1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cường cận giáp nguyên phát: Đặc điểm bệnh lý, kết quả phẫu thuật điều trị

7 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 320,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cường cận giáp nguyên phát khá ít gặp, biểu hiện lâm sàng tản mạn và mơ hồ nên thường chẩn đoán muộn, khi đã có triệu chứng nặng hay biến chứng. Không ít trường hợp không hồi phục hoàn toàn sau điều trị phẫu thuật. Bài viết trình bày việc khảo sát đặc điểm bệnh lý của cường cận giáp nguyên phát. Đánh giá hiệu quả điều trị phẫu thuật.

Trang 1

CƯỜNG CẬN GIÁP NGUYÊN PHÁT: ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ,

KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ

Hoàng Danh Tấn*, Lý Hữu Phú*, Phạm Công Khánh*, Trần Viết Thắng*

TÓM TẮT

Mở đầu: Cường cận giáp nguyên phát khá ít gặp, biểu hiện lâm sàng tản mạn và mơ hồ nên thường chẩn

đoán muộn, khi đã có triệu chứng nặng hay biến chứng Không ít trường hợp không hồi phục hoàn toàn sau điều trị phẫu thuật

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm bệnh lý của cường cận giáp nguyên phát Đánh giá hiệu quả điều trị

phẫu thuật

Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp được chẩn đoán cường cận

giáp nguyên phát và điều trị phẫu thuật tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ 01/2015 đến 7/2017 Ghi nhận đặc điểm bệnh lý, đặc điểm phẫu thuật và kết quả sau mổ

Kết quả: 6 trường hợp, 2 nam, 4 nữ Trên 50 tuổi 66,67% Tất cả đều có triệu chứng ở một hoặc nhiều

nhóm cơ quan đích Thậm chí 3/6 (50%) trường hợp cùng lúc có biểu hiện ở nhiều nơi: thận, xương khớp, tiêu hóa, tâm thần kinh Chưa ghi nhận trường hợp nào không triệu chứng (chỉ rối loạn về sinh hóa) Có 4 trường hợp phẫu thuật cắt tuyến cận giáp, cả 4 đều là adenoma tuyến cận giáp Thời gian mổ trung bình 50 phút, chưa ghi nhận tai biến, biến chứng Canxi máu toàn phần về mức bình thường sau 1 ngày: 4/4 trường hợp Canxi ion hóa

về mức bình thường sau 1 ngày: 3/4 trường hợp; sau 2 tuần 4/4 trường hợp PTH về mức bình thường sau 1 ngày 2/4 trường hợp; sau 2 tuần 3/4 trường hợp Creatinine máu về mức bình thường sau 1 ngày 2/2 trường hợp eGFR chỉ cải thiện, không về mức bình thường sau 1 ngày và 2 tuần: 2/2 trường hợp

Kết luận: Cường cận giáp nguyên phát được phát hiện ngày càng nhiều, nữ gặp nhiều hơn nam Thường

chẩn đoán muộn khi đã có triệu chứng nặng, biến chứng Nguyên nhân thường gặp nhất là adenoma ở một tuyến cận giáp Phẫu thuật cắt tuyến cận giáp không khó, ít tai biến biến chứng nhưng hiệu quả điều trị chưa cao do đã

có tổn thương thực thể không hồi phục ở cơ quan đích, nhất là thận

Từ khóa: Cường cận giáp nguyên phát

ABSTRACT

PRIMARY HYPERPARATHYROIDISM: PATHOLOGICAL CHARACTERISTICS AND SURGICAL

TREATMENT OUTCOMES

Hoang Danh Tan, Ly Huu Phu, Pham Cong Khanh, Tran Viet Thang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 26- 32

Background: Primary hyperparathyroidism is a rare disorder It is usually diagnosed late when it has severe

symptoms or morbidities because of transcendental clinical presentation Incomplete recovery can occur after

surgical treatment in some cases

Objectives: We studi ed the pathological characteristics of primary hyperparathyroidism and evaluated the surgical treatment results

Methods: Our study is case series report We studied all of cases that were diagnosed primary

* Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

hyperparathyroidism and performed surgical treatment in University Medical Center at Hochiminh city from January 2015 to July 2017 We evaluated the pathological characteristics, the operation characteristics and

postoperative treatment results

Results: We described 6 cases who were 2 males and 4 females The number of patients over 50 years are

66.67% All of the patients had symptoms of one or more than one target organs We also identified 50% cases that simultaneously had the symptoms in many target organs such as kidneys, skeleton, gastrointestinal tract, and neurology We had no asymptomatic case We performed parathyroidectomy for 4 cases and pathological results are adenomas The mean operation time is 50 minutes We have no morbidity or complications The total serum calcium concentrations were recovered to normal level after one day of postoperation in 4 cases The total ionized calcium activity is normalized after one postoperative day in 3 operation cases After 2 weeks, all of the operation cases had normal value of ionized calcium activity PTH concentration restored to normal value after one postoperative day in 2 cases and after 2 weeks in 3 cases The serum creatinin was totally recovered after one operative day in 2/2 cases eGFR was improved but the normal value cannot achieve after one and 14

postoperative days in 2/2 cases

Conclusions: Primary hyperparathyroidism is diagnosed more and more It occurs more frequent in female

than male This disorder is usually diagnosed late when it has severe symptoms or complications The most common cause is an adenoma in unilateral parathyroid gland Parathyroidectomy is not difficult and safe but the efficacy of surgical treatment is not so high because the impairment of target organs are not recoverd, specially are

kidneys

Keyword: primary hyperparathyroidism

MỞ ĐẦU

Cường cận giáp nguyên phát là một rối loạn

nội tiết hiếm gặp nhưng được phát hiện ngày

càng nhiều Triệu chứng của bệnh là biểu hiện ở

cơ quan đích, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh lý ở

tạng khác nên thường chẩn đoán muộn, khi đã

có biến chứng Nguyên nhân thường gặp nhất là

adenoma ở một tuyến cận giáp(4) Điều trị phẫu

thuật là phương pháp duy nhất có hiệu

tăng canxi máu sẽ giảm, trừ khi đã có nhiều tổn

thương nặng ở cơ quan đích Làm thế nào để

phát hiện bệnh sớm? Triệu chứng gợi ý chẩn

đoán? Kết quả phẫu thuật điều trị hiện nay ở

nước ta ra sao? Do bệnh hiếm gặp và khá ít

nghiên cứu trong nước về vấn đề này nên chúng

tôi báo cáo một số trường hợp cường cận giáp

nguyên phát đã được chẩn đoán và phẫu thuật

điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

nhằm mục tiêu:

-Khảo sát đặc điểm bệnh lý của cường cận

giáp nguyên phát

-Đánh giá hiệu quả điều trị phẫu thuật

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp được chẩn đoán cường cận giáp nguyên phát và điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Dược

TP Hồ Chí Minh từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 7 năm 2017

Ghi nhận đặc điểm bệnh lý: dịch tễ, lâm sàng, sinh hóa, chẩn đoán, tổn thương

Đặc điểm phẫu thuật và kết quả sau mổ

KẾT QUẢ

Từ 1/2015 đến 7/2017, chúng tôi ghi nhận được 6 trường hợp cường cận giáp nguyên phát

Cả 6 trường hợp này đều đủ tiêu chuẩn chẩn đoán: PTH máu tăng, canxi máu tăng, canxi máu ion hóa tăng, chẩn đoán hình ảnh thấy sang thương ở tuyến cận giáp Ngoài ra, còn có 2 trường hợp cường cận giáp ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn 4, chưa phát hiện sang thương ở tuyến cận giáp, các xét nghiệm sinh

Trang 3

hóa chưa phân biệt được nguyên phát hay thứ

phát chúng tôi không đưa vào nhóm nghiên cứu

Năm 2015 chúng tôi ghi nhận được 1 trường

hợp, năm 2016: 1 trường hợp và 2017 là 4 trường

hợp Cụ thể như sau:

Dịch tễ

Bảng 1: Tuổi – Giới

Tuổi Giới Điều trị

Trường hợp 1 44 Nam Phẫu thuật

Trường hợp 2 41 Nữ Phẫu thuật

Trường hợp 3 76 Nữ Phẫu thuật

Trường hợp 4 51 Nam Phẫu thuật

Trường hợp 5 61 Nữ Nội khoa

Trường hợp 6 80 Nữ Nội khoa

Có 66,67% (4/6) trường hợp > 50 tuổi Nhỏ

nhất 41 tuổi, lớn nhất 80 tuổi Nữ 66,67% (4/6)

Nam 2 trường hợp

Biểu hiện lâm sàng

Biểu hiện ở thận

Sỏi thận 4 (66,67%) Cả 4 đều sỏi thận 02 bên,

trong đó 1 trường hợp đã phẫu thuật lấy sỏi thận

và tán sỏi thận tái phát

Bệnh thận mạn 4 (66,67%)

Tiểu nhiều 3 (50%)

Biểu hiện xương khớp

Đau nhức xương khớp 4 (66,67%)

Loãng xương (T score < 2) 4 (66,67%)

Chưa ghi nhận gãy xương bệnh lý Tuy

nhiên trong 2 trường hợp cường cận giáp chưa

rõ nguyên phát hay thứ phát mà chúng tôi đưa

ra khỏi nhóm nghiên cứu như đã nói ở trên, có 1 trường hợp gãy xương bệnh lý Bệnh nhân này

91 tuổi, gãy cổ xương đùi, gãy 2 xương cẳng tay

Biểu hiện tim mạch

Tăng huyết áp 4 (66,67%)

Bệnh tim thiếu máu cục bộ 3 (50%)

Chưa ghi nhận phì đại thất trái hay loạn nhịp

Biểu hiện tiêu hóa

Cảm giác đầy bụng, buồn nôn 2 (33,33%) Táo bón 2 (33,33%)

Viêm loét tá tràng (nội soi) 1 (16,66%)

Biểu hiện tâm thần kinh

Cảm giác mệt mỏi, yếu cơ 4 (66,67%)

Chưa ghi nhận trường hợp nào lơ mơ, hôn mê

Tất cả 6 (100%) trường hợp đều có triệu chứng ở một hoặc nhiều nhóm cơ quan đích Thậm chí 3/6 (50%) trường hợp cùng lúc có biểu hiện ở nhiều nơi: thận (bệnh thận mạn hoặc sỏi thận), xương khớp (đau nhức xương khớp hoặc loãng xương), tiêu hóa (đầy bụng, buồn nôn hoặc táo bón), tâm thần kinh (mệt mỏi hoặc yếu cơ) Chưa ghi nhận trường hợp nào không có triệu chứng lâm sàng (chỉ rối loạn sinh hóa)

Sinh hóa máu

Bảng 2: Sinh hóa máu

Canxi toàn phần (2,1-2,55 mmol/L)

Canxi ion hóa (2,2-2,8 mEq/L)

iPTH (1,48-7,63 pmol/L)

Creatinine (0,7-1,5 mg/dL)

eGFR (≥ 60ml/ph/ 1,73m 2 )

Chẩn đoán hình ảnh

Cả 6 trường hợp đều được siêu âm cổ, 1

trường hợp được chụp CT cổ Có 5 trường hợp

(83,33%) chẩn đoán của siêu âm là u cận giáp

Một trường hợp (16,66%) chẩn đoán là u giáp và được làm FNAc: biến đổi tế bào biểu mô tuyến giáp không điển hình có ý nghĩa không xác định (Bethesda nhóm III) chưa loại trừ u cận giáp

Trang 4

Trường hợp này được xạ hình tuyến cận giáp

bằng Tc-99m Sestamibi thấy tăng bắt xạ và chậm

đào thải (wash out), phối hợp với những bất

thường về sinh hóa máu nên chẩn đoán là u

tuyến cận giáp (giải phẫu bệnh sau mổ:

adenoma tuyến cận giáp)

Số lượng tuyến cận giáp có sang thương /

siêu âm: một tuyến cận giáp có u là 5 trường hợp

(83,33%) Hai tuyến cận giáp có u là 1 trường

hợp (16,66%) Trường hợp này là bệnh nhân thứ

6, có iPTH, canxi máu toàn phần, canxi máu ion

hóa rất cao (bảng trên) Người bệnh lớn tuổi (80

tuổi), suy thận mạn, tăng huyết áp, bệnh tim

thiếu máu cục bộ, nguy cơ phẫu thuật cao nên

chỉ điều trị nội

Vị trí u / siêu âm, CT: chúng tôi ghi nhận

được 7 u tuyến cận giáp ở 6 người bệnh (1

trường hợp có 2 u ở hai tuyến cận giáp khác

nhau) Bên phải 6 lần gặp (tuyến cận giáp trên 2,

tuyến cận giáp dưới 4); bên trái 1 lần gặp ở

tuyến cận giáp dưới Có vẻ sang thương ở bên

phải và dưới gặp nhiều hơn

Kích thước u / siêu âm, CT (đường kính lớn

nhất của u):

Bảng 3: Kích thước u

TH 1 TH 2 TH 3 TH 4 TH 5 TH 6

22 mm 9 mm 20 mm 37 mm 22 mm 23 mm và

17 mm

Xạ hình tuyến cận giáp bằng Tc-99m Sestamibi

Có 4 trường hợp điều trị phẫu thuật, trước

mổ được xạ hình tuyến cận giáp Tiêm tĩnh mạch

20 mCi Tc-99m Sestamibi, xạ hình vùng cổ theo bình diện phẳng, ở mặt trước tại thời điểm 15 phút và 120 phút sau tiêm thuốc: sang thương có đặc điểm tăng hấp thu phóng xạ và chậm đào thải theo thời gian tương ứng với vị trí u cận giáp trên siêu âm / CT Hai bệnh nhân điều trị nội không được xạ hình Sestamibi

Điều trị

Điều trị nội khoa 2 trường hợp: 1 từ chối phẫu thuật (trường hợp 5), 1 nguy cơ phẫu thuật cao (trường hợp 6) Điều trị phẫu thuật 4 trường hợp, chúng tôi ghi nhận chi tiết như sau

Đặc điểm cuộc mổ: cả 4 trường hợp đều phẫu thuật mở, thời gian mổ trung bình 50 phút (30 – 80 phút) Máu mất không đáng kể (không thấm ướt hết một miếng gạc nhỏ)

Sau mổ: chưa ghi nhận tử vong Chưa ghi nhận các biến chứng như tetanie, khàn giọng, chảy máu, nhiễm trùng vết mổ Cả 4 trường hợp đều được xuất viện sau mổ 1-3 ngày và tái khám sau 2 tuần

Kết quả giải phẫu bệnh: cả 4 là adenoma tuyến cận giáp, chưa ghi nhận trường hợp nào tăng sản tuyến hay adenocarcinoma

Hiệu quả phẫu thuật

Chúng tôi đánh giá hiệu quả phẫu thuật dựa trên những thay đổi sinh hóa máu sau mổ (SM)

so với trước mổ (TM) Thời điểm kiểm tra là hậu phẫu ngày 1 và sau mổ 2 tuần lúc tái khám

Bảng 4: Sinh hóa máu trước và sau mổ (hậu phẫu ngày 1)

Canxi toàn phần

(2,1-2,55mmol/L)

Canxi ion hóa (2,2-2,8mEq/L)

iPTH (1,48-7,63pmol/L)

Creatinine (0,7-1,5 mg/dL)

eGFR (≥ 60ml/ph/1,73m 2 )

TM SM TM SM TM SM TM SM TM SM

Thời điểm hậu phẫu ngày 1: cả 4 trường hợp

đều có canxi máu toàn phần trở về mức bình

thường; 3 trường hợp canxi ion hóa trở về mức

bình thường, 1 trường hợp giảm đáng kể nhưng

vẫn còn cao hơn mức bình thường (in đậm) Hai

trường hợp iPTH trở về mức bình thường, 2 trường hợp giảm đáng kể nhưng vẫn còn cao

hơn mức bình thường (in đậm) Ở 2 trường hợp

có creatinine trước mổ cao và eGFR thấp, hậu phẫu ngày 1 creatine trở về mức bình thường,

Trang 5

còn eGFR tuy có cải thiện nhưng chưa đạt mức

bình thường

Thời điểm tái khám sau mổ 2 tuần: chúng tôi

chỉ kiểm tra các chỉ số chưa đạt mức bình thường

ở thời điểm hậu phẫu ngày 1 Trường hợp 3,

iPTH tương ứng trước mổ, hậu phẫu ngày 1 và

sau mổ 2 tuần là 25,1 – 21 – 17,3 pmol/L, vẫn còn

cao hơn mức bình thường Trường hợp 4, iPTH

tương ứng trước mổ, hậu phẫu ngày 1 và sau mổ

2 tuần là 16,5 – 10,5 – 7,3 pmol/L, đã ở mức bình

thường Canxi ion hóa của trường hợp 3 tương

ứng trước mổ, hậu phẫu ngày 1 và sau mổ 2 tuần

là 3,42 – 2,9 – 2,56 mEq/L, đã ở mức bình thường

Trường hợp 3 và 4, dù creatinine máu đã ở mức

bình thường nhưng eGFR không cải thiện thêm

BÀN LUẬN

Cường cận giáp là tình trạng tăng tiết của

hormon tuyến cận giáp (PTH) quá mức dẫn

đến tăng canxi máu và giảm phosphate máu

Cường cận giáp có thể nguyên phát hay thứ

phát Trong suy thận mạn, tình trạng tăng

phosphat máu và giảm sản xuất 1,25 -

dihydroxycholecalciferol ở thận gây giảm

canxi ion hóa trong máu, kích thích tuyến cận

giáp tăng hoạt động, to ra và trở nên tự tăng

năng gọi là cường cận giáp thứ phát Tăng

canxi máu do cường cận giáp nguyên phát gây

sỏi thận, vôi hóa thận, nhiễm trùng tiểu…và

suy thận Như vậy suy thận có thể là hậu quả,

cũng có thể là nguyên nhân của cường cận

giáp Trên thực tế, đôi khi rất khó phân biệt

cường cận giáp nguyên phát hay thứ phát

Chúng tôi ghi nhận 2 trường hợp không phân

biệt được như vậy

Cường cận giáp nguyên phát tuy ít gặp

nhưng có vẻ được phát hiện ngày càng nhiều

Riêng trong năm 2017, chúng tôi phát hiện 4

trường hợp Ghi nhận này tương tự tác giả Trần

Ngọc Hoàng(7), tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 1/1/2012

– 30/4/2016 có 8 trường hợp, chỉ riêng trong 2

năm 2015-2016 có 7 trường hợp Chúng tôi ghi

nhận 66,67% (4/6) trường hợp > 50 tuổi, tương tự

của các tác giả(3,5,6,7) Nữ chiếm 66,67% (4/6), cũng

tương tự ghi nhận của các tác giả trong và ngoài

có thai và cho con bú gây kích thích tuyến cận giáp

Triệu chứng cường cận giáp nguyên phát biểu hiện gián tiếp qua các cơ quan đích Vì vậy ở giai đoạn sớm, rất khó chẩn đoán do triệu chứng tản mạn và mơ hồ Bệnh thường được phát hiện muộn khi triệu chứng đã nặng hay có biến chứng ở cơ quan đích Sang thương ở tuyến cận giáp thường nhỏ, nằm sâu sau tuyến giáp nên thăm khám khó phát hiện

Cả 6 trường hợp của chúng tôi không có trường hợp nào sờ thấy u khi khám cổ Cường cận giáp gây tăng canxi máu do tăng hủy xương nên có triệu chứng ở xương khớp Chúng tôi ghi nhận 66,67% (4/6) trường hợp đau nhức xương khớp và loãng xương khi đo mật độ xương Chúng tôi cũng ghi nhận 1 trường hợp khác không trong nghiên cứu này

có gãy xương bệnh lý, nhiều xương, nhiều lần Điều này tương tự nhận định của các tác giả trong và ngoài nước(3,5,6,7) Ngoài biểu hiện ở xương khớp, tình trạng tăng canxi máu còn tác động lên nhiều tạng khác(3,5,6,7) Ở thận là sỏi thận, suy thận Chúng tôi ghi nhận 66,67% (4/6) trường hợp có sỏi thận cả hai thận, trong

đó 1 trường hợp đã can thiệp điều trị nhiều lần do tái phát sỏi Ở tim mạch là cao huyết

áp, phì đại thất trái, loạn nhịp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, vôi hóa mạch máu Chúng tôi ghi nhận 66,67% tăng huyết áp, 50% bệnh tim thiếu máu cục bộ Ở hệ tiêu hóa là ăn uống kém, đầy hơi, buồn nôn, nôn, táo bón, viêm loét dạ dày tá tràng (canxi máu tăng kích thích tiết gastrin), thậm chí viêm tụy cấp Chúng tôi ghi nhận 33,33% đầy bụng, buồn nôn; 33,33% táo bón và 1 trường hợp loét tá tràng Triệu chứng tâm thần kinh là mệt mỏi, yếu cơ, lơ mơ

có khi hôn mê, Chúng tôi có 4 trường hợp mệt mỏi, yếu cơ và chưa ghi nhận trường hợp nào

lơ mơ, hôn mê Cả 6 trường hợp của chúng tôi khi phát hiện đã ở giai đoạn muộn, có nhiều triệu chứng ở một hoặc nhiều nhóm cơ quan

Trang 6

đích Thậm chí 3/6 (50%) trường hợp có biểu

hiện ở nhiều nơi cùng lúc: thận (bệnh thận

mạn hoặc sỏi thận), xương khớp (đau nhức

xương khớp hoặc loãng xương), tiêu hóa (đầy

bụng, buồn nôn hoặc táo bón), tâm thần kinh

(mệt mỏi hoặc yếu cơ) Chưa ghi nhận trường

hợp nào không có biểu hiện về lâm sàng (chỉ

có rối loạn về sinh hóa) Ghi nhận này cũng

tương tự nhận định của nhiều tác giả, phần

lớn được phát hiện bệnh khi đã có biến chứng

hoặc triệu chứng của bệnh lý nội khoa nặng đi

ý của của cường cận giáp(4,5,6) Và nguy cơ sỏi

thận, nguy cơ tái phát sỏi thận, nguy cơ loãng

xương, gãy xương bệnh lý sẽ giảm đi nhiều

sau phẫu thuật điều trị(5,8)

Nguyên nhân của cường cận giáp nguyên

phát thường gặp nhất là adenoma ở một tuyến

cận giáp 85-90%, tăng sản tuyến 10-15%,

adenoma nhiều tuyến cận giáp 1-2%, u ác cận

giáp rất hiếm gặp < 1%(4) Chúng tôi ghi nhận

cả 4/4 trường hợp được phẫu thuật là

adenoma ở một tuyến cận giáp Riêng trường

hợp có 2 u ở 2 tuyến cận giáp khác nhau chỉ

điều trị nội khoa nên không biết bản chất giải

phẫu bệnh Một số tác giả ghi nhận cường cận

giáp có tính gia đình(5,2) Chúng tôi ghi nhận

được một điều thú vị là trường hợp 6 (nữ 91

tuổi, 2 u ở 2 tuyến cận giáp, điều trị nội) và

trường hợp 4 (nam, 51 tuổi, điều trị phẫu

thuật, adenoma cận giáp) là mẹ con

Khi đã chẩn đoán cường cận giáp nguyên

phát, cần phải điều trị Nếu không, bệnh diễn

tiến nặng dần, người bệnh có thể tử vong do suy

thận, nhiễm khuẩn hoặc tăng canxi máu đột

ngột Mục tiêu điều trị là đưa PTH, canxi máu

trở về bình thường và cải thiện các triệu chứng

khác Phẫu thuật cắt tuyến cận giáp tăng năng là

biện pháp duy nhất hiệu quả(1,3,5,8,9),tỷ lệ chữa

khỏi có thể đến 95% Chỉ định phẫu thuật nên

được xem xét ở mọi trường hợp cường cận giáp

nguyên phát, được khuyến cáo ở bệnh nhân có

triệu chứng(1,3,5,8,9) Điều trị nội chỉ nên dành cho

bệnh nhân có nhiều bệnh nội khoa nặng kèm,

nguy cơ phẫu thuật cao(9) Như phẫu thuật tuyến giáp, cắt tuyến cận giáp là một cuộc mổ không quá phức tạp Tai biến, biến chứng sau mổ cũng tương tự Điều quan trọng là xác định đúng sang tương tăng năng để cắt bỏ Có thể thử PTH ngay trong lúc mổ để đánh giá hiệu quả tức thời(5,8,9)

Cả 4 trường hợp phẫu thuật của chúng tôi đều được xác định vị trí sang thương qua hình ảnh nhân nóng khi xạ hình tuyến cận giáp bằng Tc-99m Sestamibi nên không thực hiện kiểm tra PTH lúc mổ Thời gian mổ trung bình của chúng tôi là 50 phút, máu mất không đáng kể, chưa ghi nhận tai biến biến chứng sau mổ

Phẫu thuật thành công (cắt bỏ được tuyến cận giáp tăng năng) thì các triệu chứng sẽ giảm

rõ rệt, nhất là khi chưa có tổn thương nặng, không hồi phục ở cơ quan đích Hậu phẫu ngày

1, canxi máu toàn phần ở cả 4 (100%) trường hợp được phẫu thuật cắt u cận giáp đều về mức bình thường Canxi ion hóa thì 3 (75%) trường hợp trở

về mức bình thường, 1 trường hợp giảm rõ rệt nhưng còn cao hơn mức bình thường (từ 3,42 còn 2,90 mEq/L) Trường hợp này, canxi ion hóa cũng đã về mức bình thường sau mổ 2 tuần (2,56 mEq/L) Có 2 (50%) trường hợp PTH về mức bình thường ngay ngày hậu phẫu 1 Hai trường hợp còn lại, thời điểm 2 tuần sau mổ có 1 trường hợp PTH về mức bình thường (trước mổ 3,42 – hậu phẫu ngày một 2,9 – hai tuần sau mổ 2,56 mEq/L), 1 trường hợp tiếp tục giảm nhưng vẫn còn cao hơn mức bình thường (trước mổ 25,1 – hậu phẫu ngày một 21 – hai tuần sau mổ 17,3 pmol/L) Ở 2 trường hợp creatinine cao và độ lọc cầu thận eGFR thấp thì creatinine đều về mức bình thường ngay ngày hậu phẫu 1 Còn eGFR chỉ cải thiện, không về mức bình thường được,

kể cả sau 2 tuần Đây là 2 trường hợp có suy thận mạn, tổn thương thực thể ở thận không thể hồi phục hoàn toàn Ghi nhận này phù hợp với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước(5,8,9,7)

KẾT LUẬN

Cường cận giáp nguyên phát được phát hiện ngày càng nhiều Nữ gặp nhiều hơn nam Triệu

Trang 7

chứng bệnh vay mượn của nhiều cơ quan đích

nên tản mạn, mơ hồ Thường chẩn đoán muộn

khi đã có triệu chứng nặng, biến chứng Nguyên

nhân thường gặp nhất là adenoma ở một tuyến

cận giáp Phẫu thuật cắt tuyến cận giáp tăng

năng là biện pháp điều trị duy nhất có hiệu quả

Cuộc mổ không khó, ít tai biến biến chứng

nhưng hiệu quả điều trị phẫu thuật chưa cao

như mong muốn do đã có tổn thương thực thể

không hồi phục ở cơ quan đích, nhất là thận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bilezikian JP, Brandi ML, Eastell R, Silverberg SJ, Udelsman R,

Marcocci C, and Potts JT (2014) Guidelines for the

Hyperparathyroidism: Summary Statement from the Fourth

International Workshop J Clin Endocrinol Metab, 99(10):

3561-3569

2 Eastell R, Brandi ML, Costa AG, D’Amour P, Shoback DM

and Thakker RV (2014) Diagnosis of Asymptomatic Primary

Hyperparathyroidism: Proceedings of the Fourth International

Workshop J Clin Endocrinol Metab, 99(10): 1-10

3 Eigelberger MS, Cheah WK, Ituarte PH, Duh QY, Clark OH

(2004) The NIH criteria for parathyroidectomy in

arsymptomaticprimary hyperparathyroidism: are they too

limited? Ann Surg, 239(4): 528-35

4 Elaraj DM, Clark OH (2008) Current status and treatment of

primary hyperthyroidism Perm J, 12(1): 32-7

5 Khan et al (2017) Primary hyperparathyroidism: review and recommendations on evaluation, diagnosis, and management

A Canadian and international consensus Osteoporos Int, 28:

1-19

6 National Institutes of Health (1991) NIH conference Diagnosis and management of asymptomatic primary hyperparathyroidism: consensus development conference

statement Ann intern Med, 114(7): 593-7

7 Trần Ngọc Hoàng, Bs Lâm Văn Hoàng (2016) Khảo sát đặc điểm các bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát điều trị tại

Khoa Nội tiết Bệnh viện Chợ Rẫy Báo cáo hội nghị KHKT Nha

Trang 2016

8 Udelsman R, Akerstrom G, Biagini C, Duh QY, Miccoli P, Niederle B and Tonelli F (2014) The Surgical Management of Asymptomatic Primary Hyperparathyroidism: Proceedings of

the Fourth International Workshop J Clin Endocrinol Metab,

99(10): 3595-3606

9 Wilhelm SM et al (2016) The American Association of Endocrine Surgeons Guidelines for Definitive Management of

Primary Hyperparathyroidism JAMA Surg, pp 2310

Ngày nhận bài báo: 30/11/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/12/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 16/01/2020, 02:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w