1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Sản nhi Cà Mau

6 147 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 316,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết xác định tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường trong thai kỳ ở các sản phụ đến khám thai tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau và các yếu tố liên quan với bệnh ĐTĐTK.

Trang 1

TỶ LỆ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI CÀ MAU

Huỳnh Ngọc Duyên*, Bùi Chí Thương**

TÓM TẮT

Mở đầu: Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một trong những bệnh lý chuyển hóa đang có khuynh hướng

tăng nhanh tại Việt Nam, chiếm đến 20% tổng số lượt khám thai hàng năm ĐTĐTK có thể làm gia tăng tử suất ở

cả sản phụ và thai nhi Chẩn đoán sớm và quản lý tốt tình trạng đường huyết có thể giúp cải thiện kết cục thai kỳ

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường trong thai kỳ ở các sản phụ đến khám thai tại Bệnh viện

Sản Nhi Cà Mau và các yếu tố liên quan với bệnh ĐTĐTK

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 260 sản phụ đơn thai từ 24 - 28 tuần

đến khám thai tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau trong khoảng thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 3/2018 Tất cả sản phụ có làm xét nghiệm dung nạp 75 gam glucose – 2 giờ theo tiêu chí chẩn đoán của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ năm 2016

Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ ĐTĐTK chiếm 21,2% (KTC 95% [16,2 – 25,8]) Các yếu tố độc lập có liên quan

đến nguy cơ ĐTĐTK: (1) Sản phụ ≥ 35 tuổi, làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐTK với PR = 3,51 (KTC 95% [1,16 – 10,59]; p = 0,026); (2) Tiền căn sinh con to ≥ 4 kg làm tăng nguy cơ ĐTĐTK với PR = 4,64 (KTC 95% [1,27 – 17,01]; p = 0,019); (3) Béo phì trước khi mang thai (BMI ≥ 25, có nguy cơ mắc ĐTĐTK cao, PR = 2,08 (KTC 95% [1,01 – 4,27]; p = 0,047)

Kết luận: ĐTĐTK là bệnh lý có thể chẩn đoán sớm thông qua xét nghiệm tầm soát dung nạp 75 gram

glucose uống, giúp xử trí và can thiệp có hiệu quả, giảm thiểu nguy cơ cho mẹ và thai nhi

Từ khóa: đái tháo đường thai kỳ

ABSTRACT

PREVALENCE OF GESTATIONAL DIABETES MELLITUS AND RELATIONAL FACTORS AT THE

HOSPITAL OF OBSTETRICS AND PEDIATRICS, CA MAU PROVINCE

Huynh Ngoc Duyen, Bui Chi Thuong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 95 - 100

Background: Gestational diabetes mellitus (GDM) is a common metabolic disorder tending more and more

in Vietnam, accounting for 20% of all pregnancies GDM may be associated with increased morbidity and mortality in both mothers and fetus during and after births Early diagnosis and good management will improve pregnancy outcomes

Objective: To determine the prevalence of gestational diabetes mellitus (GDM) at the Hospital of Obstetrics

and Pediatrics in Ca Mau Province and other parameters involved

Subjects and methods: A cross – sectional study, 260 singleton pregnant women in 24 – 28 weeks of

pregnancy are managed, periodically checked up at The Hospital of Obstetrics and Pediatrics in Ca Mau Province, from Oct 2016 to Mar 2017 All have tested 75 grams of glucose intolerance - 2 hours according to diagnostic criteria of the American Diabetes Association, 2016

Results: The prevalence of GDM at the Hospital of Obstetrics and Pediatrics in Ca Mau Province is 21.2%

(CI 95% [16.2 – 25.8]) In our study, independent factors related to risks of GDM were: (1) age ≥ 35 years-old

**Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS Bùi Chí Thương ĐT: 0913124604 Email: buichithuong@yahoo.com

Trang 2

with PR = 3.51 (CI 95% [1.16 – 10.59]; p = 0.026); (2) a history of macrosomic birth ≥ 4 kilograms (PR = 4.64; CI 95% [1.27 – 17.01]; p = 0.019); (3) BMI ≥ 25 before pregnancy (PR = 2.08; CI 95% [1.01 – 4.27]; p = 0.047)

Conclusion: With the help of 75 grams of glucose intolerance test, GDM can be early diagnosed, from which health providers make effective management plans to reduce the risks of mothers and fetus

Keyword: gestational diabetes mellitus (GDM)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) cho đến

nay vẫn là một trong những bệnh lý chuyển hóa

đang được quan tâm hàng đầu Bệnh đang có

khuynh hướng tăng nhanh trên toàn thế giới

Đến năm 2012, người Việt Nam là một trong

những đối tượng có nguy cơ cao mắc ĐTĐTK

với số bệnh nhân ĐTĐTK đã gia tăng đến 20%

tổng số lượt khám thai hàng năm(3,4) ĐTĐTK có

thể liên quan đến nhiều rối loạn chuyển hóa

cũng như bệnh lý, kèm theo làm gia tăng tử suất

ở cả sản phụ và thai nhi

Hầu hết ĐTĐTK không có triệu chứng, có

thể được chẩn đoán bằng nghiệm pháp dung

nạp glucose Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu

được chẩn đoán sớm và quản lý tốt tình trạng

đường huyết có thể giúp sản phụ cải thiện được

kết cục thai kỳ(5)

Tuy nhiên tại Việt Nam việc sàng lọc

ĐTĐTK hiện nay chưa được tiến hành thường

quy ở các vùng miền khác nhau trong nước vì

điều kiện kinh tế Cà Mau trong những năm gần

đây kinh tế đang trên đà phát triển, nhu cầu y tế

cũng ngày một tăng Tuy nhiên đến nay vẫn

chưa có nghiên cứu cụ thể nào cho biết tỷ lệ của

bệnh ĐTĐTK, cũng như các yếu tố nguy cơ có

liên quan đến bệnh lý này ở vùng Cà Mau

Chính vì thế, chúng tôi mong muốn thực hiện đề

tài tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau với mục tiêu

sau: Xác định tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường

trong thai kỳ ở các sản phụ đến khám thai tại

Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau, đồng thời tìm hiểu

một số yếu tố có thể liên quan với bệnh ĐTĐTK

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng được chọn vào nghiên cứu là các

thai phụ có tuổi thai từ 24 – 28 tuần, khám thai

tại BV Sản Nhi Cà Mau trong thời gian từ tháng

10/2017 đến tháng 3/2018, hội đủ các tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chuẩn nhận vào

Sản phụ đến khám định kì tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau, có đủ các yếu tố sau đây:

Đơn thai

Có siêu âm tính tuổi thai ở khoa từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày hoặc nhớ ngày kinh chót (kinh nguyệt đều)

Đồng ý làm nghiệm pháp dung nạp 75 gram glucose ở phòng xét nghiệm của khoa trong khoảng thời gian từ 24 đến 28 tuần

Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân đã được chẩn đoán và đang theo dõi điều trị đái tháo đường trước khi mang thai lần này hoặc được chẩn đoán bị đái tháo đường trước 20 tuần thai kỳ

Sản phụ mắc các bệnh lý ác tính, bệnh lý nội khoa nặng, bệnh lý tim mạch

Thai bị dị tật bẩm sinh

Không đồng ý tham gia nghiên cứu

Từ chối trả lời bảng câu hỏi hoặc không có khả năng hoàn tất bảng thu thập thông tin Sản phụ đang sử dụng các loại thuốc như corticoid, lợi tiểu thiazide, phenytoin, acid nicotinic,…

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang

Cỡ mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu chúng tôi tiến hành với cỡ mẫu theo công thức:

2

1 / 2 2

n

d

  

Z: Lấy giá trị từ phân phối chuẩn,

Trang 3

α: 0,05 Z 1-α/2 = Z 0,975 = 1,96

p: Tỷ lệ lưu hành bệnh ĐTĐTK ở người Việt Nam theo

nghiên cứu của Trương Thị Quỳnh Hoa năm 2016 là p =

20,9% = 0,209 p = 0,19 q = 1 - p = 1 – 0,209 = 0,791

d: sai số cho phép, được sử dụng trong nghiên cứu = 0,05

Tính ra được cỡ mẫu tối thiểu cần trong nghiên cứu n = 260

Các thai phụ tham gia nghiên cứu được

làm nghiệm pháp dung nạp 75gr glucose vào

tuần thứ 24 – 28 thai kỳ theo tiêu chuẩn của

Hội ĐTĐ Hoa Kỳ năm 2016 chẩn đoán ĐTĐTK

qua nghiệm pháp dung nạp 75 gram glucose

khi có ít nhất một giá trị đường huyết vượt

ngưỡng sau đây:

Đường huyết đói ≥ 92 mg/dl (5,1 mmol/l)

Đường huyết sau ăn 1 giờ ≥ 180 mg/dl

(10,0mmol/l)

Đường huyết sau ăn 2 giờ ≥ 153 mg/dl

(8,5mmol/l)

Thu thập số liệu

Từ tháng 10/2017 đến tháng 3/2018, chúng

tôi chọn mẫu toàn bộ các sản phụ thai từ 24 – 28

tuần đến khám thai vào buổi sáng tại Bệnh viện

từ thứ hai đến thứ sáu, thỏa tiêu chuẩn chọn

mẫu Chúng tôi thu thập kết quả xét nghiệm và

tư vấn kết quả cho sản phụ, đồng thời tư vấn chế

độ ăn uống, sinh hoạt, theo dõi cho những sản

phụ bị ĐTĐTK, đồng thời tiến hành phỏng vấn

theo bảng câu hỏi soạn sẵn

Nghiên cứu viên: xây dựng bảng câu hỏi thu

thập số liệu dựa vào tổng quan y văn thích hợp

cho nghiên cứu trực tiếp chọn lựa đối tượng đưa

vào nghiên cứu, phỏng vấn bảng câu hỏi, kiểm

tra lại các thông tin thu thập được, phân tích số

liệu, diễn giải các số liệu và viết báo cáo

Các số liệu được mã hoá, nhập vào máy tính

và quản lý bằng phần mềm SPSS 20.0 Các phép

thống kê và kiểm định được sử dụng: Kiểm định

Chi bình phương, phân tích hồi quy đa biến số

để khống chế yếu tố gây nhiễu Giá trị p được

coi có ý nghĩa khi p < 0,05

KẾT QUẢ

Từ 9/2017 đến tháng 3/2018 tại phòng khám

thai khoa khám Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau,

chúng tôi thu thập được 260 sản phụ tham gia nghiên cứu

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Trong 260 trường hợp nhận vào mẫu nghiên cứu, tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 28,6 ± 6,2, nhỏ nhất là 18 tuổi, lớn tuổi nhất là 44 tuổi Đa số sản phụ trong độ tuổi sinh đẻ 25 – 34 tuổi (51%), 100% là người dân tộc Kinh, cư trú ở nông thôn gần như tương đương thành thị, có trình độ trung học cơ sở trở lên (88,5%), chủ yếu làm công việc nội trợ

và làm ruộng nuôi tôm (60%)

Có 126 thai phụ có hút thuốc lá thụ động (gián tiếp), chiếm tỷ lệ 48,5%, ngoài ra không có trường hợp nào hút thuốc lá trực tiếp, có tiền căn bệnh tim mạch, uống rượu và dùng thuốc Corticoids kéo dài

Bảng 1 Tiền căn gia đình, tiền căn sản phụ khoa liên

quan ĐTĐTK

(n=260) Tỷ lệ (%)

Tiền căn sẩy thai Tiền căn thai lưu ≥ 20 tuần Tiền căn sinh non Tiền căn sinh con to ≥ 4 kg Tiền căn sinh con dị tật Tiền căn bị ĐTĐTK trước Tiền căn bị tăng huyết áp thai kỳ Tiền căn gia đình ĐTĐ

72

7

8

13

0

0

10

34

27,7 2,7 3,1 5,0

0

0 3,8 13,1 Chúng tôi ghi nhận có 55 sản phụ bị ĐTĐTK, chiếm tỷ lệ đáng kể với 21,2% Sản phụ ĐTĐTK được chẩn đoán chủ yếu dựa vào xét nghiệm đường huyết sau 2 giờ uống 75gr đường (13,5%), còn lại là mẫu máu kiểm tra đường sau 1 giờ uống 75gr đường (8,5%) và đường huyết lúc đói (8,1%) Mẫu nghiên cứu của chúng tôi thu thập

có sự phân bố tương đối đồng đều ở các tuổi thai

24, 25, 26, 27, 28 tuần (Bảng 1)

Tiền căn gia đình bị đái tháo đường làm tăng nguy cơ ĐTĐTK ở sản phụ với PR = 3,16 (KTC

95% [1,47 - 6,77]; p < 0,05) (Bảng 2)

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 25 – 34 và sản phụ ≥ 35 tuổi còn có nguy cơ mắc ĐTĐTK cao hơn sản phụ dưới 25 tuổi với PR lần lượt là 2,11

Trang 4

(KTC 95% [1,03 - 4,28]) và 5,01 (KTC 95% [1,97 -

12,75]), p < 0,05

Béo phì với BMI ≥ 25 tăng nguy cơ mắc

bệnh ĐTĐTK với PR = 2,76 (KTC 95% [1,49 -

5,09]; p<0,05)

Bảng 2 Liên quan giữa ĐTĐTK và một số yếu tố

liên quan

Nhóm tuổi 25 - 34 2,11 1,03 - 4,28 0,041

≥ 35 5,01 1,97 - 12,75 0,001 Tiền căn sinh non

Tiền căn gia đình ĐTĐ

Con rạ

Sẩy thai

Thai lưu

Sinh con to ≥ 4 kg

Tiền căn tăng huyết áp

trong thai kỳ

Béo phì

1,25 3,16 1,88 2,29 3,18 4,84 4,01 2,76

0,25 – 6,38 1,47 – 6,77 1,01 – 3,52 1,22 – 4,27 1,13 – 8,96 1,55 – 15,05 1,11 – 14,35 1,49 – 5,09

0,787 0,003 0,048 0,009 0,029 0,006 0,033 0,001

Bảng 3 Phân tích hồi quy logistic đa biến

Nhóm tuổi 25 - 34 1,45 0,63 - 3,33 0,379

≥ 35 3,51 1,16 - 10,59 0,026 Tiền căn gia đình ĐTĐ

Con rạ

Sẩy thai

Thai lưu

Sinh con to ≥ 4 kg

Tiền căn tăng huyết áp

trong thai kỳ

Béo phì

1,61 1,53 1,53 2,68 4,64 1,65 2,08

0,67 - 3,88 0,68 - 3,43 0,68 - 3,43 0,85 - 8,47 1,27 - 17,01 0,39 - 6,99 1,01 - 4,27

0,291 0,301 0,239 0,094 0,019 0,501 0,047 Các yếu tố tiền căn sản khoa có liên quan

ĐTĐTK bao gồm: con rạ (PR = 1,88; KTC 95%

[1,01 - 3,52]; p < 0,05), sảy thai (PR = 2,29; KTC

95% [1,22 - 4,27]; p < 0,05), thai lưu (PR = 3,18;

KTC 95% [1,13 - 8,96]; p < 0,05), con to ≥ 4kg (PR

= 4,84; KTC 95% [1,55 - 15,05]; p < 0,05), tăng

huyết áp thai kỳ/tiền sản giật/sản giật (PR = 4,01;

KTC 95% [1,11 - 14,35]; p < 0,05) (Bảng 3)

BÀN LUẬN

Tỷ lệ ĐTĐTK

Các nghiên cứu trước năm 2011 cho của các

tác giả nói trên đều sử dụng tiêu chuẩn chẩn

đoán cũ: xét nghiệm dương tính khi có 2 chỉ số

dương tính, ngưỡng chẩn đoán theo tiêu chuẩn

cũ của ADA 2010 từ đó cho kết quả xác định tỷ

lệ ĐTĐTK của tác giả Tạ Văn Bình (2004; 5,7%)(Error! Reference source not found.), Dương Mộng Thu Hà (2007; 4,6%)(2), Tô Thị Minh Nguyệt (2008; 10,7%)(Error! Reference source not found.) đều tương đối thấp Trong nghiên cứu của chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán mới của ADA từ năm 2012 trở đi, chỉ cần một giá trị ≥ tiêu chuẩn là đã chẩn đoán ĐTĐTK, đồng thời ngưỡng chẩn đoán cũng được giảm xuống (đường huyết đói là 5,1 mmol/L, sau 1 giờ là 10,0 mmol/L, sau 2 giờ là 8,6 mmol/L) Tỷ lệ chung ĐTĐTK trong nghiên cứu của chúng tôi là 21,2%, tương đồng với các nghiên cứu dùng chung tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK: Lại Thị Ngọc Điệp (năm 2013; 20,5%)(6), Trương Thị Quỳnh Hoa (2015; 20,9%)(13), Jane Hirst và Trần Sơn Thạch (2012; 20,3%)(4)

Các yếu tố liên quan đến ĐTĐTK

Qua phân tích đơn biến, chúng tôi nhận thấy phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 25 – 34 có nguy cơ

bị ĐTĐTK tăng gấp 2,11 lần so với phụ nữ < 25 tuổi (KTC 95% [1,09 – 4,07]; p = 0,041), tuy nhiên liên quan này không còn khi phân tích hồi quy

đa biến Đối với phụ nữ ≥ 35 tuổi thì nguy cơ ĐTĐTK tăng lên gấp 5,01 lần (KTC 95% [1,97 - 12,75]; p = 0,001), sau khi phân tích hồi quy đa biến, khuynh hướng liên quan này không thay đổi với PR*= 3,51 (KTC 95% [1,16 – 10,59], p = 0,026) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương

tự như kết quả nghiên cứu của Xiong (2001)(16), Lao (2008)(7) và Tô Thị Minh Nguyệt (2008)(12) Hiện nay, xu hướng mang thai của người Việt Nam ngày càng lớn tuổi, nên chúng tôi cũng khuyến cáo tránh bỏ sót sàng lọc ĐTĐTK cho các sản phụ ≥ 25 tuổi

Khi chúng tôi so sánh tỷ lệ sản phụ bệnh và không bệnh ĐTĐTK ở các nhóm BMI khác nhau, sản phụ bị béo phì có nguy cơ ĐTĐTK tăng 2,76 lần (KTC 95% [1,49 – 5,09], p = 0,001), kết quả này giữ nguyên sau phân tích hồi quy đa biến (PR* = 2,08 (KTC 95% [1,01 – 4.27], p = 0,047) So sánh với các nghiên cứu khác, tuy sử dụng thang phân độ BMI khác nhau, kết quả phân tích từ nghiên cứu của chúng tôi cũng giống hầu hết y

Trang 5

văn trên thế giới: nguy cơ ĐTĐTK tăng lên khi

BMI của người mẹ trước khi mang thai béo phì:

Surabhi Nanda (2011) cho biết nguy cơ này là

24,2 lần (KTC 95% [21,8 – 27,8], p < 0,05)(9),

Beneventi (2012) báo cáo PR là 23,2 (KTC 95%

[20,2 – 24,6], p < 0,001)(1)

Kết quả phân tích đơn biến từ nghiên cứu

của chúng tôi tuy rằng tìm thấy mối liên quan

giữa ĐTĐTK và yếu tố tiền căn sinh con to với

PR = 4,84 (KTC 95% [1,55 – 15,05], p = 0,006) và

vẫn giữ nguyên giá trị ý nghĩa thống kê khi đưa

vào phương trình hồi quy: PR* = 4,64 (KTC 95%

[1,27 – 17,01], p = 0,019) Kết quả phân tích này

tương tự với nghiên cứu của Lê Thị Minh Phú(8)

Tuy nhiên, theo báo cáo của tác giả Wan năm

2011 lại không tìm được mối liên quan giữa tiền

căn sinh con to và bệnh ĐTĐTK (p = 0,24)(15) Một

số tác giả trong nước cũng không cho biết có mối

liên quan về mặt thống kê giữa sinh con to ≥

4000g và ĐTĐTK, như của Tô Thị Minh Nguyệt,

Jane Hirst, Phạm Thị Minh Trang, Võ Thị Ánh

Nhàn, Trương Thị Quỳnh Hoa(4,10,12,13,14)

Các yếu tố cho thấy mối liên quan khi phân

tích hồi quy đơn biến: Tiền căn gia đình ĐTĐ

(PR = 3,16; KTC 95% [1,47 – 6,77]; p = 0,003),

con rạ (PR = 1,88; KTC 95% [1,01 – 3,52]; p =

0,048), tiền căn sẩy thai (PR = 2,29; KTC 95%

[1,22 – 4,27]; p = 0,009), thai lưu (PR = 3,18;

KTC 95% [1,13 – 8,96]; p = 0,029), tiền căn tăng

huyết áp trong thai kỳ (PR = 4,01; KTC 95%

[1,11 – 14,35]; p = 0,033) Tuy nhiên trong

nghiên cứu của chúng tôi những yếu tố này

không phải là những yếu tố nguy cơ độc lập

của ĐTĐTK, phân tích hồi quy đa biến không

cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê,

p>0,005

Cho đến thời điểm này chưa có tài liệu y văn

nào tại Việt Nam khuyến cáo thai nhi cân nặng

bao nhiêu được gọi là sinh con to, trong khi

người Việt Nam có vóc dáng nhỏ hơn của người

Âu Mỹ, tỷ lệ sinh con trên 4000 gram không

nhiều, do vậy khó đánh giá về mối liên quan

giữa bệnh ĐTĐTK và tiền căn sinh con to, cần

thêm nhiều tài liệu chứng cứ để thống nhất về vấn đề này

KẾT LUẬN

Tỷ lệ ĐTĐTK của sản phụ đến khám thai tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau là 21,2% (KTC 95% [16,2 – 25,8])

Tiền căn gia đình ĐTĐ, thai lưu, tiền căn tăng huyết áp trong thai kỳ không phải là yếu tố liên quan ĐTĐTK Các yếu tố độc lập có liên quan đến nguy cơ ĐTĐTK trong mẫu nghiên cứu ghi nhận là sản phụ ≥ 35 tuổi (PR* = 3,51; KTC 95% [1,16 – 10,59]; p = 0,026), tiền căn sinh con to ≥ 4 kg (PR* = 4,64; KTC 95% [1,27 – 17,01];

p = 0,019), béo phì trước mang thai (BMI ≥ 25) (PR* = 2,08; KTC 95% [1,01 – 4,27], p = 0,047)

KIẾN NGHỊ

ĐTĐTK là bệnh lý có thể chẩn đoán sớm thông qua xét nghiệm tầm soát dung nạp 75 gram glucose uống

Cần xác định các yếu tố liên quan đến bệnh

lý ĐTĐTK ngay từ lần khám thai đầu tiên, đặc biệt chú ý đến các yếu tố: sản phụ ≥ 35 tuổi, sinh con to ≥ 4000 gr, BMI ≥ 25, giúp định hướng làm xét nghiệm tầm soát ĐTĐTK sớm, phối hợp với bác sĩ chuyên khoa nội tiết để quản lý thai kỳ tốt hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Beneventi F, Lovati E, Simonetta, M, Laneri, M, Quarleri L,

Scudeller L et al (2013) "Gestational diabetes mellitus: Including serum pregnancy-associated plasma protein-A testing in the clinical management of primiparous women? A case-control

study" Diabetes Res Clin Pract, 100(3):340-7

2 Dương Mộng Thu Hà (2007) "Khảo sát tỉ lệ đái tháo đường

trong thai kỳ trên thai phụ 24- 28 tuần tại Bệnh viện Nguyễn Tri

Phương" Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Dược TPHCM

3 Ferrara A (2007), "Increasing prevalence of gestational diabetes

mellitus: a public health perspective" Diabetes Care, 30 Suppl 2,

S141-146

4 Hirst J, Tran ST, Do TMA, Morris JM, Jeffery HE (2012)

"Consequences of Gestational Diabetes in an Urban Hospital in

Viet Nam: A Prospective Cohort Study" PLos Med,

doi:1001210.1001371

5 Horvath K, Koch K, Jeitler K, Matyas E, Bender R, Bastian H et

al (2010) "Effects of treatment in women with gestational

diabetes mellitus: systematic review and meta-analysis" BMJ,

340: c1395

6 Lại Thị Ngọc Điệp (2014) "Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các

yếu tố liên quan trên thai phụ 24 - 28 tuần tại huyện Châu

Trang 6

Thành, tỉnh Kiên Giang" Luận án chuyên khoa cấp 2, Đại học Y

Dược TPHCM

7 Lao T, Chan P, Tam K (2001) "Gestational diabetes mellitus in

the last trimester - a feature of maternal iron excess?" Diabet

Med, 18(3): 218-223

8 Lê Thị Minh Phú (2014) "Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các

yếu tố liên quan tại khoa sản Bệnh viện Nguyễn Tri Phương"

Luận án chuyên khoa cấp 2, Đại học Y Dược TPHCM

9 Nanda S, Savvidou, M, Syngelaki, A, Akolekar R, Nicolaides

KH (2011) "Prediction of gestational diabetes mellitus by

maternal factors and biomarkers at 11 to 13 weeks" Prenat

Diagn, 31(2): 135-141

10 Phạm Thị Minh Trang (2012) "Khảo sát các yếu tố nguy cơ ở

thai phụ đái tháo đường thai kỳ tại Bệnh viện Hùng Vương"

Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Dược TPHCM

11 Tạ Văn Bình, Nguyễn Đức Vy, Phạm Thị Loan (2004) "Tìm hiểu

tỉ lệ đái tháo đường thai kỳ và một số yếu tố liên quan ở thai

phụ quản lý thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản trung ương và Bệnh

viện phụ sản Hà Nội" Bệnh viện nội tiết Trung Ương - Hà Nội

12 Teh WT, Teede HJ, Paul E et al (2011) "Risk factors for

gestational diabetes mellitus: implications for the application of

screening guidelines" Aust N Z J Obstet Gynaecol, 51(1): 26-30

13 Tô Thị Minh Nguyệt (2008) "Đái tháo đường trong thai kì và

các yếu tố liên quan ở những phụ nữ nguy cơ cao tại Bệnh viện

Từ Dũ" Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Dược TPHCM

14 Trương Thị Quỳnh Hoa (2016) "Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và

các yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định" Luận

án chuyên khoa cấp 2, Đại học Y Dược TPHCM

15 Võ Thị Ánh Nhàn (2016) "Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các

yếu tố liên quan tại Bệnh viện An Bình" Luận văn thạc sĩ y học,

Đại học Y Dược TPHCM

16 Xiong X, Saunders LD, Wang FL, Demianczuk NN (2001)

"Gestational diabetes mellitus: prevalence, risk factors, maternal

and infant outcomes" Int J Gynaecol Obstet, 75(3): 221-228

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 08/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 16/01/2020, 01:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w