1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề kháng insulin ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp không đái tháo đường

7 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 378,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thập niên 80 cho đến nay, đề kháng insulin trở thành mục tiêu trung tâm của nhiều nghiên cứu về tình trạng xơ vữa mạch máu. Trong đó, đáng lưu ý là tình trạng đề kháng insulin ở nhóm bệnh nhân chưa biểu hiện đái tháo đường (ĐTĐ) vẫn tiến triển âm thầm cho đến khi xuất hiện biến cố thì hậu quả nặng nề và không thể đảo ngược. Bài viết trình bày việc khảo sát tình trạng đề kháng insulin ở bệnh nhân không ĐTĐ có nhồi máu cơ tim cấp (NMCT cấp).

Trang 1

ĐỀ KHÁNG INSULIN Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP

KHÔNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Nguyễn Thùy Nhung*, Trần Kim Trang*

TÓM TẮT

Mở đầu: Từ thập niên 80 cho đến nay, đề kháng insulin trở thành mục tiêu trung tâm của nhiều nghiên

cứu về tình trạng xơ vữa mạch máu Trong đó, đáng lưu ý là tình trạng đề kháng insulin ở nhóm bệnh nhân chưa biểu hiện đái tháo đường (ĐTĐ) vẫn tiến triển âm thầm cho đến khi xuất hiện biến cố thì hậu quả nặng nề

và không thể đảo ngược

Mục tiêu: Khảo sát tình trạng đề kháng insulin ở bệnh nhân không ĐTĐ có nhồi máu cơ tim cấp

(NMCT cấp)

Đối tượng và phương pháp: Quan sát, cắt ngang, mô tả từ tháng 01 – 4/2018 trênbệnh nhân NMCT cấp

– không ĐTĐ được chụp mạch vành qua da Đề kháng insulin được đánh giá thông qua mô hình xác định bằng hằng định nội môi (HOMA – IR)

Kết quả: Có tất cả 70 bệnh nhân NMCT cấp không ĐTĐ được đưa vào nghiên cứu và được chia làm 2

nhóm: có và không có đề kháng insulin Tỷ lệ bệnh nhân đề kháng insulin trong nghiên cứu là 42,9% Tỷ lệ bệnh nhân thừa cân/béo phì, béo bụng, rối loạn đường huyết đói, tăng insulin máu cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm

đề kháng insulin Không có sự khác biệt về tuổi, giới, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và độ nặng sang thương động mạch vành giữa 2 nhóm có và không có đề kháng insulin

Kết luận: Bệnh nhân NMCT cấp không ĐTĐ có đề kháng insulin với tỷ lệ đáng lưu ý Khi một BN không

ĐTĐ nhưng có các yếu tố nguy cơ như béo phì, béo bụng, rối loạn đường huyết đói thì nên được tầm soát chỉ số HOMA – IR để đánh giá tình trạng đề kháng insulin nhằm có biện pháp phòng ngừa biến cố NMCT cấp xảy ra

Từ khóa: đề kháng insulin, nhồi máu cơ tim cấp, không đái tháo đường, béo phì, thừa cân, béo bụng

ABSTRACT

INSULIN RESISTANCE IN NONDIABETIC PATIENTS WITH ACUTE MYOCARDIAL INFARCTION

Nguyen Thuy Nhung, Tran Kim Trang

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 64 - 70

Background: Since 1980s, insulin resistance (IR) has become a major concern studied in several

atherosclerosis researches Especially, in nondiabetic patients, insulin resistance can progress silently, causing

severe and irreversible consequences

Objectives: To investigate the features of IR in nondiabetic patients with acute myocardial infarction (AMI) Methods: A cross–sectional descriptive study was conducted in nondiabetic patients with AMI who

have undergone a coronary artery angiography in the Department of Cardiovascular Intervention, Cho Ray Hospital during Jan–Apr 2018 IR was evaluated by homeostasis of minimal assessment of insulin resistance (HOMA – IR)

Results: Seventy nondiabetic patients with AMI were enrolled, which were divided into two groups: the IR

group and the non – IR group Overall, prevalence of patients who had IR in the study population was 42.9% IR group showed a statistically significant higher prevalence of overweight/obesity, abdominal obesity, impaired fasting glucose and higher value of insulinconcentrations No significant differences in age, gender, hypertension,

*Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

dyslipidemia and severity of coronary were found between IR group and non – IR group

Conclusion: There was a high prevalence of insulin resistance in nondiabetic patients with AMI

Nondiabetic patients with certain risk factors such as: overweight, addominal obesity, impaired fasting glucose should be screened for Insulin resistance using HOMA – IR to prevent AMI

Keywords: insulin resistance, Acute myocardial infarction, nondiabetic, overweight, obesity, abdominal obesity

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhồi máu cơ tim cấp (NMCT) cấp là nguyên

nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn cầu, với

tình trạng đề kháng insulin chính là một trong

những cơ chế sinh bệnh, âm thầm tiến triển cho

đến khi xuất hiện bệnh thì thường không thể

đảo ngược

Trong nhiều nghiên cứu, tỷ lệ đề kháng

insulin ở bệnh nhân (BN) NMCT cấp khá phổ

biến(1) Một số tác giả đã chứng minh đề kháng

insulin làm tăng nguy cơ mới mắc lên 2,18 lần(4)

cũng như là một yếu tố nguy cơ độc lập dự đoán

tử vong tăng từ 1,4 – 1,7 lần(6,7) ở BN NMCT cấp

Nhắc đến đề kháng insulin, người ta thường

nghĩ đến một cá thể đái tháo đường (ĐTĐ)

Nhưng nhiều nghiên cứu đã cho thấy một cá

nhân bị đề kháng insulin sẽ có nguy cơ mắc

bệnh tim mạch cao hơn dù có hay không sự tăng

đường huyết, có hay không ĐTĐ Do đó, nghiên

cứu này khảo sát tình trạng đề kháng insulin ở

những BN NMCT cấp không ĐTĐ nhằm xác

định mức lưu tâm cần thiết trước khi biến cố

mạch vành xảy ra trên nhóm đối tượng này

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát tình trạng đề kháng insulin ở BN

NMCT cấp không ĐTĐ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Quan sát, cắt ngang, mô tả

Nơi thực hiện

Khoa Tim Mạch Can Thiệp Bệnh viện Chợ

Rẫy

Thời gian nghiên cứu

Tháng 01 – 04/21018

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân NMCT cấp(12) lần đầu không

ĐTĐ

Cỡ mẫu

Theo công thức tính tỉ lệ lưu hành của 1 quần thể

N= Z2 1- α/2 P (1 – P)/d2

N: cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra để ước lượng tỉ lệ BN NMCT cấp không ĐTĐ có đề kháng insulin = 68 α: xác suất sai lầm lọai 1, chọn α = 0,05 thì Z 2 1- α/2 =

Z 0,975 : trị số từ phân phối chuẩn = 1,96

d: sai số cho phép (Độ chính xác mong muốn của ước lượng) = 0,1

P: trị số mong muốn từ tỉ lệ = 77,05% (Tỷ lệ đề kháng insulin trên nhóm BN NMCT cấp không ĐTĐ người Nhật Bản, theo Nishio – 2006) (10)

Tiêu chuẩn loại trừ

BN ĐTĐ, bệnh thận mạn, xơ gan, ung thư, bệnh tự miễn, đang dùng steroid, đã can thiệp động mạch vành, tiền căn NMCT cấp, đột quỵ, phẫu thuật tim, chấn thương tim, sốc điện dưới một năm tính đến thời điểm tham gia nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu

Khám, ghi nhận các thông số lâm sàng: tuổi, giới, chiều cao, cân nặng, vòng eo, huyết áp tâm thu – tâm trương và các giá trị xét nghiệm (mẫu máu buổi sáng sau nhịn ăn > 8 giờ): đường huyết, troponin I, cholesterol, triglyceride, LDL –

C, HDL – C

Thực hiện mẫu máu buổi sáng sau nhịn ăn >

8 giờ và trong vòng 24 giờ sau khi BN được chụp động mạch vành (ĐMV) qua da: insulin máu, đường huyết

Ghi nhận hình thái sang thương ĐMV dựa trên kết quả chụp ĐMV qua da

Phương pháp xét nghiệm

Tại khoa Sinh Hóa Bệnh viện (BV) Chợ Rẫy, xét nghiệm được nội kiểm đi kèm mỗi đợt chạy

Trang 3

và có tham gia ngoại kiểm

Định lượng insulin máu bằng phương pháp

miễn dịch hóa phát quang (CLIA) kiểu sandwich

trên máy phân tích LIAISON® Insulin với thuốc

thử kháng thể đơn dòng kháng insulin (chuột)

Khoảng tham chiếu 3,21 – 16,32 µU/m, hệ số

biến thiên CV = 20% dao động từ 0,51 – 0,87

µU/mL và ngưỡng phát hiện 0 – 500 µU/mL

Định lượng đường huyết bằng phương pháp

phân tích đo quang điểm cuối, dùng hệ enzyme

GOD – POD trên máy GLUCOSE GOD – PAP

với thuốc thử vial R3 của hãng BioLabo Khoảng

tham chiếu 74 – 106 mg/dL với hệ số biến thiên

CV = 1,3% ở nồng độ 81 ± 1,05 mg/dL và ngưỡng

phát hiện 10 – 500 mg/dL

Liệt kê và định nghĩa biến số

BMI (Body Mass Index: chỉ số khối cơ thể)

= cân nặng (kg)/ bình phương chiều cao (m2)

Dùng Phân loại thể trọng theo Tổ chức Y tế

Thế giới (TCYTTG) cho khu vực Thái Bình

Dương 2/2000

Béo bụng: vòng eo nam > 90 cm, nữ > 80 cm

(tiêu chuẩn theo TCYTTG cho cộng đồng các

nước châu Á)

Rối loạn đường huyết đói: đường huyết lúc

đói ≥ 101 mg/dL và < 126 mg/dL (tối thiểu sau ăn

8 tiếng)

RLLM: có tiền căn và/hoặc đang dùng thuốc

điều trị RLLM hoặc có ít nhất một chỉ số lipid

máu bất thường Dùng Phân loại tình trạng

RLLM theo NCEP ATP III

Tăng huyết áp (THA) khi huyết áp tâm thu ≥

140 mmHg và/hoặc HA tâm trương ≥ 90 mmHg

hoặc bệnh nhân đang điều trị THA

Đánh giá độ nặng của tổn thương ĐMV

đánh giá bằng chỉ số Gensini cải tiến

Công thức tính chỉ số HOMA – IR xác định

kháng insulin:

HOMA–IR =

Insulin máu đói (µU/mL) x Đường huyết đói (mg/dL)

405

Đề kháng insulin được định nghĩa theo

TCYTTG khi HOMA–IR ở tứ phân vị cao nhất

trong nhóm người bình thường (BMI < 20–23 kg/m2, Triglyceride < 150 mg/dL, HDL-C > 40 mg/dL ở nam và > 50 mg/dL ở nữ, đường huyết đói < 100 mg/dL, huyết áp bình thường)(2) Vì hạn chế về thời gian và kinh phí nên chúng tôi không khảo sát được nhóm BN bình thường để lấy giá trị tham chiếu cho chỉ số HOMA – IR Tác giả Trang Mộng Hải Yên khảo sát nhóm tham chiếu phù hợp với tiêu chuẩn “bình thường” theo TCYTTG, ở người Việt Nam, số lượng mẫu tương đối (117 trường hợp), thời điểm khảo sát mới cách nay 1 năm (2017) nên chúng tôi sử dụng kết quả của tác giảvới HOMA – IR> 2,2 là giá trị điểm cắt chẩn đoán đề kháng insulin(13)

Phương pháp phân tích số liệu

Nhập liệu bằng phần mềm Excel 2010 Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để phân tích và xử lý

số liệu Biến số liên tục, định lượng: trình bày dạng trung bình ± độ lệch chuẩn nếu phân phối chuẩn hoặc trung vị (tứ phân vị 25th – 75th) nếu phân phối lệch chuẩn So sánh sự khác biệt giữa các nhóm bằng phép kiểm Student t – test với biến phân phối chuẩn hoặc Mann – Whitney U test với biến phân phối lệch chuẩn Biến định danh, thứ tự: trình bày dạng tỷ lệ % So sánh sự khác biệt giữa các nhóm bằng phép kiểm Chi bình phương (2) hoặc Fisher’s exact Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Vấn đề y đức

Nghiên cứu không ảnh hưởng tài chính và sức khỏe BN Troponin I, bộ mỡ và đường huyết

là các xét nghiệm thường quy của BN nằm trong tiêu chuẩn chọn bệnh Xét nghiệm insulin máu

do nghiên cứu viên chi trả

KẾT QUẢ

Từ tháng 01 – 4/2018, chúng tôi khảo sát 70

BN NMCT cấp không ĐTĐ: 52 nam và 18 nữ; tuổi nhỏ nhất 35, lớn nhất 95, trung bình 63,8 ± 11,9 tuổi Nam giới lần đầu NMCT cấp chủ yếu trong độ tuổi khoảng 40 – 79 tuổi và nữ giới tập trung từ 60 – 79 tuổi Độ tuổi trung bình xuất hiện NMCT cấp lần đầu ở nữ giới lớn hơn nam giới, có ý nghĩa thống kê (p = 0,004) Chỉ số khối

Trang 4

cơ thể 24,1 (23,6 – 24,6) kg/m2, trong đó tỷ lệ BN

thừa cân/béo phì chiếm 92,9% Ở nữ giới, tình

trạng béo bụng chiếm đa số với tỷ lệ 94,5% và ở

nam giới tỷ lệ này là 40,4% (Bảng 1)

Trong các yếu tố nguy cơ tim mạch được

khảo sát thì rối loạn lipid máu chiếm tỷ lệ cao

nhất (90%) và khi phân tích từng thành phần bất thường cho thấy giảm HDL chiếm ưu thế (68,6%), kế đến là tăng triglyceride (20%) và thấp nhất là tăng LDL – C (12,8%) và tăng cholesterol

(11,4%) (Biểu đồ 1 – 3)

Bảng 1 So sánh giữa hai nhóm có và không có đề kháng insulin

Yếu tố khảo sát

ĐỀ KHÁNG INSULIN

p

N = 30 (42,9%)

KHÔNG

N = 40 (57,1%)

BMI (kg/m2) 24,5 (24,1 – 25) 23,8 (23,3 – 24,3) < 0,001

Chu vi vòng eo (cm) 92 (91 – 93) 84,5 (78,5 – 88) 0,001

Đường huyết (mg/dL) 123 (106,3 – 132,5) 95 (83,3 – 106,8) < 0,001 Rối loạn đường huyết đói 26 (86,7%) 13 (32,5%) < 0,001 Insulin máu (µU/mL) 13,7 (9,6 – 22,9) 2,8 (1,8 – 4,4) < 0,001

HOMA – IR 3,52 (2,79 – 7,65%) 0,77 (0,43 – 1,05%) < 0,001

Triglyceride (mg/dL) 134 (105,3 – 184,8) 113 (74,3 – 174) 0,380

Biểu đồ 1 Phân bố bệnh nhân có và không đề kháng insulin theo yếu tố nguy cơ tim mạch

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

Hút thuốc

Uống rượu bia

Hoạt động thể lực

Lối sống tĩnh tại

Tăng huyết

áp

Rối loạn lipid máu

Tiền căn gia đình ĐTĐ

Tiền căn gia đình mắc bệnh tim mạch sớm

43

63

17 8

7

53 62

Trang 5

50% 34% 7% 9%

1 nhánh 2 nhánh 3 nhánh Hẹp không có ý nghĩa

0 10

20

30

40

3

1

29

12

22

9

6

16

Mức độ hẹp ĐMV

100%

75 - 99%

50 - 74%

Biểu đồ 2 Phân bố mức độ hẹp theo vị trí động mạch vành

Biểu đồ 3 Phân bố số nhánh động mạch vành tổn thương

BÀN LUẬN

Tỷ lệ đề kháng insulin ở BN NMCT cấp

không ĐTĐ

Tỷ lệ đề kháng insulin của nghiên cứu

chúng tôi là 42,9%, thấp hơn so với các tác giả

khác trên thế giới Lý giải từ một trong những

lý do như: giá trị điểm cắt HOMA – IR, tiêu

chuẩn loại mẫu và thời điểm lấy máu thử

insulin máu, đường huyết (thời điểm nhập

viện hoặc sau khi BN được chụp mạch vành

qua da) Tuy nhiên, dù có khác biệt nhưng tỷ

lệ đề kháng insulin ở BN NMCT cấp không

ĐTĐ qua các nghiên cứu là khá phổ biến

Bảng 2 Tỷ lệ đề kháng insulin ở BN NMCT cấp

không ĐTĐ

Tác giả Năm Cỡ

mẫu

Điểm cắt của HOMA – IR

Tỷ lệ đề kháng insulin (%)

Nishio(10) 2006 61 2 77,04

Lazzeri(6) 2009 253 1,8 với nữ &

2,12 với nam 52,9 Nath(8) 2014 100 2 63

Chúng tôi 2018 70 2,2 42,9

Insulin máu đói

Nồng độ insulin máu trung bình và tỷ lệ

tăng insulin máu lớn hơn ở nhóm đề kháng

insulin, có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Nghiên

cứu Helsinki Policemen(11) (1998): tăng insulin

máu giúp dự đoán nguy cơ biến cố mạch vành

trong tương lai (tử vong do BMV hoặc NMCT cấp không tử vong) Qua đó, một lần nữa khẳng định tăng insulin máu là một yếu tố nguy cơ

quan trọng đối với BMV

Đường huyết đói

Nồng độ đường huyết đói trung bình và tỷ

lệ rối loạn đường huyết đói cao hơn ở nhóm đề kháng insulin, có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), tương đồng với các nghiên cứu trên thế giới Các nhà nghiên cứu nhận thấy trên một cá thể có đề kháng insulin, tăng đường huyết sẽ làm thúc đẩy quá trình XVĐM và có tác dụng hiệp đồng với các yếu tố nguy cơ của BMV làm tăng nguy

cơ mắc biến cố mạch vành trong tương lai

Tuổi – giới

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, kết quả phù hợp với y văn và các nghiên cứu trên thế giới cho rằng nam giới và người lớn tuổi vốn

là yếu tố nguy cơ của BMV Phân tích theo nhóm tuổi, chúng tôi nhận thấy mẫu nghiên cứu phù hợp với y văn cho rằng nam giới phát triển BMV sớm hơn nữ giới từ 10 đến 15 năm Không có sự khác biệt về tuổi cũng như giới tính giữa hai nhóm có và không có đề kháng insulin Và điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu mới nhất cho rằng đề kháng insulin xảy ra ở mọi lứa tuổi

và tác động như nhau lên hai giới

Trang 6

Chỉ số dinh dưỡng

Qua phân tích, chúng tôi nhận thấy nhóm

đề kháng insulin có BMI, tỷ lệ thừa cân/béo

phì, chu vi vòng eo cũng như tỷ lệ béo bụng

cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm

không đề kháng insulin Năm 2003,

Ferrannini(3) khảo sát 1.466 người không ĐTĐ

trong 8 năm, tác giả kết luận béo phì làm tăng

nguy cơ đề kháng insulin lên gấp 3 lần

Wagenkneckt(14) khảo sát trên 1.500 người Mỹ

gốc Phi năm 2003 cho thấy lượng mỡ tạng có

liên quan chặt với đề kháng insulin và BN béo

bụng có tỷ lệ kháng insulin cao hơn nhóm

không béo bụng có ý nghĩa thống kê Qua các

kết quả trên: thừa cân/béo phì, đặc biệt béo phì

trung tâm là một thành tố quan trọng góp

phần tăng nguy cơ đề kháng insulin, đây cũng

là kiểu hình đặc trưng của BN hội chứng

chuyển hóa

Tăng huyết áp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có

sự khác biệt về tỷ lệ tăng huyết áp giữa hai

nhóm có và không có đề kháng insulin Trong

những năm gần đây, tại Việt Nam nghiên cứu

về mối tương quan giữa THA và đề kháng

insulin như của tác giả Nguyễn Thành Thuận(9)

năm 2012 cho thấy mối tương quan tương đối

yếu, cụ thể hệ số tương quan giữa HOMA – IR

với huyết áp tâm thu bằng 0,17 và huyết áp

tâm trương bằng 0,13 Tương tự từ các kết quả

của các nghiên cứu khác trên thế giới: tăng

huyết áp là một trong những đặc điểm nhận

biết một cá thể có nguy cơ cao tăng đề kháng

insulin

Rối loạn lipid máu

Tương đồng chúng tôi, kết quả nghiên cứu

của các tác giả: Nishio(10) (2006), Nath(8) (2014)

trên nhóm đối tượng NMCT cấp không ĐTĐ

đều cho thấy không có sự khác biệt về tình trạng

rối loạn lipid máu (tỷ lệ mắc bệnh cũng như bất

thường từng thành phần rối loạn lipid máu)

giữa hai nhóm có và không có đề kháng insulin

Tăng insulin máu bù trừ trong các cá thể đề

kháng insulin làm tăng sinh tế bào cơ trơn thành

mạch, kích thích tiết triglyceride từ gan, giảm HDL – C và đặc biệt là thay đổi đặc tính LDL – C nhỏ, đậm đặc có tính sinh xơ vữa Nghiên cứu của chúng tôi trên những BN NMCT cấp vốn bản chất là những người có đặc điểm RLLM kiểu

xơ vữa: tăng triglyceride và giảm HDL – C và điều này cũng thể hiện qua đặc điểm RLLM của mẫu nghiên cứu mà chúng tôi đã trình bày ở trên Vì thế có sự trùng lặp với đặc điểm RLLM của cá thể đề kháng insulin nên không có sự khác biệt giữa hai nhóm qua đánh giá kết quả

Sang thương động mạch vành

Qua phân tích, chúng tôi nhận thấy không có

sự khác biệt về độ nặng của tổn thương ĐMV được đánh giá thông qua số nhánh tổn thương

và điểm số Gensini giữa 2 nhóm có và không có

đề kháng insulin Wassef(5) (2013) khảo sát 1.073

BN NMCT cấp không ĐTĐ: mối liên quan độc lập giữa kháng insulin với bệnh đa nhánh mạch vành (RR = 1,31; khoảng tin cậy 95% 1,07 – 1,60;

p = 0,009) Khác với kết quả của chúng tôi cũng như các tác giả Nishio(10) (2006), Nath(8) (2014) thì nghiên cứu của Wassef thực hiện trên cỡ mẫu lớn hơn, có lẽ vì thế mà tác giả đánh giá được mối liên quan giữa đề kháng insulin và độ nặng sang thương mạch vành

Hạn chế

Thứ nhất, do thiết kế nghiên cứu của chúng tôi là cắt ngang mô tả nên không đánh giá được mối quan hệ nhân quả giữa đề kháng insulin và NMCT cấp Thứ hai, chúng tôi hạn chế về kinh phí cá nhân cũng như thời gian ngắn nên không khảo sát tình trạng đề kháng insulin trên nhóm người bình thường để xác định được điểm cắt của chỉ số HOMA – IR, vì thế mà chúng tôi sử dụng giá trị tham chiếu của tác giả Trang Mộng Hải Yên(13)

KẾT LUẬN

Tỷ lệ BN NMCT cấp không ĐTĐ có đề kháng insulin là đáng lưu ý Khi một bệnh nhân mắc BMV mạn chưa có biểu hiện đái tháo đường nhưng có các yếu tố nguy cơ như béo phì, béo bụng, rối loạn đường huyết đói thì nên được tầm

Trang 7

soát chỉ số HOMA – IR để đánh giá tình trạng đề

kháng insulin nhằm có biện pháp phòng ngừa

biến cố NMCT cấp cho bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 American Diabetes Association (2018) “Classification and

Diagnosis of Diabetes: Standards of Medical Care in

Diabetes – 2018” Diabetes Care, 41 (Suppl 1), S13 – S27

2 Balkau B, Charles MA (1999) “Comment on the provisional

report from the WHO consultation – European Group for

the Study of Insulin Resistance (EGIR)” Diabet Med, 16 (5),

442 – 443

3 Bloomgarden ZT (2003) “American Association of Clinical

Endocrinologists (AACE) consensus conference on the

insulin resistance syndrome: 25-26 August 2002,

Washington, DC” Diabetes Care, 26 (4), 1297 – 1303

4 Hedblad B, Nilsson P, Engstrom G et al (2002)."Insulin

resistance in non-diabetic subjects is associated with

increased incidence of myocardial infarction and death"

Diabet Med, 19 (6), 470 – 475

5 Karrowni W, Li Y, Jones PG et al (2013) “Insulin Resistance

Is Associated WithSignificant Clinical Atherosclerosis in

Nondiabetic Patients With Acute Myocardial Infarction”

Arteriosclerosis, Thrombosis, and Vascular Biology, 33(9):2245–2251

6 Lazzeri C et al (2009) “Prognostic role of insulin resistance

as assessed by homeostatic model assessment index in the

acute phase of myocardial infarction in nondiabetic patients

submitted to percutaneous coronary intervention” Eur J

Anaesthesiol, 26 (10), 856 – 862

7 Lazzeri C, Valente S, Chiostri M et al (2013) "Acute Insulin

Resistance Assessed by the Homeostatic Model Assessment

in Acute Coronary Syndromes Without Previously Known

Diabetes" Angiology, 65(6), 519 – 524

8 Nath S (2014) “Significane of insulin resistance in nondiabetic subjects with acute myocardial infarction and its

relationship with acute phase reactants” Orissa physicians journal, Vol 11, 31 – 35

9 Nguyễn Thành Thuận, Nguyễn Thy Khuê (2012) “Mối tương quan giữa đề kháng insulin và tăng huyết áp ở nhóm

công chức – viên chức quận 10, TP HCM” Y Học TP Hồ Chí Minh, Tập:16 (Số:1, Chuyên đề: Nội Khoa II), 383 – 389

10 Nishio K et al (2006) “Insulin resistance in nondiabetic

patients with acute myocardial infarction” Cardiovasc Revasc Med, 7(2), 54 – 60

11 Pyorala M, Miettinen H, Laakso M et al (1998)

“Hyperinsulinemia predicts coronary heart disease risk in healthy middle-aged men: the 22-year follow-up results of

the Helsinki Policemen Study” Circulation, 98 (5), 398 – 404

12 Thygesen K, Alpert JS, Jaffe AS, et al (2012) “Third universal

definition of myocardial infarction” Eur Heart J, 33(20),

2551 – 2567

13 Trang Mộng Hải Yên (2017), Khảo sát tình trạng tăng kháng insulin ở bệnh nhân không đái tháo đường cao tuổi mắc

bệnh mạch vành Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại Học Y Dược TP

HCM

14 Wagenknecht LE, Langefeld CD, Scherzinger AL, et al (2003) “Insulin sensitivity, insulin secretion, and abdominal fat: Insulin Resistance Atherosclerosis Study (IRAS) Family

Study” Diabetes, 52(10), 2490 – 2496

Ngày nhận bài báo: 08/11/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 16/01/2020, 01:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w