1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue nặng có sốc tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2015 đến 31/12/2016

8 130 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 385,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh nhân SXHD nặng có sốc tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2015 đến 31/12/2016.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ

BỆNH NHÂN SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE NẶNG CÓ SỐC TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 TỪ 01/01/2015 ĐẾN 31/12/2016

Văn Thị Cẩm Thanh*, Đoàn Thị Ngọc Diệp**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh nhân SXHD nặng có sốc tại

bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2015 đến 31/12/2016

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca

Kết quả: Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2016 có 322 bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue nặng có sốc tại

bệnh viện Nhi Đồng 2 4-10 tuổi chiếm 71,1%, tỉ lệ nam/nữ xấp xỉ 1:1, dư cân – béo phì chiếm 35,1% Đa số bệnh nhân vào sốc vào ngày 4 – ngày 5 (75,1%) với tình trạng không sốt khi vào sốc (72%) Tỉ lệ xuất huyết dưới da là 81,7%, xuất huyết tiêu hóa là 6,8% 43,8% bệnh nhân có số lượng bạch cầu bình thường theo tuổi, 0,9% bệnh nhân có số lượng bạch cầu tăng khi vào sốc Số lượng tiểu cầu lúc vào sốc < 100 K/µL chiếm tỉ lệ 98,4% Hct khi vào sốc là 48,7% ± 4,4% TDMP chiếm 90,5%, TDMB chiếm 80,2% Đa số đều là tràn dịch lượng ít đến trung bình Sốc nặng chiếm 12,4% , với 4,3% trường hợp sốc kéo dài Tỉ lệ tái sốc là 21,1% , có 97,5% trường hợp tái sốc trước 24 giờ Suy hô hấp chiếm 24,8% Men SGOT và SGPT > 40 UI/L chiếm 98,8% và 81,8% Tỉ lệ tổn thương thận cấp là 7,1%, rối loạn đông máu chiếm 69,1% 52,5% số bệnh nhân có sử dụng cao phân tử Lượng dịch truyền chống sốc là 115,9 ± 44,8 ml/kg Thời gian truyền dịch là 20,2 ± 8,9 giờ 11,5% trường hợp được truyền máu và các chế phẩm máu Tỉ lệ bệnh nhân được hỗ trợ hô hấp qua oxy canula là 7,5%, NCAP là 15,8%, thở máy là 6,8% Có 14 bệnh nhân tử vong (chiếm 4,3%) Đa số nhập viện Nhi đồng 2 trong tình trạng nặng: sốc nặng (1/9 bệnh nhân), tái sốc (2/9 bệnh nhân), SXHD nặng tổn thương đa cơ quan (4/9 bệnh nhân) Tất cả bệnh nhân tử vong trong bệnh cảnh phối hợp sốc kéo dài – suy đa cơ quan, xuất huyết nặng

Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi cung cấp một cách nhìn tổng quát về tình hình sốt xuất huyết trong

khoảng thời gian 2 năm 2015-2016, từ đó gợi ý một số điểm mới trong thực hành chẩn đoán và điều trị sốt xuất huyết Dengue

Từ khóa: Sốc sốt xuất huyết Dengue

ABSTRACT

EPIDEMIOLOGICAL, CLINICAL, PARACLINICAL FINDINGS AND TREATMENT

CHARACTERISTICS IN CHILDREN WITH DENGUE SHOCK SYNDROME AT CHILDREN’S

HOSPITAL 2 FROM 1ST JANUARY 2015 TO 31ST DECEMBER 2016

Van Thi Cam Thanh, Doan Thi Ngoc Diep

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 22 - No 4- 2018: 95 – 102

Objectives: To investigate the epidemiologic, paraclinical findings and treatment characteristics in children

with Dengue shock syndrome at Children’s hospital 2 from 1st January 2015 to 31st December 2016

Methods: Descriptive study

Results: From 1st January 2015 to 31st December 2016, there were 322 children with Dengue shock

* Bệnh viện Nhi Đồng 2, **ĐH Y dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

syndrome admitted at Children’s hospital 2 The age of 4-10 year accounted for 71.1%, female to male ratio was 1:1 and 35.1% of patients were overweight and obesity 35.1% The majority of patients got shock on the 4 th , 5 th

day (75.1%) and most of them had no fever at that time Clinical bleeding signs were: petechia (81.7%), gastrointestinal haemorrhages (6.8%) At the beginning of shock, 43.8% of patients had normal range of leukocyte and 0.9% of patients had leukocytosis The rate of platelet under 100 K/µL was 98.4% and the mean Hct was 48.7% ± 4.4% at the beginning of shock Pleural effusions and peritoneal effusion occurred in 90.5% and 80.2%

of patients, the amount of fluid was small to moderate in most cases Severe shock syndrome was 12.4% 4.3% of patients were prolonged shock syndrome The rate of recurrent shock was 21.1%, 97.5% of recurrent shock happened within 24 hours Respiratory failure occurred in 24.8% of patients SGOT > 40 UI/L and SGPT > 40 UI/L were 98.8% and 81.8% The rate of acute kidney injury and coagulation abnormalities was 7.1% and 69.1% The mean fluid volume was 115.9 ± 44.8 ml/kg in 20.2 ± 8.9 hours The proportions of patients using colloid fluids were 52.5% 11.5% of patients were received blood transfusion The rate of patients needed to respiratory support methods: nasal cannula (7.5%), NCAP (15.8%), mechanical ventilation (6.8%) There were

14 patients who died The most cases admitted hospital in severity: server shock (1/9 patients), recurrent shock (2/9 patients), multiple organ dysfunction syndrome (4/9 patients) All of them died because of prolonged shock, multiple organ dysfunction syndrome and severe haemorrhage

Conclusions: Our study described Dengue shock syndrome in the two-year period from 2015 to 2016 in

general, therefore it suggested some new characteristics in diagnosis and treatment Dengue shock syndrome

Key word: Dengue shock syndrome

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền

nhiễm cấp tính có thể gây thành dịch do virus

Dengue gây ra Theo Tổ chức Y tế Thế giới, chỉ

trong 5 thập kỷ qua, số trường hợp mắc bệnh

Dengue tăng gấp 30 lần Tại Việt Nam, bệnh

SXHD xảy ra quanh năm, gia tăng vào mùa

mưa Theo Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây

Thái Bình Dương, tại Việt Nam, tỷ lệ mắc

SXHD trên 100.000 dân tăng liên tục trong

những năm gần đây Nhiều công trình nghiên

cứu trong và ngoài nước về SXHD đã được

thực hiện Tuy nhiên những năm gần đây, tình

hình dịch SXHD thay đổi ngày càng phức tạp

Đặc biệt năm 2015 là năm mà SXHD gia tăng ở

hầu hết các quốc gia trên thế giới, về số lượng

mắc bệnh, mức độ nặng và số lượng tử vong,

đặc biệt là ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, theo số liệu của

Phòng Kế hoạch Tổng hợp, số lượng bệnh nhi

nhập viện vì SXHD tăng đáng kể trong năm

2015 (5709 ca) so với năm 2014 (2263 ca), 2013

(2667 ca) và năm 2012 (3591 ca) Trường hợp

5%, 4,9%, 9,8% và 12,2% Số bệnh nhi tử vong gần đây tăng lên đáng kể, đỉnh điểm là 11 ca năm 2015 so với 7 ca năm 2012 và 4 ca năm

2013 Hầu hết các trường hợp tử vong là do nhập viện trễ dẫn đến sốc SXHD nặng kéo dài, tái sốc nhiều lần, tổn thương đa cơ quan(11) Chính vì những điều trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue nặng có sốc nhập Bệnh Viện Nhi Đồng 2 năm 2015 – 2016” nhằm đánh giá những thay đổi trong dịch tễ cũng như bệnh cảnh lâm sàng, cận lâm sàng, diễn tiến điều trị của bệnh sốc SXHD Từ đó giúp bác sĩ sàng lọc bệnh tốt hơn, nhận dạng những trường hợp SXHD không điển hình cũng như những dấu hiệu dự báo nặng trước khi vào sốc, tránh bỏ sót những trường hợp bệnh nặng

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của bệnh nhân SXHD nặng có sốc

Xác định tỉ lệ và trung bình các xét nghiệm cận lâm sàng và đặc điểm tổn thương cơ quan ở bệnh nhân SXHD nặng có sốc

Trang 3

Xác định tỉ lệ các biện pháp điều trị của bệnh

nhân SXHD nặng có sốc

Xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng,

cận lâm sàng, điều trị của nhóm SXHD nặng có

sốc tử vong

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Dân số nghiên cứu

Dân số mục tiêu: Bệnh nhân sốt xuất huyết

Dengue nặng có sốc theo tiêu chuẩn chẩn đoán

của Bộ Y tế Việt Nam tháng 02/2011

Dân số chọn mẫu: Tất cả các bệnh nhân được

chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue nặng có sốc

nhập bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 1/1/2015 đến

31/12/2016

Cỡ mẫu

Lấy trọn mẫu

Tiêu chí chọn bệnh

Các bệnh nhân thỏa mãn đủ các tiêu chuẩn:

từ 1 tuổi đến 15 tuổi, được chẩn đoán lâm sàng

sốt xuất huyết Dengue nặng có sốc theo tiêu

chuẩn chẩn đoán của Bộ Y Tế năm 2011, có

NS1Ag (+) hoặc ELISA Dengue IgM (+)

Tiêu chí loại trừ

Bệnh nhân có bệnh lý bất thường khác đi

kèm: tim, phổi, gan, thận, thần kinh Bệnh án có

ít hơn 80% thông tin cần thu thập

Xử lý và phân tích số liệu

Phân tích

Bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0

Thống kê mô tả

Các biến định tính được thể hiện dưới dạng

tỷ lệ %

Các biến định lượng được thể hiện dưới

dạng trung bình kèm độ lệch chuẩn đối với

phân phối chuẩn và trung vị đối với phân phối không

chuẩn

Thống kê phân tích

So sánh tỉ lệ phần trăm bằng phép kiểm X2

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian từ 01/01/2015 đến 31/12/2016 có 391 trẻ SXHD nặng có sốc nhập Bệnh viện Nhi Đồng 2 Trong đó có 69 trường hợp có tiêu chí loại ra Vậy có 322 trường hợp được đưa vào nghiên cứu Trong đó, có 14 trường hợp tử vong

Các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Các đặc điểm dịch tễ

Các đặc điểm Dân số chung

(n=322)

Tử vong (n=14)

Tình trạng dinh dưỡng

Đặc điểm lâm sàng

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng lúc nhập viện

chung (%)

Tử vong (%)

Chẩn đoán

NV tuyến trước

Không liên quan

Chẩn đoán lúc NV NĐ2

Không liên quan

Triệu chứng

Ngày vào sốc

Sốt lúc vào sốc

Trang 4

Các đặc điểm Dân số

chung (%)

Tử vong (%)

Triệu chứng

xuất huyết

Chiều cao gan (cm) 2,8 ± 0,8 3,7 ± 1,3

Đặc điểm cận lâm sàng và tổn thương cơ quan

Bảng 2: Đặc điểm cận lâm sàng và tổn thương cơ

quan

chung Tử vong

Bạch cầu lúc vào sốc(K/µL) (1,1 - 23,4) 5 ± 2,5 5,5

(3,3 – 8,4) Tiểu cầu lúc vào sốc(K/µL) 41,3 ± 22,5

(4,1 - 117) 26,7 ± 17,8

(29 - 52)

Tràn dịch màng

phổi (P)(%)

Tràn dịch màng

phổi (T)(%)

Tràn dịch màng

bụng(%)

Thời điểm tái sốc

lần 1 (giờ)

35,7%

(7,5 – 87) 73,2 ± 29,8

chung Tử vong

(7,5 – 87)

(44,1-72,7) 113,5 ± 16,2

(1,1– 1,6) 7,2 ± 3,3

(0,9 –1,7) 0,8 ± 0,5

(112 - 476,3) 10956 ± 6359

(48,2 - 249,8) 2476 ± 1344

Creatinine (mg%) (0,5 - 0,7) 0,64 2,6 ± 1,6

Đặc điểm điều trị

Bảng 3: Đặc điểm điều trị

Đặc điểm Dân số chung Tử vong

Tổng lượng dịch truyền 115,9 ± 44,8 ml/kg 217,5 ± 92,5

ml/kg Dịch tinh thể 70,6 ± 34,2 ml/kg 25 ± 20,6 ml/kg

Tổng thời gian truyền

Thời gian truyền dịch

Thời gian truyền CPT 17,5 ± 10,3 giờ 31 ± 17,1 giờ

Lượng hồng cầu lắng 30,9 ± 19,9 ml/kg

(ml/kg)

Lượng KTL (ml/kg) 10 (8 – 14,6)

Lượng TCĐĐ (ml/kg) 14,1 (9,3 – 23,9)

Thời gian điều trị (ngày) 4,9 ± 2,9 4 (2 – 8)

Trang 5

Bảng 4: Tỉ lệ còn sốt lúc vào sốc và hết sốt lúc vào

sốc trong nhóm xuất huyết nặng, sốc kéo dài và tử

vong

Đặc điểm

Còn sốt lúc vào sốc (số ca, tỉ lệ %)

Hết sốt lúc vào sốc (số ca, tỉ lệ %)

0,003*

<0,001 Không xuất huyết

<0,001 Không sốc kéo dài 80 (88,9) 229 (98,7)

0,001

Chúng tôi nhận thấy tỉ lệ tái sốc, xuất huyết

nặng, sốc kéo dài và tỉ lệ tử vong của nhóm còn

sốt lúc vào sốc cao hơn so với nhóm hết sốt lúc

vào sốc có ý nghĩa thống kê

BÀN LUẬN

Trong thời gian từ 01/01/2015 đến

31/12/2016 có 322 trẻ nhập vào bệnh viện Nhi

đồng 2 được chẩn đoán là sốt xuất huyết

Dengue nặng có sốc, được xác định bằng

ELISA Dengue IgM hoặc NS1Ag dương tính

Lứa tuổi trung bình là 8 ± 3 tuổi, nhóm tuổi

thường gặp là 4 - 10 tuổi, chiếm 71,1% Tỉ lệ

nam/nữ xấp xỉ là 1:1 Tỉ lệ dư cân - béo phì

trong nghiên cứu của chúng tôi là 35,1%

Về đặc điểm lâm sàng, đa số các trường hợp

khi nhập viện đều được chẩn đoán là SXHD hay

các chẩn đoán liên quan đến SXHD Tuy nhiên,

có một tỉ lệ nhỏ 4,9% số bệnh nhân nhập viện

tuyến trước và 2,5% số bệnh nhân nhập viện Nhi

Đồng 2 được chẩn đoán lầm với các bệnh lý

đường hô hấp, nhiễm siêu vi hay bệnh lý đường

tiêu hóa Những trường hợp này tương ứng với

tỷ lệ các triệu chứng không điển hình trong

nghiên cứu như ho (10,2%), tiêu chảy (9,9%),

nhức đầu (4%), sổ mũi (1,6%) Từ các kết quả

trên, chúng tôi nghĩ rằng các bác sĩ lâm sàng nên

luôn nhớ tới khả năng sốt xuất huyết Dengue khi

trẻ có triệu chứng sốt dù đơn độc hay kết hợp

với các triệu chứng không điển hình khác Đặc biệt các triệu chứng hô hấp là những triệu chứng không điển hình thường có trong bệnh cảnh sốt xuất huyết Dengue có thể gây nhầm lẫn với bệnh đường hô hấp Đa số các bệnh nhi vào sốc vào ngày thứ 5 (54%) và ngày thứ 4 (21,1%) Chúng tôi cũng ghi nhận 1 tỷ lệ khá cao bệnh nhi vào sốc muộn vào ngày 6 (19,6%) Trong nghiên cứu của Huỳnh Nguyễn Duy Liêm(6) tỉ lệ vào sốc lần lượt là ngày thứ 5 (54,1%), ngày thứ 4 (27,5%), ngày thứ 6 (12,9%), ngày thứ 3 (5,5%) Chúng tôi nhận thấy tỉ lệ vào sốc sớm ngày 3 giảm đi trong khi tỉ lệ vào sốc muộn vào ngày 6, ngày 7 trong nghiên cứu của chúng tôi tăng lên

so với nghiên cứu ở trên Vì vậy bác sĩ lâm sàng nên chú trọng theo dõi diễn tiến lâm sàng để kịp thời can thiệp nhằm tránh bỏ sót các trường hợp sốc muộn này

Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân không sốt lúc vào sốc Tuy nhiên, một tỷ lệ không nhỏ là 28% trẻ còn sốt cao lúc vào sốc Tỉ lệ này trong nghiên cứu của Đông Thị Hoài Tâm là 29,5%(2) Theo nghiên cứu của chúng tôi, trong nhóm xuất huyết nặng, 82,6% số bệnh nhân còn sốt lúc vào sốc Còn trong nhóm dân số tử vong, 71,4% bệnh nhân còn sốt lúc vào sốc Trong nhóm bệnh nhân tái sốc, còn sốt lúc vào sốc chiếm tỉ lệ khá cao là 42% Tỉ lệ này là 43,7% trong nghiên cứu của Đông Thị Hoài Tâm

và còn sốt lúc vào sốc cũng liên quan đến tái sốc (p < 0,01)(2) Kết quả tương tự cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Tạ Văn Trầm(10) Vì vậy, nếu bệnh nhân vào sốc mà vẫn còn sốt thì nên được theo dõi sát hơn tình trạng lâm sàng, diễn tiến dung tích hồng cầu để phát hiện sớm

và điều trị kịp thời tái sốc hay xuất huyết nặng,

có thể giảm được nguy cơ dẫn đến sốc kéo dài hay tử vong

81,7% bệnh nhi của chúng tôi có xuất huyết trên lâm sàng Chấm xuất huyết được tìm thấy nhiều nhất với 66,1% Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Tiến, chấm xuất huyết chiếm tỉ lệ với tỉ lệ 89,1%(7) Có 6,8%

Trang 6

bệnh nhân bị xuất huyết tiêu hóa, biểu hiện

trên lâm sàng gồm ói ra máu, tiêu phân đen,

sonde dạ dày ra máu đỏ tươi ở những bệnh

nhân nặng thở máy Tỷ lệ này tương đương tỉ

lệ xuất huyết tiêu hóa từ 5% - 5,7% trong

nghiên cứu của các tác giả Trần Hà Phương

Tâm(12) và Cao Thị Tố Như(1) Tỉ lệ gan to trong

nghiên cứu của chúng tôi là 78% Tỉ lệ này

trong các nghiên cứu của Nguyễn Thanh

Hùng là 97,1%(8) Như vậy gan to trong sốc

SXHD là 1 triệu chứng thường gặp nhưng

không hằng định(5)

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận khi vào

sốc có 55,3% trường hợp số lượng bạch cầu giảm

theo tuổi Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bất thường

xuất hiện sớm nhất trên công thức máu ở bệnh

nhân SXHD là sự giảm bạch cầu Bạch cầu giảm,

theo sau đó là tiểu cầu giảm thường khởi đầu

cho giai đoạn thất thoát huyết tương(13) Tuy

nhiên, có đến 43,8% trường hợp số lượng bạch

cầu khi vào sốc bình thường theo tuổi trong

nghiên cứu của chúng tôi Tỉ lệ này cũng được

ghi nhận trong nghiên cứu của Gajera Vibha

Vipulbhai là 49%(4) Có 3 trường hợp trong

nghiên cứu của chúng tôi có số lượng bạch cầu

tăng khi vào sốc Hai trong ba trường hợp này là

sốc nặng, tái sốc nhiều lần, xuất huyết nặng, suy

đa cơ quan và tử vong sau đó Nghiên cứu ở

Thái Lan trên 91 bệnh nhân cũng cho thấy nhóm

SXHD từ độ II trở lên có số lượng bạch cầu cao

hơn nhóm SXHD độ I (p = 0,03)(3) Tổ chức y tế

thế giới cũng đề cập rằng trong những trường

hợp sốc nặng, xuất huyết nặng, số lượng bạch

cầu thường tăng như một trình trạng đáp ứng

với stress (13) Như vậy số lượng bạch cầu bình

thường hoặc tăng trên công thức máu không thể

loại trừ được sốt xuất huyết Dengue mà ngược

lại số lượng bạch cầu tăng còn cần phải cảnh giác

hơn nữa với diễn tiến nặng của bệnh Tại thời

điểm vào sốc, có 98,4% trường hợp số lượng tiểu

cầu thấp hơn 100 K/µL Tuy nhiên, nghiên cứu

của chúng tôi có ghi nhận 5 trường hợp (1,6%)

tiểu cầu vào sốc không giảm nhỏ hơn 100 K/µL

Tỉ lệ này trong nghiên cứu của Cao Thị Tố Như còn cao hơn (19%)(1) Vì vậy, trong thực hành lâm sàng, không nên loại trừ hoàn toàn sốc SXHD trên bệnh nhân có bệnh cảnh sốc với số lượng tiểu cầu lớn hơn 100K/µL Dung tích hồng cầu lúc vào sốc trong nghiên cứu của chúng tôi có trung bình 48,7% ± 4,4%, tỉ lệ này cũng được ghi nhận tương đương trong nghiên cứu của các tác giả Phạm Thái Sơn (47,4% ± 4,6%)(9) Tỷ lệ tràn dịch màng phổi – màng bụng trên Xquang hoặc siêu âm trong nghiên cứu của chúng tôi khá cao (90,5% và 80,2%) Đa số các trường hợp tràn dịch màng phổi đều là tràn dịch lượng ít và trung bình (89,7% và 92,5%) Điều này cũng được ghi nhận tương tự trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Tiến(7)

Tỷ lệ sốc nặng trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm 12,4% Có đến 69,9% bệnh nhân nhập viện trong tình trạng sốc, trong số đó có 11,2% bệnh nhân sốc nặng Nghiên cứu của Tạ Văn Trầm cũng cho thấy 31/34 trường hợp tử vong nhập viện trễ trong tình trạng sốc hoặc sốc nặng Điều này cho thấy phần lớn bệnh nhân sốc SXHD đến nhập viện trễ, có thể do các bậc phụ huynh chưa nhận biết được các dấu hiệu nặng trong bệnh SXHD Vì vậy, cần tăng cường công tác giáo dục sức khỏe về sốt SXHD cho các bậc cha mẹ Vai trò của nhân viên y tế là giải thích tính nghiêm trọng của bệnh SXHD, tầm quan trọng của việc theo dõi tại nhà và cách nhận biết các dấu hiệu cảnh báo cho các bậc phụ huynh để đưa trẻ đến bệnh viện một cách kịp thời nhất

Có 21,1% bệnh nhân tái sốc lần 1, 6,8% bệnh nhân tái sốc lần 2, 5,6% tái sốc lần 3 và 4,3% bệnh nhân sốc kéo dài Thời gian tái sốc lần 1 có trung bình là 10,5 ± 7,5 giờ, sớm nhất là 1,5 giờ, trễ nhất

là 40,5 giờ Trong 69 trường hợp tái sốc, có 65,2% tái sốc lần đầu trước 12h, và 94,5% trường hợp tái sốc trước 24 giờ Chỉ 5,8% trường hợp tái sốc sau 24 giờ Trong nghiên cứu của Đông Thị Hoài Tâm tỉ lệ tái sốc lần 1 là 19,5%, lần 2 là 10,1%, lần

3 là 1,5% Thời điểm tái sốc trung bình là 10,6 giờ, trong đó thời gian dễ xảy ra tái sốc nhất là

Trang 7

trước 12 giờ (67,4%), và 100% trường hợp đều

xảy ra tái sốc trước 24 giờ(2) Tỷ lệ men SGOT và

SGPT tăng trên giới hạn bình thường (40 U/L)

chiếm tỷ lệ rất cao là 98,8% và 81,8% Tương tự

như trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Tiến là

96,2% và 86,6%(7)

Về điều trị, 100% bệnh nhân trong nghiên

cứu của chúng tôi sử dụng dung dịch CPT là

HES 6,5% Tỉ lệ dung CPT là 52,5%, tổng lượng

dịch truyền là 115,9 ± 44,8 ml/kg, lượng dịch tinh

thể là 70,6 ± 34,2 ml/kg, lượng dịch CPT là 86,2

±56,3 ml/kg Tổng thời gian truyền dịch là 20,2 ±

8,9 giờ 11,5% trường hợp được truyền các chế

phẩm của máu, với tỷ lệ sử dụng hồng cầu lắng

là 7,1%, huyết tuơng tươi đông lạnh 9,6%, kết tủa

lạnh 8,1%, tiểu cầu 6,8% Tỷ lệ sử dụng các chế

phẩm trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự

như trong nghiên cứu của Cao Thị Tố Như, Trần

Hà Phương Tâm và Phạm Thái Sơn(1,9,12) 14/322

trường hợp tử vong, chiếm tỷ lệ 4,3% 84,2%

bệnh nhân nằm viện từ 3 – 7 ngày

Đặc điểm các trường hợp tử vong

Năm 2015, tỉ lệ tử vong do sốt xuất huyết tại

Bệnh viện Nhi đồng 2 tăng lên đáng kể Trong 14

trường hợp ca tử vong trong nghiên cứu của

chúng tôi, đã có 11 ca tử vong trong năm 2015

Nhóm dân số tử vong có độ tuổi trung bình là là

7 ± 3 tuổi, tập trung ở 2 nhóm từ 2 - 5 tuổi và 10 –

14 tuổi với tỉ lệ như nhau là 35,7% Tỉ lệ nữ giới

chiếm ưu thế hơn nam giới (57,2%) Tình trạng

dư cân – béo phì trong nhóm dân số tử vong

trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương

đương so với nhóm không thừa cân - béo phì

(50%) Trong 14 bệnh nhân tử vong chỉ có 3 bệnh

nhân đến sớm khi chưa có dấu hiệu sốc 11 bệnh

nhân còn lại đến nhập viện trễ khi bệnh nhân đã

vào sốc (3/11 bệnh nhân) hoặc sốc nặng (8/11

bệnh nhân) Các bệnh nhân này đều có đặc điểm

là sốt cao liên tục và các dấu hiệu cảnh báo theo

phác đồ Bộ y tế: ói (7/14 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ

50%), đau bụng (4/14 bệnh nhân, chiếm 28,6%),

xuất huyết tiêu hóa (3/14 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ

21,4%), chảy máu mũi (1/14, chiếm tỉ lệ 7,1%)

Trong số đó, có 2 nhập viện trong tình trạng sốc nặng kèm rối loạn tri giác phải đặt nội khí quản cấp cứu và truyền dịch chống sốc 5/11 bệnh nhân sốc ngay thời điểm nhập viện không ra sốc sau truyền liều dịch đầu tiên, có 8 ca vào sốc vào ngày 5 – 6, 1 ca vào sốc vào ngày 7 6/8 bệnh nhân vào sốc trong khoảng từ ngày 5 - 7 đến nhập viện trong tình trạng sốc nặng 71,4% số bệnh nhân tử vong vẫn còn sốt khi vào sốc Tình trạng này phù hợp với y văn là sốt khi vào sốc là một yếu tố tiên lượng nặng trong sốc SXHD(10)

Số lượng tiểu cầu lúc vào sốc của nhóm dân số tử vong có trung bình là 26,7 ± 17,8 K/mm3 thấp hơn so với số lượng tiểu cầu của nhóm sống 42 ± 22,5 K/mm3 Theo hướng dẫn của WHO, sự giảm nhanh tiểu cầu là 1 trong những chỉ điểm trong SXHD có dấu hiệu cảnh báo(13) Về nguyên nhân

tử vong, các bệnh nhân đều tử vong trong bệnh cảnh sốc kéo dài, tổn thương đa cơ quan (suy gan, suy thận, tổn thương tim, xuất huyết nặng, rối loạn đông máu nặng, DIC) Điều này cũng phù hợp như trong nghiên cứu Nguyễn Minh Tiến trên 2 nhóm sốc kéo dài tử vong và sốc kéo dài sống Tác giả đưa ra kết luận các yếu tố có liên quan đến tử vong là suy hô hấp, suy tuần hoàn, suy cơ quan, tiêu hóa, suy gan, toan chuyển hóa, DIC nặng(7)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 322 trẻ sốt xuất huyết Dengue nặng có sốc trong năm 2015-2016, chúng tôi đưa ra một số nhận định: Độ tuổi thường gặp

là 4 - 10 tuổi, 4,9% bị chẩn đoán lầm không phải SXHD.Sốc vào ngày 4-5 của bệnh 28% trẻ còn sốt cao lúc vào sốc, điều này có liên quan đến tỉ

lệ tái sốc, sốc kéo dài, xuất huyết nặng và tử vong Khoảng 1/2 số bệnh nhân có số bạch cầu bình thường hoặc tăng khi vào sốc, Hct có giá trị trung bình cao 48,7% khi vào sốc 1/5 số bệnh nhân tái sốc và đa số tái sốc trong vòng 24 giờ Hơn 80% số bệnh nhân TDMP hoặc TDMB, đa

số lượng ít đến trung bình Hơn 80% bệnh nhân tăng men gan, đa số tăng nhỏ hơn 5 lần giá trị bình thường

Trang 8

Hơn 50% bệnh nhân có sử dụng cao phân tử

trong điều trị Lượng dịch truyền trung bình là

115 ml/kg trong 20,2 giờ 4,3% bệnh nhân tử

vong, đa số đều nhập viên trong tình trạng nặng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cao Thị Tố Như (2010), "Nhận xét kết quả điều trị sốc sốt xuất

huyết Dengue với Dextran và Hydroxyethyl Starch", Luận văn

Thạc sĩ Y khoa, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, tr.31

2 Đông Thị Hoài Tâm, Phan Tứ Quí, Dương Bích Thủy, (2010),

"Các yếu tố nguy cơ tái sốc trong điều trị sốc sốt xuất huyết

Dengue tại Bệnh viện Nhiệt Đới năm 2007 - 2008", Tạp chí Y

học TP Hồ Chí Minh, Tập 14 (Phụ bản của số 1), tr 424 - 428

3 Eu-Ahsunthornwattana N, Eu-ahsunthornwattana J (2008),

"Peripheral blood count for dengue severity prediction: a

prospective study in Thai children", Pediatrics, 121

(Supplement 2), S127-S128

4 Gajera VV, Sahu S, Dhar R (2016), "Study of haematological

profile of Dengue Fever and its clinical implication", Annals of

Applied Bio-Sciences, 3 (3), A241-246

5 Gubler DJ (1998), "Dengue and dengue hemorrhagic fever",

Clinical microbiology reviews, 11 (3), pp 480-496

6 Huỳnh Nguyễn Duy Liêm (2009), "Đặc điểm dịch tễ, lâm

sàng, cận lâm sàng và điều trị ở trẻ em bị sốc sốt xuất huyết có

rối loạn đông máu", Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược

TP HCM, tr.25

7 Nguyễn Minh Tiến (2005), "Tổn thương các cơ quan trong sốc

sốt xuất huyết Dengue kéo dài ở trẻ em", Luận văn bác sĩ chuyên

khoa cấp II, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, tr32

8 Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Trọng Lân, Lê Bích Liên, (2003), "Đặc điểm lâm sàng, điều trị sốt xuất huyết Dengue ở

trẻ nhũ nhi", Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, PB Tập 7 Số 1, tr

138 - 144

9 Phạm Thái Sơn (2010), "Kết quả điều trị sốc sốt xuất huyết

Dengue bằng HES 6%", Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Đại

học Y Dược TP Hồ Chí Minh, tr.36

10 Tạ Văn Trầm (2004), "Các yếu tố liên quan đến sốc sốt xuất

huyết kéo dài ở trẻ em", Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược

TP Hồ Chí Minh, tr.39

11 Tạ Văn Trầm, Nguyễn Trọng Lân (2001), "Các yếu tố liên

quan tử vong trong sốc sốt xuất huyết Dengue", Tạp chí Y học

TP Hồ Chí Minh, Tập 5 Số 2, tr 106 - 110

12 Trần Hà Phương Tâm (2012), "Nhận xét về điều trị dịch truyền trong sốc sốt xuất huyết Dengue tại Bệnh viện Nhi

đồng 2 từ tháng 1/2011 đến 03/2012", Luận văn Thạc sĩ y học,

Đại học Y Dược TP HCM, tr22

13 World Health Organization (2012), "Handbook for clinical management of dengue", Handbook for clinical management

of dengue

Ngày đăng: 16/01/2020, 02:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w