1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi bệnh viện tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

6 191 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 294,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát các tác nhân gây bệnh và việc sử dụng kháng sinh, đánh giá tính hợp lý trong chỉ định kháng sinh và xác định các yếu tố liên quan đến đáp ứng điều trị.

Trang 1

KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ

VIÊM PHỔI BỆNH VIỆN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Đỗ Đình Vinh * , Trần Ngọc Phương Minh ** , Hà Nguyễn Y Khuê ** , Đặng Nguyễn Đoan Trang *,**

TÓM TẮT

Mở đầu: Viêm phổi bệnh viện (VPBV) là loại nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp và có tỷ lệ tử vong

cao Tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh (ĐHYD TPHCM), phác đồ điều trị VPBV đã được ban hành vào năm 2015 Tuy nhiên, việc áp dụng phác đồ vào thực tế điều trị cần được giám sát và đánh giá để đưa ra các biện pháp giúp cải thiện việc sử dụng kháng sinh một cách an toàn, hợp lý, hiệu quả

Mục tiêu: Khảo sát các tác nhân gây bệnh và việc sử dụng kháng sinh, đánh giá tính hợp lý trong chỉ

định kháng sinh và xác định các yếu tố liên quan đến đáp ứng điều trị

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 109 bệnh

nhân được chẩn đoán VPBV và chỉ định kháng sinh từ 3 ngày trở lên từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2017 tại bệnh viện ĐHYD TPHCM Dữ liệu được thu thập và phân tích từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân bao gồm các đặc điểm dịch tễ học, các tác nhân gây bệnh, các kháng sinh chỉ định, kết quả điều trị các đáp ứng điều trị Tính hợp lý trong chỉ định kháng sinh được đánh giá qua các tiêu chí là loại kháng sinh, đường dùng và liều

Kết quả: Các chủng vi khuẩn phân lập chủ yếu là Acinetobacter baumanii, Pseudomonas aeruginosa và

Klebsiella pneumoniae Hầu hết bệnh nhân được chỉ định 2 – 3 loại kháng sinh (73,4%) với meropenem và levofloxacin được chỉ định nhiều nhất (lần lượt là 71,6% và 77,1%) Tỷ lệ sử dụng kháng sinh hợp lý khi điều trị theo kinh nghiệm là 37,0% và 10,5% khi điều trị với kết quả kháng sinh đồ dương tính Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy sử dụng hợp lý kháng sinh kinh nghiệm ban đầu có liên quan đến việc giảm

tỷ lệ điều trị thất bại (OR = 0,162; 95% CI: 0,028 – 0,937; p = 0,042)

Kết luận: Các kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải tuân thủ phác đồ điều trị của bệnh viện

trong điều trị VPBV

Từ khóa: kháng sinh, viêm phổi bệnh viện

ABTRACT

INVESTIGATION ON ANTIBIOTIC USE IN TREATMENT OF NOSOCOMIAL PNEUMONIA AT

UNIVERSITY MEDICAL CENTER HOCHIMINH CITY

Do Dinh Vinh, Tran Ngoc Phuong Minh, Ha Nguyen Y Khue, Dang Nguyen Doan Trang

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 185 – 190

Introduction: Nosocomial pneumonia (NP) remains one of the most common hospital-acquired

infections with high mortality rate Treatment guideline for NP of University Medical Center Hochiminh City (UMC HCMC) was published in 2015 However, adherence to this guideline needs to be evaluated in order to determine the methods for safer, more appropriate and effective antibiotic use

* Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

** Khoa Dược, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: PGS TS Đặng Nguyễn Đoan Trang ĐT: 0909907976 Email: trang.dnd@ump.edu.vn

Trang 2

Objectives: To investigate pathogens and antibiotic use, to evaluate rationality of antibiotic indication

and to identify factors which may be attributed to treatment response

Materials and methods: A descriptive cross-sectional study was conducted on 109 patients diagnosed

with NP and indicated with antibiotics for 3 days or more from July to September 2017 at UMC HCMC Medical records of patients were reviewed for data analysis including demographics, isolated organisms, antibiotics indicated, treatment outcomes and response Criteria for evaluating rationality of antibiotic indication included kinds of antibiotic, route of administration and dosage

Results: Major bacterial isolates were Acinetobacter baumanii, Pseudomonas aeruginosa and Klebsiella

pneumoniae The majority of the study population was indicated with 2 – 3 kinds of antibiotics (73.4%) and meropenem, levofloxacin were the 2 most common antibiotics indicated (71.6% and 77.1%, respectively) Rational use of antibiotic was observed in 37.0% of patients treated with empirical antibiotic therapy and in only 10.5% of patients with positive antibiogram and treated with antibiotic therapy Logistic regression analysis showed that rational initial empirical antibiotic therapy was significantly associated with the decreased likelihood of treatment failure (OR = 0.162; 95% CI: 0.028 – 0.937; p = 0.042)

Conclusion: Results from the study suggested the implementation of adherence to treatment guidelines

of NP in clinical settings

Key words: antibiotic, nosocomial pneumonia

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm phổi bệnh viện (VPBV) là một trong

những loại nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV)

phổ biến, có tỷ lệ tử vong cao trong các NKBV

với tỷ lệ 0,5 – 1% trường hợp bệnh nhân nhập

viện(1) Năm 2012 – 2013, một nghiên cứu được

tiến hành tại 15 đơn vị hồi sức tích cực (HSTC)

trên toàn Việt Nam với 3266 bệnh nhân cho

thấy tỷ lệ NKBV là 29,5%, trong đó viêm phổi

chiếm đến 79,4%(10) Mặc dù đã có nhiều tiến

bộ trong việc sử dụng kháng sinh, chăm sóc

hỗ trợ và ngăn ngừa, VPBV vẫn là nguyên

nhân gây tử vong, làm tăng chi phí điều trị

và làm tăng gánh nặng cho bệnh nhân và xã

hội(1) Có nhiều yếu tố liên quan đến việc thất

bại trong điều trị VPBV, đặc biệt là sự gia

tăng nhanh chóng tỷ lệ đề kháng kháng sinh

Theo hướng dẫn của Hội Lồng ngực Hoa Kỳ

và Hiệp hội Bệnh nhiễm Hoa Kỳ (ATS/IDSA)

2016 về điều trị VPBV ở người lớn, mỗi

bệnh viện nên phát triển một kháng sinh

đồ riêng để đánh giá các chủng vi khuẩn

gây nhiễm khuẩn bệnh viện, tập trung vào

đơn vị Hồi sức tích cực từ đó có thể xây

dựng được phác đồ điều trị phù hợp với

tình hình bệnh viện(4)

Tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố

Hồ Chí Minh (ĐHYD TP HCM), phác đồ điều trị VPBV đã được xây dựng và ban hành vào năm 2015 Tuy nhiên, việc áp dụng phác đồ vào thực tế điều trị vẫn chưa được giám sát và đánh giá Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá thực tế việc sử dụng kháng sinh trong VPBV tại bệnh viện ĐHYD, từ đó đề xuất các biện pháp giúp cải thiện việc sử dụng kháng sinh một cách an toàn, hợp lý, hiệu quả

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân được chẩn đoán VPBV từ 07/2017 đến 09/2017 bao gồm viêm phổi trong môi trường bệnh viện (HAP), viêm phổi liên quan thở máy (VAP) và viêm phổi liên quan chăm sóc y tế (HCAP) (theo tiêu chuẩn IDSA/ATS 2005 và phác đồ điều trị VPBV của bệnh viện ĐHYD TP.HCM 2015)

ở một trong các mục chẩn đoán vào viện, chẩn đoán xuất viện, tổng kết xuất viện (tính cả tuyến trước nếu có) Đối với bệnh nhân có mắc VPBV nhiều đợt, tiến hành nghiên cứu đợt VPBV đầu tiên

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi trước

48 giờ nhập viện và không có YTNC của HCAP;

có kết quả lao phổi AFB dương tính; trẻ em < 18

tuổi, phụ nữ mang thai; bệnh nhân viêm phổi do

nấm, ký sinh trùng; bệnh nhân có thời gian điều

trị VPBV với kháng sinh < 3 ngày

Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu: trong thời gian nghiên cứu từ tháng

3/2018 đến tháng 6/2018, có 109 hồ sơ bệnh án

thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và không thuộc tiêu

chuẩn loại trừ được đưa vào khảo sát

Tiêu chí đánh giá tính hợp lý

Tính hợp lý trong chỉ định kháng sinh điều

trị VPBV dựa trên các tiêu chí: loại kháng sinh

chỉ định, liều và đường dùng, hợp lý chung (3

tiêu chí trên đều hợp lý) Việc đánh giá tính

hợp lý được dựa trên:

- Phác đồ điều trị VPBV bệnh viện ĐHYD

TPHCM 2015(2);

- Hướng dẫn điều trị HAP và VAP của

IDSA/ATS 2016 (không đánh giá HCAP)(10);

- Liều kháng sinh sử dụng được đánh giá

dựa trên hai phác đồ trên và “Hướng dẫn liều

và điều chỉnh liều theo chức năng thận” (theo

“The Sanford guide to antimicrobial therapy

2017” và cơ sở dữ liệu “Lexicomp –

Lexi-Drugs 2017” và “Micromedex – Drug

Reference 2017”)

- Đối với chỉ định kháng sinh khi có kháng

sinh đồ: kháng sinh được xem là chỉ định hợp

lý khi vi khuẩn còn nhạy với kháng sinh đó

dựa trên kết quả kháng sinh đồ

- Chỉ định không hợp lý khi không tuân theo

cả hai phác đồ điều trị và các tiêu chí trên

Xử lý thống kê

Tất cả các phép kiểm thống kê được xử lý

bằng phần mềm SPSS 20.0 Các kết quả được

xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (n = 109)

Tuổi

(18,7 - 24,1) Tổng thời gian

nằm viện (ngày)

Trung vị (IQR)

19 (12 - 29) Thời gian nằm

viện trước VPBV (HAP và VAP) (ngày)

7 (5 - 12)

Khoa điều trị

Chức năng thận ban đầu

eGFR (mL/phút/1,73 m2) Trung

vị (IQR)

66 (51,5 - 87)

Bệnh kèm

Chỉ số bệnh kèm

Phân loại VPBV

Đặc điểm VPBV

Có YTNC tăng tỷ lệ tử

IQR = khoảng tứ phân vị; SD = độ lệch chuẩn; BMI = chỉ số khối cơ thể; VPBV = viêm phổi bệnh viện; HAP = viêm phổi trong môi trường bệnh viện; VAP = viêm phổi liên quan thở máy; HCAP = viêm phổi liên quan chăm sốc y tế; eGFR = độ lọc cầu thận ước tính; CrCl = độ thanh thải creatinine; YTNC = yếu tố nguy cơ

Trang 4

Đặc điểm vi sinh

Các loại bệnh phẩm ghi nhận được bao

gồm: đàm, chất tiết nội khí quản, dịch hút phế

quản, dịch màng phổi và máu Trong 109 hồ

sơ bệnh án thu thập, có 40 bệnh nhân cho kết

quả cấy dương tính (36,7%) Các chủng vi

khuẩn Acinetobacter baumanii, Pseudomonas

aeruginosa và Klebsiella pneumoniae chiếm đa số

trong các mẫu bệnh phẩm dương tính (77,8%)

và K pneumoniae là chủng phân lập được

nhiều nhất (35,6%)

A baumannii đã đề kháng cao với hầu hết

các kháng sinh (> 80%), kể cả meropenem

(84,6%) và amikacin (69,2%) Kháng sinh vẫn

còn hiệu lực cao là cefoperazone/sulbactam và

colistin K pneumonia đã đề kháng cao với

cephalosporin thế hệ thứ 2 và 3, levofloxacin,

kể cả meropenem (62,5%) Một số kháng sinh

còn nhạy tương đối tốt (> 70%) là amikacin,

cefoperazone/sulbactam Không tìm thấy

chủng vi khuẩn Gram âm đề kháng colistin

Đặc điểm sử dụng kháng sinh và tính hợp lý

trong chỉ định kháng sinh

Hầu hết các bệnh nhân dùng từ 2 – 3 loại

kháng sinh trong quá trình điều trị VPBV

(73,4%) Loại kháng sinh được chỉ định nhiều

nhất là meropenem (71,6%) và levofloxacin

(77,1%) Có 11 bệnh nhân được chỉ định colistin

(10,1%), trong đó phác đồ kháng sinh được chỉ

định nhiều nhất khi điều trị theo kinh nghiệm là

meropenem + levofloxacin (36%), khi điều trị với

kết quả kháng sinh đồ dương tính là meropenem

+ levofloxacin + linezolid (17,9%)

Trong 109 hồ sơ bệnh án, có 108 bệnh nhân

được điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm

ban đầu và có 38 bệnh nhân được điều trị khi

kết quả kháng sinh đồ

Trong quá trình điều trị, khi có kết quả

kháng sinh đồ (n = 38), vẫn có những bệnh

nhân được chỉ định kháng sinh không theo kết

quả kháng sinh đồ (n = 27), cụ thể như sau:

- Kháng sinh kinh nghiệm vẫn tiếp tục được

chỉ định (n = 23), trong đó bao gồm kháng sinh

kinh nghiệm đã đề kháng trên kháng sinh đồ (n = 8) và kháng sinh kinh nghiệm không có trong kháng sinh đồ (n = 15)

- Chậm trễ sử dụng theo kháng sinh đồ (n = 4) Kháng sinh được sử dụng chưa hợp lý về liều chủ yếu là meropenem, levofloxacin, teicoplanin (số trường hợp lần lượt là 32, 29, 13)

Bảng 2: Tính hợp lý trong chỉ định kháng sinh

Tiêu chí

Kháng sinh theo kinh nghiệm (n = 108)

Kháng sinh khi có kết quả kháng sinh đồ (n = 38)

Đáp ứng điều trị và các yếu tố liên quan đến đáp ứng điều trị

Đáp ứng điều trị được phân thành 2 nhóm dựa trên kết quả điều trị được ghi nhận tại hồ

sơ bệnh án, bao gồm: thành công (bệnh nhân khỏi, giảm) và thất bại (tình trạng bệnh không đổi hoặc nặng hơn) Kết thúc quá trình điều trị

có 89 bệnh nhân (81,7%) điều trị thành công,

20 bệnh nhân (18,3) điều trị thất bại

Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy sử dụng hợp lý kháng sinh kinh nghiệm ban đầu có liên quan đến việc giảm

tỷ lệ điều trị thất bại (OR = 0,162; 95% CI:0,028 – 0,937; p = 0,042)

BÀN LUẬN

Nhìn chung 4 chủng vi khuẩn Gram âm là

A baumanii, P aeruginosa, K pneumoniae và E coli vẫn là các chủng phân lập được hàng đầu

trong NKBV nói chung và VPBV nói riêng, phù hợp với kết quả của các nghiên cứu của Phạm Hồng Nhung, Vu Dinh Phu trong các năm 2011 – 2015 tại Việt Nam(9,10)

A baumannii đã gia tăng đề kháng

meropenem so với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bảo (2012), Nguyễn Thị Ngọc Mai (2015) và Lê Tiến Dũng (2016) (84,6% so với khoảng 60% trong các nghiên cứu trước

Trang 5

đó)(5,7,8) Tương tự như K pneumonia, tỷ lệ đề

kháng meropenem đã gia tăng đáng kể so với

các nghiên cứu trước tại bệnh viện ĐHYD

TPHCM (62,5% so với 12,5% và 21%)(5,7)

Nghiên cứu này cho thấy hầu hết kháng

sinh được lựa chọn là meropenem và

levofloxacin và đã có sự thay đổi về loại

kháng sinh thường được chỉ định so với

nghiên cứu của Chung DR (nhóm penicillin,

cephalosporin và fluoroquinolone) và nghiên

cứu của Nguyễn Thị Ngọc Mai (nhóm

fluoroquinolone, carbapenem và

cephalosporin thế hệ 3)(3,7) Có thể thấy tình

hình để kháng sinh gia tăng nhanh chóng

qua tỷ lệ đề kháng trên kháng sinh đồ và loại

kháng sinh được chỉ định điều trị VPBV

Việc lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm

ban đầu chưa hợp lý xảy ra ở 26,6% số bệnh

nhân Nguyên nhân chủ yếu là do thay đổi

kháng sinh trong vòng 48 giờ hoặc lựa chọn

kháng sinh kinh nghiệm chưa hợp lý Do đó,

cần phải xác định tiền sử bệnh cùng các

YTNC có thể có để lựa chọn kháng sinh ban

đầu hợp lý theo các hướng dẫn điều trị

VPBV Đối với những bệnh nhân có kết quả

kháng sinh đồ trong quá trình điều trị, 71,1%

bệnh nhân được chỉ định kháng sinh không

dựa trên kháng sinh đồ (điều trị theo kinh

nghiệm) Trong số đó, kết quả kháng sinh đồ

của 8 bệnh nhân cho thấy đã đề kháng với

kháng sinh kinh nghiệm nhưng 7/8 bệnh

nhân có kết quả điều trị thành công Điều này

đặt ra câu hỏi về mức độ tin cậy của mẫu

bệnh phẩm cũng như kết quả vi sinh Do đó,

cần kiểm soát các quá trình lấy, bảo quản và

cấy bệnh phẩm để tránh mọc các vi khuẩn

nhiễm từ bên ngoài cùng với việc đánh giá

nguy cơ ngoại nhiễm để đưa ra quyết định

điều trị phù hợp

Đa số các kháng sinh được sử dụng chưa

hợp lý về liều đều có liên quan đến chức

năng thận với liều dùng cao hơn khuyến cáo

Chúng tôi ghi nhận các loại kháng sinh sử

dụng trong mẫu nghiên cứu đều hiệu chỉnh theo độ thanh thải creatinin (nếu cần) Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa giá trị eGFR (theo công thức MDRD) và giá trị CrCl (theo công thức Cockcroft-Gault) (bảng 1) với giá trị eGFR cao hơn Do đó, việc chỉnh liều theo eGFR khiến cho bệnh nhân phải dùng liều cao hơn khuyến cáo

Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng kháng sinh kinh nghiệm ban đầu hợp lý (về loại kháng sinh, đường dùng và liều) có liên quan đến giảm tỷ lệ thất bại trong điều trị VPBV (OR = 0,162; 95% CI: 0,028 – 0,937;

p = 0,042), gợi ý hiệu quả của việc tuân thủ phác đồ điều trị VPBV trên thực hành lâm sàng Kết quả này phù hợp với những nghiên cứu khác trên bệnh nhân VPBV Nghiên cứu của Chung D R (2011) trên bệnh nhân HAP hoặc VAP cho thấy tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn khi điều trị với kháng sinh kinh nghiệm ban đầu không hợp lý so với khi điều trị hợp lý (43,8% so với 35%, p = 0,002)(3) Nghiên cứu của Nguyễn Kỳ Sơn (2013) cũng cho thấy bệnh nhân điều trị chuyên đềkháng sinh ban đầu không phù hợp có nguy cơ tử vong cao hơn (OR = 10,3; 95% CI: 2,87 – 41,3; p < 0,0001)(6)

KẾT LUẬN

Kết quả khảo sát trên 109 HSBA của các bệnh nhân VPBV tại Bệnh viện Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh từ tháng 3/2018 đến tháng 6/2018 đã cung cấp nhận định chung

về tình hình đề kháng kháng sinh, tình hình

sử dụng kháng sinh, tính hợp lý trong sử dụng kháng sinh và xác định các yếu tố liên quan đáp ứng điều trị

Các kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải tuân thủ phác đồ của bệnh viện VPBV nhằm cải thiện kết quả điều trị VPBV cho bệnh nhân

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 American Thoracic Society, Infectious Diseases Society of

America (2005), “Guidelines for the management of adults

healthcare-associated pneumonia”, Am J Respir Crit Care

Med, 171(4), pp.388 – 416

2 Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh (2015), Phác đồ

điều trị, Hồ Chí Minh, tr 77 – 82

3 Chung DR, Song JH, Kim SH, et al (2011), “High

prevalence of multidrug-resistant nonfermenters in

hospital-acquired pneumonia in Asia”, Am J Resp Crit Care

Med, 184(12), pp.1409 – 1417

4 Kalil AC, Metersky ML, Klompas M, et al (2016),

“Management of Adults With Hospital-acquired and

Ventilator-associated Pneumonia: 2016 Clinical Practice

Guidelines by the Infectious Diseases Society of America

and the American Thoracic Society Clin Infect Dis, 63(5),

pp e61 – e111

khuẩn gây viêm phổi bệnh viện tại bệnh viện Đại Học Y

Dược Thành phố Hồ Chí Minh 2015”, Chuyên đề Hội nghị

KHKT Bệnh viện ĐHYD, Y Học TP Hồ Chí Minh, phụ bản

20(2), tr.198 – 203

6 Nguyễn Kỳ Sơn, Ngô Thanh Bình (2013), “Khảo sát các yếu tố

nguy cơ liên quan đến tử vong ở bệnh nhân viêm phổi bệnh

viện tại bệnh viện đa khoa Lâm Đồng, Chuyên đề Hội Nghị

Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương Y Học TP

Hồ Chí Minh, phụ bản 17(2), tr.105 – 113

7 Nguyen MT, Dang Nguyen TD (2015), “Investigation on hospital-acquired pneumonia and the association between hospital-acquired pneumonia and chronic comorbidity at the Department of General Internal Medicine, University

Medical Center Hochiminh City”, Mahidol Univ J Pharm

Sci, 42(4), pp.195 – 202

8 Nguyễn Thanh Bảo, Cao Minh Nga, Trần Thị Thanh Nga

và cs (2012), “Chọn lựa kháng sinh ban đầu trong điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện tại một số bệnh viện TP Hồ Chí

Minh”, Chuyên đề Nội Khoa II, Y Học TP Hồ Chí Minh,

phụ bản 16(1), tr.206 – 214

9 Phạm Hồng Nhung, Đào Xuân Cơ, Bùi Thị Hảo (2017),

“Mức độ nhạy cảm với kháng sinh của các trực khuẩn gram âm phân lập tại khoa điều trị tích cực bệnh viện Bạch

Mai”, Nghiên cứu Y học, 109(4), tr.1 – 8

10 Phu VD, Wertheim HFL, Larsson M, Nadjm B, Dinh QD, et

al (2016), “Burden of Hospital Acquired Infections and

Antimicrobial Use in Vietnamese Adult Intensive Care

Units”, Plos one, 11(1), pp e0147544

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2019

Ngày đăng: 16/01/2020, 01:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w