1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân cao tuổi nhồi máu cơ tim cấp thất phải

6 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 312,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh cảnh lâm sàng của nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) thất phải thường nặng và tiên lượng xấu khi có biến chứng tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim, choáng tim. Chiến lược điều trị tái tưới máu cho các bệnh nhân này phụ thuộc nhiều vào đặc điểm tổn thương động mạch vành, bệnh cảnh lâm sàng, tình trạng bệnh lý đi kèm. Khảo sát đặc điểm tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân cao tuổi NMCTC thất phải tại Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH

Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP THẤT PHẢI

Nguyễn Văn Tân *,** , Châu Văn Vinh **

TÓM TẮT

Cơ sở: Bệnh cảnh lâm sàng của nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) thất phải thường nặng và tiên lượng xấu

khi có biến chứng tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim, choáng tim Chiến lược điều trị tái tưới máu cho các bệnh nhân này phụ thuộc nhiều vào đặc điểm tổn thương động mạch vành, bệnh cảnh lâm sàng, tình trạng bệnh lý đi kèm

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân cao tuổi NMCTC thất phải tại Bệnh

viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh

Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả và cắt ngang trên 65 bệnh nhân NMCTC thất phải nhập viện

điều trị từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2017 tại khoa Tim Mạch Cấp cứu và Can thiệp của Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh

Kết quả: Bệnh mạch vành 3 nhánh trong mẫu nghiên cứu chiếm tỉ lệ khá cao 43,1%, trong đó nhóm ≥ 65

tuổi có bệnh mạch vành 3 nhánh, bệnh mạch vành 3 nhánh và thân chung vành trái cao hơn nhóm < 65 tuổi, với

tỉ lệ lần lượt theo thứ tự là 48,8%; 19,5% so với 33,3%; 12,5%; tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, với p =0,364 Tổn thương đoạn gần nhánh RCA chiếm cao nhất 64,6%, đoạn giữa chiếm 30,7%, trong

đó nhóm <65 tuổi bị tổn thương đoạn gần chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm ≥ 65 tuổi (70,8% so với 61,0%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,14 Tổn thương típ B2 và C chiếm tỉ lệ cao ở nhóm ≥65 tuổi hơn nhóm <65 tuổi (73,8%; 38,5% so với 40,0%; 10,7%, với p =0,045) Có 84,6% nhánh thất phải bị tắc hoàn toàn, trong đó nhóm <65 tuổi chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm ≥65 tuổi (87,5% so với 82,9%), tuy nhiên sự khác biệt không có

ý nghĩa thông kê giữa hai nhóm, với p =0,622

Kết luận: Bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp thất phải cao tuổi có tỉ lệ tổn thương mạch vành từ hai nhánh trở

lên tương đối cao Động mạch vành phải là nhánh thủ phạm trong đa số các trường hợp, trong đó tắc nghẽn tại vị trí đoạn gần và đoạn giữa rất thường gặp Mức độ tổn thương động mạch vành hay gặp trên các bệnh nhân cao tuổi nhồi máu cơ tim cấp thất phải là típ B2 và típ C

Từ khóa: nhồi máu cơ tim cấp thất phải, tổn thương động mạch vành, bệnh nhân cao tuổi

ABSTRACTS

CORONARY LESION CHARACTERISTICS IN ELDERLY PATIENTS WITH ACUTE RIGHT

VENTRICULAR MYOCARDIAL INFARCTION

Nguyen Van Tan, Chau Van Vinh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 176-181

Background: Clinical manifestations of acute right ventricular myocardial infarction (RVMI) are often

severe and have a poor prognosis for hypotension, arrhythmias, and cardiac shock The strategy for reperfusion treatment in these patients is highly dependent on the characteristics of coronary artery disease, clinical conditions, and associated medical conditions

Objective: To investigate the characteristics of coronary lesion in elderly patients with RVMI at Thong

Nhat Hospital, Ho Chi Minh City

Methods: A prospective, descriptive and cross-sectional study of 65 patients with RVMI hospitalized

*Bộ môn Lão khoa – Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh **Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh

Trang 2

between January 2013 and December 2017 at the Department of Emergency and Interventional Cardiology of Thong Nhat Hospital, Ho Chi Minh City

Results: Triple vessel disease in the sample was 43.1%, in which group ≥ 65 years had triple vessel disease,

triple vessel disease and left main coronary artery disease were higher than group < 65 years with the rate of 48.8%, 19.5% versus 33.3%, 12.5%, respectively, but the difference was not statistically significant, with p = 0.364 The proximal of right coronary artery lesion was 64.6%, the middle segment 30.7%, in which the young group was higher than the elderly group with 70.8% versus 61%, however, the difference was not statistically significant with p =0.14 The prevalence of type B2 and C lesions were high in the age group ≥ 65 years (73.8%, 38.5% versus 40.0%, 10.7%, p = 0.045) 84.6% of the right ventricular artery was completely occlusion, of which the young group was higher than the elderly group (87.5% versus 82.9%, p =0.622)

Conclusions: The elderly patients with acute RVMI had higher rates of coronary artery disease from two or

more branches Right coronary artery disease was the culprit lesion in most cases, with occlusion in the proximal and middle segments of right coronary artery being very common The coronary artery lesions seen in elderly patients with acute RVMI were type B2 and C lesions

Keywords: right ventricular myocardial infarction, coronary lesion, elderly patients

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hằng năm ở Mỹ có hơn 1 triệu người nhập

viện vì nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) và có

khoảng hơn 200.000 đến 300.000 người tử vong

trước khi nhập viện, cứ mỗi 25 giây có một

người Mỹ chết vì NMCTC(5,15) Điều trị tái tưới

máu bằng phương pháp can thiệp động mạch

vành qua da cấp cứu kết hợp với nội khoa tối ưu

đã làm cho tỉ lệ tử vong NMCTC trên thế giới

hiện nay giảm xuống còn dưới 7% so với trước

đây là trên 30%(4,11,15) Nhồi máu cơ tim cấp

thành dưới chiếm khoảng 40-50% trong tất cả

các trường hợp NMCTC, trong đó NMCTC thất

phải chiếm khoảng 30-50%(1,9)

Tổn thương động mạch vành trên người cao

tuổi thường phức tạp, với tổn thương nhiều

nhánh mạch vành, mạch máu thường vôi hóa

nặng và khi bị NMCTC, người cao tuổi thường

có nhiều biến chứng nặng hơn người không cao

tuổi Bệnh cảnh lâm sàng của NMCTC thất phải

thường nặng và tiên lượng xấu khi có biến

chứng tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim, choáng

tim Chiến lược điều trị tái tưới máu cho các

bệnh nhân này phụ thuộc nhiều vào đặc điểm

tổn thương động mạch vành, bệnh cảnh lâm

sàng, tình trạng bệnh lý đi kèm Tuy nhiên,

nghiên cứu về đặc điểm tổn thương động mạch

vành trên bệnh nhân NMCTC thất phải ở nước

ta còn rất ít, đặc biệt ở người cao tuổi Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm khảo sát đặc điểm tổn thương động mạch vành ở

bệnh nhân cao tuổi NMCTC thất phải

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân nhập viện được chẩn đoán

là NMCT cấp thất phải, điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất, TP Hồ Chí Minh từ tháng 01 năm

2013 đến tháng 12 năm 2017 Chúng tôi loại ra khỏi nghiên cứu những trường hợp NMCT cấp thành dưới đơn thuần, đau thắt ngực kiểu Prinzmetal, viêm màng ngoài tim cấp, những bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nghiên

cứu, hoặc tử vong ngay khi mới nhập viện Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Tiến cứu, mô tả và cắt ngang

Thu thập dữ liệu từ bệnh nhân

Chúng tôi tiến hành ghi nhận đầy đủ các thông tin về mặt lâm sàng (các triệu chứng cơ năng, triệu chứng thực thể), cận lâm sàng, kết quả chụp động mạch vành và phương pháp điều trị (điều trị nội khoa, can thiệp mạch vành qua da), các biến cố tim mạch trong thời gian nằm viện Các xét nghiệm cận lâm sàng được thu thập như công thức máu, đường huyết, urê,

Trang 3

creatinin, SGOT, SGPT, bilan lipid máu, hs CRP,

men tim (CKMB, Troponin T hs), X-quang ngực,

siêu âm tim (đo phân suất tống máu thất trái

bằng phương pháp Simpson)

Các tiêu chuẩn chẩn đoán

Chẩn đoán NMCT cấp theo tiêu chuẩn của

Hội Tim Hoa Kỳ/ Trường môn Tim Hoa Kỳ/ Hội

Tim châu Âu (AHA/ACC/ESC) năm 2012(3)

Chẩn đoán NMCTC thất phải khi trên lâm sàng

có tụt huyết áp, tĩnh mạch cổ nổi, phổi trong và

có đoạn ST chênh lên ≥ 1mm trên điện tâm đồ

ở ít nhất một trong các chuyển đạo từ V3R đến

V6R khi bệnh nhân mới nhập vào đơn vị chăm

sóc tích cực mạch vành(3,7) và/ hoặc có các bất

thường vận động thành tự do thất phải hoặc

dãn thất phải được thấy trên siêu tim 2-D qua

thành ngực(10,12)

Cách tính tổn thương động mạch vành bằng

phần mềm QCA cài đặt sẳn trong máy Được gọi

là tổn thương có ý nghĩa khi hẹp ≥ 50% đường

kính thân chung ĐMV trái hoặc ≥ 70% đường

kính của 3 nhánh chính ĐMV (động mạch xuống

trước trái, động mạch vành mũ, động mạch

vành phải) Mức độ tổn thương động mạch vành

được chúng tôi phân loại dựa trên bảng phân

loại của Hội Tim Hoa Kỳ/ Trường môn Tim Hoa

Kỳ 1998 Các tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết

áp, đái tháo đường, hút thuốc lá, béo phì đều

dựa theo các tiêu chuẩn chẩn đoán mới nhất

hiện nay

Phân tích thống kê

Các số liệu được trình bày dưới dạng tỷ lệ đối với biến định tính và trung bình ± độ lệch chuẩn, nếu phân bố không chuẩn: trung vị, giá trị tương ứng với 25% và 75% đối với biến định lượng Dùng phép kiểm định chi bình phương (có hiệu chỉnh Fisher) để kiểm định sự khác biệt

tỷ lệ giữa 2 nhóm của biến số định tính và phép kiểm định t-student cho 2 giá trị trung bình giữa

2 nhóm của biến số định lượng, sự khác biệt giữa hai nhóm được xem là có ý nghĩa thống kê khi p <0,05 Tất cả các số liệu đều được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 22.0 for Window

Y đức nghiên cứu

Đây là nghiên cứu quan sát, không can thiệp vào quá trình điều trị, tất cả thông tin của bệnh nhân được giữ kín chỉ để phục vụ cho mục đích nghiên cứu và đề tài đã được thông qua Hội đồng Y đức của Bệnh viện Thống Nhất

KẾT QUẢ

Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập được 65 bệnh nhân NMCTC thất phải, trong đó có 24 bệnh nhân <65 tuổi, chiếm tỉ lệ 36,9% và 41 bệnh nhân ≥ 65 tuổi, chiếm tỉ lệ 63,1% Một số đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy

cơ của các đối tượng nghiên cứu được trình bày

trong Bảng 1

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của hai nhóm nghiên cứu

Các biến số Nhóm < 65 tuổi (n=24) Nhóm ≥ 65 tuổi (n=41) Tổng số (n=65) p

Triệu chứng lâm

sàng, n (%)

Bệnh mạch vành 3 nhánh trong mẫu nghiên

cứu chiếm tỉ lệ khá cao 43,1%, trong đó nhóm ≥

65 tuổi có bệnh mạch vành 3 nhánh, bệnh mạch vành 3 nhánh và thân chung vành trái cao hơn

Trang 4

nhóm < 65 tuổi, với tỉ lệ lần lượt theo thứ tự là

48,8%, 19,5% so với 33,3%, 12,5%, tuy nhiên sự

khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, với p

=0,364 Tổn thương đoạn gần nhánh RCA chiếm

cao nhất 64,6%, đoạn giữa chiếm 30,7%, trong đó

nhóm <65 tuổi bị tổn thương đoạn gần chiếm tỉ

lệ cao hơn nhóm ≥ 65 tuổi (70,8% so với 61,0%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống

kê với p = 0,142 (Bảng 2, Bảng 3)

Bảng 2: Yếu tố nguy cơ và tử vong nội viện của hai nhóm nghiên cứu

Các biến số Nhóm < 65 tuổi (n=24) Nhóm ≥ 65 tuổi (n=41) Tổng số (n=65) p

Thời gian từ khi khởi

phát triệu chứng đến

lúc nhập viện (giờ)

Các yếu tố nguy cơ

Bảng 3 Đặc điểm tổn thương động mạch vành của hai nhóm nghiên cứu

Nhóm < 65 tuổi (n=24) Nhóm ≥ 65 tuổi (n=41) Tổng số (n=65) p

Số nhánh mạch vành bị

hẹp

0,142

Nhánh thủ phạm gây ra

NMCTC thất phải

Dòng chảy TIMI RCA

trước can thiệp

0,184

Bảng 4: Mức độ tổn thương động mạch vành

Tổn thương típ B2 và C chiếm tỉ lệ cao ở nhóm ≥65 tuổi hơn nhóm <65 tuổi (73,8%, 38,5%

Trang 5

so với 40,0%, 10,7%, với p =0,045) (Bảng 4)

Có 84,6% nhánh thất phải bị tắc hoàn toàn,

trong đó nhóm < 65 tuổi chiếm tỉ lệ cao hơn

nhóm ≥ 65 tuổi (87,5% so với 82,9%), tuy nhiên

sự khác biệt không có ý nghĩa thông kê giữa hai

nhóm, với p = 0,622 (Bảng 5)

Bảng 5: Tỉ lệ nhánh thất phải bị tổn thương

Mức độ tắc ĐMV phải Nhóm <65 tuổi (n=24) Nhóm ≥65 tuổi (n=41) Tổng số (n=65) p

BÀN LUẬN

Biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân hội chứng

vành cấp cao tuổi có thể có nhiều thay đổi

Trong một nghiên cứu gần đây(9) trên 255 bệnh

nhân cao tuổi NMCTC có ST chênh lên, tác giả

Grosmaitre P và cộng sự cho thấy đau ngực chỉ

chiếm 41%, 15,7% có biểu hiện tiền ngất hoặc

ngất, 15,7% khó thở, 9,8% rối loạn tiêu hóa, 6,7%

cảm thấy khó chịu và 5% bị sảng Do biểu hiện

triệu chứng không điển hình nên nhiều bệnh

nhân cao tuổi khi bị NMCTC thường hay nhập

viện trễ, từ đó thường dẫn đến nhiều biến chứng

nặng hơn bệnh nhân không cao tuổi

Các nghiên cứu tử thiết cho thấy có khoảng

14 - 60% thất phải bị ảnh hưởng trên các bệnh

nhân tử vong do nhồi máu cơ tim cấp thành sau

dưới(13) Các nghiên cứu không xâm lấn cũng cho

thấy có rối loạn chức năng thất phải do thiếu

máu cơ tim cục bộ trong khoảng 50% bệnh nhân

có NMCTC thành dưới(13) và ≤10% bệnh nhân có

NMCTC thành trước, trong khi đó, NMCTC thất

phải đơn thuần rất hiếm gặp, chiếm <3% trong

tất cả các trường hợp nhồi máu gây tử vong(2)

NMCT cấp thất phải xảy ra chủ yếu do tắc

nghẽn đoạn gần của nhánh động mạch vành

phải trước nhánh cung cấp máu cho thất phải

(nhánh thất phải) trong bối cảnh NMCTC thành

dưới(8,16) NMCTC thất phải cũng có thể xảy ra

do tắc nghẽn động mạch vành mũ trong trường

hợp hệ vành trái chiếm ưu thế, nhưng ít thường

gặp hơn, trong NMCTC thành trước do mặt

trước của thành tự do thất phải được cung cấp

máu bởi tuần hoàn từ nhánh động mạch liên

thất trước(7)

Biết được hình thái và mức độ tổn thương

động mạch vành ở các bệnh nhân NMCTC sẽ

giúp cho thầy thuốc có chiến lược chọn lựa điều

trị tái tưới máu thích hợp cho từng bệnh nhân

Do đặc điểm tổn thương động mạch vành trên người cao tuổi thường phức tạp, tổn thương nhiều nhánh và diễn biến lâm sàng thường nặng nên việc chọn lựa chiến lược điểu trị tái tưới máu cấp cứu cho bệnh nhân đôi khi gặp nhiều khó khăn Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận bệnh mạch vành 3 nhánh chiếm tỉ lệ cao (43,1%), trong đó nhánh động mạch vành phải thủ phạm chiếm tỉ lệ cao nhất (95,4%) Ngoài ra, chúng tôi cũng ghi nhận có 3 trường hợp (4,6%) NMCTC thất phải là do nhánh động mạch vành mũ thủ phạm gây ra (2 trường hợp xảy ra ở nhóm ≥ 65 tuổi, 1 trường hợp ở nhóm < 65 tuổi Khảo sát đặc điểm tổn thương động mạch vành theo nhóm tuổi, chúng tôi ghi nhận nhóm ≥ 65 tuổi có bệnh mạch vành 3 nhánh, bệnh mạch vành 3 nhánh và thân chung vành trái cao hơn nhóm <

65 tuổi, với các tỉ lệ lần lượt là 48,8%, 19,5% so với 33,3%, 12,5% Tương tự nghiên cứu tác giả Bùi Ngọc Minh trên 93 bệnh nhân NMCTC thất phải có bệnh mạch vành 3 nhánh chiếm (45,2%)

và tổn thương động mạch vành phải (96,2%)(5) Điều này cho thấy rằng, người cao tuổi khi bị NMCTC thất phải, ngoài tổn thương thủ phạm gây ra là nhánh động mạch vành phải, hoặc hiếm gặp là động mạch vành mũ, động mạch liên thất trước thì tình trạng tổn thương các nhánh còn lại cũng khá phổ biến Các tổn thương này có thể làm cho tiên lượng của NMCTC thất phải thêm nặng nề hơn

Tình trạng tắc nghẽn hoàn toàn hay không hoàn toàn của nhánh động mạch thủ phạm cũng góp phần vào tiên lượng của NMCTC Những bệnh nhân có tắc nghẽn hoàn toàn động mạch vành, dòng chảy TIMI 0 thường có tiên lượng xấu hơn những bệnh nhân có mạch vành tắc

Trang 6

nghẽn không hoàn toàn Nghiên cứu của chúng

tôi ghi nhận tắc nghẽn đoạn gần nhánh động

mạch vành phải chiếm cao nhất 64,6%, đoạn

giữa chiếm 30,7%, trong đó nhóm <65 tuổi bị tổn

thương đoạn gần chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm ≥

65 tuổi (70,8% so với 61,0%, p =0,142) Kết quả

này cũng tương tự với nghiên cứu của tác giả

Bùi Ngọc Minh 63,4%(5), nhưng thấp hơn

nghiên cứu của tác giả Giannitsis E và cộng sự

84,6%(9), cao hơn nghiên cứu của tác giả

Nguyễn Cửu Lợi (tắc đoạn gần động mạch

vành phải chỉ chiếm 24,99%(14)

Mức độ tổn thương động mạch vành cũng

đóng vài trò quan trọng trong chiến lược điều trị

tái tưới máu cho bệnh nhân NMCTC Chọn lựa

chiến lược tái tưới máu bằng can thiệp mạch

vành qua da tiên phát hay phẫu thuật bắc cầu

động mạch vành cấp cứu cũng phụ thuộc một

phần vào đặc điểm này của bệnh nhân Nghiên

cứu của chúng tôi ghi nhận tổn thương típ B2 và

C chiếm tỉ lệ cao ở nhóm ≥65 tuổi hơn nhóm <65

tuổi (73,8%, 38,5% so với 40,0%, 10,7%, với p

=0,045) Kết quả này cũng phù hợp với y văn ghi

nhận trước đây(6)

KẾT LUẬN

Bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp thất phải

cao tuổi có tỉ lệ tổn thương mạch vành từ hai

nhánh trở lên tương đối cao Động mạch vành

phải là nhánh thủ phạm trong đa số các trường

hợp, trong đó tắc nghẽn tại vị trí đoạn gần và

đoạn giữa rất thường gặp Mức độ tổn thương

động mạch vành hay gặp trên các bệnh nhân

cao tuổi nhồi máu cơ tim cấp thất phải là type

B2 và type C

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Albulushi A, Giannopoulos A, Kafkas N et al (2018) “Acute

right ventricular myocardial infarction” Expert Rev Cardiovasc

Ther,16(7): pp.455-464

2 Andersen HR, Falk E, Nielsen D (1987) “Right ventricular infarction: frequency, size and topography in coronary heart disease: a prospective study comprising 107 consecutive autopsies

from a coronary care unit” J Am Coll Cardiol, 10:1223 e32

Myocardial Infarction” Harrison’s principles of internal

medicine, pp.2021-2035

4 Binauld G, Savary D, Louis J, Coste M et al (2009) “L’infarctus

du myocarde avec extension au ventricule droit : un territoire

compliqué” Journal Europeen des Urgences, 22 (2): pp.100

kết quả điều trị nhồi máu cơ tim thất phải cấp tính” Luận Án

Tiến Sỹ Y Khoa, chuyên ngành Nội Tim Mạch, Học Viện Quân

Y, tr 1-93

6 Christoffenson RD, Griffin BP, Topol EJ (2009) “Acute

Myocardial Infarction” Manual of cardiovascular medicine,

pp 1-25

7 De Gregorio J, Kobayashi Y, Albiero R et al (1998) “Coronary artery stenting in the elderly: short-term outcome and

long-term angiographic and clinical follow-up” J Am Coll Cardiol,

32: pp 577-83

8 Farrer-Brown G (1968) “Vascular pattern of myocardium of

right ventricle of human heart” Br Heart J, 30:679 e86

9 Giannitsis E, Hartmann F, Wiegand U (2000) “Clinical and angiographic outcome of patients with acute inferior myocardial infarction and right ventricular involvement

treated with direct PTCA” Z Kardiol, 89, pp.28-35

10 Grosmaitre P, Le OV, Yachouh E et al (2013) “Significance of

atypical symptoms for the diagnosis and management of myocardial infarction in elderly patients admitted to

emergency departments” Archives of Cardiovascular Diseases,

106(10): pp.586-592

11 Jeffers JL, Parks LJ (2018) “Myocardial Infarction, Right

Ventricular” Treasure Island (FL), StatPearls Publishing

12 Judgutt BI, Sussex BA, Sivaram CA, Rossall RE (1984) “Right ventricular infarction: two-dimensional echocardiographic

evaluation” Am Heart J, 107: pp 505–518

13 Kinch JW, Ryan TJ (1994) “Right ventricular infarction” N

Engl J Med, 330: 1211-17

14 Nguyễn Cửu Lợi, Phạm Vũ Thanh (2010) “Nghiên cứu đặc điểm tổn thương động mạch vành và tiên lượng ngắn hạn

của bệnh nhân NMCT cấp vùng dưới” Tạp Chí Tim Mạch Học

Việt Nam, 52, tr 27-35

15 Nguyễn Lân Việt (2007) “Nhồi máu cơ tim cấp - Thực hành

bệnh tim mạch” NXB Y học, Hà Nội, tr 21-49

16 Sheehan F, Redington A (2008) “The right ventricle: anatomy,

physiology and clinical imaging” Heart, 94: pp 1510-1515

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018

Ngày đăng: 16/01/2020, 01:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w