1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh hiệu quả điều trị đau thắt lưng mạn do thoái hóa cột sống thắt lưng giữa điện châm tần số 100 Hz với 2 Hz trên huyệt hoa đà giáp tích L2-S1 kết hợp với bài thuốc độc hoạt tang ký

6 207 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 385,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đau lưng mạn tính là một triệu chứng gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và kinh tế của người bệnh. Bệnh thường gặp trong bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng chiếm tỷ lệ 31,120% trong các bệnh lý cơ xương khớp. Ngày nay điện châm tần số cao trên nhóm huyệt Hoa đà giáp tích đã được sử dụng điều trị đau mạn tính.

Trang 1

SO SÁNH HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐAU THẮT LƯNG MẠN

DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG THẮT LƯNG GIỮA ĐIỆN CHÂM TẦN SỐ 100

HZ VỚI 2 HZ TRÊN HUYỆT HOA ĐÀ GIÁP TÍCH L2-S1 KẾT HỢP

VỚI BÀI THUỐC ĐỘC HOẠT TANG KÝ SINH

Lê Thị Hồng Nhung * , Trịnh Thị Diệu Thường **

TÓM TẮT

Mục đích nghiên cứu: Đau lưng mạn tính là một triệu chứng gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và

kinh tế của người bệnh Bệnh thường gặp trong bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng chiếm tỷ lệ 31,120% trong các bệnh lý cơ xương khớp Ngày nay điện châm tần số cao trên nhóm huyệt Hoa đà giáp tích đã được sử dụng điều trị đau mạn tính Một trong những thông số vật lý được nghiên cứu nhiều nhất trong điện châm là tần số kích thích, đặc biệt là mối quan hệ giữa tần số 2 Hz và 100 Hz có liên quan đến sự phóng thích opioid nội sinh trong quá trình giảm đau và chống viêm.Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu về tác dụng giảm đau của điện châm tần số 100 Hz so với 2 Hz trên huyệt Hoa đà giáp tích trong điều trị đau thắt lưng mạn.Vì những lý do trên, chúng tối tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định hiệu quả điện châm tần số 100 Hz trên huyệt hoa đà giáp tích so với điện châm tần số 2 Hz trong điều trị đau thắt lưng mạn do thoái hóa cột sống thắt lưng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng tại bệnh viện YHCT

TP.HCM 62 bệnh nhân đau lưng mạn do thoái hóa cột sống thắt lưng được điều trị bằng điện châm tần số 100

Hz, 20 phút các huyệt Hoa đà giáp tích từ L 2 - S 1 kết hợp với bài thuốc thang độc hoạt tang ký sinh trong 14 ngày

62 bệnh nhân đau lưng mạn do thoái hóa cột sống thắt lưng được điều trị bằng điện châm tần số 2 Hz, 20 phút các huyệt Hoa đà giáp tích từ L 2 - S 1 kết hợp với bài thuốc thang độc hoạt tang ký sinh trong 14 ngày và đánh giá qua thang điểm QDSA ngày 1, ngày 7 và sau 14 ngày điều trị

Kết quả: Sau 14 ngày điều trị tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng giảm đau lưng khá tốt ở nhóm điện châm 100

Hz là 87%, trong đó tỷ lệ hết đau lưng là 29% Ở nhóm điện châm 2 Hz có tỷ lệ giảm đau khá 45%, không có tỷ lệ hết triệu chứng đau lưng sau 14 ngày điều trị

Kết luận: Phương pháp điện châm tần số 100 Hz kết hợp với bài thuốc thang độc hoạt tang ký sinh có tác

dụng tốt hơn điện châm tần số 2 Hz kết hợp với bài thuốc thang độc hoạt tang ký sinh

Từ khóa: điện châm tần số 2 Hz, 100 Hz, đau thắt lưng, QDSA

ABSTRACT

COMPARISON THE EFFICIENCY BETWEEN 100HZ AND 2HZ ELECTROACUPUNCTURE AT HUA-TUO JIAJI -S1 COMBINED WITH DOC HOAT TANG KY SINH HERBAL REMEDY IN TREATING CHRONIC LOW

BACK PAIN IN LUMBAR OSTEOARTHRITIS

Le Thi Hong Nhung, Trinh Thi Dieu Thuong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 4 - 2019: 233 – 238

Objectives: Chronic low back pain could influence ones’ quality of life and economy It is the most common

symptom of lumbar spine osteoarthritis, which accounts for 31.120% of joint disorder Recently, high-frequency electroacupuncture at Hua-Tuo jiaji has been used to treat such cases Some earlier studies sought to investigate the effeciency of 100 Hz or 2 Hz electroacupuncture and its pain-relieving and anti inflamation effects However,

there is no study concentrating on those effects, specifically at Hua-Tuo jiaji points This study aims to compare the pain relieving effect on low back pain of 100 Hz and 2 Hz electroacupuncture at Hua-Tuo jiaji points

Materials and Methods: This is a randomized controlled trial at the Traditional Medicine Hospital at Ho

Chi Minh City from September 2018 to May 2019 The trial group of 62 patients with lumbar osteoarthritis was treated with a daily 20-minute electropuncture using frequency of 100 Hz at L2-S1 Hua-tuo Jiaji points and Doc

Tác giả liên lạc: ThS.BS Lê Thị Hồng Nhung ĐT: 0909660982 Email: drnhungle@gmail.com

Trang 2

hoat tang ky sinh herbal remedy for 14 days In control group, 62 patients were received a daily 20-minute electropuncture using frequency of 2 Hz at L2-S1 Hua-tuo Jiaji points and Doc hoat tang ky sinh herbal remedy for 14 days Outcome measures include QDSA scale at baseline, on day 1, day 7 and day 14

Results: After 14 days of treatment, 87% patients in the trial group had good and fair-good results, in which

29% had no more pain In the control group, 45% patients had fair-good results and no patient had good results

Conclusion: The combination of 100 Hz electroacupuncture at Hua-tuo jiaji points and Doc hoat tang ky

sinh herbal remedy yielded better results in treating chronic low back pain of lumbar osteoarthritis than the

combination of 2 Hz electroacupuncture at Hua-tuo jiaji points and Doc hoat tang ky sinh herbal remedy

Keywords: electroacupuncture 2 Hz, 100 Hz, low back pain, QDSA scale

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau thắt lưng là triệu chứng thường gặp, trong

đó đau do thoái hóa cột sống thắt lưng chiếm tỷ lệ

tương đối cao Tại Việt Nam, nghiên cứu cho thấy

bệnh lý cơ xương khớp chiếm 20%, trong đó thoái

hóa cột sống thắt lưng chiếm 31,12%(5,6,9,10), đau

mạn tính chiếm 20% ở người trưởng thành Việc

dùng thuốc giảm đau có tác dụng nhất thời nhưng

gây nhiều tác dụng phụ, vì vậy việc nghiên cứu

phương pháp không dùng thuốc rất được quan tâm,

trong đó châm cứu là phương pháp không dùng

thuốc đã được y học hiện đại chứng minh, có hiệu

quả giảm đau, cơ chế giải thích cho phương pháp

này là “kiểm soát cửa” do ức chế hoạt động dẫn

truyền ở tủy sống(2,3) Một trong những thông số vật

lý được nghiên cứu nhiều nhất trong điện châm là

tần số kích thích, đặc biệt là mối quan hệ giữa tần

số 2 Hz và 100 Hz có liên quan đến sự phóng thích

opioid nội sinh trong quá trình giảm đau và chống

viêm(2,3) Với tần số 2 Hz sẽ phóng thích ra

Endorphin là loại hormone giảm đau tự nhiên và

liên quan đến kiểm soát cơn đau Còn tần số 100 Hz

sẽ phóng thích ra dynorphin có tác dụng ưu tiên

trên receptor K1 và K3 giảm đau do giảm các chất

dẫn truyền thần kinh, tăng ngưỡng chịu đau(1)

Vậy việc điện châm tần số 100 Hz trên huyệt Hoa

đà giáp tích ở những bệnh nhân đau thắt lưng mạn có

hiệu quả hơn điện châm tần số 2 Hz trên huyệt Hoa đà

giáp tích hay không? Đó là câu hỏi chúng tôi muốn

nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

So sánh tỷ lệ hết đau của phương pháp điện châm

tần số 100 Hz trên huyệt hoa đà giáp tích so với nhóm

điện châm tần số 2 Hz ở thời điểm N1, N7, N14 sau

điều trị đau thắt lưng mạn do thoái hóa cột sống thắt

lưng

So sánh trung bình điểm đau theo thang điểm

QDSA của 2 nhóm ở thời điểm N1, N7, N14 sau điều

trị

Xác định tỷ lệ các tác dụng phụ của phương pháp

điện châm tần số 100 Hz

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Y Học

Cổ Truyền TP Hồ Chí Minh từ tháng 9/2018 – 7/2019

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Triệu chứng lâm sàng

Đau vùng thắt lưng, thời gian đau ≥ 6 tháng, với thang điểm QDSA ≥ 32 điểm

Dấu chứng CLS

X-quang CSTL thẳng nghiêng có hình ảnh thoái hóa CSTL, có ít nhất 1 trong 3 đặc điểm: hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương

Tuổi từ 30 – 70 tuổi

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân đau thắt lưng không phải do thoái hóa cột sống thắt lưng Bệnh nhân mắc các bệnh cấp tính kèm theo hay bệnh nặng cần điều trị tích cực

Bệnh nhân có huyết áp ≥ 160/90 mmHg

Tiêu chuẩn ngưng nghiên cứu

Bệnh nhân diễn tiến nặng thêm, đau nhiều hơn Bệnh nhân tự ý dùng thuốc giảm đau tây y Bệnh nhân bỏ điều trị không rõ nguyên nhân

Phương pháp nghiên cứu

Bệnh nhân tình nguyện được khám lâm sàng và cho chụp X-quang, kiểm tra tiêu chí nhận vào và loại

ra Và được bốc thăm ngẫu nhiên chia làm 2 nhóm Nhóm 1: sử dụng tần số 100 Hz

Nhóm 2: sử dụng tần số 2 Hz

Cả 2 nhóm đều sử dụng bài thuốc Độc hoạt tang

ký sinh như sau: Độc hoạt 12g, Tang ký sinh 12g, Tần giao 12g, Phòng phong 10g, Bạch phục linh 8g, Đỗ trọng 12g, Thục địa 12g, Đảng sâm 12g, Tế tân 4g, Ngưu tất 12g, bạch thược 8g, Đương quy 12g, Quế chi 6g, Cam thảo 4g

Tiêu chuẩn phân loại kết quả điều trị và định nghĩa các biến số

Biến độc lập

Trang 3

Là biến số về phương pháp điều trị được áp dụng

cho bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Tên biến số: Nhóm nghiên cứu

Phân loại biến số: là biến định tính

Quy ước: Gồm 2 giá trị là nhóm điện châm tần

100 Hz và nhóm điện châm tần số 2 Hz

Nhóm điện châm tần số 100 Hz

Nhóm bệnh nhân đáp ứng các tiêu chí chọn vào

loại ra

Chế độ điều trị: Châm tần số 100 Hz trên huyệt

Hoa đà giáp tích đoạn L2 – S1

Kết hợp với bài thuốc thang Độc hoạt tang ký

sinh Thời gian nghiên cứu 2 tuần

Nhóm chứng

Nhóm bệnh nhân đáp ứng các tiêu chí chọn vào

loại ra

Chế độ điều trị: Châm tần số cao 2 Hz trên huyệt

Hoa đà giáp tích đoạn L2 – S1

Kết hợp với bài thuốc thang độc hoạt tang ký

sinh Thời gian nghiên cứu 2 tuần

Biến số phụ thuộc

Là biến số đo lường hiệu quả điều trị và các ảnh

hưởng khác của phương pháp điều trị tác động đến

bệnh nhân

Biến số phụ thuộc chính:

Mức độ đau (điểm QDSA)

Thời điểm xác định biến số: trước, trong và sau

can thiệp

Phân loại biến số: Là biến định lượng (đơn vị

tính: điểm)

Cách xác định: Thầy thuốc chấm điểm bằng cách

hỏi bệnh nhân dựa trên thang điểm QDSA: thấp nhất

là 0 điểm và cao nhất là 64 điểm

Dựa trên mức độ giảm đau (MĐGĐ) của từng

bệnh nhân theo điểm QDSA được chia làm 4 mức độ

Tốt (Bệnh nhân hết đau): khi điểm QDSA giảm ≥

90%

Khá: Điểm QDSA giảm từ 70 - < 90%,

Trung bình: Điểm QDSA giảm từ 50 - < 70%,

Kém: Điểm QDSA giảm < 50%,

Mức độ giảm đau (MĐGĐ)

Cách tính dựa trên thang điểm QDSA, được qui

ước như sau:

Biến kiểm soát

Là các biến số xuất hiện trước hoặc trong quá trình nghiên cứu, có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Đây là các đặc điểm tác động của biến

số độc lập lên biến số phụ thuộc Bao gồm các đặc điểm về tuổi, giới, nghề nghiệp, chỉ số BMI

Xử lý số liệu

Thu thập, xử lý, phân tích các số liệu bằng SPSS 16.0

Y đức

Nghiên cứu được chấp thuận bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Đại học Y Dược

TP Hồ Chí Minh với quyết định số 388//ĐHYD-HĐ ngày 26/10/2018

KẾT QUẢ Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

Đặc điểm lâm sàng của hai nhóm trước điều trị

Bảng 1 Thống kê mô tả các biến định tính của hai

nhóm trước điều trị (N=62)

Đặc điểm

Nhóm điện châm 100Hz

Nhóm điện châm 2Hz

p

Tần số Tỷ lệ

(%) Tần số

Tỷ lệ (%)

Nhóm tuổi

< 45

45 - < 60

≥ 60

11

25

26

17,740 40,320 41,940

15

30

17

24,190 48,390 27,420

0,228

Giới Nam

Nữ

16

46

25,810 74,190

18

44

29,030 70,970

0,687

Nghề nghiệp Lao động chân tay Lao động trí óc

40

22

64,520 35,480

37

25

59,680 40,320

0,579

BMI (kg/m 2 )

<23 23-<25

≥25

20

33

9

32,260 53,230 14,520

26

29

7

41,940 46,770 11,290

0,524

Thời gian mắc bệnh

6 tháng – 5 năm

≥ 5 năm

22

40

35,480 64,520

18

44

29,030 70,970

0,442

Bệnh đi kèm Bệnh khớp khác Viêm dạ dày Bệnh lý tim mạch Đái tháo đường

16

32

8

6

25,810 51,610 12,900 9,680

17

29

11

5

27,420 46,770 17,74 8,060 0,863

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu đa phần có độ tuổi từ 45 đến 60 tuổi, nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới (73%), đa số bệnh nhân là lao động chân tay

Trang 4

(62%) Chỉ số BMI trung bình của cả hai nhóm phần

lớn nhỏ hơn 25 kg/m2 Trong cả hai nhóm, bệnh nhân

đều có thời gian mắc bệnh từ 5 năm trở lên, với các

bệnh đi kèm như bệnh khớp khác, viêm dạ dày, tim

mạch Cả hai nhóm bệnh nhân đều có các đặc điểm

X-quang là gai xương, hẹp khe khớp hoặc cả hai đặc

điểm trên Kiểm định chi bình phương cho thấy,

không có sự khác biệt có giữa đặc điểm nền của cả hai

nhóm bệnh nhân (p > 0,05) (Bảng 1)

Bảng 2 Đặc điểm các chỉ số mạch, huyết áp trước

điều trị

Đặc điểm

Nhóm điện châm

100Hz Nhóm điện châm 2Hz

p

GTNN TB ±

ĐLC GTLNGTNN

TB ± ĐLC GTLN

Mạch

HATT

HHTTr

Chỉ số mạch trung bình của các bệnh nhân nhóm

điện châm 100 Hz là 81 lần/phút, còn của bệnh nhân

nhóm điện châm 2 Hz là 79, khác biệt giữa hai nhóm

có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Huyết áp tâm thu và

huyết áp tâm trương của bệnh nhân cả hai nhóm không chênh lệch nhiều, khác biệt không có ý nghĩa

thống kê (p > 0,05) (Bảng 2)

Bảng 3 Điểm QDSA trước điều trị

Điểm QDSA GTNN TB ± ĐLC GTLN p

0,221

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu có số điểm QDSA trung bình ở nhóm điện châm 100 Hz là 44 ±

5 Trong đó nhóm điện châm 2 Hz có điểm QDSA

trung bình là 43 ± 4 (Bảng 3)

Không có sự khác biệt về điểm QDSA trước điều trị giữa 2 nhóm nghiên cứu P > 0,05

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu đa phần có điểm mức độ giảm đau khá tố ở nhóm 100 Hz là 87%, trong khi đó ở nhóm 2 Hz là 45% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê mức độ giảm đau so với trước điều trị giữa nhóm điện châm 100 Hz và

nhóm điện châm 2 Hz (p<0,001) (Bảng 4, 5, 6)

Bảng 4 Kết quả điều trị qua thang điểm QDSA sau thời gian 7 ngày và 14 ngày

Bảng 5 Hiệu số thay đổi điểm QDSA trong quá trình điều trị sau thời gian 7 ngày và 14 ngày

Hiệu số điểm QDSA Nhóm điện châm 100Hz Nhóm điện châm 2Hz p

Bảng 6 Mức độ và tỷ lệ giảm đau giữa 2 nhóm

Mức độ giảm đau so với trước điều trị Nhóm điện châm 100 Hz Nhóm điện châm 2 Hz p

Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %

BÀN LUẬN

Về tuổi và giới

Trong nghiên cứu này điểm trung bình bị thoái

hóa cột sống thắt lưng là 54 ± 10,200 Kết quả này

tương đối phù hợp với sinh lý bệnh học của thoái hóa

cột sống thắt lưng thường gặp ở tuổi lao động và quá

trình lão quá tự nhiên của xương khớp Giữa 2 nhóm

cho thấy nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam đều này phù hợp vì nữ có tỷ lệ thoái hóa khớp nói chung cao hơn nam giới, do có liên quan đến nồng độ estrogen giảm

ở tuổi mạn kinh (Theo các tác giả Roland W Moskowits, A Doube)

Trang 5

Về chỉ số BMI và nghề nghiệp

BMI trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là

23,620 ± 2,510 trong đó nhóm dư cân béo phì (BMI ≥

23 kg/m2) chiếm tỷ lệ cao đều ở 2 nhóm Việc này cho

thấy việc thừa cân béo phì cũng là một trong những

nguyên nhân gây đau lưng(9)

Về thời gian mắc bệnh và điểm QDSA trước điều

trị

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu có thời gian mắc

bệnh dài ≥ 5 năm chiếm tỷ lệ cao đều ở 2 nhóm Và

có số điểm QDSA trung bình > 42 Điều này cho thấy

việc đau kéo dài ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống

và tâm lý của người bệnh Trong nghiên cứu chúng

tôi, lao động chân tay cả 2 nhóm chiếm điều chiếm tỷ

lệ cao phù hợp với một số nghiên cứu của các tác giả

cho thấy đau thắt lưng do thoái hóa cột sống gặp ở

những người lao động tay chân nhiều hơn so với ở

những người lao động trí óc(7)

Về bệnh phối hợp

Qua tổng hợp bảng trên, cho thấy bệnh lý phối

hợp chiếm tỷ lệ cao ở bệnh viêm dạ dày đều ở 2 nhóm

điều này cho thấy ở những bệnh nhân có bệnh lý đau

mạn tính, đều bị ảnh hưởng đến tác dụng phụ của

thuốc NSAID lên dạ dày Các bệnh phối hợp cũng là

yếu tố có thể làm ảnh hưởng đến tâm lý lẫn kết quả

điều trị Và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

giữa 2 nhóm với p <0,05

Kết quả mức độ giảm đau

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ giảm

đau sau 14 ngày điều trị của nhóm điện châm 100 Hz

so với nhóm điện châm 2 Hz , có đáp ứng khá tốt là

87% và tỷ lệ bệnh nhân không còn triệu chứng đau

lưng là 29%, trong khi đó ở nhóm dùng điện châm 2

Hz có tỷ lệ khá là 45% và tỷ lệ bệnh nhân hết triệu

chứng đau là 0% và có hiệu quả hơn so với nghiên

cứu của Phan Quan Chí Hiếu và Trương Trung Hiếu

điện châm trên nhóm huyệt Hoa đà giáp tích kết hợp

với kéo dãn cột sống thắt lưng cho kết quả điều trị khá

tốt là 78,85%(8) Hoặc điện châm đơn thuần (kết quả

giảm đau là 71,4% theo Kim HJ)(4). Theo nghiên cứu

của Han JS cho thấy điện châm là thuốc bổ sung và

thay thế đã được chấp nhận trên toàn thế giới chủ yếu

để điều trị đau cấp tính và mãn tính Các nghiên cứu

về cơ chế hoạt động đã được chứng minh rằng các

peptide opioid nội sinh trong hệ thống thần kinh trung

ương đóng một vai trò thiết yếu trong việc làm trung

gian tác dụng giảm đau của điện châm Các nghiên

cứu sâu hơn đã chỉ ra rằng các loại neuropeptide khác

nhau được phóng thích với tần số khác nhau Điện

châm tần số 2 Hz tăng tốc giải phóng enkephalin,

endorphin và endomorphin, nhưng chỉ có

beta-endorphin có tác dụng giảm đau rất ngắn 3- 4 tiếng, trong khi đó 100 Hz có chọn lọc làm tăng sự giải phóng dynorphin có ái lực trên receptor của K1 và K3

làm tăng tác dụng giảm đau kéo dài Do đó sau 14 ngày điều trị nhóm điện châm 100 Hz cho kết quả giảm đau nhanh và tốt hơn so với nhóm điện châm tần

số 2Hz điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Han JS(1) Việc chọn phác đồ châm tả huyệt Giáp tích L5- S1, là huyệt tại chỗ nằm gần vị trí bám của cơ lưng to, các cơ liên đốt, và các vị trí tổ chức xung quanh cột sống, khi châm cứu sẽ làm cho các cơ và tổ chức quanh cột sống được giãn ra, tăng tuần hoàn nuôi dưỡng vùng tổn thương kết hợp với tác dụng của bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh được sử dụng trên 2 nhóm với tác dụng chính của bài thuốc là khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinh lạc, bổ can thận tăng hiệu quả giảm đau

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 62 bệnh nhân đau thắt lưng mạn

do thoái hóa cột sống thắt lưng tình nguyện được điều trị bằng điện châm 100 Hz kết hợp với bài thuốc độc hoạt tang ký sinh với liệu trị điều trị 14 ngày được ghi nhận bệnh nhân đạt được hiệu quả giảm đau khá tốt là 87% tốt hơn so với điện châm tần số 2 Hz Theo YHCT, nhóm huyệt Hoa Đà Giáp Tích có ảnh hưởng theo từng vùng tương ứng với vị trí của huyệt Nếu so sánh về mặt giải phẫu sẽ thấy có sự phù hợp nhất định

về vị trí của huyệt Hoa Đà Giáp Tích với phân bố cảm giác da theo rễ thần kinh(11) Như vậy, việc sử dụng điện châm 100 Hz trên nhóm huyệt Hoa Đà Giáp Tích đạt được hiệu quả giảm đau hơn do sự phối hợp cả cơ chế điều trị đau tại chỗ theo YHCT và cơ chế ức chế dẫn truyền cảm giác đau theo YHHĐ(1)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Han JS (2004) Acupuncture and endorphins Neurosci Lett,

361(1-3):61-258.

2 Han Z, Jiang YH, Wan Y, Wang Y, Chang JK, Han JS (1999) Endomorphin-1 mediates 2 Hz but not 100 Hz eletroacupuncture

analgesia in the rat Neurosci Lett, 274(2):75-89

3 Irnich D, Beyer A (2002) Neurobiological mechanisms of acupuncture

analgesia Schmerz, 16:93-102

4 Kim HJ, Lee SR, Byun JY, Ahn SG (2000) Clinical study of the

treatment of spondylolisthesis J Kor Acu Mox Soc, 2(17):106- 115

5 Lê Trinh (2005) Đau cột sống đoạn thắt lưng NXB Y học, pp.7-16

6 Nguyễn Quang Long (2003) Gai cột sống có phải là nguyên nhân gây các chứng đau lưng thông thường Chuyên đề: Bệnh hệ thần kinh và

cột sống NXB Y học, pp.57-71

7 Nguyễn Quốc An Vinh (2016) Đánh giá tác dụng giảm đau của

phương pháp điện châm kết hợp với từ trường trong điều trị thoái hóa

cột sống thắt lưng Luận văn Thạc sỹ Y học, Học viện Y Dược học Cổ

truyền Việt Nam

8 Phan Quan Chí Hiếu và Trương Trung Hiếu (2012) Xác định tỷ lệ giảm đau trên bệnh nhân đau thắt lưng do thoái hóa cột sống được điều

trị bằng phương pháp điện châm kết hợp với kéo cột sống thắt lưng Đề

tài cấp cơ sở, Đại học Y dược TP HCM

9 Trần Ngọc Ân (1995) Bệnh thấp khớp Nhà xuất bản y học, pp.294-

311

Trang 6

10 Vũ Anh Nhị (2003) Đau lưng Chuyên đề: Bệnh hệ thần kinh và cột

sống NXB Y học, pp.90-98

11 Wang S, Lai X và Lao J (1999) "The third lumbar transverse process

syndrome treated by electroacupuncture at Huatoujiaji points"

Department of traditional Chinese medicine- First Military Medical

University Guangzhou, 19(3):4-190

Ngày nhận bài báo: 13/06/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/06/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/08/2019

Ngày đăng: 16/01/2020, 02:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w