Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh ho gà. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca trên 76 ca ho gà ở trẻ em điều trị tại khoa Nhiễm, Bệnh Viện Nhi Đồng 1 từ 01/05/2015 đến 31/07/2017.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ
BỆNH HO GÀ Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1
Nhâm Hải Hoàng ** , Tăng Chí Thượng * , Trương Hữu Khanh ** , Phạm Văn Quang *
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh ho gà
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca trên 76 ca ho gà ở trẻ em điều trị tại khoa Nhiễm,
Bệnh Viện Nhi Đồng 1 từ 01/05/2015 đến 31/07/2017
Kết quả: Bệnh thường gặp dưới 3 tháng tuổi (46,1%), không có sự khác biệt về giới tính Bệnh xảy ra tập
trung từ tháng 5 đến tháng 8, xảy ra đều khắp các tỉnh phía Nam Đa phần các trẻ không được chích ngừa đầy đủ hoặc chưa đến tuổi chích ngừa (90,8%) Nguồn lây truyền bệnh cho trẻ thường là ba mẹ và các anh chị em sống chung Bệnh nhi thường nhập viện vào ngày 11 từ ngày khởi phát Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là ho kéo dài trên 2 tuần (42,1%), ho cơn kịch phát điển hình (100%), ho cơn đỏ mặt (100%), ho cơn tím tái (65,8%), tiếng thở rít sau cơn ho (27,7%), ho nhiều về đêm (90,8%), ói sau ho (73,6%), sổ mũi (80,3%),cơn ngưng thở (6,6%), trong đó triệu chứng cơn ngưng thở gặp ở trẻ dưới 3 tháng tuổi Số lượng bạch cầu đều tăng với bạch cầu lympho chiếu ưu thế và thường tăng ở bệnh nhân cần được hỗ trợ hô hấp nhiều hơn X quang ngực thẳng đa phần đều có hình ảnh tổn thương phổi (92,1%), PCR ho gà đa số dương tính với Bordetella pertussis (71%) Biến chứng viêm phổi thường gặp nhất (93,4%), suy hô hấp (61,8%), co giật chiếm (2,6%) Phần lớn bệnh nhân khỏi bệnh và xuất viện, có 1 trường hợp tử vong (1,3%) do biến chứng viêm phổi nặng, viêm não do bệnh ho gà gây ra
Kết luận: Chủng ngừa ho gà đủ mũi, đúng lịch cho trẻ và duy trì tỉ lệ chủng ngừa cộng đồng cao góp phần
giảm nguy cơ mắc bệnh, triệu chứng nặng và biến chứng của bệnh Cần chú ý đặc điểm cơn ho và tiền căn chủng ngừa của trẻ để tránh bỏ sót bệnh
Từ khoá: Ho gà, trẻ em, dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị, bệnh viện nhi đồng 1
ABSTRACT
EPIDEMIOLOGICAL, CLINICAL, PARACLINICAL CHARACTERISTICS, AND TREATMENT RESULTS OF CHILDREN WITH PERTUSSIS DISEASE AT CHILDREN HOSPITAL NUMBER 1
Nham Hai Hoang, Tang Chi Thuong, Truong Huu Khanh, Pham Van Quang
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 3- 2018: 113- 122
Objectives: A series descriptive study was carried out on 76 children with confirmed laboratory diagnosis of
pertussin Children Hospital Number 1 from 01/05/2015 to 31/07/2017
Results: Pertussis occurred more frequently in children of < 3 months old (46.1%), no significant difference
between male and female patients was observed The disease occurred all of months of the year, the highest between May and August, it tend to distribute homologically in the South of Viet Nam Majority of cases have not been vaccinated (90.8%) The high risk factors were exposure to parents and siblings who had persit cough The day of hospitalize always was in the day 11 th of illness The most frequent symptoms of pertussis were persit cough over 2 weeks (42.1%), long duration paroxysmal cough (100%), paroxysmal cough with red face (100%) or with cyanosis (65.8%), whopping after cough (27.7%), start coughing at nigh (90.8%), vomiting (73.6%),
*Bộ môn Nhi, Trường Đại học Y Phạm Ngọc Thạch, **Khoa Nhiễm, Bệnh Viện Nhi Đồng 1
Tác giả liên lạc: BS.Nhâm Hải Hoàng - ĐT: 01218424844- Email: BsHoangPed@gmail.com
Trang 2rhinorrhea (80.3%), apnea (6.6%), the apnea occured mainly in children < 3 months old Pertussis patients were with leukocytosis, lymphocytosis increasing higher in patient need to support ventilation Almost chest X-ray had injured (92.1%) PCR mainly positive with Bordetella pertussis (71%) Most complications of pertussis
in children was pneumonia (93.4%), respiratory faillure (61.8%) and seizures (2.6%) Mortality rate due to pertussis was 1.3%
Conclusion: The timely vaccination against pertussis with sufficient doses and the maintaining rates of
immunization rates in the community would minimize the risk of contracting pertussis, its complications and severe symptoms The diagnosis of pertussis should based on the characteristics of cough and vaccination for patients
Keywords: Pertussis, children, epidemiological, clinical, paraclinical characteristics, treatment results, Children Hospital Number 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ho gà là một bệnh nhiễm trùng đường hô
hấp cấp tính, có khả năng lây nhiễm cao và là
một trong những bệnh gây tử vong nhiều trong
các loại bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc
xin Mặc dù đã được dự phòng bằng vắc xin
nhưng trên thế giới bệnh vẫn chưa hoàn toàn
được kiểm soát và có thể gây tử vong, đặc biệt là
trẻ nhỏ Bệnh ho gà xảy ra khắp nơi trên thế giới,
trước thời kỳ vắc xin, ho gà là nguyên nhân tử
vong quan trọng của trẻ em Hiện nay ho gà vẫn
là vấn đề sức khỏe toàn cầu, trong những năm
gần đây số ca bệnh ho gà trên thế giới nói chung
và tại Việt Nam nói riêng được báo cáo ngày
càng tăng Theo Tổ chức Y tế thế giới, ước tính
trên toàn thế giới có khoảng 50 triệu ca mắc và
300.000 ca tử vong mỗi năm Ở các nước đang
phát triển tỉ lệ tử vong do ho gà ở trẻ nhũ nhi
được ước tính khoảng 4%(27) Trong những năm
gần đây các vụ dịch ho gà lẻ tẻ vẫn liên tục xảy
ra ở nhiều nước, kể cả các nước phát triển có tỉ lệ
tiêm phòng cao, như vụ dịch tại Washington
năm 2012 có 2.520 ca mắc (37,5 ca/100.000 dân),
tăng 1,3 lần so với số liệu cùng thời điểm năm
2011(6) Ở Việt Nam sau khi có Chương trình
Tiêm chủng mở rộng với 3 mũi vắc xin cơ bản
Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván cho trẻ < 1 tuổi từ
đầu những năm 1980 thỉ tỉ lệ mắc và tử vong do
ho gà ở trẻ em giảm đáng kể từ 75,5/100.000 dân
trong những năm 1984 – 1986, xuống còn
7,5/100.000 dân vào những năm 1991 – 1995, và
còn 0,32/100.000 dân trong 5 năm 2008 – 2012
Cho đến nay Việt Nam vẫn nỗ lực duy trì được thành quả giảm số ca mắc bệnh ho gà, tuy nhiên hàng năm vẫn có các trường hợp trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ mắc và tử vong do ho gà với bệnh cảnh và triệu chứng lâm sàng phức tạp Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng, và điều trị của bệnh ho gà ở trẻ em từ 1 tháng đến
15 tuổi tại khoa Nhiễm bệnh viện Nhi Đồng 1, qua đó có thể đề xuất những biện pháp nhằm góp phần kiểm soát và phòng bệnh hiệu quả hơn, đồng thời thông qua đó cảnh báo cộng đồng, góp phần vào công tác kiểm soát bệnh ho
gà tại Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và cận lâm sàng bệnh ho gà
Xác định tỉ lệ các biến chứng hô hấp, thần kinh bệnh ho gà
Xác định tỉ lệ các đặc điểm diễn tiến, điều trị
bệnh ho gà
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả hàng loạt ca
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Tiêu chuẩn lâm sàng
Ho kéo dài trên 1 tuần kèm theo ít nhất một trong các triệu tuần chứng sau: Ho kịch phát, thở
Trang 3rít khi hít vào hay ói ngay sau ho mà không có
nguyên nhân rõ ràng nào khác
Tiêu chuẩn cận lâm sàng
Bạch cầu máu tăng đa số bạch cầu lympho,
với số lượng lympho > 10.000 TB/mm3 và kết quả
PCR (Polymerase chain reaction) ho gà dương
tính (dương tính vi khuẩn Bordetella pertussis và
Bordetella spp.)
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhi mắc bệnh tim bẩm sinh tím
Phân tích số liệu: Các ca nhập viện trước
tháng 12/2016, chúng tôi ghi nhận gián tiếp từ hồ
sơ bệnh án các dữ liệu, gọi điện thoại cho ba/ mẹ
hỏi thêm thông tin khi cần thiết Các ca nhập
viện từ tháng 12/2016, chúng tôi sẽ giải thích việc
hỏi, thăm khám và làm xét nghiệm, cho ba/mẹ
hay người giám hộ bệnh nhi ký giấy đồng ý
tham gia nghiên cứu Các thông tin về bệnh
nhân được bảo mật hoàn toàn và sử dụng cho
mục đích nghiên cứu khoa học
Xét nghiệm PCR ho gà trong nghiên cứu của
chúng tôi được thực hiện với sự tài trợ hoàn toàn
kinh phí của Viện Pasteur TP.HCM trong
chương trình nghiên cứu về tình hình bệnh ho
gà tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 kết hợp giữa khoa
Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 và Viện Pasteur
TP.HCM Quy trình xét nghiệm PCR ho gà tại
phòng xét nghiệm Viện Pasteur TP.HCM: Tách
chiết acid nucleic được thực hiện bằng DNA
(Deoxyribonucleic acid) mini kit của Qiagen, quá
trình chạy PCR bằng hệ thống máy PCR của
hãng ABI (Applied Biosystems), sử dụng Kit
(IS481 và ptxS1) Phân tích kết quả: IS481 dương
tính là mẫu có tín hiệu huỳnh quang cycle
threshold ≤ 35 và ptxS1 dương tính là mẫu có tín
hiệu huỳnh quang cycle threshold ≤ 40
IS481 dương tính và ptxS1 dương tính
dương tính vi khuẩn Bordetella pertussis
IS481 dương tính và ptxS1 âm tính dương
tính vi khuẩn Bordetella spp
IS481 âm tính và ptxS1 âm tính không có
vi khuẩn ho gà
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel
2010 và SPSS 20.0 Thống kê mô tả trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn, tần số, tỉ lệ % Thống kê phân tích kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương hoặc phép kiểm Fisher’s exact, phép kiểm phi tham số Mann – Whitney
KẾT QUẢ
Khảo sát trên 76 ca ho gà dương tính được đưa vào nghiên cứu từ 01/05/2015 đến 31/07/2017
Đặc điểm dịch tễ học
Bảng 1 Phân bố theo tuổi (n=76)
Tuổi (tháng) Tần số Tỉ lệ %
2 – < 3 tháng 17 22,4
3 – < 6 tháng 18 23,7
6 – < 12 tháng 8 10,5
12 – < 18 tháng 6 7,9
Giới tính
Số ca bệnh có giới tính là nam chiếm 41 ca (5,9%), giới tính nữ chiếm 35 ca (46,1%) Tỉ lệ nam/ nữ trong nghiên cứu là 1,17
Địa chỉ
TP.HCM có 11 ca (14,4%), Miền Đông Nam
Bộ có 25 ca (32,9%), Miền Tây Nam Bộ có 35 ca
(46,1%) và các tỉnh/ thành khác có 5 ca (6,6%)
Tháng nhập viện
Biểu đồ 1 Phân bố nhập viện tháng theo tháng (n
=76)
Đặc điểm lâm sàng
Tiền căn sản khoa
Ghi nhận 9 ca (11,8%) sinh non tháng và 64
ca (88,2%) sinh đủ tháng Về cân nặng lúc sinh 7
ca (9,2%) có sinh nhẹ cân cân nặng <2500 gram,
69 ca (90,8%) ≥ 2500 gram có cân nặng lúc sinh ≥
2500 gram
Trang 4Tình trạng tiếp xúc gần với người ho kéo dài
16 ca ghi nhân có tiếp xúc đối tượng ho kéo
dài trong đó là anh chị em sống chung nhà
(56,3%), ba mẹ (31,3%), người chăm sóc trẻ
(6,2%) và hàng xóm (6,2%)
Bảng 2 Tình trạng chích ngừa (n = 76)
Tuổi Số ca từng chích ngừa ho gà (%)
0 mũi 1 mũi 2 mũi 3 mũi 4 mũi
< 2 tháng 18 (23,7) 0 0 0 0
2 – < 3 tháng 15 (19,7) 2 (2,6) 0 0 0
3 – < 6 tháng 11 (14,5) 7 (9,3) 0 0 0
6 – <12 tháng 5 (6,6) 1 (1,3) 0 2 (2,6) 0
12 – <18 tháng 5 (6,6) 0 0 1 (1,3) 0
≥ 18 tháng 5 (6,6) 1 (1,3) 1 (1,3) 2 (2,6) 0
Tổng 59 (77,7) 11 (14,5) 1 (1,3) 5 (6,5) 0
Lý do không chích ngừa
Chưa đến ngày chích ngừa (34,8%), trẻ bị
bệnh, sốt (26,1%), gia đình lo ngại phản ứng sau
chích ngừa (13%), chờ đợi vắc xin dịch vụ (5,8%)
và nguyên nhân khác nhưba mẹ bận việc quên
đưa trẻ đi chích ngừa (20,3%)
Tình trạng dinh dưỡng
Số ca bệnh ho gà bị suy dinh dưỡng chiếm 21,1%, trong đó 12 ca (15,8%) bị suy dinh dưỡng vừa và 4 ca (5,3%) bị suy dinh dưỡng nặng
Lý do nhập viện và chẩn đoán lúc nhập viện
Ho kèm khò khè, thở mệt chiếm 28,9%; ho kéo dài chiếm 23,7%; ho kèm ọc sữa/ ói sau cơn
ho chiếm 23,7%, ho cơn đỏ mặt/ tím môi chiếm
21,1% và ho kèm sốt chiếm 2,6% Chẩn đoán
viêm phổi có 37 ca (48,6%), viêm tiểu phế quản là
23 ca (30,3%), ho gà là 16 ca (21,1%) Đa số bỏ sót hay chẩn đoán sai lúc nhập viện
Thời gian diễn tiến bệnh
Giai đoạn khởi phát: 4,5 (3 - 7) ngày, giai đoạn toàn phát: 10 (8,25 – 15) ngày, thời gian từ lúc khởi phát ho đến lúc nhập viện: 11 (7 – 15) ngày và thời gian từ lúc nhập viện đến chẩn
đoán ho gà: 1 (1 – 3) ngày
Bảng 3: Các triệu chứng lâm sàng (n = 76)
Triệu chứng lâm sàng
Tổng số ca bệnh (N= 76)
< 3 tháng tuổi (n = 35)
≥ 3 tháng tuổi (n = 41) p
Số ca (%) Số ca (%) Số ca (%)
Sốt lúc nhập viện
Sốt < 39°C
Sốt ≥ 39°C
15 (19,7)
6 (7,9)
9 (11,8)
5 (14,3)
2 (5,7)
3 (8,6)
10 (24,3)
4 (9,7)
6 (14,6)
0,510
Ho ≥ 2 tuần
Ho khan
Thời điểm cơn ho
Đêm
Ngày
Ngay sau ăn
Ho cơn kịch phát điển hình
Ho cơn đỏ mặt
32 (42,1)
72 (94,8)
69 (90,8)
37 (48,6)
12 (15,8)
76 (100)
76 (100)
12 (34,3)
35 (100)
31 (88,6)
15 (42,9)
7 (20)
35 (100)
35 (100)
20 (48,8)
37 (90,2)
38 (92,7)
22 (53,7)
5 (12,2)
41 (100)
41 (100)
0,202 0,12 0,697 0,348 0,352
Tiếng thở rít sau cơn ho 21 (27,7) 11 (31,4) 10 (24,4) 0,334
Đặc điểm cận lâm sàng
Bảng 4: Kết quả xét nghiệm máu (n = 76)
Bạch cầu (BC)*
Bạch cầu lympho
Bạch cầu đa nhân trung tính
34,75 ± 1,6 19,88 ± 1,57 5,2 ± 2,1
* Trong kết quả xét nghiệm máu, nhóm BC < 15.000 TB/mm 3 chiếm 4 ca (5,3%), nhóm BC 15.000 - <25.000 TB/mm 3 chiếm 33 ca (43,4%), nhóm BC 25.000 - < 50.000
Kết quả CRPhs có 47 ca được thực hiện, trong đó 4 ca có CRP hs ≥ 10 mg/L (8,7%)
Trang 5Kết quả PCR ho gà dương tính với Bordetella
pertussis (71%) và Bordetella spp (29%)
Kết quả X quang ngực: Viêm tiểu phế quản
(48,7%) và viêm phổi (43,4%), còn lại không có
tổn thương trên X quang ngực
Bảng 5: Biến chứng (n = 76)
Biến chứng
Tổng số ca
bệnh (N= 76)
< 3 tháng tuổi (n = 35)
≥ 3 tháng tuổi (n = 41) p
Số ca (%) Số ca (%) Số ca (%)
Viêm phổi 71 (93,4) 32 (91,4) 39 (95,1) 0,424
Suy hô hấp
Độ 1
Độ 2
Độ 3
47 (61,8)
9 (11,8)
35 (46,1)
3 (3,9)
24 (68,6)
6 (17,1)
16 (45,7)
2 (5,7)
23 (56,1)
3 (7,3)
19 (46,3)
1 (2,4)
0,265
Co giật 2 (2,6) 1 (2,9) 1 (2,4) 0,712
Đặc điểm điều trị
Hỗ trợ hô hấp
13 ca (17,1%) cần được hỗ trợ hô hấp trong
đó thở oxy cannula mũi (11,9%) với thời gian hỗ
trợ là 2,5 ± 1,3 ngày, thở NCPAP (3,9%) với thời
gian trung bình là 17 ± 13 ngày và thở máy
(1,3%) với thời gian hỗ trợ là 14 ngày
Điều trị kháng sinh
11 ca (14,5%) điều trị Azithromycin đơn
thuần và 65 ca (85,5%) điều trị Azithromycin
phối hợp kháng sinh khác trong đó nhóm
Cephalosporin thế hệ 3 chiếm 81,6% và
Ciprofloxacin chiếm 3,9%
Thời gian điều trị
Thời gian điều trị kháng sinh là 9 (7 – 11,75)
ngày, trong đó thời gian điều trị Azithromycin là
5,5 ± 0,9 ngày và thời gian nằm viện là 9,5 (7 –
11,75) ngày trong đó trẻ dưới 3 tháng là 10 (7 –
12) ngày và trẻ trên 3 tháng là 8 (7 -11,5) ngày
Kết quả điều trị
Đa phần các trường hợp đều khỏi bệnh và
xuất viện chiếm 98,7% 1 trường hợp tử vong do
suy hô hấp tuần hoàn có biến chứng viêm não
chiếm 1,3%
BÀN LUẬN
Từ 01/05/2015 đến 31/07/2017, chúng tôi ghi nhận có 76 ca có PCR ho gà dương tính được đưa vào nghiên cứu
Nghiên cứu cho kết quả tuổi trung vị các ca
là 3,25 tháng Đa số dưới 12 tháng chiếm 80,3%, nhóm dưới 6 tháng tuổi chiếm hơn 2/3 các ca bệnh, đặc biệt là nhóm dưới 3 tháng tuổi chiếm 46,1%, tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Thiện Hải(9) và nghiên cứu của KathleenWinter(26) với tỉ
lệ trẻ < 3 tháng chiếm ưu thế, và nghiên cứu của Hoàng Anh Thắng cũng ghi nhận nhóm dưới 6 tháng tuổi chiếm 65,8%(13)
Chúng tôi ghi nhận tỉ lệ nam/nữ là 1,17 Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của
Đỗ Thiện Hải(9) và Hoàng Anh Thắng(13) Kết qủa cho thấy bệnh ho gà phân bố đều ở các tỉnh miền Nam, còn các tỉnh thành khác khu vực phía Nam chiếm một tỉ lệ nhỏ Kết quả này khác với nghiên cứu của Hoàng Anh Thắng ghi nhận hầu hết các ca bệnh đều tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ(13), sự khác biệt này có thể giải thích do nghiên cứu của chúng tôi chỉ được thực hiện trên đối tượng nhập viện tại bệnh viện Nhi Đồng 1 là bệnh viện tuyến cuối chuyên khoa nhi của các tỉnh miền Nam Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận thời gian các ca bệnh nhập viện tại bệnh viện Nhi Đồng 1 tập trung từ các tháng 5 đến tháng 8 chiếm tỉ lệ 59,1% Kết quả của chúng tôi tương đương với phân tích số liệu các bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam của Bộ Y Tế, ho gà thường được báo cáo từ tháng 4 đến tháng 8(1) Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Phạm Quang Thái(23) và nghiên cứu của Nguyễn Thành Lê(22) Tuy nhiên nghiên cứu của Đỗ Thiện Hải bệnh tập trung vào 3 tháng đầu năm - mùa đông ở miền Bắc(9,22), có sự khác biệt với kết quả của chúng tôi có thể giải thích do sự khác biệt về vùng địa lý
Chúng tôi ghi nhận có 16/76 ca bệnh có tiền căn tiếp xúc gần với người ho kéo dài trên 1 tuần, trong đó tỉ lệ tiếp xúc với ba mẹ và anh chị
em song cùng nhà chiếm 87,6%, trong đó có 4
Trang 6cặp anh chị em ruột sống chung nhà cùng bị mắc
bệnh, do ba mẹ dành nhiều thời gian chăm sóc
cho trẻ nhất và các anh chị em sống chung nhà
chơi cùng, tiếp xúc gần với trẻ nhiều
Kết quả cho thấy chỉ có 7 ca được chích ngừa
vắc xin ho gà đủ theo tuổi chiếm 9,2%, đa số các
ca bệnh chưa chích ngừa hay chích ngừa không
đủ vắc xin ho gà theo tuổi chiếm 90,8% Chỉ có
22,3% ca được chích ≥ 1 mũi vắc xin ho gà Tỉ lệ
ca bệnh không nhận được bất kỳ mũi vắc xin
nào là 77,7%, trong đó nhóm dưới 2 tháng tuổi
chiếm tỉ lệ cao nhất là 23,7% Kết quả này tương
đương với nghiên cứu của Phạm Quang Thái là
77,5%(23) Ngoài ra kết quả nghiên cứu của chúng
tôi cũng cho thấy ở nhóm tuổi lớn tỉ lệ số ca bệnh
ho gà thấp hơn khi trẻ bắt đầu được tiêm phòng
từ tháng thứ 2(5,26) Điều này có thể được giải
thích do nhóm dưới 2 tháng chưa đến thời gian
chích ngừa và việc nhóm dưới 2 tháng có tỉ lệ
mắc bệnh cao có thể liên quan đến việc chưa
được chích ngừa, một số nghiên cứu còn cho
thấy mũi tiêm vắc xin đầu tiên tạo sự bảo vệ một
phần có tác dụng chủ yếu là chống lại, không
làm cho bệnh diễn tiến trở nên nghiêm trọng, tỉ
lệ miễn dịch cao hơn (80% - 90%) sẽ không diễn
ra cho đến khi tiêm phòng mũi thứ ba(2,4,14,24) Mục
tiêu của việc chích ngừa ho gà không những để
phòng ngừa bệnh mà còn làm giảm nguy cơ
bệnh nặng ở trẻ(12,16,18,27) Về lý do không chích
ngừa vắc xin, chúng tôi ghi nhận lý do ở các ca
bệnh chưa chích ngừa hoặc bỏ lỡ vắc xin ho gà
chủ yếu là do trẻ chưa đến tuổi chích ngừa với tỉ
lệ 34,8%, còn lại là các lý do phổ biến khác như
trẻ bị bệnh (sốt, nhiễm siêu vi, viêm mũi
họng,…), ba mẹ bận việc nên chưa đưa trẻ đi
chích ngừa, ba mẹ lo ngại phản ứng sau chích
ngừa hay chờ đợi vắc xin dịch vụ
Chúng tôi ghi nhận lý do nhập viện các ca ho
gà đa số là triệu chứng của đường hô hấp,
thường gặp nhất là triệu chứng ho kèm khò khè,
thở mệt chiếm 28,9%, sau đó là triệu chứng ho
kéo dài đơn thuần (23,7%) hoặc ho kèm theo các
triệu chứng đi kèm khác gây ảnh hưởng đến
sinh hoạt của trẻ như ói sau cơn ho (23,7%), ho
cơn đỏ mặt hoặc tím môi (21,1%) và sốt (2,6%) Nghiên cứu của chúng tôi còn ghi nhận đa số các
ca thường được chẩn đoán lúc nhập viện nhầm với chẩn đoán bệnh viêm tiểu phế quản và viêm phổi chiếm 78,9%, do các triệu chứng lúc nhập viện ghi nhận biểu hiện là triệu chứng của viêm đường hô hấp nên dễ bị bỏ sót hay chẩn đoán sai lúc nhập viện
Thời gian trung vị từ lúc khởi bệnh đến lúc nhập viện là 11 ngày, các ca bệnh nhi thường được đưa đến khám và nhập viện trong tuần thứ 2 (> 7 – 14 ngày) với tỉ lệ là 38,3%, tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Thiện Hải với tỉ
lệ nhập viện nhiều nhất vào tuần thứ 2 chiếm 43,5% và nghiên cứu của Nguyễn Thành Lê cho kết quả ngày nhập viện trung bình là 15 ngày(9,22) có thể giải do thời gian khởi đầu của giai đoạn toàn phát sau 1 – 2 tuần khởi phát bệnh khi các biểu hiện lâm sàng bắt đầu rõ rệt, ảnh hưởng đến sinh hoạt khiến trẻ phải nhập viện Tuy nhiên thời gian nhập viện trung bình theo nghiên cứu của Castagnini là 6,8 ngày, sớm hơn do đối tượng nghiên cứu là trẻ
sơ sinh nên thường biểu hiện các triệu chứng điển hình sớm hơn, đây có thể là nguyên nhân làm thời gian nhập viện sớm hơn(5)
Chúng tôi ghi nhận có 15/76 ca (19,7%) được ghi nhận có triệu chứng sốt lúc nhập viện, trong
đó sốt < 39°C chiếm tỉ lệ là 7,9% và sốt ≥ 39°C chiếm tỉ lệ là 11,8% trên tổng số các ca bệnh, trong khi kết quả lý do nhập viện vì sốt đã đề cập chỉ có 2/76 ca, có thể giải thích do gia đình không phát hiện và theo dõi được triệu chứng sốt tại nhà Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Thiện Hải với tỉ lệ là 19,4%(9) nhưng lại có sự khác biệt, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thành Lê với tỉ lệ 6,3%(23) sự khác biệt giữa nghiên cứu của chúng tôi so với nghiên cứu của Nguyễn Thành Lê có thể giải thích do sự khác biệt về số lượng mẫu nghiên cứu Các triệu chứng thường gặp khác cũng được ghi nhận chiếm tỉ lệ tương đối khác nhau như ho kéo dài
Trang 7trên 2 tuần (42,1%), ho khan (94,8%), ho cơn kịch
phát điển hình (100%), ho cơn đỏ mặt (100%), ho
cơn tím tái (65,8%), thời gian lên cơn ho nhiều về
đêm (90,8%), cơn ho nhiều ban ngày (48,6%), cơn
ho ngay sau bú (15,8%), tiếng thở rít sau cơn ho
(27,7%), ói sau ho (73,6%), cơn ngưng thở (6,6%),
sổ mũi (80,3%), suy hô hấp (61,9%), co giật
(2.6%) Kết quả này cũng khá tương đồng với
nghiên cứu của Nguyễn Thành Lê và nghiên cứu
của Đỗ Thiện Hải Nhưng có sự khác biệt là tỉ lệ
ho kéo dài ≥ 2 tuần của chúng tôi thấp hơn, có
thể giải thích do thời gian từ lúc khởi phát đến
nhập viện trung vị trong nghiên cứu của chúng
tôi ngắn hơn nghiên cứu của Đỗ Thiện Hải và
Nguyễn Thành Lê Ngoài ra, nghiên cứu của
Julia Surridge, Castagnini LA, Nieto Guevara và
Ulrich Heininger cũng cho kết quả tương
đồng(5,11,20,25) Đặc biệt trong nghiên cứu chúng tôi
ghi nhận 3 triệu chứng lâm sàng khác nhau giữa
2 nhóm dưới 3 tháng tuổi và trên 3 tháng tuổi có
ý nghĩa thống kê (p < 0,05) là ho cơn tím tái (p =
0,004), sổ mũi (p = 0,022) và cơn ngưng thở (p =
0,018) thường gặp ở trẻ nhỏ hơn 3 tháng thường
gặp nhiều hơn trẻ 3 tháng, cho thấy trẻ dưới 3
tháng tuổi có nguy cơ bị cơn ngưng thở cao gấp
khoảng 15 lần so với trẻ trên 3 tháng tuổi
Về số lượng bạch cầu máu tăng với số lượng
bạch cầu lympho chiếm ưu thế với giá trị trung
bình của bạch cầu là 34.750 ± 1.600 TB/ mm3 và
bạch cầu lympho là 19.880 ± 1.570 TB/mm3 Kết
quả này tương đương với nghiên cứu của Đỗ
Thiện Hải, tuy nhiên lại cao hơn so với nghiên
cứu của Nguyễn Thành Lê có số lượng bạch cầu
tăng với tỉ lệ là 37,5% và tình trạng tăng tỉ lệ
lympho ưu thế là 59,4% và nghiên cứu của Nieto
Guevara với tỉ lệ tăng bạch cầu là 69,4%, có thể
giải thích do tiêu chuẩn công thức máu tăng
bạch cầu với bạch cầu lympho ưu thế để chọn ca
bệnh làm xét nghiệm PCR ho gà của nghiên cứu chúng tôi(4,13,20)
Bảng 6 So sánh đặc điểm bạch cầu máu giữa nhóm
cần được hỗ trợ hô hấp và nhóm không cần được hỗ trợ hô hấp
Tế bào (1.000TB/mm 3 )
Không hỗ trợ
hô hấp (n = 63)
Hỗ trợ hô hấp (n = 13) p
Bạch cầu 25,81 ± 1,5 43,65 ±1,75 0,006 Bạch cầu lympho 18,5 ± 1,52 28,2 ± 1,56 0,002 Bạch cầu đa nhân
trung tính 4,56 ± 1,83 9,8 ± 2,66 0,000
Chúng tôi cũng ghi nhận nhóm cần được hỗ trợ hô hấp có sự tăng về số lượng bạch cầu, bạch cầu lympho bạch cầu đa nhân trung tính cao hơn nhóm không cần được hỗ trợ hô hấp, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Một số nghiên cứu như nghiên cứu của Surridge cho thấy sự tăng số lượng bạch cầu và bạch cầu lympho là yếu tố tiên lượng xấu và kết quả điều trị không tốt(25), hay nghiên cứu bệnh – chứng của Lynda K Mikelova và các cộng sự trên 16 ca bệnh ho gà dưới 6 tháng tử vong tại Canada cho thấy sự tăng đồng thời số lượng bạch cầu lympho và tiểu cầu làm tăng nguy cơ bệnh nặng, phản ứng tăng cao số lượng bạch cầu lympho và tiểu cầu tiểu cầu là chỉ điểm của nguy cơ tử vong(19) Ngoài ra các nghiên cứu của các tác giả Castagnini và Nieves cũng có kết quả tương
tự(5,21) Nghiên cứu cũng ghi nhận có sự tăng số lượng tiểu cầu > 400.000 TB/mm3 với 60/76 ca (78,9%) Giá trị trung bình của số lượng tiểu cầu
là 540.000 ± 174.000 TB/mm3, giá trị 171.000 TB/mm3 và cao nhất là 969.000 TB/mm3
Trong số ca bệnh chúng tôi ghi nhận có 46 ca được làm xét nghiệm CRP hs, số ca CRP hs ≥ 10 mg/L chiếm 8,7% trong đó CRP hs ≥ 40 mg/L chiếm 4,3%, các ca CRP hs ≥ 10 mg/L đều có biến chứng viêm phổi, phù hợp với nghiên cứu của Kim SJ và cộng sự ghi nhận CRP hs thấp có gía trị trung bình là 0.25 ± 0.1 mg/L(15) Nghiên cứu của Matti Korppi cũng ghi nhận CRP hs > 40
mg/L có 2/9 ca bệnh có PCR Bordetella pertussis
dương tính, và cả 2 ca này đều được ghi nhận có biến chứng viêm phổi (17), do đó CRP hs có giá trị
Trang 8trong gợi ý biến chứng viêm phổi, không có có
giá trị trong chẩn đoán bệnh ho gà Chúng tôi
ghi nhận trong các ca bệnh đều được chụp phim
X quang ngực thẳng, chỉ có 7,9% có hình ảnh X
quang ngực bình thường Các dạng tổn thương
trên phim X quang ngực thẳng bao gồm viêm
tiểu phế quản, viêm phổi, trong đó tổn thương
viêm tiểu phế quản thường gặp nhất với tỉ lệ
50%, sau đó là viêm phổi chiếm 43,4%, tương
ứng với nghiên cứu của Nguyễn Thành Lê(22)
Kết quả cho thấy có nhiều dạng tổn thương khác
nhau trên phim X quang ngực thẳng, không có
hình ảnh tổn thương đặc hiệu
Về biến chứng của bệnh ho gà chúng tôi ghi
nhận biến chứng viêm phổi thường gặp nhất với
tỉ lệ là 93,4%, sau đó là biến chứng suy hô hấp và
co giật với tỉ lệ là 61,9% và 2,6% Trong biến
chứng suy hô hấp ghi nhận đa số là suy hô hấp
độ 2 chiếm 46,1% Kết quả này khá tương đương
với nghiên cứu của, Phạm Quang Thái(23) Đỗ
Thiện Hải cũng(9) và Nieves(21) với biến chứng
viêm phổi và suy hô hasp thường gặp, tuy nhiên
tỉ lệ co giật của tác giả Hoàng Anh Thắng là
15,8% cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi,
điều này có thể giải thích do sự khác biệt về cỡ
mẫu nghiên cứu
Đặc biệt trong nghiên cứu của chúng tôi
ghi nhận 2/76 ca bệnh có biến chứng co giật,
các ca này đều được chọc dò thắt lưng lấy dịch
não tuỷ làm xét nghiệm tế bào và và sinh hoá,
được chụp cắt lớp vi tính sọ não Kết quả cho
thấy có 1 ca bệnh nhi 4,5 tháng có kết quả bất
thường dịch não tuỷ và hình ảnh cắt lớp vi
tính sọ não, với dịch não tuỷ có số lượng tế
bào tăng 25 tế bào bạch cầu lẫn nhiều hồng
cầu, và sinh hoá dịch não tuỷ có biến đổi đạm
trong dịch não tuỷ tăng 1,143 g/L, lactate trong
dịch não tuỷ tăng 3,97 mmol/L, đường trong
dịch não tuỷ/ đường huyết cùng lúc trong giới
hạn bình thường, kết quả hình ảnh học cắt lớp
vi tính sọ não có hình ảnh giảm đậm độ nhu
mô não vùng thái dương – chẩm bên phải Với
kết quả này chúng tôi hướng tới chẩn đoán ca
bệnh này có khả năng có biến chứng viêm não
của ho gà Trong một số nghiên cứu khác cũng
có những báo cáo về biến chứng thần kinh của các ca bệnh ho gà như nghiên cứu của Tina T Chu và cộng sự cho thấy sự thay đổi chủ yếu
về dịch não tuỷ ở ca bệnh ho gà có biến chứng thần kinh là sự gia tăng đạm trong dịch não tuỷ, và các tác giả cũng có giả thuyết cho rằng đạm trong dịch não tuỷ tăng là do hàng rào máu não ở trẻ nhỏ bị ho gà chưa trưởng thành hoặc do bị tổn thương Ngoài ra tác giả B Budan cũng cho rằng ho gà có thể gây ra biến chứng viêm não tuỷ rải rác do rối loạn trung gian miễn dịch của hệ thần kinh trung ương gây huỷ myelin(3,7,8,10)
Chúng tôi ghi nhận trong nghiên cứu có 61,8% ca bệnh bị biến chứng suy hô hấp nhưng chỉ có 17,1% ca cần được hỗ trợ hô hấp, trong đó
tỉ lệ cần được thở oxy cannula qua mũi là 11,9%, thở NCPAP là 3,9% và cần được thở máy là 1,3% Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Thiện Hải với khoảng 25% số ca bệnh nhi mắc bệnh ho gà có thể bệnh nhẹ, chỉ có khoảng 5% thể bệnh nặng cần được hỗ trợ hô hấp thở áp lực dương liên tục Về vấn đề điều trị, tất cả các ca đều được điều trị kháng sinh Azithromycin, trong đó 85,5% được điều trị kháng sinh Azithromycin kết hợp với kháng sinh khác Thời gian nằm viện điều trị trung vị của nghiên cứu chúng tôi là 9,5 ngày, kết quả này tương đương với nghiên cứu của Đỗ Thuý Nga với thời gian nằm viện trung bình là 10,5 ngày, trung vị là 8 ngày Có sự khác biệt trong thời gian nằm viện trong nghiên cứu của Castagnini số ngày nằm viện trung bình là 14,5 ngày và trung vị là 10 ngày có thể giải thích do đối tượng nghiên cứu của Castagnini là trẻ sơ sinh là đối tượng dễ bị bệnh nặng hơn nên thời gian có thể kéo dài hơn(5)
Kết quả điều trị hầu hết các ca đều đáp ứng điều trị, tình trạng ho cơn và các triệu chứng đi kèm giảm dần và xuất viện, chỉ 1 ca tử vong (1,3%) do viêm não, suy hô hấp tuần hoàn Tuy nhiên một số y văn ghi nhận tỉ lệ tử vong ở các
ca bệnh ho gà cao hơn nghiên cứu chúng tôi,
Trang 9như theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới thì
tỉ lệ tử vong ở trẻ em mắc bệnh ho gà là khoảng
4% Điều này cho thấy bệnh ho gà mặc dù đã
được tiêm phòng rộng rãi trên toàn cầu từ khá
lâu nhưng cho đến nay vẫn xảy ra tại nhiều
nước, kể cả các nước phát triển có tỉ lệ chích
ngừa cao và bệnh vẫn là mối hiểm hoạ đe doạ
tính mạng người bệnh, đặc biệt với trẻ nhỏ
KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho thấy bệnh ho gà ở trẻ em
vẫn là một vấn đề sức khoẻ cần quan tâm Kết
quả cho thấy bệnh thường gặp dưới 3 tháng tuổi,
không có sự khác biệt về giới tính Bệnh xảy ra
tập trung từ tháng 5 đến tháng 8, xảy ra đều
khắp các tỉnh phía Nam Đa phần các trẻ không
được chích ngừa đầy đủ hoặc chưa đến tuổi
chích ngừa Nguồn lây truyền bệnh cho trẻ
thường là ba mẹ và các anh chị em sống chung
Bệnh nhi thường nhập viện vào ngày 11 từ ngày
khởi phát nên có khả năng lây nhiễm cộng đồng
cao Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là ho
kéo dài trên 2 tuần, ho cơn kịch phát điển hình,
ho cơn đỏ mặt, ho cơn tím tái, ho nhiều về đêm,
ói sau ho, sổ mũi, trong đó triệu chứng cơn
ngưng thở gặp ở trẻ dưới 3 tháng tuổi Số lượng
bạch cầu đều tăng với bạch cầu lympho chiếu ưu
thế và thường tăng ở bệnh nhân cần được hỗ trợ
hô hấp nhiều hơn Đa phần X quang ngực thẳng
đều có hình ảnh tổn thương phổi Biến chứng
thường gặp nhất là viêm phổi, suy hô hấp và co
giật Phần lớn bệnh nhân khỏi bệnh và xuất viện
Từ những kết quả trên, chúng tôi có một số kiến
nghị sau: Cần tiếp tục tuyên truyền, giáo dục để
người dân nhận biết được triệu chứng lâm sàng
của bệnh ho gà để đến cơ sở y tế khám và điều
trị sớm giúp giảm biến chứng hô hấp, cũng như
dự phòng lây nhiễm bệnh trong cộng đồng
Trong thực hành lâm sàng, đối với trẻ dưới 3
tháng với bệnh sử diễn tiến không điển hình kết
hợp với triệu chứng ho ngày càng tăng với mức
độ nghiêm trọng hơn cùng với trẻ bị viêm mũi
tiết dịch cần nghĩ đến chẩn đoán bệnh ho gà
Lời cám ơn
Chúng tôi xin trân trọng cám ơn tập thể khoa Nhiễm bệnh viện Nhi Đồng 1 và Viện Pasteur TPHCM đã hỗ trợ và tạo điều kiện giúp chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2001), Phân tích số liệu các bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam 1996-2000
2 Briand V, Bonmarin I, Lévy-Bruhl D (2007) Study of the risk factors for severe childhood pertussis based on hospital
surveillance data, Vaccine, 25(41), 7224-32
3 Budan B, Ekici B, Tatli B, et al (2011) Acute disseminated
encephalomyelitis (ADEM) after pertussis infection, Annals of tropical paediatrics, 31(3), 269-72
4 Campbell H, Amirthalingam G, Andrews N, et al (2012)
Accelerating control of pertussis in England and Wales, Emerging Infectious Diseases, 18, 38- 47
5 Castagnini LA., Munoz FM (2010) Clinical characteristics and
outcomes of neonatal pertussis: a comparative study, The Journal of pediatrics, 156(3), 498-500
6 Centers for Disease Control and Prevention (2015) Pertussis
(13th ed.)
7 Chang C, Ng H, Chan Y, et al (1992) Postinfectious myelitis,
encephalitis and encephalomyelitis, Clinical and experimental neurology, 29, 250-62
8 Chu TT, Groh J, Cruz AT (2011) Cerebrospinal fluid findings
in infants with pertussis or parapertussis1, Clinical chemistry and laboratory medicine, 49(8), 1341-44
9 Đỗ Thiện Hải, Hồng Dương Thị Hồng, Nga Đỗ Thúy Nga (2016) Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng bệnh ho gà ở trẻ em được chẩn đoán ho gà tại bệnh viện Nhi trung ương, giai
đoạn 2012 - 2014, Tạp chí Y Học Dự Phòng Tập XXVI (số 6
(179)), 35-44
10 Falcon M, Rafael M, Garcia C et al (2010) Increasing infant pertussis hospitalization and mortality in South Texas, 1996 to
2006, The Pediatric infectious disease journal, 29(3), 265-67
11 Heininger U, Klich K, Stehr K, et al (1997) Clinical findings in Bordetella pertussis infections: results of a prospective
multicenter surveillance study, Pediatrics, 100(6), e10-e10
12 Hewlett EL (2005) Bordetella Species (6th ed.), Churchill
Livingstone
13 Hoàng Anh Thắng, Nguyễn Diệu Thúy, Hồ Vĩnh Thắng (2015) Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng các trường hợp bệnh
ho gà tại khu vực phía Nam, Tạp chí Y Học Dự Phòng, Tập
XXV, số 5(165), 328-333
14 Juretzko P, Von Kries R, Hermann M, et al (2002) Effectiveness of acellular pertussis vaccine assessed by
hospital-based active surveillance in Germany, Clinical infectious diseases, 35(2), 162-67
15 Kim SJ, Kim SE, Kim JH, et al (2009) The Clinical Features of
Pertussis in Infancy, Korean Journal of Pediatric Infectious Diseases, 16(2), 167-74
16 Kimberlin DW, Brady MT, Jackson MA, Long SS (2015)
Pertussis ( Whooping Cough), Red Book 30th ed., American
Academy of Pediatrics
17 Korppi M, Hiltunen J (2007) Pertussis is common in nonvaccinated infants hospitalized for respiratory syncytial
virus infection, The Pediatric infectious disease journal, 26(4),
316-18
Trang 1018 Long SS, Pickering LK, Prober CG (2012), Bordetella pertussis
(Pertussis) and Other Species (4th ed.), Churchill Livingstone
19 Mikelova LK, Halperin SA, Scheifele D, et al (2003) Predictors
of death in infants hospitalized with pertussis: a case-control
study of 16 pertussis deaths in Canada, The Journal of pediatrics,
143(5), 576-81
20 Nieto GJ, Luciani K, Montesdeoca MA, et al (2010) Hospital
admissions due to whooping cough: experience of the del niño
hospital in Panama Period 2001-2008 Paper presented at the
Anales de pediatria (Barcelona, Spain: 2003)
21 Nieves DJ, Singh J, Ashouri N, et al (2011) Clinical and
laboratory features of pertussis in infants at the onset of a
California epidemic, The Journal of pediatrics, 159(6), 1044-46
22 Nguyễn Thành Lê, Bùi Vũ Huy (2015) Đặc điểm lâm sàng và
kết quả điều trị bệnh ho gà ở trẻ em tại bệnh viện Bệnh Nhiệt
đới Trung ương, Tạp chí Y Học Dự Phòng, Tập XXV, số 12(172),
77-83
23 Phạm Quang Thái, Nguyễn Thị Huyền, Phạm Văn Khang
(2016) Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng các trường hợp ho gà
và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm
2015, Tạp chí Y Học Dự Phòng, Tập XXVI, (số 15 (188)), 39-47
24 Quinn HE, Snelling TL, Macartney KK, et al (2014) Duration
of protection after first dose of acellular pertussis vaccine in
infants, Pediatrics, 133(3), e513-e19
25 Surridge J, Segedin ER, Grant CC (2007) Pertussis requiring intensive care, Archives of disease in childhood, 92(11), 970-75
26 Winter K, Harriman K, Zipprich J, et al (2012) California
pertussis epidemic, 2010, The Journal of pediatrics, 161(6),
1091-96
27 World Health Organization (2001), Pertussis surveillance: A global meeting, Geneva, 16-18 October 2000
Ngày nhận xét phản biện bài báo: 29/01/2018 Ngày bài báo được đăng: 20/04/2018