1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu gây mê không sử dụng opioid trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi

9 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 457,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc đánh giá hiệu quả vô cảm ảnh hưởng lên tuần hoàn, hô hấp và tác dụng không mong muốn của gây mê không sử dụng opioid trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu tiến cứu gây mê phẫu thuật không sử dụng opioid trên 30 bệnh nhân phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại Bệnh viện Quân y 103 từ 5 - 2018 đến 2 - 2019.

Trang 1

NGHIÊN CỨU GÂY MÊ KHÔNG SỬ DỤNG OPIOID

TRONG PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT NỘI SOI

Nguyễn Lưu Phương Thuý 1 ; Nguyễn Trường Giang 2 Hoàng Văn Chương 1 ; Vũ Thị Thanh Nga 3 ; Nguyễn Trung Kiên 1

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá hiệu quả vô cảm ảnh hưởng lên tuần hoàn, hô hấp và tác dụng không

mong muốn của gây mê không sử dụng opioid trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi Đối tượng

và phương pháp: nghiên cứu tiến cứu gây mê phẫu thuật không sử dụng opioid trên 30 bệnh

nhân phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại Bệnh viện Quân y 103 từ 5 - 2018 đến 2 - 2019 Trước khởi

mê tiêm chậm lidocaine 2 mg/kg; magnesium 30 mg/kg Khởi mê bằng propofol 2 - 2,5 mg/kg;

ketogesic 30 mg; rocuronium 0,8 mg/kg Đặt ống nội khí quản khi TOF = 0, RE và SE ≤ 60

Sau khởi mê, tiêm ketamin 0,5 mg/kg, tê chân trocar bằng ropivacain 0,5% Điều chỉnh thuốc

mê để duy trì RE, SE trong khoảng 40 - 60; theo dõi mạch, huyết áp, lượng thuốc tiêu thụ, tác dụng

không mong muốn Kết quả: 100% bệnh nhân có chất lượng vô cảm tốt với RE, SE đều nằm

trong khoảng mê đủ (≤ 60), RE - SE ≤ 3 tại các thời điểm từ sau khởi mê đến khi đóng da

chứng tỏ không có hoạt động điện cơ ở thùy trán, không có trường hợp nào xuất hiện thức tỉnh

trong mổ hoặc có ký ức về cuộc mổ, huyết động ổn định trong quá trình phẫu thuật 100% bệnh

nhân được rút ống nội khí quản ngay sau phẫu thuật, không gặp biến chứng về tuần hoàn và

hô hấp, 8/30 bệnh nhân (26,67%) có tăng tiết đờm nhưng nhẹ và được khắc phục hoàn toàn

khi rút ống có sử dụng máy hút; 1 bệnh nhân (3,33%) xuất hiện buồn nôn nhưng không nôn,

được theo dõi và hồi phục tốt sau mổ Kết luận: gây mê không opioid có hiệu quả vô cảm tốt và

an toàn trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi Tác dụng phụ nhẹ, thoáng qua

* Từ khóa: Gây mê không sử dụng opioid; Phẫu thuật cắt túi mật nội soi

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gây mê cân bằng sử dụng thuốc mê,

giảm đau opioid và giãn cơ thường được

áp dụng để vô cảm cho cắt túi mật Opioid

thường sử dụng là fentanyl, một opioid

tổng hợp mạnh, sử dụng fentanyl trong

phẫu thuật cho phép giảm liều thuốc ngủ

ức chế giao cảm, do đó duy trì huyết

động ổn định [3] Tuy nhiên, các phản

ứng phụ liên quan đến sử dụng fentanyl

bao gồm buồn nôn, nôn, táo bón, buồn ngủ, nhức đầu, nhầm lẫn, ảo giác, ngứa, mẩn đỏ, ban đỏ, đặc biệt trầm trọng nhất

là tình trạng quên thở, giảm thông khí

Theo kết quả một nghiên cứu công bố

tỷ lệ tác dụng phụ liên quan đến opioid ở bệnh nhân (BN) sau phẫu thuật sử dụng opioid là 2,67% và có liên quan đến tăng thời gian nằm viện cũng như chi phí chăm sóc sức khỏe [4] BN dùng liều cao fentanyl

1 Học viện Quân y

2 Bệnh viện Quân y 103

3 Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Lưu Phương Thuý (cattuong2209@gmail.com)

Ngày nhận bài báo: 23/08/2019; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 06/10/2019

Ngày bài báo được đăng: 10/10/2019

Trang 2

trong khi phẫu thuật luôn đòi hỏi phải

dùng opioid liều cao hơn trong giai đoạn

hậu phẫu so với những người dùng liều

thấp hơn [5]

Gây mê không sử dụng opioid (free

opioid anesthesia - FOA) đang được áp

dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong

đó giảm đau đa mô thức bao gồm gây tê

tại chỗ kết hợp với các thuốc giảm đau

toàn thân không gây nghiện và thuốc ức

chế giao cảm trong mổ góp phần tăng

cường hồi phục sau mổ (Enhanced recovery

after surgery - ERAS) [3] Việc sử dụng

thuốc tê tại chỗ không những có tác dụng

kéo dài còn giúp tăng cường giảm đau

sau mổ Như vậy, khái niệm về gây mê

cân bằng hiện nay đã có sự thay đổi,

gồm ba thành tố cơ bản: thuốc ngủ, thuốc

giãn cơ và thuốc ức chế giao cảm [6]

Nghiên cứu này nhằm: Đánh giá hiệu quả

vô cảm, các ảnh hưởng lên tuần hoàn,

hô hấp và tác dụng không mong muốn

của gây mê không opioid trong phẫu thuật

cắt túi mật nội soi

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

30 BN có chỉ định cắt túi mật nội soi tại

Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 05 - 2018

đến 02 - 2019

* Tiêu chuẩn chọn BN:

- BN ≥ 18 tuổi

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Có chỉ định vô cảm bằng gây mê nội

khí quản (NKQ)

- Chỉ định cắt túi mật nội soi

- Tiên lượng có thể rút ống NKQ sớm

tại phòng mổ

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- BN không đồng ý tham gia nghiên cứu

- BN dị ứng với các thuốc sử dụng

- Có tiền sử động kinh, tâm thần, khó khăn trong giao tiếp

- BN có tổn thương vùng đầu, mặt, cổ, miệng, lưỡi; có tiền sử tăng áp lực nội sọ; bệnh tim, cao huyết áp; mạch chậm

- BN suy gan, suy thận

- Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú

* Tiêu chuẩn đưa ra khỏi nghiên cứu:

- BN có tai biến trong phẫu thuật

- BN không thu thập đủ số liệu nghiên cứu

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng tự chứng

BN được gây mê toàn thể không sử dụng thuốc opioid

* Các bước tiến hành:

- BN được khám tiền mê hôm trước mổ

- Đưa BN vào phòng phẫu thuật nội soi, đặt catheter ngoại vi, truyền tĩnh mạch dung dịch NaCl 0,9%, theo dõi điện tim, SpO2, huyết áp không xâm lấn trên monitor Nihon Kohden, thở oxy ẩm 3 lít/phút qua mũi, lắp máy TOF scan theo dõi kích thích thần kinh trụ tại vị trí cơ khép ngón cái

* Tiến hành vô cảm:

- Ngay trước khởi mê: lidocaine 2 mg/kg; magnesium 30 mg/kg

- Khởi mê: propofol 2 - 2,5 mg/kg;

ketogesic 30 mg; rocuronium 0,8 mg/kg Thông khí nhân tạo khi TOF = 0, RE,

SE ≤ 60 tiến hành đặt NKQ

- Sau khởi mê: ketamin 0,5 mg/kg

Tê chân trocar bằng ropivacain 0,5%

Trang 3

- Duy trì mê: thông khí Vt 8 - 10 ml/kg

mode kiểm soát thể tích (volume

control - VC), tần số 12 -14 lần/phút,

duy trì áp lực đường thở 12 - 16 cm H20;

EtCO2 25 - 35 mmHg; FGF 1,2 - 2 lít/phút

Khi bơm hơi ổ bụng, điều chỉnh các thông

số tăng từ từ cả Vt và tần số, giữ EtCO2

< 40 mmHg và áp lực đường thở < 30 cm

H2O Duy trì mê bằng propofol, điều chỉnh

sao cho RE, SE trong khoảng 40 - 60,

truyền liên tục tĩnh mạch bằng bơm tiêm

điện lidocaine 1,5 mg/kg/giờ; magnesium

1,5 g pha truyền tĩnh mạch (ngắt thuốc

khi tiến hành đóng da) Rocuronium nhắc

lại 0,5 mg/kg khi TOF ≥ 2 twitch (không

tiêm nhắc lại lần cuối khi thời gian ước

tính từ thời điểm dự kiến tiêm đến khi

đóng bụng < 20 phút) Paracetamol 1 g

truyền tĩnh mạch khi cắt được túi mật

Trong và sau mổ, BN được ủ ấm bằng

máy thổi hơi ấm Warm Touch 6.000 Covidien

* Tiến hành giải giãn cơ: BN sau phẫu

thuật ngắt thuốc mê, tiếp tục theo dõi TOF

15 giây/1 lần Giải giãn cơ bằng sugammadex

liều 2 mg/kg

Rút ống NKQ khi BN thoả mãn các tiêu

chuẩn:

+ BN tỉnh, tiếp xúc tốt

+ Da và niêm mạc hồng

+ Hồi phục phản xạ ho, khạc

+ Hô hấp: tự thở đều 10 - 30 lần/phút;

Vt > 5 ml/kg

+ Tuần hoàn: huyết áp tâm thu ≥ 90 mmHg;

nhịp tim ≥ 60 lần/phút

+ Thân nhiệt ≥ 35°C

+ Chỉ số TOF ≥ 0,9; không có biến chứng

sau mổ

Theo dõi BN tại hồi tỉnh: bổ sung fentanyl

liều 0,5 mcg/ kg khi VAS ≥ 4 trong vòng

2 giờ sau khi kết thúc phẫu thuật

* Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá:

- Tuổi, giới tính, BMI, thời gian phẫu thuật (tính từ lúc bắt đầu rạch da đến khi kết thúc mũi khâu đóng da cuối cùng), thời gian vô cảm (từ khi khởi mê đến khi thoát mê), thời gian khởi mê (tính từ lúc bắt đầu tiêm thuốc đến khi đặt NKQ)

- Tổng lượng thuốc đã dùng: propofol (mg), lidocaine (mg), magnesium (mg), ketamin (mg), rocuronium (mg), sugammadex (mg), atropin (mg), prostigmin (mg)

- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trên tuần hoàn, hô hấp: mạch, huyết áp, SpO2, EtCO2 được đo tại các thời điểm theo quy ước từ T1 đến T9 tương ứng với các thời điểm vào phòng mổ, trước khởi mê, sau khởi mê, trước rạch da, sau rạch da, trước đóng da, sau đóng da, trước rút NKQ, sau rút NKQ

- Chỉ tiêu theo dõi độ mê: độ mê theo Entropy, ký ức cuộc mổ và sự thức tỉnh trong mổ

- Chỉ tiêu đánh giá phục hồi giãn cơ: thời gian đạt được TOF > 0,5; TOF > 0,7; TOF > 0,9 từ khi tiêm thuốc giải giãn cơ; thời gian rút ống NKQ (từ khi tiêm thuốc giải giãn cơ đến khi rút ống)

- Tác dụng không mong muốn: nôn, buồn nôn, nhịp chậm, rét run, dị ứng, tăng tiết

- Điểm VAS tại các thời điểm: ngay sau mổ, sau 10 phút, sau 20 phút, sau

1 giờ, 2 giờ, 3 giờ

Theo dõi, ghi chép và xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 20.0 Các biến liên tục được mô tả dưới dạng giá trị trung bình

và độ lệch chuẩn

Trang 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

- Giới: nam 10 BN, nữ 20 BN

- Tuổi: từ 24 - 73 tuổi, trung bình 49,67 ± 14,21 tuổi

- BMI từ 15,78 - 25,39 kg/m2; trung bình: 20,4 ± 2,4 kg/m2

- ASA I: 26 BN; ASA II: 4 BN

2 Các chỉ tiêu về gây mê và phẫu thuật

Bảng 1: Chỉ tiêu về thời gian gây mê và phẫu thuật

Thời gian TOF (phút)

TOF = 0,5

TOF = 0,7

TOF = 0,9

1,15 ± 0,24 [0,43 - 2,04]

1,47 ± 0,23 [1,04 - 2,52]

2,15 ± 0,42 [1,16 - 3,67]

Bảng 2: Chỉ tiêu thuốc sử dụng trong phẫu thuật

Biểu đồ 1: Độ mê theo Entropy tại các thời điểm

Các dấu hiệu sinh tồn: SpO2 duy trì 99 - 100%, nhịp tim, huyết áp ổn định và dao động trong giới hạn bình thường

Trang 5

Biểu đồ 2: Thay đổi mạch, huyết áp tại các thời điểm trong phẫu thuật

EtCO2, áp lực đỉnh trong mổ dao động trong giới hạn cho phép

3 Tác dụng không mong muốn

Buồn nôn: 1 BN (3,33%); tăng tiết: 8 BN (26,67%)

4 Đau sau phẫu thuật

Biểu đồ 3: Điểm VAS sau mổ lúc nghỉ và lúc ho

BÀN LUẬN

Tăng cường hồi phục sau mổ là mối

quan tâm hàng đầu của các nhà gây mê

hồi sức và phẫu thuật viên nhằm tăng

cường chất lượng chăm sóc người bệnh

Việc sử dụng các thuốc thay thế opioid,

thuốc NSAIDs đường uống giảm đau sau

mổ góp phần giảm chi phí điều trị và tăng chất lượng hồi phục của BN [7] Tuy nhiên, thực tế lâm sàng cho thấy BN được gây

mê NKQ dùng liều cao fentanyl - một opioid tổng hợp mạnh trong phẫu thuật luôn đòi hỏi liều cao hơn của opioid trong

Trang 6

giai đoạn hậu phẫu so với những người

dùng liều thấp hơn [5] Vì vậy, gây mê

không opioid (FOA) đã và đang được áp

dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, ngày

càng chứng minh được hiệu quả

Theo Mulier và CS (2017), khi kết hợp

các thuốc ổn định hệ thần kinh giao cảm

theo phương pháp đa mô thức bao gồm

các thuốc ức chế α2 - adrenecgic (clonidine,

dexmidetomidine), thuốc tê tiêm tĩnh mạch

(lidocaine, procaine), magiesium hoàn

toàn có thể tránh dùng opioid trong phẫu

thuật, nguyên nhân gây ra vấn đề an thần

kéo dài và tác dụng phụ của opioid giai

đoạn hậu phẫu [8] Tác giả cũng khẳng

định khả năng giảm đáng kể các biến

chứng khi gây mê không sử dụng opioid,

đặc biệt là nôn, buồn nôn và suy hô hấp

sau mổ [7, 8] Một nghiên cứu khác trên

5.061 BN được phẫu thuật nội soi dạ dày,

Mulier nhận thấy gây mê không opioid

cho 2.337 BN dùng kết hợp giữa clonidine,

dexmidetomidine, lidocaine, magiesium

và liều ketamin nhỏ < 50 mg cho hiệu quả

tương đương, nhưng lại giảm có ý nghĩa

thống kê tỷ lệ biến chứng sau mổ cũng

như lượng morphin giảm đau sau mổ so

với 264 BN sử dụng opioid liều thấp và

2.451 BN chỉ dùng opioid giảm đau trong

phẫu thuật [9]

Trong nghiên cứu này, gây mê không

opioid sử dụng các thuốc tê đường tĩnh

mạch (lidocaine), magnesium, ketamin

liều thấp và NSAIDs tĩnh mạch (ketogesic)

kết hợp với tê chân trocar bằng ropivacaine

0,5%, paracetamol 1 g trước khi kết thúc

phẫu thuật cho hiệu quả ổn định giao

cảm Mạch, huyết áp tâm thu và huyết áp

tâm trương ổn định, có dao động giữa các thời điểm theo dõi nhưng trong giới hạn bình thường Độ mê tại các thời điểm bằng theo dõi Entropy thấy RE, SE đều nằm trong khoảng mê đủ (≤ 60), RE - SE

≤ 3 tại các thời điểm sau khởi mê đến khi đóng da, chứng tỏ không có hoạt động điện cơ ở thùy trán [1], không gặp trường hợp nào xuất hiện thức tỉnh trong mổ hoặc

có ký ức về cuộc mổ

Lidocaine đường tĩnh mạch được chứng minh có hiệu quả giảm đau qua trung gian

do ức chế các xung tự phát từ sợi thần kinh bị tổn thương và hạch rễ lưng, đồng thời liên hợp với thụ cảm thể NMDA (N-methyl-D-aspartat) và G - protein, giảm tiêu thụ và tác dụng phụ của opioid, giảm

tỷ lệ tắc ruột sau phẫu thuật vùng bụng [10] Magnesium hoạt động như một chất đối kháng không cạnh tranh với thụ thể NMDA ngăn khử cực và truyền tín hiệu đau, góp phần giảm đau chu phẫu và giảm phản xạ tự động từ những kích thích

có hại Sử dụng magnes trong mổ còn giúp giảm tiêu thụ opioid trong 24 giờ đầu sau mổ [10] Ketamin là thuốc mê phân ly đối kháng với thụ thể NMDA, với liều nhỏ (< 0,5 mg/kg) làm giảm nhu cầu giảm đau sau mổ, giảm cường độ đau lên đến 25%

và giảm lượng thuốc giảm đau 48 giờ sau mổ [12]

Javier khẳng định gây mê không opioid chiếm ưu thế trong một số trường hợp:

BN nghiện ma túy, béo phì, tăng dung nạp opioid hoặc phụ thuộc opioid, BN tăng cảm đau hoặc BN mắc các bệnh mạn tính (suy giảm miễn dịch, ung thư) [12] Trong một

Trang 7

nghiên cứu khác của Mansour và CS (2013),

28 BN béo phì (BMI > 50 kg/m2) có chỉ

định phẫu thuật dạ dày được gây mê theo

2 phương pháp không sử dụng và sử

dụng opioid trong phẫu thuật Kết quả thu

được cho thấy gây mê không opioid cho

hiệu quả tương đương với gây mê dùng

opioid, đồng thời có xu hướng giảm nhu

cầu tiêu thụ giảm đau giai đoạn hậu phẫu

Tuy nhiên, do Mansour chỉ sử dụng đơn

thuần ketamine với liều tương đối cao

(0,5 mg/kg cho khởi mê và 0,5 mg/kg/giờ

cho duy trì mê) nên ảo giác sau mổ xuất

hiện ở nhóm BN này cao hơn nhóm dùng

opioid [13] Một số nghiên cứu của Feld

(2003) và Yalcin Cok (2017) trên BN béo

phì cũng cho kết quả tương tự, điều này

khẳng định hiệu quả của gây mê không

dùng opioid Điểm khác biệt so với nghiên

cứu của Mansour là các tác giả sử dụng

phối hợp thuốc ổn định giao cảm, thuốc tê

đường tĩnh mạch, ketorolac, giảm liều

ketamine sử dụng nên hạn chế ảo giác

xuất hiện sau mổ [13, 15]

Tác dụng không mong muốn trong

nghiên cứu của chúng tôi trên 30 BN gặp

với tỷ lệ thấp, không xuất hiện biến chứng

nguy hiểm về tuần hoàn và hô hấp, 100%

BN rút ống NKQ sớm ngay sau phẫu

thuật tại phòng mổ, 8/30 BN (26,67%) có

tăng tiết đờm nhưng nhẹ khả năng do sử

dụng ketamine trong giai đoạn khởi mê,

tuy nhiên điều này được khắc phục hoàn

toàn khi rút ống có sử dụng máy hút;

1 BN (3,33%) xuất hiện buồn nôn nhưng

không nôn được theo dõi và hồi phục tốt

sau mổ, đặc biệt không có BN nào xuất

hiện ảo giác sau mổ Nghiên cứu của Bakan (2015) trên 80 BN phẫu thuật cắt túi mật nội soi được gây mê theo 2 phương pháp khác nhau cho thấy tỷ lệ

BN xuất hiện các tác dụng phụ như nôn, buồn nôn, hạ huyết áp, run ở nhóm dùng opioid-remifentanyl cao hơn nhóm gây

mê không opioid, đặc biệt tỷ lệ liều dùng ephedrine và ondansetron và fentanyl 2 giờ sau mổ ở nhóm opioid-remifentanyl cao hơn có ý nghĩa thống kê so với gây mê không opioid [15]

Nghiên cứu này, chúng tôi còn sử dụng propofol trong khởi mê và duy trì mê theo phương pháp TIVA 6 mg/kg/giờ, là thuốc gây mê tĩnh mạch được chứng minh là an toàn, tác dụng nhanh, êm dịu, không kích ứng đường thở, hồi tỉnh nhanh, ít tác dụng lên gan thận, góp phần tăng cường chất lượng hồi phục sau mổ Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Văn Chung và CS (2004) [2] Sau phẫu thuật, BN trong nhóm nghiên cứu được giải giãn cơ bằng suggamadex

2 mg/kg và rút ống NKQ khi đáp ứng các tiêu chuẩn, trong đó TOF ≥ 0,9 là quan trọng nhất, giảm tồn dư giải cơ [17] Kết quả thu được cho thấy, thời gian hồi phục giãn cơ sau tiêm thuốc tương ứng với các thời điểm TOF = 0,5; 0,7; 0,9 và thời gian rút ống NKQ ở BN sử dụng suggamadex nhanh và không xuất hiện tái giãn cơ Kết quả này tương đương với nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về tác dụng hóa giải giãn cơ của suggamadex [18]

Trang 8

Đau trong giai đoạn hậu phẫu của

nhóm BN được theo dõi trong 3 giờ sau

mổ dựa theo điểm VAS thấy VAS tăng dần

với VAS lúc ho tăng cao hơn lúc nghỉ

KẾT LUẬN

Gây mê không opioid cho hiệu quả vô

cảm tốt và an toàn trong phẫu thuật nội

soi cắt túi mật Độ mê tại các thời điểm

theo dõi bằng Entropy thấy RE, SE đều

nằm trong khoảng mê đủ (≤ 60), RE - SE

≤ 3 tại các thời điểm sau khởi mê đến khi

đóng da, không có trường hợp nào xuất

hiện thức tỉnh trong mổ hoặc có ký ức về

cuộc mổ 100% BN được rút ống NKQ

sớm ngay sau phẫu thuật tại phòng mổ,

8/30 BN (26,67%) có tăng tiết đờm nhưng

nhẹ và được khắc phục hoàn toàn khi rút

ống có sử dụng máy hút; 1 BN (3,33%)

xuất hiện buồn nôn nhưng không nôn

được theo dõi và hồi phục tốt sau mổ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thụ Triệu chứng gây mê và

theo dõi độ mê Gây mê hồi sức cơ bản

Trường Đại học Y Hà Nội 2014, tr.163-175

2 Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Thu

Chung Đánh giá tác dụng của propofol trong

gây mê phẫu thuật nội soi cắt túi mật Tạp chí

Y học TP Hồ Chi Minh 2005, tập 9, tr.76-82

3 Jan P Mulier Perioperative opioids

aggravate obstructive breathing in sleep

apnea syndrome: Mechanisms and alternative

anesthesia strategies Current Opinion in

Anesthesiology 2016, 29 (1), pp.129-133

4 Gary M Oderda et al Cost of

opioid-related adverse drug events in surgical

patients Journal of Pain and Symptom

Management 2003, 25 (3), pp.276-283

5 Yuan-Yi Chia et al Intraoperative high

dose fentanyl induces postoperative fentanyl tolerance Canadian Journal of Anesthesia

1999, 46 (9), p.872

6 Jan Paul Mulier New anesthesia concepts

opioid free anesthesia, do we needit?(2015), https://www.researchgate.net/publication/2844 04080_New_concepts_in_anesthesia_Do_we_ need_opioid_free_anesthesia_Basel_lecture

7 P Ziemann-Gimmel et al Opioid-free

total intravenous anaesthesia reduces postoperative nausea and vomiting in bariatric surgery beyond triple prophylaxis British Journal of Anaesthesia 2014, 112 (5), pp.906-911

8 J Mulier Opioid free general anesthesia:

A paradigm shift? Article in English Spanish

2017, pp.427-430

9 J Mulier, B Dillemans, P Van Lancker

Opioid free (OFA) versus opioid (OA) and low opioid anesthesia (LOA) for the laparoscopic gastric bypass surgery Immediate post-operative morbidity and mortality in a single center study on 5.061 consecutive patients from March 2011 till June 2015 Eur J Anesthesiology 2016, 33 (e-S54), p.90

10 Lauren K Dunn, Marcel E Durieux

Perioperative use of intravenous lidocaine Anesthesiology: The Journal of the American Society of Anesthesiologists 2017, 126 (4), pp.729-737

11 H Kara et al Magnesium infusion

reduces perioperative pain European Journal

of Anaesthesiology 2002, 19 (1), pp.52-56

12 Maria-Elisa Javier Opioid-free anesthesia

(OFA) for thought, https://fr.scribd.com/document/ 381448498/Opioid-Free-Anesthesia-Ja

Trang 9

13 Mohamed Ahmed Mansour, Ahmed

Abdelaal Ahmed Mahmoud, Mohammed

Geddawy Non-opioid versus opioid based

general anesthesia technique for bariatric

surgery: A randomized double-blind study

Saudi Journal of Anaesthesia 2013, 7 (4),

p.387

14 James M Feld et al Non-opioid

analgesia improves pain relief and decreases

sedation after gastric bypass surgery

Canadian Journal of Anesthesia 2003, 50 (4),

pp.336-341

15 Oya YALÇIN ÇOK A new goal in opioid

management in obese patients: Opioid-free

anaesthesia (Anestezi Dergisi) 2017, 25 (3),

pp.117-121

16 Mefkur Bakan et al Opioid-free total

intravenous anesthesia with propofol, dexmedetomidine and lidocaine infusions for laparoscopic cholecystectomy: A prospective, randomized, double-blinded study Brazilian Journal of Anesthesiology (English edition)

2015, 65 (3), pp.191-199

17 Glenn S Murphy, Sorin J Brull

Residual neuromuscular block Definitions, incidence and adverse physiologic effects of residual neuromuscular block Anesth & Analg

2010, pp.120-128

18 Cafer Multu Sarikas Neriman Gulec, Ayse Nur Yeksan, Sibel Oba Comparison

of decurarization using sugammadex and neostigmin after rocuronium during desflutan anesthesia Arastirma Yazisi 2015, pp.48-53

Ngày đăng: 16/01/2020, 01:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w