1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm X-quang lồng ngực, chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ ở trẻ em lao màng não

5 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 272,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: Mô tả hình ảnh X-quang và CT/MRI não ở lao màng não (LMN) trẻ em. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu 100 bệnh nhân trẻ em bị LMN từ tháng 9/2009 đến 3/2011 tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM X-QUANG LỒNG NGỰC, CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH

VÀ CỘNG HƯỞNG TỪ Ở TRẺ EM LAO MÀNG NÃO

Nguyễn Đức Bằng*, Nguyễn Huy Dũng*, Trần Ngọc Đường*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả hình ảnh X-quang và CT/MRI não ở lao màng não (LMN) trẻ em

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu 100 bệnh nhân trẻ em bị LMN từ tháng 9/2009 đến

3/2011 tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Kết quả: 42% (42/100) có hình ảnh X-quang phổi bất thường 43 bệnh nhân chụp MRI não trước khi điều

trị: 62% (26/42) có tăng quang màng não nền sọ, 44% (19/43) dãn não thất, 30% (13/35) nhồi máu não và 14% (6/42) u lao Dãn não thất có liên quan đến di chứng lâu dài nhưng không liên quan đế tử vong

Kết luận: X quang phổi và MRI não có thể giúp chẩn đoán lao màng não MRI có vai trò lớn trong việc phát

hiện các biến chứng lao màng não Dãn não thất và tăng quang màng não nền khá phổi biến Dãn não thất có liên quan đến di chứng thần kinh lâu dài

Từ khóa: Lao màng não, X-quang phổi, CT/MRI não

ABSTRACT

CHARACTERIZE THE RADIOLOGICAL FEATURES OF CXRS AND CRANIAL MRI IN CHILDREN

WITH TUBERCULOSIS MENINGITIS

Nguyen Duc Bang, Nguyen Huy Dung,Tran Ngoc Duong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine* Vol 22 - No 4- 2018: 60 – 64

Objectives: Characterize the radiological features of CXRs and cranial MRI in children with tuberculosis

meningitis

Methods: A prospective descriptive study of 100 consecutively admitted children with a clinical diagnosis of

tuberculosis meningitis from September 2009 and March 2011 at Pham Ngoc Thach Hospital, HCMC

Results: 42% (42/100) of children had abnormal chest X-rays consistent with TB 43 underwent cranial

MRI before beginning treatment: 62% (26/42) had basal meningeal enhancement, 44% (19/43) hydrocephalus, 30% (13/13) infarctions and 14% (6/42) tuberculomas Hydrocephalus at baseline was associated with neurological squeal (p=0.01) but not mortality Brain infarctions and basal meningeal enhancements were not associated with mortality (p=0.83, p=0.07) or disability (p=0.164, p=0.42)

Conclusions: Hydrocephalus was the most common serious complication and strongly associated with

long-term squeal CXRs and CT/MRI can play a crucial role in TBM diagnosis and finding massive hydrocephalus requiring VP shunt

Key words: Tuberculosis meningitis, chest X-ray, CT/MRI

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc chẩn đoán LMN vẫn là một thách

thức cho các bác sĩ trên toàn thế giới vì lâm

sàng thường không điển hình và mật độ vi

khuẩn thấp trong dịch não tủy (DNT) Hiện nay việc chẩn đoán LMN chủ yếu vẫn dựa vào các dấu hiệu lâm sàng và phân tích DNT Do

đó, hình ảnh học như X-quang phổi và MRI

* Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch TP HCM

Trang 2

não vẫn có một chỗ đứng nhất định giúp chẩn

đoán LMN

Những hình ảnh X-quang điển hình có thể

gợi ý đến chẩn đoán LMN não đặc biệt là ở trẻ

em X-quang phổi gợi ý lao phổi sẽ giúp củng

cố chẩn đoán LMN đi kèm nếu có lâm sàng

gợi ý LMN CT/MRI não điển hình cũng có giá

trị trong việc giúp chẩn đoán LMN và phát

hiện biến chứng

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả hình ảnh X-quang và CT/MRI não ở

lao màng não (LMN) trẻ em

ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

100 trẻ em được chẩn đoán LMN trên lâm

sàng tại bệnh viện PNT từ tháng 9/2009-3/2011

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Trẻ em ≤ 15 tuổi có lâm sàng và dịch não tủy

(DNT) nghi LMN

Người nhà đồng ý cho bệnh nhi tham gia

nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Đã điều trị lao

Không ký giấy tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả tiến cứu

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Xác định LMN khi lâm sàng có hội chứng

màng não kèm soi tìm BK trong DNT hoặc cấy

DNT dương tính với M.tb Rất có thể LMN khi

lâm sàng có hội chứng màng não, DNT gợi ý

LMN và tìm thấy BK hoặc giải phẫu bệnh xác

định lao ngoài màng não hoặc có X-quang

phổi, CT não, MRI não gợi ý LMN Có thể lao

màng não khi lâm sàng có dấu màng não kèm

theo ít nhất 4 trong các dấu chứng sau: thời

gian bệnh > 6 ngày; DNT có tế bào đơn nhân

chiếm đa số; đường DNT/máu <50%; Rối loạn

tri giác; DNT ánh vàng và Có dấu thần kinh

định vị

Tiêu chuẩn mô tả về hình ảnh học

X Quang: hạch trung thất, kê, đông đặc, nốt, hang, dải mờ, tràn dịch màng phổi, xẹp phổi

CT và MRI: dãn não thất, tăng quang màng não, nhồi máu não và u lao não

KẾT QUẢ Kết quả X-quang phổi

Tổng cộng 100 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu được chụp X-quang phổi Những bất thường phù hợp với lao phổi 42% (42/100) Các tổn thương bao gồm hạch trung thất (n=14 [14%]), đông đặc (n=11 [11%]), và tổn thương kê (n=9 [9%]), nốt (n=6 [6%]), hang (n=1 [1%]) và

xẹp phổi (n=1 [1%]) (Bảng 1)

Kết quả chụp cắt lớp điện toán (CT) não

Có 19 bệnh nhân được chụp CT não, 12 trong

19 (63%) là bé nam, tuổi trung bình là 25 tháng

CT não bất thường 58% (11/19), dãn não thất 32% (6/19), tăng quang màng não nền 53% (7/13) Không phát hiện nhồi máu não và u lao não

trong 19 bệnh nhi này (Bảng 2)

Bảng 1: Kết quả X-quang ở 100 bệnh nhi

Bất thường X-quang phổi (n=100)

Hạch trung thất 14 (14%)

Bình thường 58 (58%)

Bảng 2: Kết quả CT não của 19 bệnh nhi

CT não (n=19)*

Bất thường 13/19 (68%) Tăng quang màng não nền sọ 7/13 (53%)

Dãn não thất 11/19 (58%)

*13 CT có cản quang và 6 CT không tiêm cản quang

Kết quả cộng hưởng từ (MRI) não

MRI não khi nhập viện

Có 42 bệnh nhân chụp MRI và có tuổi trung bình 93 tháng (8-180 tháng) Bất thường

Trang 3

được phát hiện ở 37/43 (86%) trong đó tăng

quang màng não nền sọ 26/42 (62%), dãn não

thất 19/43 (44%), u lao não 7/42 (17%) và nhồi

máu não (30%) (Bảng 3)

Bảng 3: Kết quả MRI não của 43 bệnh nhi lúc nhập

viện

Số MRI não (n=43)*

Bất thường Tỷ lệ bất thường

37/43 (86%) Tăng quang màng não nền 26/42 (62%)

Dãn não thất 19/43 (44%)

Nhồi máu 13/43 (30%)

*42 MRI có tiêm thuốc cản từ và 1 MRI không tiêm

thuốc cản từ

MRI não sau 60 ngày điều trị

Trong số 43 bệnh nhi được chụp MRI não lúc

nhập viện, có 35 bệnh nhân chụp MRI não vào

ngày 60 sau điều trị Sau 60 ngày điều trị có thêm

6 bệnh nhân xuất hiện u lao mới và 02 bệnh nhân

có u lao biến mất hoàn toàn Bất thường 22/35 (63%) bao gồm tăng quang ở nền sọ 13/35 (37%), dãn não thất 10/35 (29%), u lao 9/35 (26%) và 12/35

(34%) nhồi máu não (Bảng4) Có thêm 6 ca nhồi

máu mới và 2 ca nhồi máu biến mất hoàn toàn sau

60 ngày điều trị

Bảng 4: Kết quả MRI não ở 35 bệnh nhi sau 60 ngày

điều trị

Bất thường 22/35 (63%) Tăng quang màng não ở nền sọ 13/35 (37%)

Dãn não thất 10/35 (29%)

Nhồi máu 12/35 (34%)

Bảng 5: Phân tích đơn biến liên quan đến tử vong

Lao ngoài màng não: - Không*

- Có

6/51 (10,3%) 9/30 (21.7%) -2,30 (0,82 – 6,45) 0,110 Nhồi máu não: - Không*

- Có

6/49 (12,2%) 2/13 (15,4%) 1,19 (0,24–5,91) 0,830 Dãn não thất: - Không*

- Có

2/29 (6,3%) 6/24 (20,0%) 3,46 (0.70–7,16) 0,100 Meningeal enhancement: -Không

1/29 (3%)

T* Giá trị nền, HR so sánh với giá trị nền P có nghĩa thống kê khi <0,05 CI độ tin cậy & ước lương thời gian sống còn

240 ngày

Chú ý: 15/100 bệnh nhân tử vong có chụp X-quang và 8/62 tử vong được chụp MRI/CT não

*Một số bệnh nhi không được chụp CT/MRI não nên một số sự kiện/nguy cơ sẽ không đủ 96

Bảng 6: Phân tích đơn biến liên quan đến di chứng thần kinh

Bất thường Di chứng thần kinh (N=96* được theo dõi)

# sự kiện/n (nguy cơ) OR (95% CI) p Lao ngoài màng não: - Không*

- Có

19/57 (33,3%) 23/39 (40,6%) 2,88 (1,24 – 6,68) 0,014 Nhồi máu não: - Không*

- Có

19/48 (39,6%) 8/13 (61,5%) 2,44 (0,69–8,59) 0,164 Dãn não thất: - Không*

- Có

6/31 (19,4%) 21/30 (70,0%) 9,72 (2,97 – 31,79) 0,0002 Meningeal enhancement: -Không

-Có

9/20 (45%)

* Giá trị nền, HR so sánh với giá trị nền P có nghĩa thống kê khi <0.05 CI độ tin cậy

Chú ý: 15/100 bệnh nhân tử vong có chụp

X-quang và 8/62 tử vong được chụp MRI/CT não

*Một số bệnh nhi không được chụp CT/MRI não nên một số sự kiện/nguy cơ sẽ không đủ 96

Trang 4

Dẫn lưu não thất

Trong nghiên cứu này có 9 em đã được dẫn

lưu não thất vào khoang phúc mạc do dãn lớn

não thất Tất cả các dãn não thất này đều được

phát hiện qua chụp CT hoặc MRI não trong quá

trình điều trị

BÀN LUẬN

Tổn thương X-quang gợi ý đến bệnh lao

bao gồm hạch trung thất, đông đặc phổi, xẹp

phổi, tạo hang, tràn dịch màng phổi và tổn

thương kê Trong nghiên cứu này, tổn thương

phổi 42% nằm trong khoảng bất thường từ

30-50% của các nghiên cứu khác (3) và phù hợp

với nghiên cứu tiến cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ từ

năm 1996-2003(9) với 74 bệnh nhi với tổn

thương nghi lao 32/74 ca (43%)

Bhargava phát hiện 87% trẻ em và 12%

người lớn bị dãn não thất trong một nghiên cứu

60 bệnh nhân và đặc biệt dãn não thất tăng cùng

với thời gian kéo dài của bệnh và tuổi trẻ(1)

Waecker và Connor mô tả 30 bệnh nhi dưới 6

tuổi 100% có dãn não thất vào lúc chẩn đoán

Bullock và Welchman báo cáo 34 bệnh nhân có

chẩn đoán xác định LMN, 76% bị dãn não thất(2)

Trong nghiên cứu này, CT não không phát hiện

tổn thương nhu mô não và u lao khác với nghiên

cứu của tác giả Bhagava năm 1982 nhồi máu não

gặp 28% và 10% có u lao(1) Hình ảnh MRI được

mô tả trong nghiên cứu này tương tự trong các

nghiên cứu trước đây đó là dãn não thất và tăng

quang màng não nền là những dấu hiệu phổ

biến nhất

Nogueira Delfino nghiên cứu 10 trẻ em ở

Ý(6) đã phát hiện tăng quang màng não nền

100%, dãn não thất 70%, u lao 90% và nhồi

máu 40% Theo nghiên cứu này, bất thường

trên MRI thấp hơn các nghiên cứu khác như

tăng quang màng não nền 26/42 (62%), dãn

não thất 19/43 (44%), u lao 7/42 (17%) và nhồi

máu 13/43 (30%) (Bảng 3) Điều này chứng tỏ

rằng MRI não có thể phát hiện tổn thương

tăng quang màng não nền, u lao và nhồi máu

nhiều hơn CT não và phù hợp với kinh

nghiệm của các tác giả khác đó là MRI não phát hiện nhiều u lao và nhồi máu não hơn

CT MRI não có thể phát hiện nhồi máu đến 60% bênh nhân LMN, ngay cả những người không có triệu chứng ¾ bệnh nhân bị nhồi máu ở “vùng lao” “tubercular zone” bao gồm đầu nhân đuôi, nhân xám, đồi thị và bao trong(5) Điều này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi với 30% MRI có nhồi máu thì “vùng lao” chiếm 23% còn 7% ở những vùng khác

(Bảng 3)

Dãn não thất là một trong những biến chứng phổ biến nhất và trầm trọng hơn ở trẻ em (7) Trong nghiên cứu này tỷ lệ là 48% (30/62) Việc dẫn lưu não thất - ổ bụng thường đặt ra cho những ca não úng thủy nặng và ở giai đoạn nặng Ngược lại, những ca nhẹ hơn thường được điều trị nội khoa và corticoid Những biến chứng khi đặt dẫn lưu cần được cân nhắc kỹ như nhiễm trùng và tắc ống dẫn lưu, đặc biệt là ở những nơi có nguồn lực hạn chế Tất cả các bệnh nhân của chúng tôi đều được điều trị với Dexamethasone nhưng vẫn có chín bệnh nhân cần được đặt ống Như vậy, Dexamethasone có thể làm giảm nhưng không thể chữa khỏi dãn não thất

Vào ngày 60 sau điều trị, tăng quang màng não nền sọ và dãn não thất lần lượt giảm đi từ 62% còn 52% (13/35) và 44% còn 29% (10/35) nhưng u lao và nhồi máu não lại tăng lên 17%

đến 26% (9/35) và 30% lên 34% (12/35) (Bảng4)

U lao được xem là một biến chứng ít gặp hơn trong lao màng não và được xem như là phản ứng miễn dịch nghịch thường đối với protein từ vi trùng lao giải phóng ra Trong nghiên cứu này u lao tăng lên từ 17% đến 26 % sau 60 ngày điều trị Có 6 bệnh nhân có U lao mới xuất hiện

Nhồi máu não là một biến chứng quan trọng trong LMN và trong nghiên cứu này cũng giống như các nghiên cứu khác khẳng định những mạch máu tưới máu cho vùng nền

sọ bị tắc nghẽn nhiều nhất(4) Tỷ lệ nhồi máu

Trang 5

trong nghiên cứu này rất có thể sẽ cao hơn vì

những ca rất nặng đã không được chụp MRI

não Tuy nhiên, sau 60 ngày điều trị, tỷ lệ nhồi

máu 34% cao hơn khi chưa điều trị 30%,

chứng minh rằng nhồi máu vẫn tiếp tục xảy ra

trong lúc điều trị (Bảng 4) Phát hiện này phù

hợp với nghiên cứu của Schoeman ở 198 bệnh

nhi trong đó 22% bệnh nhân bị nhồi máu

trong lúc điều trị(8) Tuy nhiên, nhồi máu não

không phải là nguy cơ đưa đến tử vong hay có

di chứng lâu dài (p=0,830 and p=164) (Bảng 5,

6) Tương phản với nghiên cứu của Schoeman,

nguyên nhân chính của di chứng thần kinh là

nhồi máu ở vùng nền sọ trước và trong lúc

điều trị(5)

Lao phổi đi kèm không liên quan đến

nguy cơ tử vong (P=0,110) (Bảng 5) Điều này

tương phản với nghiên cứu ở người lớn, lao

phổi là yếu tố nguy cơ tử vong Vấn đề này có

thể cho thấy khác biệt về bệnh học ở trẻ em

với đáp ứng miễn dịch chưa hoàn chỉnh đưa

đến những bất thường trên phim phổi Tuy

nhiên, phim phổi bất thường có liên quan đến

di chứng thần kinh (P= 0,014] (Bảng 5) Trong

khi, nhồi máu não và dãn não thất không phải

là những yếu tố nguy cơ dẫn đến tử vong

trong nghiên cứu này (P= 0,830, P=0,100) (Bảng

6) nhưng não úng thủy có liên quan đến di

chứng thần kinh (P= 0,0002) còn nhồi máu não

thì không (P= 0,164) (Bảng 6)

Một số hạn chế của nghiên cứu này: không

phải tất cả các trẻ em tham gia vào nghiên cứu

đều được chụp CT/MRI não, một số trẻ em rất

nặng đã không được cho chụp vì không đảm

bảo an toàn trên đường vận chuyển và cuối

cùng không phải tất cả các trẻ em được chụp

CT/MRI đều có chẩn đoán xác định

KẾT LUẬN

X-quang phổi, CT/MRI não giúp hỗ trợ chẩn đoán LMN

CT/MRI giúp tiên lượng và phát hiện biến chứng trong lúc điều trị

Dãn não thất là biến chứng trầm trọng của LMN trẻ em và có liên quan với di chứng thần kinh

Nhồi máu và u lao vẫn có thể xuất hiện sau khi bắt đầu điều tri

Nhồi máu não không luôn luôn đi đôi với di chứng

MRI não nhạy hơn CT khi phát hiện tăng quang màng não nền, u lao và nhồi máu não

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bhargava S, Gupta AK, Tandon PN (1982) Tuberculous

meningitis a CT study Br J Radiol; 55(651):pp.189-96

2 Bullock MR, Welchman JM (1982) Diagnostic and prognostic

features of tuberculous meningitis on CT scanning J Neurol Neurosurg Psychiatry 45(12):1098-101

3 Cherian A, Thomas SV (2011) Central nervous system

tuberculosis Afr Health Sci; 11(1):pp116-27

4 Hsieh FY, Chia LG, Shen WC (1992) Locations of cerebral

infarctions in tuberculous meningitis Neuroradiology;

34(3):pp.197-9

5 Morioka H, Matsumoto S, Kojima E, Takada K, Iwata S, Okachi S (2012) Paradoxical infarct in tuberculous meningitis:

a case report Intern Med; 51(8):pp.949-51

6 Nogueira DL, Fariello G, Lancella L, Marabotto C, Menchini

L, Devito R (2012) Central nervous system tuberculosis in non-HIV-positive children: a single-center, 6 year experience

Radiol Med Nov 17, pp.12

7 Rajshekhar V (2009) Management of hydrocephalus in patients with tuberculous meningitis Neurol India;

57(4):pp.368-74

8 Schoeman JF, Van Zyl LE, Laubscher JA, Donald PR (1995) Serial CT scanning in childhood tuberculous meningitis:

prognostic features in 198 cases J Child Neurol, 10(4):pp.320-9

9 Yaramis A, Bukte Y, Katar S, Ozbek MN (2007) Chest computerized tomography scan findings in 74 children with

tuberculous meningitis in southeastern Turkey Turk J Pediatr

49(4):pp.365-9

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 11/05/2018 Ngày bài báo được đăng: 30/06/2018

Ngày đăng: 16/01/2020, 01:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w