1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của một số nguyên nhân gây suy hô hấp thường gặp ở trẻ sơ sinh

7 103 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 322,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của suy hô hấp do một số nguyên nhân thường gặp ở giai đoạn sơ sinh sớm. Đa số trẻ sơ sinh xuất hiện suy hô hấp ngay sau sinh. Ba nguyên nhân thường gặp là cơn khó thở nhanh thoáng qua, nhiễm khuẩn sơ sinh sớm và bệnh màng trong.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

CỦA MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN GÂY SUY HÔ HẤP THƯỜNG GẶP

Ở TRẺ SƠ SINH

Nguyễn Thị Thanh Bình * , Nguyễn Thị Cẩm Ly * , Hoàng Thị Thanh Xuân * , Đinh Thị Hải Phương * ,

Phạm Thị Thúy * , Ngô Thị Thùy Yên *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của suy hô hấp do một số nguyên nhân thường gặp ở giai

đoạn sơ sinh sớm

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang Chọn mẫu thuận tiện gồm 78 trẻ sơ sinh dưới

7 ngày tuổi được chẩn đoán suy hô hấp do một trong ba nguyên nhân sau: cơn khó thở nhanh thoáng qua, nhiễm khuẩn sơ sinh sớm, bệnh màng trong tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 5/2017 đến tháng 4/2018

Kết quả: Suy hô hấp do cơn khó thở nhanh thoáng qua chiếm 55,1%, nhiễm trùng sơ sinh sớm 30,8% và

bệnh màng trong 14,1% Tỷ lệ nam/nữ 2,5/1, tuổi thai trung bình là 36,81± 3,28 tuần 100% trẻ suy hô hấp do bệnh màng trong là trẻ đẻ non, cân nặng <2500 g, suy hô hấp kéo dài trên 72 giờ, 54,5% có cơn ngưng thở và 100% không tăng CRP, khác biệt với hai nguyên nhân còn lại 95,3% trẻ thở nhanh thoáng qua có suy hô hấp mức độ nhẹ và trung bình; 87,5% trẻ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm có suy hô hấp mức độ trung bình và nặng nhưng

có tới 54,5% trẻ bị bệnh màng trong có suy hô hấp mức độ rất nặng

Kết luận: Đa số trẻ sơ sinh xuất hiện suy hô hấp ngay sau sinh Ba nguyên nhân thường gặp là cơn khó thở

nhanh thoáng qua, nhiễm khuẩn sơ sinh sớm và bệnh màng trong

Từ khóa: sơ sinh, suy hô hấp, bệnh màng trong, cơn khó thở nhanh thoáng qua

ABSTRACT

CHARACTERISTICS OF NEONATAL RESPIRATORY DISTRESS IN SOME COMMON CAUSES

Nguyen Thi Thanh Binh, Nguyen Thi Cam Ly, Hoang Thi Thanh Xuan, Dinh Thi Hai Phuong,

Pham Thi Thuy, Ngo Thi Thuy Yen

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 4 - 2019: 208 - 215

Objective: Epidemiological clinical, paraclinical findings of neonatal respiratory distress in some common causes

Methods: A descriptive study A convenient sample of 78 infants occur respiratory distress under 7 days old

caused by transient tachypenea of the newborn, early-onset infection or respiratory distress syndrome at Hue University Hospital, Hue, Viet Nam from 5/2017-4/2018

Results: Three common causes are transient tachycardia in the newborn 55.1%, early-onset neonatal

infection 30.8% and respiratory distress syndrome 14,1% Male/ female 2.5/1, gestational age 36.81 ± 3.28 weeks In particular, 100% of respiratory distress syndrome cases are preterm, birth weight < 2500gram, respiratory failure lasting more than 72 hours, 54.5% apnea and 100% normal CRP

Conclusion: Neonatal respiratory distress usually occur immediately after birth Three common causes are

transient tachypnea in the newborn, early-onset infection and respiratory distress syndrome

Key words: neonatal, respiratory distress syndrome, transient tachypenea

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

công bố năm 2016, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh chiếm

tới 46% trong tỷ lệ tử vong chung của trẻ dưới 5 tuổi Trong đó, 75% tử vong xảy ra trong tuần đầu sau sinh

và khoảng một triệu trẻ sơ sinh tử vong ngay trong 24

*Trường Đại Học Y Dược Huế

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Thị Thanh Bình ĐT: 0977196820 Email:nguyenbinh292@gmail.com

Trang 2

giờ đầu Nguyên nhân hàng đầu của tử vong sơ sinh là

suy hô hấp (SHH), chiếm đến 70-80% (WHO 2016,

suy hô hấp cũng là lý do thường gặp của các trường

hợp nhập viện trong giai đoạn sơ sinh

Sau khi ra đời, trẻ cần nhanh chóng thích nghi với

cuộc sống bên ngoài tử cung.Với sự chuyển tiếp trao

đổi khí qua rau thai sang hô hấp bằng phổi đòi hỏi trẻ

phải tạo được nhịp thở đầu tiên và thay đổi hoạt động

của phổi để duy trì hô hấp Cùng với nhịp thở đầu

tiên, phổi muốn duy trì hoạt động phải có sự thay đổi

của tuần hoàn bào thai để đảm bảo lượng máu qua

phổi Bên cạnh đó sự thích nghi của hệ thần kinh

trung ương cũng rất cần thiết để duy trì động tác thở

và điều hòa nhịp thở

Suy hô hấp xảy ra khi hệ hô hấp không đảm bảo

nhu cầu oxy và carbonic của cơ thể, hậu quả là giảm

áp lực riêng phần của khí oxy trong máu động mạch

(PaO2< 60mmHg) và tăng áp lực riêng phần của khí

carbonic (PaCO2≥ 50 mmHg) Trẻ sơ sinh càng non

tháng, nguy cơ bị suy hô hấp càng cao.Sơ sinh đẻ non

dưới 29 tuần có nguy cơ biểu hiện hội chứng suy hô

hấp lên đến 60%, nhưng trẻ sinh ra đủ tháng ít khi

xuất hiện tình trạng này Hệ miễn dịch ở trẻ sơ sinh

còn non yếu, giải phẫu và sinh lý của bộ máy hô hấp

chưa được hoàn chỉnh, suy hô hấp ở trẻ sơ sinh có thể

tiến triển xấu trong thời gian ngắn gây tử vong hoặc

để lại những di chứng về sau như bệnh phổi mạn tính,

loạn sản phổi, bệnh lý võng mạc ở trẻ đẻ non

Có 80% trường hợp suy hô hấp sơ sinh là do bệnh

màng trong, cơn thở nhanh thoáng qua, hội chứng hít

phân su và viêm phổi sơ sinh; các nguyên nhân khác

chiếm khoảng 20% như bệnh tim bẩm sinh, các dị tật

bẩm sinh, rối loạn chuyển hóa Do đó các triệu chứng

của trẻ sơ sinh có suy hô hấp cũng rất khác nhau

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của suy

hô hấp sơ sinh do ba nguyên nhân thường gặp là cơn

khó thở nhanh thoáng qua, nhiễm khuẩn sơ sinh sóm

và bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Gồm 78 trẻ sơ sinh dưới 7 ngày tuổi có suy hô

hấp được sinh ra tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế

từ tháng 05/2017 đến 04/2018

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Trẻ sơ sinh dưới 7 ngày tuổi

Được chẩn đoán suy hô hấp khi có ít nhất một trong các triệu chứng sau: thở nhanh ≥ 60 lần/phút hoặc thở chậm < 30 lần/phút, cơn ngưng thở bệnh lý, thở rên, rút lõm lồng ngực, các dấu co kéo, tím da niêm mạc

Được chẩn đoán suy hô hấp do một trong ba nguyên nhân sau: Cơn khó thở nhanh thoáng qua, nhiễm trùng sơ sinh sớm (NTSSS) hay bệnh màng trong

Người nhà đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Trẻ có nhiều nguyên nhân phối hợp gây suy hô hấp

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu

Tất cả trẻ sơ sinh có suy hô hấp trong vòng 7 ngày đầu sau sinh

Các bước thực hiện

Ghi nhận tiền sử , bệnh sử mẹ và bệnh sử của tất cả trẻ sơ sinh có suy hô hấp giai đoạn sơ sinh sớm gồm có 105 trẻ Trong đó 78 trẻ có suy hô hấp được chẩn đoán do một trong ba nguyên nhân trên

sẽ đưa vào nghiên cứu Các trẻ suy hô hấp do nguyên nhân khác hoặc có nhiều bệnh phối hợp gây suy hô hấp sẽ loại khỏi nghiên cứu

Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý và phân tích số liệu Các biến số được trình bày bằng tần suất

và tỷ lệ phần trăm Kiểm định sự khác biệt giữa các tỷ

lệ bằng phép kiểm Chi-square (χ2.), với p≤0,05 thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Trong trường hợp có nhiều hơn 20% số ô trong bảng chéo có tần suất mong đợi nhỏ hơn 5 sẽ được hiệu chỉnh bằng Fisher’s exact test thay cho test χ2

KẾT QUẢ Đặc tính của mẫu nghiên cứu

Trong 78 trẻ của nhóm nghiên cứu có 56 trẻ nam (71,8%) và 22 trẻ nữ (28,2%) Tỷ lệ nam/nữ là 2,5/1

Bảng 1 Phân loại sơ sinh theo tuổi thai

Tuổi thai <32

tuần

32-<34 tuần

34-<37 tuần

37-<42

Trẻ sơ sinh đủ tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (62,8%)

(Bảng 1)

Trang 3

Bảng 2 Phân bố bệnh theo nhóm nguyên nhân suy hô

hấp

Nguyên

nhân

Cơn khó thở

nhanh thoáng

qua

Nhiễm trùng

sơ sinh sớm

Bệnh màng trong Tổng

Liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ của suy hô

hấp với nguyên nhân

Có 100% trẻ bị bệnh màng trong là trẻ đẻ non với

72,7% là trẻ dưới 32 tuần Trong khi đó cơn thở

nhanh thoáng qua và NTSSS lại gặp chủ yếu ở trẻ đủ

tháng (74,4% và 70,8%) Sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p<0,05 Có 100% trẻ bị bệnh màng trong

là trẻ có cân nặng < 2500 gram với 63,6% là trẻ <

1500 gram Trong khi cơn thở nhanh thoáng qua và

NTSSS lại gặp đa số ở trẻ > 1500 gram (p<0,05)

Không có sự khác biệt về yếu tố nguy cơ (cách sinh,

ối vỡ từ trên 18 giờ hay mẹ sốt trước, trong hoặc sau

sinh) giữa ba nguyên nhân gây suy hô hấp (Bảng 3)

Liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với bệnh nguyên của suy hô hấp

Không có sự khác biệt về thời điểm xuất hiện suy

hô hấp và các triệu chứng suy hô hấp ở 3 nhóm nguyên nhân Nhưng có sự khác biệt về thời gian kéo dài suy hô hấp và tỷ lệ cơn ngưng thở bệnh lý giữa 3

nhóm (p<0,05) (Bảng 4)

Liên quan giữa mức độ suy hô hấp với bệnh nguyên của suy hô hấp

Có 95,3% trẻ thở nhanh thoáng qua có SHH mức

độ nhẹ và trung bình, 87,5% trẻ NTSSS có SHH mức

độ trung bình và nặng nhưng có tới 54,5% trẻ bị bệnh màng trong có SHH mức độ rất nặng Sự khác biệt

này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) (Bảng 5)

Liên quan giữa kết quả cận lâm sàng với bệnh nguyên của suy hô hấp

Không có sự khác biệt về biến đổi số lượng bạch cầu giữa các nguyên nhân Tuy nhiên, CRP chỉ tăng trong trường hợp nhiễm khuẩn sơ sinh sớm (p<0,05)

và 45,5% trẻ bị bệnh màng trong có hạ glucose máu

với p<0,05 (Bảng 6)

Bảng 3 Liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ của suy hô hấp với bệnh nguyên

Bệnh nguyên

Yếu tố nguy cơ

p

Tuổi thai (tuần)

p<0,05

Cân nặng lúc sinh

(gram)

p<0,05

Bảng 4 Liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với bệnh nguyên

Bệnh nguyên

Đặc điểm lâm sàng

p

Thời điểm xuất

hiện SHH

p>0,05

Thời gian kéo dài

SHH

p<0,05

Tần số thở

(lần/phút)

p>0,05

Trang 4

Co kéo gian sườn 21 48,8 13 54,2 8 72,7 p>0,05

Bảng 5 Liên quan giữa mức độ suy hô hấp với bệnh nguyên

Bệnh nguyên

Mức độ SHH

p

p<0,05

Bảng 6 Liên quan giữa kết quả cận lâm sàng với bệnh nguyên

Bệnh nguyên

Đặc điểm cận lâm sàng

Số lượng bạch cầu

p>0,05

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ trả nam bị

suy hô hấp nhiều hơn trẻ nữ Tỷ lệ nam/nữ là 2,5/1

Tỷ lệ này cũng tương tự với một số nghiên cứu

khác.Nghiên cứu của Nguyễn Thành Út (2002) trên

72 ca sơ sinh SHH, tỷ lệ nam/nữ=2,3/1 (trong đó có 3

ca trẻ > 7 ngày tuổi nhưng vì số lượng quá nhỏ nên

không ảnh hưởng đến kết quả) nghiên cứu cũng chỉ ra

sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê(9)

Một số nghiên cứu khác có tỷ lệ nam/nữ thấp hơn

nghiên cứu của chúng tôi Nguyễn Thị Minh Châu

(2010) với tỷ lệ nam/nữ = 1,2/1(11), Sabzehei MKvà

cộng sự (2017) tỷ lệ nam/nữ = 2,1/1 Nghiên cứu của

Barkiya SM (2016) cho thấy tỷ lệ nam/nữ =1,9/1(1),

Zaazou MH (2011) nam/nữ = 1,4/1(14) Nghiên cứu

của Swarnkar K và Swarnkar M (2015) đã cho thấy

giới nam là một trong những yếu tố nguy cơ của SHH

ở trẻ sơ sinh(13)

Tỷ lệ về giới tính của tử vong sơ sinh trong tuần

đầu tiên ở trẻ từ 24 đến 32 tuần tại Thụy Điển

(1999-2000) lớn hơn ở nam giới (6,25%) so với nữ giới

(3,68%) Các tác giả cho rằng sự trưởng thành phổi

chậm hơn trong các bào thai nam là một yếu tố góp

phần quan trọng trong sự khác biệt về giới của tử

vong sơ sinh và việc tiến triển thành bệnh màng trong

sau sinh Việc tiết ra catecholamin trong suốt thời kỳ

bào thai là cơ chế bảo vệ quan trọng đối với việc giảm oxy máu Những trẻ gái sinh non có nồng độ catecholamine cao hơn đáng kể so với trẻ nam, điều này có thể giải thích phần nào tiên lượng tốt hơn ở trẻ

gái sau một tình trạng giảm oxy máu

Tuổi thai: Tuổi thai trung bình trong nghiên cứu này là 36,81 ± 3,28 tuần , trong đó thấp nhất là 27 tuần và cao nhất là 40 tuần Kết quả này cũng tương

tự như nghiên cứu của Tochie J (2016) là 37 ± 3,9 tuần(6) Nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Châu (2010) là 35 ± 4 tuần(11), nghiên cứu của Zaazou MH (2011) là 35,1 tuần trong đó thấp nhất là 25 tuần, cao nhất là 42 tuần(14)

Trong nghiên cứu này, trẻ đủ tháng (37-<42 tuần) chiếm tỷ lệ cao nhất (62,8%) Kết quả này không giống với một vài nghiên cứu khác Nghiên cứu của Santosh S và cộng sự (2013) với tỷ lệ trẻ non tháng là 61%, đủ tháng là 39 % và không có trường hợp nào thuộc nhóm già tháng Nghiên cứu của Barkiya SM (2016) với tỷ lệ trẻ non tháng là 43%, đủ tháng là 55%

và già tháng là 2%(1) Điều này có thể giải thích là do những bà mẹ có nguy cơ sinh non hoặc cực non đã được chuyển lên tuyến trên để điều trị trước khi sinh.Ngoài ra thời gian và địa điểm nghiên cứu của chúng tôi cũng khác so với các nghiên cứu trên

Trang 5

Liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ của suy hô

hấp với nguyên nhân

Tỷ lệ nam/nữ tương tự nhau ở ba nhóm nguyên

nhân gây Kết quả của chúng tôi tương đồng với kết

quả nghiên cứu của Swarnkar K (2015), tỷ lệ nam/nữ

đều > 1 ở các nguyên nhân cơn thở nhanh thoáng qua

và bệnh màng trong, lần lượt là 1,2/1 và 1,5-1,7/1(13)

Theo nghiên cứu của Dani C (1999), giới nam là yếu

tố nguy cơ của cả bệnh màng trong và cơn thở nhanh

thoáng qua(6) Khác với nghiên cứu của chúng tôi,

nghiên cứu của Parkash A (2015) lại cho thấy có sự

vượt trội của giới nữ so với nam ở trẻ sơ sinh SHH

được chẩn đoán NTSSS(12) Sự khác biệt này có thể là

do sự khác nhau về cỡ mẫu và thiết kế nghiên cứu.Y

văn cũng đã ghi nhận giới nam là yếu tố nguy cơ của

bệnh màng trong và cơn thở nhanh thoáng qua.Bên

cạnh đó trẻ nam cũng có nguy cơ mắc NTSSS gấp 4

lần so với trẻ nữ(4,5,3)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, cơn thở nhanh

thoáng qua và NTSSS, tỷ lệ trẻ đủ tháng cao hơn trẻ

non tháng (74,4% và 70,8%) trong khi đó, bệnh màng

trong có 100% số trẻ là trẻ non tháng Sự khác biệt

này có ý nghĩa thống kê Kết quả này tương đồng với

nghiên cứu của Mehta A (2017), 100% trẻ bị bệnh

màng trong có tuổi thai < 37 tuần, 100% trẻ có cơn

thở nhanh thoáng qua có tuổi thai ≥ 37 tuần nhưng

khác nhau ở nguyên nhân nhiễm khuẩn sơ sinh tại

phổi, 88,89% là trẻ non tháng(8) Sự khác biệt này có

thể là do sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu

(nghiên cứu này chỉ bao gồm những trẻ NTSSS tại

phổi) Sinh non là yếu tố nguy cơ của NTSSS và bệnh

màng trong, trong khi đó cơn thở nhanh thoáng qua

lại thường gặp ở trẻ gần đủ tháng hoặc đủ tháng(4,5,3)

100% trẻ bị bệnh màng trong là trẻ có cân nặng <

2500 gram với 63,6% là trẻ < 1500 gram Trong khi

cơn thở nhanh thoáng qua và NTSSS lại gặp đa số ở

trẻ > 1500 gram.Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

Kết quả tương đồng với nghiên cứu của Mehta A

(2017), cơn thở nhanh thoáng qua và NTSSS có tỷ lệ

trẻ ≥ 2500 gram chiếm phần lớn trong khi bệnh màng

trong có đa số là trẻ non tháng và nhẹ cân(8)

Trong 3 nguyên nhân thường gặp gây SHH, tỷ lệ

trẻ sinh thường đều cao hơn sinh mổ Sự khác biệt này

không có ý nghĩa thống kê Kết quả này có sự khác

biệt với nghiên cứu của Swanrkar K (2015) với bệnh

màng trong và cơn thở nhanh thoáng qua đều có tỷ lệ

trẻ sinh mổ vượt trội hơn so với sinh thường(13) Sự

khác biệt này có thể là do sự khác nhau về cỡ mẫu.Cỡ

mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi chưa đủ lớn Sinh

mổ là yếu tố nguy cơ củacơn thở nhanh thoáng qua do

trong quá trình mổ lấy thai, không có sự bóp nén chặt

của âm đạo lên thai nhi nên đã làm giảm sự tống xuất

dịch phế nang, bên cạnh đó sơ sinh mổ lấy thai, lượng catecholamine thấp hơn ở trẻ sinh bằng đường âm đạo (catecholamine tăng làm giảm lượng dịch phế nang) Các yếu tố nguy cơ ối vỡ ≥18 giờ và mẹ sốt trước, trong hoặc sau sinh 3 ngày chiếm tỷ lệ thấp và xấp xỉ nhau ở cả ba nguyên nhân Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Swarnkar K (2015), ối vỡ sớm ghi nhận với tỷ lệ thấp ở cơn thở nhanh thoáng qua và bệnh màng trong (14% và 27,8%) nghiên cứu cũng cho thấy ối vỡ sớm ≥18 giờ và mẹ sốt là các yếu tố nguy cơ của NTSSS(5) Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi lại không ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ của các yếu tố nguy cơ này giữa các nguyên nhân có thể là

do số liệu chưa đủ lớn

Liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với bệnh nguyên của suy hô hấp

Trong cả 3 nguyên nhân, nhóm trẻ SHH ngay sau sinh đều chiếm tỷ lệ cao.Cơn thở nhanh thoáng qua và bệnh màng trong không có trẻ nào khởi phát sau 24 giờ tuổi trong khi có 8,3% trẻ NTSSS khởi phát SHH tại thời điểm này Tuy nhiên sự khác biệt này không

có ý nghĩa thống kê.Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Parkash A (2015) với 100% trẻ bị bệnh màng trong và 96,6% trẻ có cơn thở nhanh thoáng qua khởi phát trước 24 giờ tuổi Tuy nhiên nghiên cứu này có đến 94,6% trẻ được chẩn đoán NTSSS khởi phát SHH sau 24 giờ tuổi(12) Cơn thở nhanh thoáng qua và bệnh màng trong có thể khởi phát SHH ngay sau sinh hoặc vài giờ sau sinh trong khi đó NTSSS thường có các biểu hiện của SHH sau

24 giờ tuổi(4,5,3) Cơn thở nhanh thoáng qua và NTSSS, đa số trẻ kéo dài SHH dưới 72 giờ trong khi đó bệnh màng trong 100% trẻ SHH trên 72 giờ.Sự khác biệt về thời gian kéo dài SHH ở các nguyên nhân có ý nghĩa thống kê.Cơn thở nhanh thoáng qua có thời gian kéo dài 12-24 giờ ở các thể nhẹ và hơn 72 giờ ở các thể nặng trong khi đó bệnh màng trong chỉ có thể cải thiện trong vòng 3-5 ngày nếu được can thiệp tốt, nếu không có thể dẫn đến tử vong, NTSSS có thời gian hồi phục tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh và các biện pháp điều trị(5) Những điều này giải thích cho sự khác biệt về thời gian kéo dài cũng như mức độ suy

hô hấp giữa các nguyên nhân

Những thay đổi về tần số thở và các dấu gắng sức không có sự khác nhau giữa ba nguyên nhân Tuy nhiên tỷ lệ xuất hiện cơn ngưng thở lại khác biệt nhau với 54,5% trẻ bị bệnh màng trong có cơn ngưng thở bệnh lý trong khi rất ít ở nhiễm trùng sơ sinh sớm và không xuất hiện trong cơn khó thở nhanh thoáng qua

Có thể lý giải do cơn thở nhanh thoáng qua thường

Trang 6

gặp ở trẻ gần đủ tháng và đủ tháng còn bệnh màng

trong thường gặp ở trẻ non tháng và nhẹ cân trong khi

đó cơn ngưng thở gặp ở 100% trẻ non tháng < 1000

gram, hơn 50% ở trẻ < 1500 gram

Liên quan giữa mức độ suy hô hấp với bệnh

nguyên của suy hô hấp

Trong nhóm trẻ có cơn thở nhanh thoáng qua và

NTSSS, SHH mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao

trong khi đó nhóm trẻ bị bệnh màng trong đa số trẻ

SHH ở mức độ rất nặng (54,5%) Sự khác biệt về mức

độ SHH giữa các nguyên nhân có ý nghĩa thống kê

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với

nghiên cứu của Mheta A (2017) chia SHH thành 3

mức độ theo chỉ số Silverman trong đó cơn thở nhanh

thoáng qua 100% trẻ SHH mức độ nhẹ và vừa, không

có trẻ ở mức độ nặng, NTSSS (Viêm phổi) đa số trẻ

SHH mức độ trung bình và bệnh màng trong trẻ SHH

mức độ nặng chiếm ưu thế (54,5%)(8).Cơn thở nhanh

thoáng qua có mức độ SHH nhẹ hơn, khả năng tự hồi

phục cao và không để lại di chứng trong khi đó viêm

phổi và bệnh màng trong cần có các phương pháp

điều trị đặc hiệu (kháng sinh, liệu pháp thay thế

surfactant(4,5,3)

Liên quan giữa kết quả cận lâm sàng với bệnh

nguyên của suy hô hấp

Cơn thở nhanh thoáng qua, 97,7% trẻ có số lượng

bạch cầu bình thường, NTSSS có 2 trẻ tăng và 2 trẻ

giảm bạch cầu Bệnh màng trong có 9,1% trẻ giảm

bạch cầu.Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Dạ Thảo (2012), trẻ

mắc NTSSS có nguy cơ giảm bạch cầu máu cao gấp

8,7 lần và nguy cơ tăng bạch cầu máu cao gấp 16,2

lần so với các bệnh lý khác ở trẻ sơ sinh giai đoạn

sớm(10)

Nhóm trẻ có cơn thở nhanh thoáng qua và bệnh

màng trong 100% giá trị CRP trong giới hạn bình

thường Nhóm trẻ NTSSS số trẻ tăng CRP chiếm tỷ lệ

cao (58,3%) Sự khác biệt về giá trị CRP giữa các

nhóm nguyên nhân có ý nghĩa thống kê Giá trị CRP

có độ nhạy cao trong chẩn đoán NTSSS

Nhóm trẻ có cơn thở nhanh thoáng qua có 2,3%

trẻ hạ đường máu, tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với

các nguyên nhân còn lại (NTSSS là 29,2% và bệnh

màng trong là 45,5%) Theo nghiên cứu của Lê Vũ

Phong (2010), trẻ bị NTSSS có nguy cơ hạ đường

máu cao gấp 3 lần so với các loại bệnh lý khác(7) Sinh

non, cân nặng thấp và nhiễm trùng là những yếu tố

nguy cơ của hạ đường máu ở trẻ sơ sinh Điều này có

thể lý giải tỷ lệ trẻ hạ đường máu trong nghiên cứu

của chúng tôi cao hơn ở nhóm trẻ bị NTSSS và đặc

biệt là bệnh màng trong (có yếu tố nguy cơ sinh non)

KẾT LUẬN

55,1% trẻ suy hô hấp do cơn khó thở nhanh thoáng qua với đặc điểm: 74,4% là trẻ đủ tháng, 76,7% xuất hiện ngay sau sinh và 97,7% hết suy hô hấp trước 72 giờ, 95,3% suy hô hấp mức độ nhẹ và trung bình, 100% trẻ có nồng độ CRP và 97,7% có số lượng bạch cầu máu trong giới hạn bình thường 30,8% trẻ suy hô hấp do nhiễm trùng sơ sinh sớm: 70,8% là trẻ đủ tháng, 29,2% suy hô hấp kéo dài trên 72 giờ, 87,5% suy hô hấp mức độ nặng và trung bình, 58,3% tăng CRP, 16,6% trẻ có số lượng bạch cầu vượt giới hạn bình thường

Có 14,1% trẻ suy hô hấp do bệnh màng trong có đặc điểm sau: 100% là trẻ đẻ non, cân nặng lúc sinh dưới 2500 gram và suy hô hấp kéo dài trên 72 giờ 54,5% suy hô hấp mức độ rất nặng, 100% trẻ có nồng

độ CRP bình thường Những đặc điểm này khác biệt

có ý nghĩa thống kê với hai nguyên nhân còn lại (p<0,05)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Barkiya SM, Venugopal N, Veena K (2016) "Clinical - Etiological

Profile and Outcome of Neonatal Respiratory Distress" International

Journal of Scientific Study, 3 (11):189 - 192

2 Dani C, Reali M.F, Bertini G (1999) "Risk factors for the development

of respiratory distress syndrome and transient tachypnoea in newborn

infants” Eur Respir J, 14:155 - 159

3 Douglas CM, Fabien GE (2013) "Transient Tachypnea of the Newborn" Neonatology, Management, Procedures, On-Call Problems, Diseases, and Drugs, 7ed, pp.919-925

4 Douglas CM, Fabien GE (2017) "Respiratory distress syndrome"

Neonatology, Management, Procedures, On-Call Problems, Diseases and Drugs, 7ed, pp.834-839

5 Douglas CM, Fabien GE (2017) "Sepsis" Neonatology, Management,

Procedures, On-Call Problems, Diseases, and Drugs, 7ed, pp.865 -

873

6 Joel NT, Simeon-Pierre C, Regina NL (2016) "Neonatal respiratory distress in a reference neonatology unit in Cameroon: a retrospective

analysis of prevalence, predictors, etiologies and outcomes" Pan

African Medical Journal, 24(152):1-7

7 Lê Vũ Phong (2010) Nghiên cứu sự biến đổi đường máu ở sơ sinh bệnh lý giai đoạn sơ sinh sớm tại khoa Nhi - Bệnh viện Trường Đại

học Y - Dược Huế Luận văn Thạc sỹ Khoa học Y - Dược, Trường Đại

học Y khoa Huế - Đại học Huế, pp.41

8 Mehta A, Pratap D, Kushwaha KP (2017) "A study of causes of respiratory distress in neonates presenting within 72 hours"

International Journal of Pediatrics Research, 4(1):24 - 30

9 Nguyễn Thành Út (2002) Đặc điểm suy hô hấp trẻ sơ sinh tại Khoa

Nhi- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang năm 2002 Luận án Chuyên

khoa Cấp II, ĐH Y Dược TP HCM, pp.26

10 Nguyễn Thị Dạ Thảo (2012) Nghiên cứu sự biến đổi số lượng bạch cầu , tiểu cầu máu ngoại vi giai đoạn sơ sinh sớm của sơ sinh bệnh lý

điều trị tại khoa nhi Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế Luận văn

Thạc sỹ Khoa học Y - Dược, trường Đại học Y khoa Huế - Đại học

Huế, tr.35

11 Nguyễn Thị Minh Châu (2010) Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ CK, CK-MB và troponin T trong máu ở trẻ sơ sinh giai đoạn sớm có khó

thở tại khoa Nhi Bệnh viện Trung Ương Huế Luận văn Thạc sỹ Khoa

học Y - Dược, Trường Đại học Y khoa Huế - Đại học Huế, pp.32

12 Parkash A, Haider N, Khoso ZA (2015) "Frequency, causes and outcome of neonates with respiratory distress admitted to Neonatal

Intensive Care Unit, National Institute of Child Health, Karachi" J Pak

Med Assoc, 65(7):771-775

Trang 7

13 Swarnkar K, Swarnkar M (2015) "Neonatal respiratory distress in

early neonatal period and its outcome" International Journal of

Biomedical and Advance Research, 6(9):643 - 646

14 Zaazou MH (2011) "Descriptive Study of Cases of Respiratory

Distress in NICU in Ahmed Maher Teaching Hospital" Med J Cairo

Univ, 79(1):441 – 448

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/06/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/08/2019

Ngày đăng: 16/01/2020, 01:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w