuất các biện pháp can

thiệp hiệu quả để cải thiện tử vong, giúp cứu

sống nhiều hơn nữa những bệnh nhân sốt xuất

huyết dengue nặng

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Mô tả phân tích đặc điểm dịch tễ lâm sàng,

cận lâm sàng, các can thiệp điều trị ở trẻ sốt xuất

huyết Dengue tử vong năm 2012-2015

Mục tiêu cụ thể

Xác định tỷ lệ các đặc điểm và mức độ tổn

thương các cơ quan ở các trẻ SXHD tử vong

Xác định tỉ lệ các biện pháp hỗ trợ tuần hoàn,

hô hấp

Xác định tỉ lệ sử dụng máu và chế phẩm

máu, điều chỉnh rối loạn điện giải chuyển hóa,

lọc máu liên tục

Xác định tỉ lệ các yếu tố liên quan tử vong

PHƯƠNG PHÁP - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân sốt xuất huyết tử vong trên

toàn quốc, được chẩn đoán lâm sàng SXHD theo

tiêu chuẩn của TCYTTG và/hoặc xét nghiệm

huyết thanh chẩn đoán MAC-ELISA Dengue

dương tính hoặc NS1 kháng nguyên/kháng thể

dương tính

Thu nhập số liệu

Thông tin dữ liệu bệnh nhân sốt xuất huyết

Dengue tử vong được thu thập qua hồ sơ bệnh

án từ các tỉnh, thành phố trên toàn quốc theo các bước sau:

a Đặc điểm bệnh nhân: tuổi, giới, địa chỉ, ngày xuất hiện sốc

b Biểu hiện lâm sàng: suy hô hấp, sốc, xuất huyết tiêu hóa, rối loạn tri giác (Glasgow), toan chuyển hoá, rối loạn điện giải

c Xét nghiệm lúc nhập viện và trong diễn tiến bệnh: CTM, Hct, tiểu cầu, đường huyết, ion

đồ, lactate máu, chức năng đông máu toàn bộ, xét nghiệm chức năng gan: SGOT, SGPT, chức năng thận, khí máu động mạch

d Các can thiệp điều trị: loại, lượng dịch truyền chống sốc, vận mạch, thở CPAP, thở máy, truyền máu, chế phẩm máu, lọc máu liên tục

e Đánh giá về chẩn đoán, điều trị, theo dõi

Định nghĩa các từ hành động

Sốc kéo dài: Sốc không ổn định  6 giờ; tổng

lượng dịch  60ml/kg,

Suy hô hấp: một trong các dấu hiệu: nhịp thở

 50 l/ph trẻ < 12 tháng,  40 l/ph trẻ 1 - 5 tuổi,  30l/ph trẻ  5 tuổi, co lõm ngực, tím tái, PaCO2 > 45mmHg, PaO2/FiO2  300mmHg: tổn thương phổi cấp tính (ALI: Acute Lung Injuries) hay ARDS nhẹ, PaO2/FiO2  200mmHg: nghi hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS: Acute Respiratory Ditress Syndrome) trung bình:

100-200, nặng: < 100 Xquang phổi: tràn dịch màng phổi lượng nhiều khi tỉ lệ giữa bề dày lớp dịch

và ½ lồng ngực 50%; trung bình: 25 – 50%; ít:

<25% Siêu âm bụng: tràn dịch màng bụng lượng nhiều: dịch quanh vùng gan, dưới cơ hoành, dịch tự do nhiều ở hố chậu, ổ bụng; trung bình: dịch tự do ổ bụng ít, vừa; ít: dịch túi Morison, túi cùng Douglas

Xuất huyết tiêu hóa (XHTH): ói máu và hay

tiêu phân đen Mức độ nhẹ: không cần truyền máu, trung bình: cần truyền máu < 20ml/kg/24 giờ hoặc hồng cầu lắng < 10ml/kg/24 giờ, nặng: cần truyền máu toàn phần ≥ 20ml/kg/24 giờ hoặc hồng cầu lắng ≥ 10ml/kg/24 giờ

Suy gan: khi có đủ 3 dấu hiệu (1) AST và ALT

Trang 3

tăng gấp 05 lần bình thường, (> 200 đv/L); (2)

NH3 tăng trên mức bình thường (> 50 mmol/L;

(4) tỉ lệ prothrombin giảm (< 60%) Tổn thương

gan khi có 2 trong 3 dấu hiệu trên

Rối loạn đông máu: tiểu cầu giảm ( 100.103,

nặng < 50.103, tỉ lệ prothrombin < 60%, đông máu

nội mạch lan tỏa (DIC: Disseminated

Intravascular Coagulation) khi giảm tiểu cầu và

khi có 3 trong 4 kết quả bất thường: (1) PT > 18”

(2) APTT > 45” (>1,5 chứng), (3) fibrinogen giảm

(< 1,5g/L), (4) D-dimer (+) DIC nặng khi PT > 20”

hoặc APTT > 60”

Toan chuyển hóa: pH < 7,35 và/hoặc HCO3- <

16 mmol/L, mức độ toan chuyển hóa: nhẹ: pH

7,3 - 7,35 và/hoặc HCO3 =12-16; trung bình: pH

7,2 - 7,29 và/hoặc HCO3 =8-12; nặng < 7,20

và/hoặc HCO3 < 8, hạ đường huyết: < 50mg%, hạ

natri máu: < 135, hạ kali máu: < 3,5, hạ calci máu:

< 1 (mmol/L)

Suy thận: khi creatinine máu tăng > 2 lần giới

hạn trên theo tuổi tức là > 0,8 mg% trẻ < 1 tuổi, > 1,4 mg% trẻ 1-8 tuổi, > 2mg% trẻ > 8 tuổi Bất thường chức năng thận khi urê > 40mg% hoặc

creatinine > giới hạn trên theo tuổi

Hôn mê: đánh giá theo thang điểm Glasgow

(nặng: < 5)

Điểm số suy cơ quan trẻ em PELOD (Pediatric Logistic Organ Dysfunction) (7) , tiêu chuẩn MODS của Wilkinson cải tiến (14)

Xử lý dữ kiện

Dữ kiện được nhập và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 18.0 for Window Các số thống

kê trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn

KẾT QUẢ

Từ năm 2012 – 2015 có 102 trẻ sốt xuất huyết Dengue tử vong trên toàn quốc, với đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, can thiệp điều trị sau:

Đặc điểm dịch tễ bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue tử vong:

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue tử vong

Tuổi trung bình (tuổi) 6,3 ± 3,5 (7 tháng - 14 tuổi)

Điều trị tuyến trước/tự đến 61 (59,8%) / 41 (40,2%)

Độ nặng: sốc/sốc nặng/thể não 41 (40,2%) / 57 (55,9%) / 4 (3,9%) Ngày sốc: 3-4/5-6 47 (46,1%) / 55 (53,9%) Sốc sâu (HA = 0, tụt HA, HA ≤ 15mmHg) 62 (60,8%)

Hct lúc vào sốc (%) 48,3 ± 5,4 (38 - 65) Tổn thương gan nặng lúc vào sốc (men gan > 1000 đv/L) 68 (66,7%)

NS1 dương tính/MacELISA dương tính (n= 75) 24/102 (23,5%) / 51/102 (50%)

HA: huyết áp, NS1: nonstructure antigen

Phân bố theo địa phương Phân bố theo bệnh viện cuối cùng điều trị

Bảng 2: Phân bố theo địa phương Bảng 3: Phân bố theo bệnh viện cuối cùng điều trị

Tp.Hồ Chí Minh 14 13,7

Trang 4

Địa chỉ Tần suất Tỉ lệ phần trăm (%)

Đặc điểm tổn thương các cơ quan

Bảng 4: Đặc điểm tổn thương các cơ quan

Sốc kéo dài 98 (96,1%)

Suy hô hấp 102 (100%)

TDMP lượng nhiều 54 (52,9%)

TDMB lượng nhiều 21 (20,6%)

Tổn thương gan Tổn thương gan 24 (23,5%)

Suy gan 68 (66,7%) Tổn thương hệ

huyết học

Tiểu cầu ≤ 20.000/mm3 64 (62,7%)

DIC 97 (95,1%) DIC nặng 72 (70,6%) Tổn thương

đường tiêu hóa

XHTH trung bình 14 (13,7%) XHTH nặng 57 (55,9%) Tổn thương thần kinh (điểm Glasgow < 5) 4 (3,9%)

Tổn thương

thận

Suy thận 42 (41,2%) Bất thường chức năng thận 16 (15,7%)

Rối loạn chuyển

hóa

Toan chuyển hóa / toan chuyển hóa nặng

87 (85,3%) /

42 (41,2%)

Hạ đường huyết (< 50mg%) 14 (13,7%) Lactate máu tối đa (mmol/L) 6,2 ± 1,4 Điểm số PRISM 20,1 ± 0,4

(18-29) Điểm số PELOD 23,4  0,5

(21-33) Suy đa cơ quan (MODS) 82 (80,4%)

TDMP: tràn dịch màng phổi,

TDMB: tràn dịch màng bụng,

ALBQ: áp lực bàng quang,

ARDS: acute respiratory distress syndrome,

DIC dissemninated intravenous coagulation,

XHTH: xuất huyết tiêu hóa,

PRISM: pediatric risk of mortality,

PELOD: Pediatric Logistic Organ Dysfunction,

MODS multiple organ dysfunction syndrome

Các can thiệp điều trị

Bảng 5 Các can thiệp điều trị

Biện pháp

hỗ trợ hô hấp

Thở NCPAP 84 (82,3%) Thở máy, bóp bóng giúp thở 102 (100%) Chọc hút màng bụng 48 (47,1%) Chọc hút màng phổi 16 (15,7%)

Biện pháp

hỗ trợ tuần hoàn (chống sốc)

Tổng dịch (ml/kg)/thời gian truyền

dịch (giờ)

215,4 ± 16,2/ 33,4 ± 16,5 Cao phân tử 173,5 ± 18,6

Đo áp lực tĩnh mạch trung tâm

(CVP) 71 (69,6%)

Đo huyết áp động mạch xâm lấn 88 (86,3%)

Đo ALBQ 43 (42,2%)

Vận mạch /liều sử dụng

Dopamine số ca/liều (mcg/kg/phút) 97 (95,1%)/ 8,6 ± 1,3 Dobutamine số ca/liều

(mcg/kg/phút)

79 (77,5%)/ 8,3 ± 1,2 Adrenaline số ca/liều (mcg/kg/phút) 24 (23,5%)/

0,72 ± 0,25 Noradrenaline số ca/liều

(mcg/kg/phút)

16 (15,7%) / 0,52 ± 0,13 Truyền

máu và chế phẩm máu

Truyền hồng cầu lắng 71 (69,6%) Huyết tương tươi đông lạnh 38 (37,3%) Kết tủa lạnh 19 (18,6%) Tiểu cầu đậm đặc 12 (11,8%) Biện pháp

hỗ trợ thần kinh

An thần chống co giật Diazepam 4 (3,9%) Chống phù não mannitol 20% số

ca (%) 4 (3,9%)

Điều trị khác

Điều chỉnh toan chuyển hóa 42 (41,2%) Điều trị hạ đường huyết 14 (13,7%) Lọc máu liên tục 26/82 (31,7%) Thay huyết tương + lọc máu liên

tục 9/82 (10,9%) Thời gian nằm viện (ngày) 5,36 ± 0,66

NCPAP: nasal continuous positive airway pressure, ALBQ:

áp lực bàng quang, CVP central venous pressure

Phân tích các yếu tố liên quan đến tử vong

Bảng 6: Phân tích các yếu tố liên quan đến tử vong

Chẩn đoán nhầm bệnh khác 9/102 (8,8%)

Đánh giá sai độ nặng 7/102 (6,8%) Chuyển viện không an toàn 16 / 61 (26,2%) Chết trước nhập viện 2/61 (3,2%)

Tự đến trong tình trạng nặng: nhập viện trễ 12 / 41 (29,6%)

Phát hiện sốc trễ 18/102 (17,6%) Điều trị không đúng phác đồ 9/102 (8,8%) Đổi sang dung dịch cao phân tử trễ 11/102 (10,8%) Chọn lựa sai cao phân tử chống sốc 14 (13,7%)

Trang 5

Đặc điểm Kết quả

Chọn lựa tốc độ dịch điều trị tái sốc không

thích hợp 9/102 (8,8%)

Đổi cao phân tử sang dung dịch điện giải 6/102 (5,9%)

Giảm tốc độ dịch truyền chống sốc không

thích hợp 15/102 (14,7%)

Ngưng dịch sớm 5/102 (4,9%)

Truyền chế phẩm máu ngưng dung dịch

cao phân tử 16/102 (15,7%)

Can thiệp thở máy trễ 62/102 (60,8%)

Truyền máu trễ 34/71 (47,9%)

Truyền albumin 18/102 (17,4%)

Dùng thuốc lợi tiểu khi sốc chưa ổn định 5/102 (4,9%)

Tràn máu màng phổi sau chọc hút màng

Nhiễm khuẩn bệnh viện 6/102 (5,9%)

Theo dõi

Chế độ theo dõi không phù hợp 18/102 (17,4%)

Phương tiện theo dõi không phù hợp 21 (20,6%)

BÀN LUẬN

Trong 4 năm từ năm 2012 – 2015 có 102 trẻ

sốt xuất huyết Dengue (SXHD) tử vong trên

toàn quốc, tuổi trung bình 6,3 tuổi, nhỏ nhất 7

tháng, lớn nhất 14 tuổi, trẻ nhũ nhi dưới 2 tuổi

chiếm tỉ lệ 13,5%, nữ nhiều hơn nam Trẻ dư

cân chiếm tỉ lệ 20,6% đây là yếu tố nguy cơ

cao, sốc SXHD ở trẻ dư cân dễ diến tiến nhanh

đến suy hô hấp, rối loạn đông máu, xuất huyết

tiêu hóa nên cần nhập khoa hồi sức điều trị

tích cực(6,8) Phần lớn các trẻ cư ngụ ở tỉnh

85,3%, hơn một nửa điều trị tuyến trước Đa số

trẻ sốc sâu 60,8% và gần một nửa vào sốc ngày

sớm Các yếu tố sốt trong diễn tiến sốc 47,1%

và thể tích khối hồng cầu tăng cao lúc vào sốc

(Hct trung bình 48,3%), men gan tăng cao lúc

vào sốc là những yếu tố tiên lượng nặng Các

địa phương có tần suất bệnh tử vong cao như

thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình

Dương, An Giang Nói chung, phân bố tử

vong của trẻ bệnh SXHD chủ yếu các tỉnh phía

nam và một số tỉnh miền trung (bảng 2) Phân

bố tử vong ở các bệnh viện (bảng 3), chúng tôi

ghi nhận các bệnh viện Nhi Đồng 1, Nhi Đồng

2, bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới có số tử vong cao

vì nhận điều trị bệnh nhân nặng từ tuyến

trước chuyển đến

Về biểu hiện lâm sàng (bảng 4),

Hầu hết các trường hợp đều là sốc SXHD kéo dài 96,1%, sốc sâu 60,8%, suy hô hấp xảy ra ở tất cả các trường hợp do biểu hiện hội chứng suy

hô hấp cấp tiến triển ARDS chiếm tỉ lệ 65,7%, tràn dịch màng bụng lượng nhiều 52,9%, tràn dịch màng phổi lượng nhiều 20,6% Biểu hiện tổn thương gan 23,5% trong khi suy chức năng gan 66,7% Tình trạng rối loạn đông máu biểu hiện nặng với 62,7% các trường hợp có số lượng tiểu cầu < 20.000/mm3, DIC nặng 70,6% dẫn đến xuất huyết tiêu hóa nặng 55,9% Suy thận cấp gặp trong 41,2% các trường hợp và 15,7% có bất thường chức năng thận Ngoài ra còn có tình trạng toan chuyển hóa (85,3%), tăng lactate máu

và hạ đường huyết do hậu quả của sốc kéo dài, đưa đến tăng các chỉ số bệnh nặng PRISM, PELOD và hội chứng suy đa cơ quan 80,4%

Về điều trị (bảng 5)

Các trẻ được chống sốc với tổng dịch trung bình 215 ml/kg trong thời gian trung bình 33,4 giờ, trong đó lượng cao phân tử trung bình 173,5 ml/kg, dưới hướng dẫn đo và theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm 69,6%, đo và theo dõi huyết

áp xâm lấn 86,3% Đa số các trường hợp sử dụng thuốc vận mạch dopamin 95,1%, dobutamin 77,5%, một số ít sử dụng adrenalin 23,5%, noradrenalin 15,7% Do tình trạng sốc kéo dài dẫn đến biến chứng suy hô hấp, rối loạn đông máu xuất huyết tiêu hóa, các trẻ được can thiệp

hỗ trợ hô hấp thở áp lực dương liên tục NCPAP 82,3%(3), đặt nội khí quản giúp thở 100%, chọc hút màng bụng 47,1%, chọc hút màng phổi 15,7%, truyền hồng cầu lắng 69,6%, huyết tương tươi đông lạnh 37,3%, kết tủa lạnh 18,6%, tiểu cầu đậm đặc 11,8% cũng như điều chỉnh rối loạn toan chuyển hóa (41,2%) và hạ đường huyết (13,7%) Ngoài ra các trường SXHD nặng thể não

có biểu hiện co giật, phù não được chống co giật bằng diazepam và chống phù não bằng mannitol 20% Có 34,3% các trường hợp suy đa cơ quan được lọc máu liên tục

Trang 6

Phân tích các yếu tố liên quan đến tử vong

(bảng 6), chúng tôi ghi nhận chẩn đoán ban đầu

nhầm với bệnh khác (8,8%) như nhiễm siêu vi,

rối loạn tiêu hóa, viêm hô hấp trên, sốc nhiễm

khuẩn, bệnh tay chân miệng, đặc biệt ở nhóm

tuổi dưới 24 tháng, do đó cần lưu ý nghĩ tới

SXHD nếu trẻ có sốt(4,9) Phân độ sai độ nặng

chiếm tỉ lệ 6,9% gồm các trẻ sốt xuất huyết

Dengue có dấu hiệu cảnh báo, có biểu hiện tổn

thương gan men gan > 1000 đv/L mà vẫn giữ

chẩn đoán SXHD có dấu hiệu cảnh báo thay vì

phân loại là SXHD nặng, hoặc SXHD có dấu hiệu

cảnh báo biểu hiện suy hô hấp do thất thoát

huyết vào màng phổi, mô kẽ phổi, màng bụng,

vẫn giữ chẩn đoán SXHD có dấu hiệu cảnh báo

thay vì phân loại là SXHD nặng(2,12) Chúng tôi

cũng ghi nhận có 26,2% các trường hợp chuyển

viện không an toàn bao gồm các tình trạng

ngưng thở ngưng tim trước nhập viện, suy hô

hấp nặng phải đặt nội khí quản ngay lúc nhập

viện, sốc sâu ngay lúc nhập viện Vì vậy cần

huấn luyện kỹ năng chuyển viện bệnh nhân an

toàn và có tham vấn trao đổi với tuyến trên để có

giải pháp tối ưu cho bệnh nhân Trong các

trường hợp tự đến có 29,6% đến nhập viện trễ

với biểu hiện sốc nặng, sốc sâu Do đó vấn đề

dặn dò các dấu hiệu cảnh báo nặng để người nhà

nhận biết sớm đưa trẻ tái khám ngay dù xảy ra

trong đêm để kịp thời xử trí cấp cứu trẻ trước

khi quá muộn Có 18 (17,6%) trường hợp trẻ

nhập viện được phát hiện sốc trễ (lúc nhập viện

SXHD diễn tiến thành sốc nặng) do chế độ theo

dõi không phù hợp Như vậy cần chú ý huấn

luyện công tác điều dưỡng về chu kỳ theo dõi

bệnh lấy M, HA, NĐ, NT, Hct, theo dõi lượng

nước tiểu và các dấu hiệu tiền sốc như CRT

(capillary refill time) kéo dài, tay chân ẩm mát,

gan to đau, nôn ói nhiều, lừ đừ vật vã, để phát

hiện sốc sớm, báo bác sĩ can thiệp kịp thời(2) Về

điều trị hồi sức sốc chúng tôi ghi nhận 8,8% điều

trị không đúng phác đồ nhất là hồi sức sốc nặng

như chỉ cho dung dịch Lactate Ringer 20ml/giờ,

hoặc LR 20ml/kg/15 phút sau đó duy trì tiếp tục

bằng LR thay vì đổi cao phân tử(2,12) Có 5,9% các

trường hợp sốc thất bại với dung dịch điện giải, được đổi sang cao phân tử, sau đó được đổi ngược trở lại điện giải trong khi chưa đánh giá hết tình trạng ổn định sốc của trẻ, dẫn đến tái sốc, bệnh diễn tiến nặng sau đó rồi tử vong Vì vậy, trước khi quyết định đổi sang dung dịch điện giải, cần phải đánh giá tình trạng sốc của trẻ thật sự ổn định chưa, tốc độ dịch cao phân tử đã giảm được ≤ 5ml/kg/giờ chưa, và cần theo dõi sát tình trạng bệnh nhân ngay sau khi đổi sang dung dịch điện giải như M, HA, tưới máu chi, CRT, Hct, Khi trẻ tái sốc, xử trí tiếp theo là đổi sang dung dịch cao phân tử nhưng chọn lựa sai loại cao phân tử như HES 130/0,42 6%, gelofusine thay vì là HES 200/0,5 6% HES 130/0,42 6%, gelofusine có tác dụng chống sốc yếu do khả năng tăng thể tích tuần hoàn kém và không giữ lâu được trong lòng mạch(5) Chọn lựa tốc độ cao phân tử xử trí tái sốc không phù hợp 8,8% do không tổng kết số lượng dịch truyền chống sốc và thời gian truyền dịch chống sốc trước đó, dẫn đến trẻ không ra sốc, hoặc giảm tốc độ dịch truyền nhanh quá (14,7%) do ghi nhận trị số CVP cao mà không đo áp lực bàng quang (42,2%) để tính toán trị số CVP thực(8), hay ngưng dịch sớm quá (4,9%) hoặc dùng lợi tiểu sớm quá (4,9%) trong khi tình trạng sốc của trẻ không ổn định Một yếu tố góp phần làm cho tình trạng sốc diễn tiến nặng hơn là trong khi truyền huyết tương ngưng dung dịch cao phân

tử vì chế phẩm máu chỉ cung cấp các yếu tố đông máu, không có tác dụng chống sốc mà còn

có citrate và chất chuyển hóa kinin làm dãn mạch gây tụt huyết áp Có 60,8% can thiệp thở máy trễ do cứng nhắc trong xử trí phải thông qua chọc hút màng bụng hoặc màng phổi trước nếu thất bại mới quyết định giúp thở Thực tế cần đặt nội khí quản giúp thở sớm ở trẻ có biểu hiện sốc sâu, ngày sớm nếu trẻ có biểu hiện suy

hô hấp nặng không đáp ứng với thở NCPAP hoặc trẻ sốc có biểu hiện tổn thương gan ngày càng nặng, kèm suy hô hấp nặng không đáp ứng với thở NCPAP Một khi kiểm soát được tốt vấn

đề hô hấp của trẻ thì việc chống sốc sẽ tích cực

Trang 7

hơn, đạt được tưới máu mô cơ quan tốt hơn

Hơn nữa việc chọc hút màng phổi có thể gây ra

biến chứng tràn máu màng phổi (18,7%), dẫn

đến tụt huyết áp do mất máu, đưa đến tử vong

Có 71 trường hợp (bảng 6) có Hct giảm có chỉ

định truyền máu nhưng có đến 34 trẻ được

truyền máu trễ một phần là do các bác sĩ điều trị

thiếu kinh nghiệm còn lấn cấn Hct giảm là do

tình trạng pha loãng hay có xuất huyết thực sự

Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới đối với những trẻ

sốc nặng hoặc sốc sâu(13), khi hồi sức sốc mà Hct

giảm, cần xem xét chỉ định truyền máu sớm Để

phát hiện xuất huyết tiêu hóa sớm ngoài theo dõi

lâm sàng, việc thử Hct mỗi 2 giờ giúp ích cho bác

sĩ điều trị những trường hợp sốc nặng kéo dài

Có 18 trường hợp truyền albumin với hy vọng

cải thiện tình trạng sốc nhưng kết quả tình trạng

sốc vẫn không cải thiện, và tử vong sau đó(15)

Vấn đề là dù có truyền albumin hay không,

chúng ta phải luôn tiếp tục chống sốc và hướng

đến các mục tiêu đại tuần hoàn

(macrocirculation) như M, HA, nước tiểu trong

giới hạn bình thường theo tuổi, vi tuần hoàn

(microcirculation) như pH, HCO3, BE, lactate

máu hoặc độ bảo hòa oxy máu tĩnh mạch trung

tâm ScvO2(10) Có 26/82 (31,7%) trẻ suy đa cơ

quan được lọc máu liên tục và 9/82 (10,9%) trẻ

phối hợp thay huyết tương kèm lọc máu liên tục

sau đó

Từ phân tích các trường hợp tử vong trên

chúng tôi đề xuất các biện pháp cải thiện tử vong

bệnh SXHD

Về công tác tổ chức

Thu dung điều trị: Phân công khoa Hồi sức

tích cực nhi, khoa nhiễm, khoa sốt xuất huyết

(tuyến trung ương) tiếp nhận tất cả bệnh nhân

SXHD nặng (sốc, sốc nặng, tổn thương tạng, xuất

huyết tiêu hóa nặng) Khoa nhiễm, khoa nhi: tiếp

nhận tất cả các trường hợp SXHD, SXHD có dấu

hiệu cảnh báo Giáo dục thân nhân nhận biết trẻ

bị SXHD, chăm sóc trẻ tại nhà, dặn dò tái khám,

hướng dẫn các dấu hiệu cảnh báo nặng để đưa

trẻ tái khám ngay, nhập viện sớm Phân tuyến

điều trị SXHD theo phác đồ hướng dẫn bộ y tế

Phản hồi tuyến những trường hợp điều trị không đúng phác đồ, chuyển viện không an toàn

và thiếu chi tiết diễn tiến điều trị

Về cải tiến chất lượng điều trị:

Tất cả các trường hợp SXHD nặng phải thực hiện xét nghiệm xác định chẩn đoán NS1 kháng nguyên/kháng thể hoặc MacELISA IgM để phục

vụ cho công tác giám sát báo cáo

Huấn luyện, tái huấn luyện cho các tuyến về chẩn đoán điều trị SXHD cơ bản, nâng cao, kể cả

hệ thống y tế tư nhân Hoàn thiện đội ngũ huấn luyện có phương pháp sư phạm Đảm bảo nhân

sự chuyên trách điều trị, có kinh nghiệm đều tay Tăng cường hội chẩn kịp thời những trường hợp khó, diễn tiến nặng, phức tạp trên cơ sở xây dựng các tiêu chí hội chẩn của thể theo từng tuyến huyện, tỉnh, thành phố - trung ương Các trường hợp sốc kéo dài, cần phải đều trị hướng mục tiêu về huyết động, tưới máu mô cơ quan, để tránh tổn thương đa cơ quan gây suy

đa phủ tạng

Một số bệnh viện cần trang bị tủ đông âm

700C để dự trữ các chế phẩm máu như huyết tương tươi đông lạnh, kết tủa lạnh phục vụ kịp thời các trường hợp sốc SXHD kèm rối loạn đông máu nặng

Tuyến trung ương: thành lập hay củng cố nhóm chuyên gia SXHD của bệnh viện: nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia quốc tế, cập nhật phác đồ điều trị, xử trí các tình huống khó ít gặp đòi hỏi nhiều kinh nghiệm Tổ chức tập huấn: phác đồ xử trí SXHD cho tất cả các bác sĩ, điều dưỡng trong bệnh viện và của các tuyến Tập huấn hồi sức chuyên sâu bệnh SXHD nặng cũng như chuyển giao các kỹ thuật nâng cao như thở máy, đo ALBQ, đo CVP từ ngoại biên bằng phương pháp Seldinger, lọc máu liên tục, cho tất cả bác sĩ, điều dưỡng tham gia trực tiếp điều trị bệnh SXHD và các bác sĩ, điều dưỡng khoa Nhi, Nhiễm, khoa Cấp cứu tuyến tỉnh cũng như giám sát hỗ trợ sau tập huấn cho các tỉnh, rút kinh nghiệm ngay những trường hợp vừa tử vong để chấn chỉnh kịp thời

Trang 8

Tại các bệnh viện tuyến tỉnh: thành lập hay

củng cố nhóm chuyên gia SXHD của bệnh viện

để hội chẩn kịp thời các trường hợp sốc SXHD

diễn tiến nặng, cũng như tham vấn ý kiến điều

trị từ tuyến trên, hội chẩn từ xa qua điện thoại

hay telemedicine Các bệnh viện tuyến tỉnh:

chuẩn bị tốt nguồn lực chú trọng cả bác sĩ và

điều dưỡng, dự trù đủ các thuốc dịch truyền

thích hợp, trang thiết bị như máy thở đủ tính

năng có thể sử dụng những chế độ thở đặc biệt,

monitor không xâm lấn và xâm lấn, máy lọc

máu, máy bơm tiêm, truyền dịch Huấn luyện,

tái huấn luyện hàng năm cho các bác sĩ điều

dưỡng tuyến huyện, thành lập nhóm SXHD tại

bệnh viện huyện để hội chẩn tham vấn kịp các

trường hợp khó từ tuyến tỉnh, cũng như chỉ định

chuyển viện bệnh nhân an toàn, cũng như chuẩn

bị đầy đủ thuốc, dịch truyền (điện giải, cao phân

tử HES 200/0,5 6%) trang thiết bị: máy quay Hct

tại chỗ, máy đo HA brassard đủ cỡ theo lứa tuổi

Tăng cường phối hợp giữa hệ điều trị và hệ

dự phòng: các bệnh viện phải báo cáo kịp thời

trường hợp bệnh SXHD xác định cho hệ dự

phòng Các bác sĩ, điều dưỡng tham gia tuyên

truyền, giáo dục sức khỏe về cách phát hiện

bệnh sớm, dấu hiệu chuyển nặng để đưa trẻ

nhập viện sớm kịp thời, cách chăm sóc và theo

dõi tại nhà, cách phòng chống bệnh SXHD cho

nhiều đối tượng: phụ huynh, giáo viên, học sinh,

cũng như công tác giám sát virut và dự báo dịch

cần được chú trọng để có biện pháp chủ động

trong phòng chống dịch bệnh

KẾT LUẬN

Qua phân tích 102 trường hợp tử vong

SXHD từ năm 2012-2015 trên toàn quốc, cho

thấy các vấn đề như chẩn đoán, xử trí và theo

dõi thích hợp cần cải thiện thông qua cập nhật

phác đồ mà Bộ y tế đã ban hành, cũng như

cẩm nang xử trí SXHD biến chứng nặng Cần

củng cố mạng lưới điều trị bệnh SXHD hoàn

chỉnh từ tuyến trung ương đến y tế cơ sở,

phục vụ cho công tác giám sát, điều trị thích hợp theo phân tuyến Hy vọng với sự nổ lực chung của nghành y tế cùng với sự hỗ trợ của toàn xã hội, chúng ta sẽ hạn chế được số trường hợp mắc, giảm thiểu tử vong, cứu sống thật nhiều trẻ bệnh SXHD nặng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arun S et al (2001), Management of Dengue Fever in ICU,

Indian Journal of Pediatrics, Volume 68,November,1952-55

2 Bộ Y tế (2011), Phác đồ điểu trị sốt xuất huyết Dengue

3 Cam BV et al (2002), Randomized Comparison of Oxygen Mask Treatment vs Nasal Continuous Positive Airway

Pressure in Dengue Shock Syndrome with Acute Respiratory

Failure J Trop Pediatr.2002; 48: 335-339

4 Hongsiriwon S (2002), Dengue hemorrhagic fever in infant,

Southeast Asian Journal of Tropical Medicine and Public Health,

33,pp 49 -55

5 Kalayanarooj S (2008), Choice of Colloidal Solutions in

Dengue Hemorrhagic Fever Patients J Med Assoc Thai Vol 91

Suppl 3

6 Kalayanarooj S et al (2006) Relationship between body size and severity of dengue hemorrhagic fever among children aged 0-14 years Southeast Asian J Trop Med Public Health.

Mar;37(2):283-8

7 Lacroix J et al (2005), Severity of illness and organ dysfunction

scoring in children, Pediatr Cri Care Med, Vol.6, No.3

8 Malbrain MLNG (2009) Intra-Abdominal Hypertension:

Evolving Concepts Clin Chest Med 30 45–70

9 Nguyễn Thanh Hùng (2004), Đặc điểm lâm sàng, điều trị và

miễn dịch sốt xuất huyết Dengue ở trẻ nhũ nhi, Luận án tiến sĩ

y học

10 Oliveira CF et al (2008), ACCM/PALS haemodynamic support

guidelines for paediatric septic shock: an outcomes comparison with and without monitoring central venous

oxygen saturation.Intensive Care Med Intensive Care Med 1085-9

11 Ranjit S et al (2005), Aggressive management of dengue shock syndrome may decrease mortality rate: a suggested protocol,

Pediatr Crit Care Med.6(4):490-2

12 WHO (2011), “Dengue heamorrhagic fever: diagnosis,

treatment, prevention and control” World health Organization,

Geneva

13 WHO (2012) , “Handbook for Clinical Management of Dengue” World health Organization, Geneva, p.39-51

14 Wilkinson JD (1986), "Outcome of pediatric patients with

multiple organ system failure”, Crit Care Med; 14:271

15 Wills AB et al.,Size and Charge Characteristics of the Protein

Leak in Dengue Shock Syndrome.JID 2004:190 15 August

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/6/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/7/2016

Ngày đăng: 16/01/2020, 02:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w