1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật một thì trong miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng: Kinh nghiệm qua 50 trường hợp

6 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 453,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc đánh giá kết quả bước đầu trong điều trị miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng bằng phẫu thuật một thì theo Koyanagi cải biên.

Trang 1

PHẪU THUẬT MỘT THÌ TRONG MIỆNG NIỆU ĐẠO ĐÓNG THẤP

THỂ NẶNG: KINH NGHIỆM QUA 50 TRƯỜNG HỢP

Lê Nguyễn Yên * , Ngô Xuân Thái *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu trong điều trị miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng bằng phẫu thuật

một thì theo Koyanagi cải biên

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 2 năm 2019, có tất cả 50 bệnh

nhi được chẩn đoán miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng và phẫu thuật tạo hình niệu đạo một thì theo kỹ thuật Koyanagi cải biên theo Hayashi Thời gian theo dõi từ 2 – 11 tháng Kết quả thu thập tập trung vào các biến số: rò niệu đạo, hẹp miệng niệu đạo, hẹp niệu đạo, tụt miệng niệu đạo, tương quan chiều dài dương vật trước và sau

mổ, thời gian phẫu thuật, thời gian lưu ống thông tiểu

Kết quả: Trong 50 trường hợp được phẫu thuật, có 31 trường hợp hoàn thiện trong một lần mổ với thời

gian theo dõi trên 6 tháng, 10 trường hợp tụt miệng niệu đạo trong đó 6 trường hợp phải mổ lần hai, 9 trường hợp rò niệu đạo Không ghi nhận hẹp niệu đạo, chiều dài dương vật tăng hơn 40% so với chiều dài dương vật trước mổ trong hầu hết trường hợp

Kết luận: Áp dụng kỹ thuật Koyanagi cải biên trong phẫu thuật điều trị những trường hợp miệng niệu đạo

đóng thấp thể nặng có thể giảm đáng kể số lần phẫu thuật cho bệnh nhi với tỷ lệ biến chứng chấp nhận được

Từ khóa: miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng, kỹ thuật Koyanagi cải biên

ABSTRACT

HAYASHI – MODIFIED KOYANAGI REPAIR FOR SEVERE HYPOSPADIAS:

EXPERIENCE IN 50 CASES

Le Nguyen Yen, Ngo Xuan Thai

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 199 – 204

Objective: Evaluate the result of 50 cases of severe Hypospadias underwent Hayashi – modified Koyanagi

procedures with a lot of variable

Methods: From Sept 2017 until Feb 2019, a total of 50 patients with proximal hypospadias who underwent

Hayashi – modified Koyanagi repaired in a single stage The follow – up ranged from 2 months to 11 months Result of series of patients were focus on the complications after operation which include urethral fistule, meatal stenosis, urethral stenosis, urethral or glans breakdown, the length of penis pre – post operation, the time of retaining the uretheral tube

Results: In 50 cases of surgery, there were 31 cases completed in one stage surgery with a follow up time of 6

months, 10 cases of urethral and glans breakdown in which 6 cases had to be operated in second times, 9 cases of urethral fistule, no case of urethral stenosis The penis length increased by 40% over the length of penis before surgery in most cases

Conclusions: Applying Hayashi - modified Koyanagi technique in case of severe hypospadias repair can

reduce the number of operations, with the complication rate can be acceptable

Keywords: hypospadias repaired, Hayashi - modified Koyanagi

*Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Lê Nguyễn Yên ĐT: 0908824867 Email: bsnguyenyen@gmail.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Miệng niệu đạo đóng thấp là một trong

những bất thường bẩm sinh cơ quan sinh dục

ngoài thường gặp ở bé trai với tỷ lệ khoảng

1:300 Có nhiều hệ thống phân loại khác nhau

Trong đó, miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng

chiếm tỷ lệ khoảng 10 – 20% Mục đích chính của

phẫu thuật là sửa tật cong, tạo hình niệu đạo

đưa vị trí miệng niệu đạo lên đỉnh quy đầu, sửa

tật chuyển vị dương vật bìu, tật bìu chẻ đôi kèm

theo Để đạt được mục đích phẫu thuật, các kỹ

thuật tạo hình hai thì đến thời điểm hiện tại vẫn

là lựa chọn phổ biến của các phẫu thuật viên tiết

niệu nhi trên thế giới bởi tính an toàn và hiệu

quả Bên cạnh đó, phẫu thuật một thì bằng kỹ

thuật Koyanagi cải biên theo Hayashi (2000) cho

tỷ lệ thành công đến 70%, không ghi nhận có

biến chứng nặng như hẹp niệu đạo, tính ưu thế

vượt trội về số lần phẫu thuật và tính thẩm

mỹ(5,6,9,10) Ở Việt Nam, tại bệnh viện Nhi đồng 1

chúng tôi áp dụng kỹ thuật này từ năm 2015 với

kết quả bước đầu rất khả quan, tỷ lệ biến chứng

ghi nhận trong 12 trường hợp là 33,3%(8) Nhằm

đánh giá kết quả ngắn hạn toàn diện hơn, chúng

tôi mở rộng áp dụng kỹ thuật này trên 30 trường

hợp khác, được chẩn đoán miệng niệu đóng

thấp thể nặng từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 9

năm 2018 tại bệnh viện Nhi đồng 2

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Bé trai được chẩn đoán miệng niệu đạo đóng

thấp thể nặng được phẫu thuật theo kỹ thuật

Koyanagi cải biên theo Hayashi tại bệnh viện

Nhi đồng 2 từ tháng 9/2017 đến tháng 2/2019

Thể nặng bao gồm những trường hợp miệng

niệu đạo đóng thấp ở gốc dương vật, bìu, đáy

chậu, có cong dương vật nặng phải cắt sàn niệu

đạo để chỉnh cong

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả loạt trường hợp

Phương pháp nghiên cứu

Thân nhân bệnh nhi được giải thích rõ ràng

về mục đích phẫu thuật và tỷ lệ biến chứng theo

Y Yăn thế giới và hiện tại ở Việt Nam Chấp nhận kí đồng thuận tham gia nghiên cứu Đây cũng là một kỹ thuật được áp dụng trên thế giới

và có trong sách giáo khoa Tiết Niệu nhi, được đưa vào phác đồ điều trị tại bệnh viện Nhi đồng

1 Trên cơ sở đó khẳng định phương pháp này không vi phạm vấn đề y đức

Tiến hành phẫu thuật tạo hình niệu đạo một thì theo kỹ thuật Koyanagi cải biên theo Hayashi với các bước:

Vẽ đánh dấu đường rạch da (Hình 1)

Hình 1: Vẽ đánh dấu đường rạch da

Rạch da theo đường ngoài cùng vòng quanh miệng niệu đạo, tách da dương vật và

mô dưới da sao cho hạn chế tổn thương mạch máu ở cân Dartos

Rạch da theo đường vòng quanh rãnh quy đầu, bóc tách vạt da niêm quanh miệng niệu đạo cùng với Dartos ra khỏi cân Buck đồng thời cắt

sàn niệu đạo chỉnh cong dương vật (Hình 2)

Chuyển vạt da niêm xuống mặt bụng dương vật theo kiểu chui lỗ

Tạo hình ống niệu đạo với hai đường khâu liên tục bằng chỉ PDS 7.0 vị trí 6h và 12h trên ống

nuôi ăn dạ dày số 8Fr hoặc 10Fr (Hình 3)

Xẻ dọc quy đầu, khâu đính miệng niệu đạo tân tạo vào đỉnh quy đầu, khép lại hai cánh quy đầu

Phủ niệu đạo tân tạo bằng Dartos tại chỗ Chỉnh hình da dương vật, khâu da bằng PDS

7.0 (Hình 4)

Băng ép, lưu ống thông tiểu ở vị trí phù hợp

Trang 3

Hình 2: Tiến hành chỉnh dương vật

Hình 3: Tạo hình ống niệu đạo

Hình 4: Chỉnh hình da dương vật

Biến số thu thập

Tỷ lệ rò niệu đạo, hẹp miệng niệu đạo, hẹp niệu đạo, tụt miệng niệu đạo, tương quan chiều dài dương vật trước và sau mổ, thời gian phẫu thuật, thời gian lưu ống thông tiểu

KẾT QUẢ

Tổng số 50 bệnh nhi được phẫu thuật tại khoa niệu Bệnh viện Nhi Đồng 2, độ tuổi trung bình được phẫu thuật 28,4 tháng, tuổi nhỏ nhất

là 11 tháng, lớn nhất là 12 tuổi

Thời gian theo dõi hậu phẫu từ 2 – 11 tháng,

42 trường hợp theo dõi trên 6 tháng, 8 trường hợp theo dõi trong 2 tháng

Có 5 trường hợp miệng niệu đạo đóng thấp thân dương vật nhưng dương vật cong nặng, 31 trường hợp thể gốc dương vật - bìu, 14 trường hợp thể bìu Chuyển vị dương vật bìu và tật bìu chẻ đôi kèm theo trong 22 trường hợp

Thời gian phẫu thuật trung bình 115 phút (dài nhất 165 phút, ngắn nhất 95 phút)

Chiều dài trung bình của dương vật trước

mổ là 3,2 cm (ngắn nhất 2,5 cm, dài nhất 5,5 cm) Chiều dài trung bình của dương vật sau mổ 4,5

cm (ngắn nhất 3,5 cm, dài nhất 7,2 cm) Chiều dài dương vật tăng lên được tính bằng chiều dài thay đổi từ miệng niệu đạo ban đầu đến miệng niệu đạo mới sau khi cắt sàn để chỉnh cong dương vật Động tác cắt sàn niệu đạo chỉnh cong làm tăng chiều dài dương vật lên hơn 40% so với chiều dài dương vật trước khi cắt sàn

Trang 4

Vạt da niêm quanh miệng niệu đạo và quy

đầu dùng tạo hình niệu đạo đủ để cuộn ống từ

miệng niệu đạo sau cắt sàn đến đỉnh quy đầu

trong tất cả trường hợp

Không có biến chứng trong mổ

Biến chứng trong thời gian hậu phẫu gần (thời

gian nằm viện – 2 tuần sau mổ)

Thời gian lưu ống thông tiểu từ 10 – 14 ngày,

trung bình 12,7 ngày

Có 9 trường hợp băng vết mổ thấm máu

cũ, bẩn phải thay sớm sau 3 ngày 41 trường

hợp duy trì băng ép và thay băng lần đầu sau

mổ 5 ngày

Có 21 trường hợp loét bong thượng bì da

dương vật sau tháo băng đáp ứng với chăm sóc

tại chỗ, xảy ra chủ yếu da mặt bụng dương vật,

không có trường hợp nào cần cắt lọc hay ghép

da sau đó

Ghi nhận có 4 trường hợp gập ống thông

tiểu trong lòng niệu đạo tân tạo Biểu hiện bằng

tình trạng tiểu rặn ngoài ống thông nhiều hơn

ngày hậu phẫu trước đó, khi bơm rữa ông thông

thấy nước trào ra rất nhanh ở miệng niệu đạo

Trong lô nghiên cứu này, 1 trường hợp xảy ra

hậu phẫu ngày 10, trường hợp còn lại xảy ra

ngày 11, 1 trường hợp đủ 14 ngày và 1 trường

hợp hậu phẫu ngày 5 buộc chúng tôi quyết định

rút ống thông tiểu sớm hơn và đặt lại bằng ống

thông Foley 8Fr

Rò niệu đạo ngay sau rút ống thông tiểu gặp

trong 6 trường hợp, 3 trường hợp còn lại xảy ra

ở tuần thứ 2 sau xuất viện

1 trường hợp có tụt miệng niệu đạo đến rãnh

quy đầu ngay sau rút ống thông tiểu

Tái khám sau 6 tháng

1 trường hợp rò niệu đạo sau 1 tháng xuất

viện, trong thời gian 6 tháng sau xuất viện có

tổng cộng 11 trường hợp rò niệu đạo Trong đó,

2 trường hợp tự lành, 8 trên 9 trường hợp rò đã

được phẫu thuật vá rò, đến hiện tại chưa thấy rò

tái phát trong thời gian theo dõi 4 - 6 tháng Một

trường hợp còn lại đang chờ mổ

10 bệnh nhi xuất hiện tụt miệng niệu đạo, đa

số xảy ra sau mổ 2 - 4 tuần Trong đó có 6 trường hợp tụt xuống dưới rãnh quy đầu khoảng 3mm được phẫu thuật tạo hình niệu đạo thêm một đoạn ngắn lên đỉnh quy đầu 4 bệnh nhi còn lại miệng niệu đạo tụt đến rãnh quy đầu nhưng bệnh nhi vẫn tự tiểu tia thẳng không ướt chân và kích thước quy đầu nhỏ nên chúng tôi quyết định theo dõi tiếp mà không vội vàng tạo hình

lại niệu đạo (Bảng 1)

31 trường hợp dương vật thẳng, miệng niệu đạo trên rãnh quy đầu, tự tiểu tia lớn, dễ dàng, không ướt chân Trong đó có 2 trường hợp trước đó có rò nhưng tự lành sau thời gian theo dõi 6 tháng

Không ghi nhận biến chứng hẹp miệng niệu đạo, hẹp niệu đạo, cong dương vật tái phát

Bảng 1: Các biến chứng sau mổ

Biến chứng Số bệnh

nhi (n=50)

Tỷ lệ (%)

Ghi chú

Rò niệu đạo 9 18 Có 2/11 trường hợp rò

tự lành Tụt miệng

niệu đạo 10 20

6 trường hợp tụt miệng niệu đạo dưới rãnh quy đầu phải mổ lần 2 Tổng số 19 38

Tuy nhiên chỉ có 15/50 trường hợp (30%) phải

mổ lần 2

BÀN LUẬN

Kỹ thuật Koyanagi cải biên

So với kỹ thuật Koyanagi nguyên bản (1983) với tỷ lệ biến chứng 47% các cải biên của các tác giả Snow và Cartwright (1994), Emir (2000), Catti (2009), Hayashi (với 2 lần cải biên năm 2000 và 2006), Lei Kang (2016) tỷ lệ biến chứng giảm đáng kể(2,3,4,5,7,12) Chúng tôi chọn kỹ thuật Koyanagi cải biên theo Hayashi (năm 2000) vì hiện tại được nhiều trung tâm phẫu thuật tiết niệu nhi trên thế giới áp dụng hơn so với kỹ thuật cải biên lần thứ 2 của chính tác giả Với ưu thế của kỹ thuật Koyanagi là dùng vạt da niêm

có cuống để tạo hình niệu đạo và kỹ thuật khâu tạo ống niệu đạo với hai đường khâu dọc, tránh được biến chứng hẹp miệng nối giữa miệng niệu đạo gốc và niệu đạo tân tạo(1,11)

Trang 5

Biến chứng phẫu thuật

Trong các biến chứng sớm gồm rò niệu đạo,

tụt miệng niệu đạo có thể xảy ra ngay khi rút

ống thông tiểu hoặc trong 2 tuần đầu sau mổ còn

biến chứng mới ghi nhận trong lô nghiên cứu

này là gập ống thông tiểu Chúng tôi khẳng định

ống thông tiểu hoàn toàn không bị gập trong mổ

vì trong mổ kiểm tra ống thông tiểu hoạt động là

động tác bắt buộc ngay trước khi cuộn ống niệu

đạo và ống thông vẫn hoạt động trong những

ngày sau đó Chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng

ống thông tiểu (được sử dụng là ống thông dùng nuôi ăn kích thước 8Fr) đã bị cuộn do được đặt quá sâu, đoạn ống thông trong bàng quang quá dài có thể là điều kiện dễ làm ống cuộn ngược trở ra niệu đạo khi bàng quang co bóp Để tránh biến chứng này, chúng tôi lưu ý đặt ống thông vào sâu không quá 20 cm tính từ đỉnh quy đầu

và hạn chế cho bệnh nhi rặn tiểu bằng chế độ dinh dưỡng kết hợp thuốc nhuận trường nhằm

tránh tình trạng táo bón sau mổ (Bảng 2)

Bảng 2: Biến chứng muộn

nhi

Biến chứng

Rò niệu đạo (n - %) Hẹp miệng niệu đạo Hẹp niệu đạo Tụt miệng niệu đạo

2017 Lê Nguyễn Yên & cs(8) 12 1 (8,3) 2 (16,7) 0 1 (8,3)

Tỷ lệ biến chứng chung trong nghiên cứu

của chúng tôi là 38% Tuy nhiên không ghi nhận

biến chứng nặng và đáng sợ nhất là hẹp niệu

đạo, 19 trường hợp có biến chứng hiện tại chỉ có

15 trường hợp phải mổ lần 2 (30%) Xét về khía

cạnh số lần phẫu thuật, có đến 70% trường hợp

không phải mổ lần 2

Với kết quả bước đầu cho thấy Kỹ thuật

Koyanagi cải biên theo Hayashi mở ra cho bệnh

nhi có tật miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng cơ

hội thành công với chỉ một lần phẫu thuật

Trong trường hợp biến chứng thì phẫu thuật lần

2 để vá rò hoặc thậm chí tạo hình lại một đoạn

niệu đạo ngắn cũng nhẹ nhàng hơn phẫu thuật

tạo hình niệu đạo lần 2 trong phẫu thuật hai thì

KẾT LUẬN

Kỹ thuật Koyanagi cải biên theo Hayashi có

thể trở thành một chọn lựa hiệu quả và an toàn

cho phẫu thuật viên trong trường hợp phẫu thuật một thì chỉnh sửa tật miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arnaud A, Harper L, Aulagne MB, et al (2011) “Choosing a

technique for severe hypospadias” Afr J Pediatr Surg, 8:286–290

2 Catti M (2009) “Original Koyanagi uretheroplasty versus

modified Hayashi technique: Outcome in 57 patients” J Pediatr Urol, 5:300–306

3 Emir H, Jayanthi VR, Nitahara K, et al (2000) “Modification of Koyanagi technique for the single stage repair of proximal

hypospadias” JUrol, 164:973–976

4 Hayashi Y, Kojima Y, Mizuno K, et al (2007) “neo-modified Koyanagi technique for the single stage repair of proximal

hypospadias” The Journal of Pediatric Urology, 3:239 – 242

5 Hayashi Y, Kojima Y, Mizuno K et al (2001) “The modified

Koyanagi repair for severe proximal hypospadias” BJU International, 87:235–238

6 Jayanthi VR (2008) “The modified Koyanagi hypospadias

repair for the one-stage repair of proximal hypospadias” Indian journal Urology, 24:206–209

Trang 6

7 Kang L, Huang G, Zeng L (2016) “A new modification of the

Koyanagi technique for the one – stage repair of severe

hypospadias” Jpediatr Urol, pp.175-179

8 Lê Nguyễn Yên và cs (2018) “Kết quả bước đầu trong điều trị

miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng bằng kỹ thuật Koyanagi cải

biên” Y học TP Hồ Chí Minh, 22(1):408–412

9 Mouriquand PDE, Rink RC (2012) “Hypospadias” Pediatric

Urology, 2thedition, Chapter 41, pp.526–543

10 Nerli R, Santhoshi P, Guntaka A, et al (2010) “Modified

Koyanagi’s procedure for proximal hypospadias: our

experience” Int JUrol, 17:294 – 296

11 de Mattos e Silva E, Gorduza DB, Catti M, et al (2009) “outcome

of severe hypospadias repair using three different techniques”

JPediatr Urol, 5:205–211

12 Snow B, Cartwright PC (2004) “The Yoke hypospadias repair”

Hadidi.AZMY Hypospadias surgery, pp.203–208

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/06/2019

Ngày đăng: 16/01/2020, 02:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm