1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát sự tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân viêm loét dạ dày - tá tràng do Helicobacter pylori tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

5 196 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 277,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiễm Helicobacter pylori (H. pylori) là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây ra viêm loét dạ dày - tá tràng (VLDDTT). Bệnh nhân (BN) chỉ đạt được hiệu quả điều trị tối ưu nếu tuân thủ tốt các thuốc trong phác đồ; tuy nhiên, dữ liệu về tuân thủ dùng thuốc (TTDT) của các BN này tại Việt Nam còn hạn chế.

Trang 1

KHẢO SÁT SỰ TUÂN THỦ DÙNG THUỐC Ở BỆNH NHÂN

VIÊM LOÉT DẠ DÀY - TÁ TRÀNG DO HELICOBACTER PYLORI

TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

Phạm Minh Mẫn * , Nguyễn Viết Ngọc * , Nguyễn Hương Thảo *

TÓM TẮT

Mở đầu: Nhiễm Helicobacter pylori (H pylori) là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây

ra viêm loét dạ dày - tá tràng (VLDDTT) Bệnh nhân (BN) chỉ đạt được hiệu quả điều trị tối ưu nếu tuân thủ tốt các thuốc trong phác đồ; tuy nhiên, dữ liệu về tuân thủ dùng thuốc (TTDT) của các BN này tại Việt Nam còn hạn chế

Mục tiêu: Khảo sát niềm tin vào thuốc, nhận thức về bệnh và sự TTDT của BN VLDDTT do H pylori Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 303 BN VLDDTT do

H pylori điều trị tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh Các thông tin được thu thập bằng cách phỏng vấn (sử dụng các bảng câu hỏi đã được thẩm định trong điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam): buổi 1 (trong bệnh viện) để thu thập đặc điểm chung, đặc điểm điều trị, niềm tin vào thuốc và nhận thức về bệnh của BN; buổi 2 (sau 2-3 tuần dùng thuốc) để khảo sát sự TTDT và các biến

cố có hại trong quá trình dùng thuốc (Adverse Drug Event - ADE) của BN Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0 với giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê

Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 43,92 và 66,7% BN là nữ Điểm trung vị niềm tin vào thuốc mục

Chuyên biệt-Cần thiết là 25,00 và mục Chuyên biệt-Quan tâm là 11,00 Tại thời điểm sau 2-3 tuần dùng phác đồ tiệt trừ H pylori, có 84,2% BN tuân thủ tốt các thuốc được kê và 43,9% BN gặp ít nhất 1 ADE Nghiên cứu phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong nhận thức về bệnh (khía cạnh thời gian kéo dài của bệnh và hiểu biết về bệnh) giữa 2 nhóm BN tuân thủ và không tuân thủ (p < 0,05)

Kết luận: BN VLDDTT do H pylori tuân thủ tốt với phác đồ điều trị, tin tưởng vào sự cần thiết của

thuốc và khá quan tâm đến các nguy cơ của thuốc Tăng cường nhận thức về bệnh có thể là một giải pháp để cải thiện TTDT

Từ khóa: Tuân thủ dùng thuốc, Viêm loét dạ dày - tá tràng, Helicobacter pylori

ABSTRACT

MEDICATION ADHERENCE IN PATIENTS WITH PEPTIC ULCER DISEASE

DUE TO HELICOBACTER PYLORI TREATED AT GIA DINH PEOPLE’S HOSPITAL

Pham Minh Man, Nguyen Viet Ngoc, Nguyen Huong Thao

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 208 – 212

Background: Helicobacter pylori (H pylori) infection is one of the most common causes of peptic ulcer

disease (PUD) The optimum eradication of H pylori can only be achieved in patients highly adhering to prescribed medications; however, data about these patients’ adherence to prescribed medications in Vietnam

is limited

Objectives: To investigate beliefs about medicines, illness perceptions, and adherence to prescribed

medications in patients with PUD due to H pylori

* Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: PGS TS Nguyễn Hương Thảo ĐT: 0918177254 Email: huongthao0508@gmail.com

Trang 2

Methods: A cross-sectional survey was conducted on 303 patients with PUD due to H pylori treated

at Gia Dinh People’s Hospital, Ho Chi Minh city Patients were interviewed twice using a data collection form and validated questionnaires The first interview was performed at hospital to collect patients’ characteristics, drug therapies, beliefs about medicines, and illness perceptions The second interview was conducted 2-3 weeks later to evaluate patients’ medication adherence and adverse drug events (ADEs) The data was analyzed using SPSS 22.0 with a significant level at 0.05

Results: Patients’ average age was 43.92 and 66.7% of patients were female The medians of the Beliefs

about Medicines Questionnaire Specific-Necessity and Specific-Concern subscales were 25.00 and 11.00, respectively There were 84.2% patients highly adhering to prescribed medications During treatment, 43.9% patients experienced at least one ADE A significant association (p < 0.05) was observed between patient’s illness perceptions (in terms of disease duration and understanding) and medication adherence

Conclusion: Patients with PUD due to H pylori highly adhered to the treatment regimens, strongly

believed in the necessity of medicines, and relatively concerned about the safety of treatment regimens Enhancing illness perceptions in terms of disease duration and understanding could be an approach to improve patients’ adherence

Key words: Medication adherence, Peptic ulcer disease, Helicobacter pylori

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm loét dạ dày - tá tràng (VLDDTT) là

một bệnh mạn tính, dễ tái phát và có nhiều

biến chứng nghiêm trọng như xuất huyết tiêu

hóa, thủng dạ dày và nguy hiểm hơn là ung

thư dạ dày Nhiễm Helicobacter pylori (H

pylori) là một trong những nguyên nhân

thường gặp nhất gây ra VLDDTT Việc điều

trị VLDDTT do H pylori bao gồm các mục

tiêu: tiệt trừ H pylori, làm lành vết loét, ngăn

ngừa tái phát và giảm biến chứng do loét(5) Để

đạt được những mục tiêu này đòi hỏi nhiều yếu

tố: lựa chọn phác đồ, tỷ lệ đề kháng kháng sinh

của H pylori, thời gian điều trị, tuân thủ dùng

thuốc (TTDT) của bệnh nhân (BN) và sự đa hình

gen của vi khuẩn(2,7) Trong những yếu tố này,

TTDT của BN là vấn đề ngày càng được quan tâm

nhiều TTDT đã được chứng minh là làm tăng

đáng kể tỷ lệ tiệt trừ H pylori Nghiên cứu của

Kim (2016) cho thấy tỷ lệ tiệt trừ H pylori thành

công ở nhóm BN tuân thủ tốt cao hơn 21% so với

nhóm BN tuân thủ kém(6) Tuy nhiên cho đến nay,

các nghiên cứu về TTDT trên BN VLDDTT do H

pylori ở Việt Nam còn hạn chế Trên cơ sở đó,

nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát sự

TTDT của BN VLDDTT điều trị tại Bệnh viện

Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang mô tả được sử dụng để đánh giá sự TTDT của BN sau 2-3 tuần dùng phác

đồ tiệt trừ H pylori Chúng tôi chọn tất cả BN đến

khám tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định TP Hồ Chí Minh, trong khoảng thời gian từ 15/04/2018 đến 15/06/2018, có chẩn đoán VLDDTT dương

tính với H pylori, được chỉ định điều trị bằng phác

đồ tiệt trừ H pylori, từ 18 tuổi trở lên và đồng ý

tham gia nghiên cứu Chúng tôi loại trừ các BN: không phải người Việt Nam hoặc không có khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt; không liên lạc được qua 3 lần gọi điện thoại hoặc đang/đã tham gia vào nghiên cứu khác có ảnh hưởng đến TTDT (trong vòng 6 tháng trở lại)

Các thông tin khảo sát được thu thập thông qua 2 lần phỏng vấn Lần 1 là phỏng vấn trực tiếp tại bệnh viện để thu thập thông tin về các đặc điểm chung của BN (tuổi, giới, trình độ học vấn, nơi thường trú và bệnh mạn tính kèm theo),

phác đồ điều trị tiệt trừ H pylori, niềm tin vào

thuốc và nhận thức về bệnh của BN Buổi phỏng vấn 2 để đánh giá sự TTDT và ghi nhận biến cố

có hại của thuốc (Adverse Drug Event - ADE) trong quá trình dùng thuốc của BN được tiến

hành sau 2-3 tuần dùng phác đồ tiệt trừ H pylori

bằng cách phỏng vấn với 2 hình thức: (1) phỏng

Trang 3

vấn trực tiếp tại bệnh viện (đối với BN đến tái

khám), (2) phỏng vấn qua điện thoại (đối với BN

mà nghiên cứu viên (NCV) không gặp được khi

BN đi tái khám), NCV sẽ gọi điện thoại cho BN

tối đa 3 lần trong 3 ngày liên tiếp: 1 lần/ngày

(nếu sau 3 lần gọi vẫn không tiếp cận được BN

thì BN được loại ra khỏi nghiên cứu) Niềm tin

vào thuốc và nhận thức về bệnh được khảo sát

bằng các bộ câu hỏi Beliefs about Medicines

Questionnaire (BMQ) và Brief Illness Perception

Questionnaire (BIPQ)(3,4) Thang đo TTDT của

Morisky (Morisky Medication Adherence Scale,

MMAS) gồm 8 câu hỏi, được dùng để đánh giá

sự TTDT của BN tại thời điểm sau 2-3 tuần dùng

thuốc(9) Kết quả phỏng vấn MMAS được chia

làm 3 mức độ: tuân thủ tốt (MMAS = 8); tuân thủ

trung bình (MMAS = 6-7); tuân thủ kém (MMAS

< 6) BN được chia làm 2 nhóm dựa theo mức độ

TTDT: nhóm tuân thủ gồm những BN có mức độ

tuân thủ tốt và nhóm không tuân thủ bao gồm

những BN có mức độ tuân thủ trung bình và

kém Bằng những phép kiểm phù hợp, chúng tôi

tìm hiểu mối liên quan giữa các đặc điểm chung,

đặc điểm điều trị, niềm tin vào thuốc và nhận

thức về bệnh với sự TTDT của BN

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm

Statistical Package for the Social Sciences

(SPSS) phiên bản 22.0 Thống kê mô tả được

thực hiện để xác định các số trung bình, số

trung vị và tỷ lệ phần trăm của các biến Phép

kiểm t hoặc Mann-Whitney được dùng để so

sánh 2 số trung bình Phép kiểm Chi bình

phương hoặc Fisher exact test được dùng để

so sánh 2 tỷ lệ Giá trị p < 0,05 được coi là khác

biệt có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu đã được sự chấp thuận của

Hội đồng khoa học, Bệnh viện Nhân dân Gia

Định TP Hồ Chí Minh

KẾT QUẢ

Từ 15/04/2018 đến 15/06/2018, có 346 BN

được chọn để tham gia nghiên cứu, Có 43 BN

không liên lạc được Cuối cùng có 303 BN

hoàn thành nghiên cứu

Các thông tin thu thập được trong quá trình thực hiện nghiên cứu được trình bày trong bảng 1 Tuổi trung bình của BN trong nghiên cứu là 43,92 ± 13,27 và có 71,9% BN nằm trong độ tuổi 30-60 Phần lớn BN là nữ (66,7%) và 22,4% BN có ít nhất 1 bệnh kèm Đa phần BN có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên

và sinh sống tại TP Hồ Chí Minh Trong quá trình dùng thuốc, 43,9% BN gặp ít nhất 1 biến

cố có hại Kết quả phỏng vấn BMQ cho thấy

BN xem việc dùng thuốc là quan trọng và cần thiết, cũng như có sự quan tâm tương đối đến các nguy cơ gây hại của thuốc điều trị BN nhận thức cao về lợi ích của việc điều trị và quan tâm nhiều đến bệnh nhưng nhận thức thấp ở khía cạnh kiểm soát và cảm nhận bệnh Nguyên nhân gây bệnh được BN nghĩ đến nhiều nhất là do các thói quen sống

Kết quả phỏng vấn bằng thang đo MMAS sau

2-3 tuần dùng phác đồ tiệt trừ H pylori cho

thấy có 255 BN (84,2%) tuân thủ tốt các thuốc được kê Những lý do chính khiến BN không tuân thủ là BN quên dùng thuốc, quên mang thuốc khi đi xa và gặp khó khăn khi phải nhớ dùng tất cả các thuốc

Giữa 2 nhóm BN tuân thủ và không tuân thủ, kết quả phân tích cho thấy chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các đặc điểm chung, đặc điểm điều trị, niềm tin vào thuốc

và nhận thức về bệnh; ngoại trừ việc nhận thức về bệnh ở 2 khía cạnh là thời gian kéo dài của bệnh và hiểu biết về bệnh: nhóm tuân thủ

có điểm trung bình ở 2 khía cạnh này cao hơn

so với nhóm không tuân thủ (bảng 3)

BÀN LUẬN

Chúng tôi đã phần nào tìm hiểu được sự

TTDT của BN VLDDTT do H pylori tại thời điểm sau 2-3 tuần dùng phác đồ tiệt trừ H pylori Phần lớn BN trong nghiên cứu là nữ, độ

tuổi 30-60 Hầu hết các BN rất xem trọng việc dùng thuốc điều trị cũng như tương đối quan tâm về các nguy cơ có hại của thuốc Tỷ lệ BN tuân thủ tốt cao hơn so với những nghiên cứu từ

Trang 4

các năm trước đây(1,8,10) Điều này có thể do BN

ngày càng dễ dàng tiếp cận với kiến thức về

bệnh VLDDTT do H pylori, đặc biệt là các

biến chứng nghiêm trọng mà bệnh có thể

gây ra thông qua các chương trình tư vấn

sức khỏe tại bệnh viện và/hoặc ngoài cộng

đồng nên sự TTDT có xu hướng tăng dần

qua các năm Những nguyên nhân không

tuân thủ chủ yếu là do BN quên dùng thuốc,

quên mang thuốc khi đi xa và cảm thấy

phiền khi phải tuân thủ Điều này cho thấy

việc đơn giản hóa chế độ điều trị có thể giúp

cải thiện sự tuân thủ

Nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt có ý

nghĩa về nhận thức về bệnh ở 2 khía cạnh là

thời gian kéo dài của bệnh và hiểu biết về

bệnh giữa 2 nhóm BN tuân thủ và không tuân

thủ Tuy nhiên, nghiên cứu chưa tìm thấy sự

khác biệt về đặc điểm chung, đặc điểm điều trị

và niềm tin vào thuốc giữa 2 nhóm nghiên

cứu Khi BN hiểu được tầm quan trọng của

việc điều trị cũng như những biến chứng mà

bệnh gây ra sẽ có xu hướng TTDT tốt hơn Bên

cạnh đó, tỷ lệ BN tuân thủ tốt khá cao và việc

xác định sự liên quan giữa các yếu tố khảo sát

với sự TTDT chưa thực sự rõ ràng Vì vậy, cần

tiến hành những nghiên cứu tiếp theo có thời

gian theo dõi bệnh nhân dài hơn để có thể

đánh giá được tỷ lệ tiệt trừ H pylori theo từng

mức độ tuân thủ và tìm mối liên quan giữa

TTDT và hiệu quả tiệt trừ H pylori Từ đó, cán

bộ y tế có thể có những can thiệp phù hợp cho

việc nâng cao hiệu quả điều trị Bệnh viện

cũng nên xem xét các lý do kém tuân thủ của

BN trong nghiên cứu để đưa ra giải pháp phù

hợp (chẳng hạn như tăng cường tư vấn, cập

nhật kiến thức về bệnh cho BN) nhằm nâng

cao hơn nữa sự TTDT của BN

Nghiên cứu có một số hạn chế như chỉ

theo dõi sự TTDT trong một thời gian ngắn

và phương pháp phỏng vấn qua điện thoại

dễ bị mất mẫu do BN thay đổi số điện thoại

hoặc không nghe máy Nhóm đã khắc phục

điều này bằng cách gọi điện nhiều lần

KẾT LUẬN

Bảng 1: Đặc điểm của BN trong nghiên cứu

(N=303)

Tỷ lệ (%)

Đặc điểm chung

Đặc điểm điều trị

Niềm tin vào thuốc Trung vị (khoảng tứ phân vị) Chuyên biệt - Cần thiết 25,00 (20,00-25,00) Chuyên biệt - Quan tâm 11,00 (7,00-17,00) Nhận thức về bệnh Điểm trung bình ± độ lệch

chuẩn Câu 1: Ảnh hưởng của bệnh 2,45 ± 2,74 Câu 2: Thời gian kéo dài bệnh 3,81 ± 1,80 Câu 3: Kiểm soát cá nhân về

Câu 4: Lợi ích của việc điều trị 9,04 ± 1,28

Câu 6: Mức quan tâm về bệnh 9,23 ± 1,18 Câu 7: Mức hiểu biết về bệnh 3,71 ± 2,50

*Phác đồ có 4 thuốc PPI + Amoxicilin + Metronindazol/Tinidazol + Clarithromycin

hoặc PPI + Bismuth + Amoxicilin + Levofloxacin hoặc PPI + Bismuth + Amoxicilin +

Metronidazol/Tinidazol hoặc PPI + Bismuth + Amoxicilin + Tetracyclin hoặc PPI + Bismuth + Tetracyclin +

Metronidazol/Tinidazol

BN VLDDTT do H pylori rất xem trọng

việc dùng các thuốc điều trị và tương đối quan tâm đến các tác dụng phụ của thuốc

BN nhận thức cao về lợi ích của việc điều trị

và quan tâm nhiều đến bệnh, nhưng nhận thức thấp ở khía cạnh kiểm soát và cảm nhận bệnh Nguyên nhân gây bệnh được BN nghĩ đến nhiều nhất là do các thói quen sống Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong nhận thức về bệnh (khía cạnh thời gian kéo dài bệnh và hiểu biết về bệnh) giữa

2 nhóm BN tuân thủ và không tuân thủ

Trang 5

Nghiên cứu chưa phát hiện mối liên quan

giữa đặc điểm chung, phác đồ điều trị, biến

cố có hại của thuốc và niềm tin vào thuốc giữa 2 nhóm BN

Bảng 2: Sự khác nhau về các yếu tố khảo sát giữa 2 nhóm tuân thủ và không tuân thủ

Đặc điểm

Nhóm không tuân thủ (N1 = 48)

Nhóm tuân thủ (N2 = 255)

p

Đặc điểm chung

Nhóm tuổi

< 30

30 - 60

5

37

10,4 77,1

42

181

16,5

Đặc điểm điều trị

2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

patients’ adherence and adverse drug reactions (ADRs)

which are caused by Helicobacter pylori eradication

regimens J Clin Diagn Res, 7: pp.462-466

Bowel Dis, 18: 584-591

3 Broadbent E, Petrie KJ, Main J (2006) The Brief Illness

Perception Questionnaire (BIPQ) J Psychosom Res, 60:

pp.631-637

medicines questionnaire: The development and evaluation

of a new method for assessing the cognitive representaton

of medication Psychol Health, 14: pp.1-24

and related disorders In: Joseph TD Pharmacotherapy: a

McGraw-Hill, Inc., International edition, New York

6 Kim BJ, Kim HS, Song HJ (2016) Online registry for

nationwide database of current trend of Helicobacter pylori

eradication in Korea: interim analysis J Korean Med Sci, 31:

pp.1246-1253

Gastroenterology, Practice Parameters Committee Am J

Gastroenterol, 105: pp.501-523

8 Lefebvre M, Hsiu-Ju C, Morse A (2013) Adherence and

barriers to H pylori treatment in Arctic Canada Int J

Circumpolar Health, 72: pp.1-8

validity of a medication adherence measure for

hypertension control J Clin Hypertens, 10: pp.348-354

10 Shakya SS, Bhadari M, Thapa SR (2016) Medication adherence pattern and factors affecting adherence in

Helicobacter pylori eradication therapy Kalhmandu Univ Med

J, 14: pp.58-64

Ngày nhận bài báo: 18/10/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2019

Ngày đăng: 16/01/2020, 01:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm