Chóng mặt là một trong những triệu chứng thường gặp ở tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, và cũng là một trong những nguyên nhân khiến người bệnh tìm đến các cơ sở chăm sóc sức khỏe để thăm khám và theo dõi. Bài viết xác định các nguyên nhân gây chóng mặt và các yếu tố liên quan.
Trang 1NGUYÊN NHÂN CHÓNG MẶT VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
CỦA BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI PHÒNG KHÁM THẦN KINH
Nguyễn Hoàng Lãm*, Lê Văn Tuấn**
TÓM TẮT
Mở đầu: Chóng mặt là một trong những triệu chứng thường gặp ở tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, và
cũng là một trong những nguyên nhân khiến người bệnh tìm đến các cơ sở chăm sóc sức khỏe để thăm khám
và theo dõi Chẩn đoán nguyên nhân chóng mặt một cách chính xác, cụ thể là khó khăn, đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm vững những đặc điểm của chóng mặt Việc đề ra những chiến lược điều trị, xác định nguyên nhân cho người bệnh nhập viện vì chóng mặt là cần thiết
Mục tiêu: Xác định các nguyên nhân gây chóng mặt và các yếu tố liên quan
Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 385 người bệnh đến khám tại
Phòng khám Thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre trong thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2018
Kết quả: Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính chiếm tỉ lệ 26%, kế đến là đau đầu migraine với 9,4% Các
nguyên nhân gây chóng mặt do tình trạng bệnh lí như tăng huyết áp, đái tháo đường, lo âu, mất ngủ chiếm 61,0% Ghi nhận có mối liên quan giữa chóng mặt kịch phát lành tính với giới tính Đa số bệnh nhân chóng mặt
tư thế kịch phát lành tính có chóng mặt kiểu xoay tròn (p < 0,001)
Kết luận: Chóng mặt là lý do thường gặp làm bệnh nhân đến khám bệnh tại phòng khám Nguyên nhân
chóng mặt đa dạng bao gồm nguyên nhân tiền đình trung ương và ngoại biên, nguyên nhân không do tổn thương tiền đình Các nghiên cứu trong tương lai cần chú trọng các vấn đề này
Từ khóa: chóng mặt, nguyên nhân chóng mặt
ABSTRACT
VERTIGO AND DIZZINESS CAUSES AND RISK FACTORS OF OUTPATIENTS IN A PUBLIC
HOSPITAL
Nguyen Hoang Lam, Le Van Tuan
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 1- 2019: 14-20
Background: Vertigo and dizziness are the main causes for patients to seek medical care for follow-up visits
Diagnosing the cause of dizziness can be difficult because symptoms are often nonspecific, and the differential diagnosis is broad
Objectives: To determine the causes of vertigo and dizziness and its related factors
Methods: A cross-sectional study was conducted from November 2017 to February 2018 in 385 outpatients Results: Benign paroxysmal positional vertigo (BPPV) is one of the most common causes of vertigo (26%),
migraine was 9.4% Other causes of vertigo are hypertension, diabetes, anxiety and loss of sleep
Conclusions: Common causes of dizziness include a migraine, medications, and alcohol It can also be
caused by a problem in the inner ear, where balance is regulated Dizziness is often a result of vertigo as well The most common cause of vertigo and vertigo-related dizziness is benign positional vertigo (BPV) Close multidisciplinary cooperation is essential in dizziness, and further multicenter studies are needed
*Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre
** Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2Key words: dizziness, vertigo, dizziness’ causes
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chóng mặt là một trong những triệu chứng
thường gặp ở tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, và
cũng là một trong những nguyên nhân khiến
người bệnh tìm đến các cơ sở chăm sóc sức khỏe
để thăm khám và theo dõi
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng
chóng mặt như tình trạng bệnh lý, các yếu tố
môi trường, hành vi, thói quen của dân số
Thông thường các yếu tố này không tác động
đơn độc mà kết hợp với nhau dẫn đến tình trạng
chóng mặt, xuất hiện đột ngột và có thể gây
nguy hiểm Đối với chóng mặt do tình trạng
bệnh lý, nguyên nhân thường gặp nhất là do rối
loạn tiền đình ngoại biên, viêm thần kinh tiền
đình, đau đầu Migraine, … Các trường hợp
chóng mặt do các bệnh lý như tai biến mạch
máu não, xơ cứng rải rác, u vùng hố sau và bệnh
lý thoái hóa thần kinh thường là những nguyên
nhân trầm trọng, có thể gây nguy hiểm đến tính
mạng, cần can thiệp và xử trí cấp cứu
Chẩn đoán nguyên nhân chóng mặt một
cách chính xác, cụ thể là khó khăn, đòi hỏi người
thầy thuốc phải nắm vững những đặc điểm của
chóng mặt Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên
sâu về đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân
chóng mặt tại Việt Nam còn hạn chế, chưa được
khảo sát một cách đầy đủ và có hệ thống Việc
đề ra những chiến lược điều trị, xác định nguyên
nhân cho người bệnh nhập viện vì chóng mặt là
cần thiết
Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định
một số nguyên nhân của chóng mặt các yếu tố
liên quan của bệnh nhân chóng mặt tại phòng
khám ngoại trú thần kinh, nhằm đánh giá có hệ
thống, tiến tới làm cơ sở cho công tác chẩn đoán
và điều trị chóng mặt
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dân số mục tiêu
Người bệnh đến khám tại Phòng khám
Thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh
Bến Tre
Dân số nghiên cứu
Người bệnh đến khám tại Phòng khám Thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre trong thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2018
Tiêu chí chọn vào
Người bệnh đến khám tại Phòng khám Thần kinh từ 18 tuổi trở lên đồng ý tham gia
nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ
Người bệnh có suy giảm ý thức, sa sút trí tuệ, mất ngôn ngữ
Người bệnh có chấn thương cột sống cổ, phẫu thuật cột sống cổ, bệnh lý tủy cổ hay bệnh
lý rễ cổ
Người bệnh có thai
Bệnh nhân viêm khớp dạng thấp nặng Bệnh nhân hẹp động mạch cảnh nặng Bệnh nhân có hội chứng bóc tách mạch máu Bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoáng qua hay thiếu máu não đang tiến triển
Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ
n= Z2(1-α
2 ) x p(1-p)
d2
Theo nghiên cứu của Teggi R và cộng sự thực hiện năm
2016, ghi nhận tỷ lệ chóng mặt là 40,3% Do đó ta chọn p=0,403 để ước lượng cỡ mẫu cho nghiên cứu (14)
Cỡ mẫu nghiên cứu là n ≈ 370
Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện các bệnh nhân tới khám tại phòng khám Thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre trong thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2018 thỏa tiêu chí chọn mẫu Mỗi ngày thực hiện thu thập
5 mẫu nghiên cứu Trung bình một ngày phòng khám có khoảng 60 bệnh nhân đến khám, do đó chọn người bệnh đầu tiên vào khám là đối tượng tham gia nghiên cứu sau đó cách 5 người sẽ lấy
Trang 3người kế tiếp (khoảng cách mẫu là k = 5) Nếu
bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
thì chọn người kế tiếp vào sau đó
Phương pháp thu thập số liệu
Tất cả người bệnh được khám lâm sàng, ghi
nhận bệnh sử, tiền căn, sinh hiệu, dấu hiệu tổng
quát, thần kinh và tiền đình Các test khám lâm
sàng cơ bản được sử dụng để xác định nguyên
nhân chóng mặt
Phân tích số liệu
Phép kiểm 2 được sử dụng để xác định mối
liên quan giữa nhân chóng mặt và các yếu tố liên
quan Tỷ số số chênh (odds ratio) được sử dụng
để đánh giá độ lớn mối liên quan, có ý nghĩa
thống kê với giá trị p<0,05 và khoảng tin cậy 95%
không chứa giá trị 1
KẾT QUẢ
Đặc tính mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Thông tin nền của người bệnh đến khám
bệnh (n=385)
Đặc điểm mẫu nghiên cứu Tần số Tỉ lệ %
Tuổi trung bình (năm) 59,32 ± 15,17*
Nhóm tuổi Dưới 45 tuổi 71 18,5
Từ 45 đến 54 tuổi 64 16,6
Từ 55 đến 64 tuổi 101 26,2
Từ 65 tuổi trở lên 149 38,7
Nhóm tuổi từ 55 tuổi trở lên chiếm tỉ lệ
64,9% Giới tính nữ chiếm đa số với 74,3% Có
100% mẫu nghiên cứu là người Kinh (Bảng 1)
Bệnh lý đi kèm chủ yếu là tăng lipid máu
và bệnh lý về tim mạch với 31,7% và 29,6%
tương ứng Các bệnh lý kèm theo khác chiếm
tỷ lệ thấp Số lượng bệnh lý đi kèm ít nhất từ 1
bệnh chiếm 58,7% (Bảng 2)
Tỉ lệ chóng mặt tư thế kịch phát lành tính
xảy ra ở 100 đối tượng (26,0%) Chóng mặt do
đau đầu migraine chiếm 9,4% Các nguyên nhân
khác như bệnh Ménière, viêm thần kinh tiền
đình và đột quỵ chiếm tỉ lệ tương đương nhau
Bảng 2: Tình trạng bệnh lý đi kèm của bệnh nhân
chóng mặt (n=385)
Tình trạng sức khỏe, bệnh lý đi kèm Tần số Tỉ lệ %
Bệnh về tim 114 29,6 Đái tháo đường 67 17,4 Tăng lipid máu 122 31,7 Bệnh cơ-xương-khớp 85 22,1 Chấn thương do tai nạn 1 0,3
Bệnh về tiêu hóa 7 1,8
Số lượng bệnh lý đi kèm
0 159 41,3
1 101 26,2
Từ 4 trở lên 12 3,1
Bảng 3: Chẩn đoán nguyên nhân gây chóng mặt
(n=385)
Chẩn đoán nguyên nhân chóng mặt Tần số Tỉ lệ %
Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính 100 26,0
Viêm thần kinh tiền đình 4 1,0
Đau đầu Migraine 36 9,4 Nguyên nhân khác 235 61,0
Tiền căn tăng huyết áp 165 70,2 Đái tháo đường 154 65,5
Bảng 4: MLQ giữa nhóm tuổi và chóng mặt tư thế
kịch phát lành tính (n=385)
Nhóm tuổi
Chóng mặt tư thế kịch phát
Có (%) Không (%)
Dưới 45 tuổi 17 (23,9) 54 (76,1)
0,720
Từ 45 đến 54 tuổi 20 (31,3) 44 (68,7)
Từ 55 đến 64 tuổi 24 (23,8) 77 (76,2)
Từ 65 tuổi trở lên 39 (26,2) 110 (73,8)
Phép kiểm 2
Nguyên nhân dẫn đến chóng mặt chủ yếu
là khác (61,0%), trong đó có các nguyên nhân chính là lo âu, mất ngủ, Tăng huyết áp (THA), đái tháo đường
Tỉ lệ chóng mặt kiểu xoay tròn và kiểu tiền ngất tương đương nhau với 35,1% và 36,0%, kế đến là chóng mặt kiểu không đặc hiệu với 26,3%,
và thấp nhất là kiểu mất thăng bằng với 2,6%
Trang 4Không có sự khác biệt về tỉ lệ chóng mặt tư
thế kịch phát lành tính theo các nhóm tuổi
(Bảng 4)
Nữ giới có tỉ lệ chóng mặt tư thế kịch phát
lành tính cao hơn so với nam giới Sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê với p = 0,02 (Bảng 5)
Bảng 5: MLQ giữa giới tính và chóng mặt tư thế kịch
phát lành tính (n=385)
Giới tính Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính p
Có (%) Không (%)
Nam 17 (17,2) 82 (82,8)
0,02
Nữ 83 (29,0) 203 (71,0)
Phép kiểm 2
BÀN LUẬN
Đặc tính mẫu nghiên cứu
Về giới tính của mẫu nghiên cứu của chúng
tôi có tỷ lệ nữ cao hơn nam (lần lượt là 74,3% và
25,7%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương
tự kết quả tác giả trong nước và nước ngoài Tác
giả Cao Phi Phong nhận thấy tỷ lệ chóng mặt
giữa nam và nữ là 1:2,7(5) Nghiên cứu của Hồ
Vĩnh Phước (2015) cho kết quả tương tự về phân
bố giới(6) Một nghiên cứu trong cộng đồng ở
miền đông bắc nước Pháp trên 2987 người
trưởng thành tuổi từ 18 – 86 cho thấy chóng mặt
thường gặp ở nữ hơn nam ở hầu hết các nhóm
tuổi, ngoại trừ nhóm tuổi ≥ 70(1) Các nghiên cứu
của các tác giả khác thuộc nhiều vùng địa lý
khác nhau cũng cho kết quả rằng chóng mặt gặp
ở nữ nhiều hơn nam(4,11,13,15) Các nghiên cứu đề
cập ở trên được tiến hành ở nhiều nước khác
nhau trên thế giới; dân số chọn mẫu từ cộng
đồng, y tế cơ sở và khoa cấp cứu bệnh viện Đặc
biệt, nghiên cứu của Bunasuwan P (2011) ở Thái
lan dù cỡ mẫu lớn hơn của chúng tôi nhưng có
cùng dân số nghiên cứu đó là người bệnh đến
khám tại các phòng khám, cũng cho tỷ lệ nữ cao
hơn nam(4) Một số yếu tố có thể lý giải cho hiện
tượng này đó là có sự liên quan mạnh giữa
chóng mặt và migraine vốn ở nữ hơn là nam, và
ảnh hưởng của các yếu tố hormone ở nữ có liên
quan chóng mặt
Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 59,32
± 15,17 tuổi Trong đó, những người trên 55 tuổi
chiếm 64,9%, và tập trung ở độ tuổi trên 65 tuổi chiếm đến 38,7% Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của chúng tôi tương đương với tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của Bunasuwan
P và cộng sự (2011) ở Thái lan là 55(4) Nghiên cứu của chúng tôi và của Bunasuwan P và cộng
sự đều lấy dữ liệu từ bệnh viện Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của chúng tôi cao hơn
so với nghiên cứu của tác giả Liu B, với độ tuổi trung bình chóng mặt là 40 ± 18,6 tuổi(10) Sự khác biệt này có thể là do nghiên cứu của Liu B bao gồm những bệnh nhân có tuổi từ 4 đến 89, trong khi mẫu nghiên cứu của chúng tôi bao gồm người trưởng thành Các nghiên cứu tại Việt Nam tiến hành bằng cách đo lường trực tiếp đối tượng nghiên cứu thông qua phỏng vấn ghi nhận độ tuổi mắc bệnh thường gặp từ 40 đến 59 tuổi(5,6) Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân ≤ 65 tuổi chiếm đa số 61,3% Nghiên cứu của Lam J.M.Y và cộng sự năm 2006 trên bệnh nhân chóng mặt vào khoa cấp cứu tại một bệnh viện ở Hong kong cho kết quả tương tự với chúng tôi, đó là tỷ lệ bệnh nhân < 65 tuổi bị chóng mặt là 61,5%(8) Nghiên cứu của Bittar R.S.M và cộng sự (2013) tại một cộng đồng dân
cư ở Brazil cho thấy 49% trường hợp chóng mặt xảy ra trong độ tuổi 46 – 55(2) Nghiên cứu tại cộng đồng ở Ba lan (2017) nhận thấy đa số trường hợp chóng mặt xảy ra ở độ tuổi ≤ 64 (83,7%)(15) Tương tự, nghiên cứu tại Saudi năm
2015 cũng thấy 92,7% trường hợp chóng mặt là
< 55 tuổi(13) Như vậy các nghiên cứu dù lấy dữ liệu bệnh viện hay cộng đồng đều cho thấy đa số chóng mặt gặp ở độ tuổi trung niên trở xuống
Tỷ lệ bệnh nhân ≤ 65 tuổi bị chóng mặt theo nghiên cứu của chúng tôi dù chiếm đa số (61,3%) nhưng vẫn thấp hơn tỷ lệ này với độ tuổi tương ứng ở nghiên cứu lấy dữ liệu cộng đồng ở Ba lan
và Saudi Nguyên nhân có thể do mẫu của chúng tôi có tuổi trung bình cao hơn do mẫu gồm người trưởng thành trong khi mẫu của các nghiên cứu trên có khoảng tuổi rộng hơn bao gồm cả trẻ em Một tổng quan hệ thống các nghiên cứu từ năm 1998 – 2004 dựa vào dữ liệu
Trang 5tại phòng cấp cứu ở Hoa kỳ cho thấy chóng mặt
đạt tỷ lệ cao nhất khoảng 40% ở bệnh nhân trên
40 tuổi và sau 65 tuổi thì giảm còn khoảng 25%(7)
Nguyên nhân của chóng mặt
Chóng mặt là một trong những lý do thường
gặp làm bệnh nhân đến khám bệnh tại phòng
khám đa khoa cũng như phòng khám chuyên
khoa thần kinh Ở nước ta, hệ thống y tế hiện
chưa có hệ thống bác sĩ gia đình và chưa có sự
phân cấp quản lý điều trị rõ rệt giữa phòng
khám đa khoa và chuyên khoa, do đó bệnh nhân
bị chóng mặt có thể đến phòng khám chuyên
khoa ngay từ đầu mà không qua phòng khám
đa khoa hay bác sĩ gia đình như ở các nước phát
triển Một tổng quan hệ thống của Bösner S và
cộng sự (2018) lấy dữ liệu từ 31 nghiên cứu tại hệ
thống y tế cơ sở về tần suất đến khám vì chóng
mặt Kết quả là tần suất đến khám vì chóng mặt
khá dao động 1,0 – 15,5%(3) Tần suất chóng mặt
thay đổi đáng kể giữa các nghiên cứu vì cách
chọn mẫu và đánh giá triệu chứng khác nhau
Chóng mặt là một triệu chứng do nhiều
nguyên nhân khác nhau từ tiền đình trung
ương, tiền đình ngoại biên đến các nguyên
nhân ngoài hệ thần kinh như tim mạch, nội
khoa, thuốc, tâm lý …
Chúng tôi nhận thấy các nguyên nhân khác
không do nguyên nhân thần kinh chiếm tỷ lệ cao
61,0% (235 bệnh nhân) 39,0% bệnh nhân còn lại
do nguyên nhân thần kinh, trong đó chóng mặt
tư thế kịch phát lành tính chiếm tỷ lệ cao nhất
26,0%, kế đến là đau đầu migraine chiếm 9,4%,
đột quỵ não 1,6%, bệnh Menière 1,0%, viêm thần
kinh tiền đình 1,0%
Trong nhóm nguyên nhân khác không do
nguyên nhân thần kinh (235 bệnh nhân chiếm tỷ
lệ 61,0%) thì tăng huyết áp gặp ở 70,2% bệnh
nhân, kế đến là đái tháo đường (65,5%), mất ngủ
(26,4%) và lo âu (15,7%)
Phân tích gộp 31 nghiên cứu của Bösner S và
cộng sự (2018) nhận thấy tỷ lệ các nguyên nhân
gây chóng mặt rất thay đổi giữa các nghiên cứu
Các nguyên nhân gây chóng mặt thường gặp
nhất là bệnh lý tim mạch (3,8 – 56,8%) và rối loạn
tiền đình ngoại biên (5,4 – 42,1%)(3) Trong nguyên nhân rối loạn tiền đình ngoại biên, chóng mặt tư thế kịch phát lành tính thường gặp nhất (4,3 – 39,5%), viêm thần kinh tiền đình (0,6 – 24,0%) Bệnh lý thần kinh 1,4 – 11,4%, tâm thần 1,8 – 21,6%, chóng mặt không rõ nguyên nhân có thể lên đến 80,2%(3) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nhận định này Tuy nhiên, chóng mặt không rõ nguyên nhân có tỷ lệ cao trong phân tích gộp này Có thể là do phân tích này thu nhận các nghiên cứu từ hệ thống y
tế cơ sở nên việc chẩn đoán chính xác nguyên nhân chóng mặt là một thách thức lớn, trong khi vấn đề quan trọng hơn trong đánh giá bệnh nhân chóng mặt tại phòng khám đa khoa là loại trừ những nguyên nhân đe dọa tín mạng
Một nghiên cứu tiền cứu ở Hong kong của Lam J.M.Y và cộng sự (2006) tại khoa cấp cứu cũng nhận thấy nguyên nhân không do rối loạn chức năng tiền đình thường gặp hơn nguyên nhân do rối loạn hệ thông tiền đình (63,5% so với 36,5%) Trong nhóm rối loạn hệ thống tiền đình thì đa số do nguyên nhân ngoại biên (31,7%), 4,8% do rối loạn tiền đình trung ương Nghiên cứu của chúng tôi và Lam JMY đều dựa vào dữ liệu bệnh viện do đó có cùng đặc điểm
về phân bố nguyên nhân Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy phần lớn nguyên nhân gây rối loạn tiền đình ngoại biên là chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (26,0%), trong khi Lam JMY nhận thấy viêm thần kinh tiền đình (69%) là nguyên nhân chính của rối loạn tiền đình ngoại biên ở bệnh nhân vào khoa cấp cứu, kế đến mới là chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (23%)(8) Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính dù là hội chứng chóng mặt cấp nhưng có đặc điểm xảy ra từng cơn kéo dài ≤ 1 phút khi thay đổi tư thế đầu
và hay tái phát nên triệu chứng không quá nặng
nề và liên tục, bệnh nhân cũng đã quen với những đợt bệnh như thế do đó bệnh nhân thường đến khám ở phòng khám hơn là vào khoa cấp cứu; trong khi viêm thần kinh tiền đình biểu hiện bằng hội chứng chóng mặt cấp với chóng mặt có đặc điểm liên tục và mức độ nặng
Trang 6thường làm bệnh nhân nhập viện ngay
Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm
nguyên nhân khác không do thần kinh chiếm tỷ
lệ cao nhất 61,0%, trong đó chủ yếu là bệnh lý
tim mạch (tăng huyết áp 70,2%) Điều này có thể
do tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của
chúng tôi cao 59,3, nhóm bệnh nhân cao tuổi > 65
tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi khá cao
38,7% Nghiên của Lüscher M và cộng sự (2014)
tại phòng khám cho kết quả chóng mặt do
nguyên nhân rối loạn tiền đình ngoại biên chiếm
đa số, trong đó thường gặp nhất là chóng mặt tư
thế kịch phát lành tính(11) Mẫu của nghiên cứu
này có tuổi trung bình thấp hơn chúng tôi Thật
vậy, ở người cao tuổi, bệnh lý tim mạch là
nguyên nhân hàng đầu của chóng mặt tại y tế cơ
sở Nghiên cứu cắt ngang của Maarsingh O.R và
cộng sự (2010) trên 417 bệnh nhân cao tuổi 65 –
95 tuổi ở Hà lan đến bác sĩ gia đình vì chóng mặt
kéo dài Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân
thường gặp nhất góp phần gây chóng mặt (57%),
kế đến là bệnh lý tiền đình ngoại biên (14%), và
tâm thần (10%)(12) Lawson J và cộng sự (1999)
cũng nhận thấy bệnh lý tim mạch là nguyên
nhân hàng đầu của chóng mặt (48,0%), kế đến là
bệnh lý tiền đình ngoại biên (34,0%)(9) Bệnh lý
tim mạch vốn chiếm tỷ lệ cao hơn ở người cao
tuổi so với người trẻ hơn Bệnh lý tim mạch gây
chóng mặt thông qua nhiều cơ chế khác nhau, có
thể tổn thương hệ thống tiền đình trung ương
hay ngoại biên mà thường nhất là thông qua đột
quỵ não Bệnh lý tim mạch có thể góp phần gây
các kiểu chóng mặt khác nhau như tiền ngất,
mất thăng bằng…
Một nghiên cứu ở Thái lan của Bunasuwan P
và cộng sự (2011) tại bệnh viện Thammasat cũng
cho thấy các bệnh lý tim mạch thường đi kèm
chóng mặt bao gồm tăng huyết áp 32,2%, và rối
loạn lipid máu 34,2%(4)
KẾT LUẬN
Nguyên nhân chóng mặt chính trong nghiên cứu là các bệnh lí như tăng huyết áp, đái tháo đường, lo âu và mất ngủ Cần đánh giá yếu tố về chóng mặt khi điều trị cho các bệnh nhân này Ngoài ra các nghiên cứu đánh giá tổn thương hệ thần kinh trung ương cần được tiến hành trong tương lai để lượng giá chính xác hơn nguyên nhân chóng mặt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bisdorff A, Bosser G, Gueguen R et al (2013) "The epidemiology of vertigo, dizziness, and unsteadiness and its
links to co- morbidities Frontiers in Neurology" Original
research article, 4 (29), pp 1-7
2 Bittar RSM (2013), "Population epidemiological study on the
prevalence of dizziness in the city of São Paulo, Brazil" J
Otorhinolaryngol, 76 (6), pp 688-698
3 Bösner S (2018) "Prevalence, aetiologies and prognosis of the
symptom dizziness in primary care – a systematic review" BMC
Family Practice, 19: 33
4 Bunasuwan P, Bunbanjerdsuk S, Nilsuwan A (2011) "Etiology
of vertigo in Thai patients at Thammasat Hospital" J Med Assoc
Thai, 94 (7), pp 102-108
5 Cao Phi Phong, Bùi Châu Tuệ (2010) "Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính: phân tích 30 trường hợp điều trị tái định vị sỏi
ống bán khuyên sau bằng nghiệm pháp Epley" Tạp chí y học TP
Hồ Chí Minh, 14 (1), tr 304-309
6 Hồ Vĩnh Phước, Vũ Anh Nhị (2010) "Nghiên cứu đặc điểm lâm
sàng và điều trị chóng mặt tư thế kịch phát lành tính" Tạp chí y
học TP Hồ Chí Minh, 14 (1), tr 341-346
7 Kerber KA, Brown DL, Lisabeth LD, Smith MA, Morgenstern
LB (2006) "Stroke among patients with dizziness, vertigo, and imbalance in the emergency department: a population-based
study" Stroke, 37 (10), pp 2484-2487
8 Lam JMY (2006) "The epidemiology of patients with dizziness
in an emergency department" Hong Kong j.emerg.med, 13, pp
133-139
9 Lawson J (1999) "Diagnosis of geriatric patients with severe
dizziness" J Am Geriatr Soc, 47 (1), pp 12-17
10 Liu B, Liu C, Chen XW, Duan JP, Zhao XY, Guan JZ, Zuo LJ (2008) "Investigation and analysis of the baseline data of 3432
patients with vertigo" Zhongguo Yi Xue Ke Xue Yuan Xue Bao, 30
(6), pp 647-650
11 Lüscher M (2014) "Prevalence and characteristics of diagnostic groups amongst 1034 patients seen in ENT practices for
dizziness" J Laryngol Otol, 128 (2), pp 128-133
12 Maarsingh OR (2010) "Causes of Persistent Dizziness in Elderly
Patients in Primary Care" Ann Fam Med, 8, pp 196-205
13 Saif AA, Senany SA (2015) "The clinical and demographic features of dizziness related to general health among the Saudi
population" J Phys Ther Sci, 27, pp 195-198
Trang 714 Teggi R, Manfrin M, Balzanelli C, Gatti O, Mura F, Quaglieri S,
Pilolli F, Redaelli de Zinis LO, Benazzo M, Bussi M (2016)
"Point prevalence of vertigo and dizziness in a sample of 2672
subjects and correlation with headaches" Acta Otorhinolaryngol
Ital, 36 (4), pp 215-219
15 Wojtczak R (2017) "Epidemiology of dizziness in northern
Poland – The frst Polish neurootologic survey of the general
population", Annals of Agricultural and Environmental Medicine,
24 (3), pp 502-506